1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu văn bản quản lý hành chính nhà nước cấp trung ương từ quan hệ liên nhân và chức năng tác động

221 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 221
Dung lượng 2,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu của luận án này là phân tích nhận diện các đặc trưng ngôn trong văn bản quản lý nhà nước mà cụ thể là nghị định của chính phủ và TT của các, qua đó phân tích và chỉ ra các đặc

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

PHAN THỊ THU THỦY

NGHIÊN CỨU VĂN BẢN QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

CẤP TRUNG ƯƠNG TỪ QUAN HỆ LIÊN NHÂN VÀ CHỨC NĂNG TÁC ĐỘNG

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các

số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất cứ công trình nào khác

Tác giả luận án

Phan Thị Thu Thủy

Trang 3

Xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu Học viện Hành chính Quốc gia đã quan tâm, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em học tập, nghiên cứu Cảm ơn đồng nghiệp, bạn

bè và gia đình đã luôn đồng hành, động viên để em thực hiện luận án đƣợc đúng tiến độ

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN 4

3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 4

3.1 Mục đích nghiên cứu 4

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5

5 NGỮ LIỆU 6

6 Ý NGHĨA CỦA LUẬN ÁN 6

6.1 Về mặt lý luận 6

6.2 Về mặt thực tiễn 7

7 BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN 7

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN ÁN 8

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 8

1.1.1 Tình hình nghiên cứu văn bản quản lý nhà nước 8

1.1.2 Nghiên cứu văn bản quản lý nhà nước (QLNN) ở Việt Nam 12 1.1.2.1 Khuynh hướng nghiên cứu văn bản quản lý nhà nước với tư cách là một kiểu loại trong phong cách hành chính 12

1.1.2.2 Khuynh hướng nghiên cứu văn bản quản lí nhà nước từ cách tiếp cận của phân tích văn bản/diễn ngôn 14

1.2 Cơ sở lí luận của luận án 17

Trang 5

1.2.1 Chức năng liên nhân của ngôn ngữ 17

1.2.2 Phân tích văn bản và phân tích diễn ngôn 20

1.2.3 Một số bình diện nghiên cứu trong trong phân tích diễn ngôn 23

1.2.4 Các mô hình lý thuyết được vận dụng 24

1.2.4.1 Các lý thuyết giao tiếp ngôn ngữ 24

1.2.4.2 Lý thuyết hành động ngôn từ 30

1.2.4.3 Lý thuyết lập luận 35

1.2.5 Văn bản quản lý nhà nước và văn bản quản lý hành chính nhà nước 36

1.2.5.1 Văn bản quản lý nhà nước 36

1.2.5.2 Chức năng của văn bản quản lý nhà nước 36

1.2.5.3 Đặc điểm ngôn ngữ của văn bản quản lý nhà nước 37

1.2.6 Phân loại văn bản quản lý nhà nước (các văn bản theo phong cách hành chính công vụ) 40

1.2.6.1 Phân loại văn bản quản lý nhà nước theo quan điểm của các nhà phong cách học 40

1.2.6.2 Phân loại văn bản quản lý nhà nước theo quan điểm của các nhà hành chính học 42

1.2.7 Khái niệm nghị định, thông tư 48

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 50

CHƯƠNG 2 QUAN HỆ LIÊN NHÂN TRONG GIAO TIẾP QUA DIỄN NGÔN NGHỊ ĐỊNH, THÔNG TƯ 52

2.1 Nghị định, thông tư là một loại thông điệp giao tiếp 52

Trang 6

2.2 Các nhân tố giao tiếp của nghị định và thông tư 53 2.3 Quan hệ liên nhân trong nghị định, thông tư 58

2.3.1 Vai giao tiếp 58 2.3.2 Quan hệ liên nhân giữa các bên giao tiếp trong nghị định,

động ngôn từ điều khiển (khiến) 75

2.4.2.1 Nhận diện hành động ngôn từ điều khiển (khiến) trong văn bản nghị định, thông tư 76 2.4.2.2 Đặc điểm biểu thức ngữ vi và phát ngôn ngữ vi của hành vi điều khiển trong nghị định và thông tư 77

2.4.3 Quan hệ liên nhân thể hiện qua tình thái 92

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 103 CHƯƠNG 3 CHỨC NĂNG TÁC ĐỘNG CỦA DIỄN NGÔN NGHỊ ĐỊNH, THÔNG TƯ 106 3.1 Bản chất của giao tiếp trong nghị định, thông tư 107

3.1.1 Giao tiếp trong nghị định, thông tư là giao tiếp song phương

107 3.1.2 Văn bản quản lý nhà nước là một hành động giao tiếp phúc

hợp 108 3.1.3.Đích của nghị định, thông tư 110

Trang 7

3.2 Hành động ngôn từ và chức năng tác động trong diễn ngôn nghị định, thông tư 112

3.2.1.Khảo sát các hành động ngôn từ trong nghị định, thông tư 112 3.2.2 Chức năng tác động qua hành động ngôn từ tuyên bố 113

3.2.2.1 Nhận diện hành động ngôn từ tuyên bố 113 3.2.2.2.Biểu thức ngôn hành tuyên bố 113 3.2.2.3 Các phương tiện tác động của hành động ngôn từ tuyên bố đến người nhận 115

3.2.3 Chức năng tác động qua hành động ngôn từ tái hiện 119

3.2.3.1 Khái niệm Hành động ngôn từ tái hiện 119 3.2.3.2.Đặc điểm biểu thức ngôn hành của hành động ngôn từ tái hiện trong diễn ngôn nghị định, thông tư 120 3.2.3.3 Các phương tiện ngôn ngữ thực hiện chức năng tác động trong hành động ngôn từ tái hiện 122

3.2.4 Chức năng tác động qua hành động ngôn từ điều khiển trong diễn ngôn nghị định, thông tư 126

3.2.4.1 Nhận diện hành động ngôn từ điều khiển trong văn bản nghị định, thông tư 126 3.2.4.2 Đặc điểm biểu thức ngữ vi và phát ngôn ngữ vi của hành vi điều khiển trong nghị định, thông tư 127

3.2.5.Các phương tiện tác động của hành động ngôn từ điều khiển đến người nhận (SP2) 127 3.2.6 Chức năng tác động thể hiện qua hành động ngôn từ điều khiển mang nghĩa yêu cầu 131

Trang 8

3.2.7 Chức năng tác động thể hiện qua hành động ngôn từ điều

khiển mang nghĩa cấm đoán 132

3.2.8 Chức năng tác động thể hiện qua hành động ngôn từ điều khiển mang nghĩa cho phép 134

3.3 Lập luận và chức năng tác động trong diên ngôn nghị định, thông tư 135

3.3.1 Lập luận trong nghị định, thông tư 136

3.3.1.1 Luận cứ trong lập luận của nghị định, thông tư 136

3.3.1.2 Kết luận trong nghị định, thông tư 148

3.3.2 Các chỉ dẫn lập luận 150

3.3.3 Phân loại lập luận trong nghị định, thông tư 154

3.3.4 Quan hệ lập luận và mạch lạc trong nghị định, thông tư 156

3.3.5 Hình thức thể hiện của lập luận 160

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 165

KẾT LUẬN 169

TÀI LIỆU THAM KHẢO 173 PHỤ LỤC 1

Trang 9

Danh mục các chữ viết tắt

GDĐT : Giáo dục & Đào tạo

VHTTDL : Văn hóa Thể thao và Du lịch

Trang 10

Danh mục các bảng

Bảng 2.1 Quan hệ vai trong nghị đinh, thông tư và tờ trình 65

Bảng 2.2 Thống kê các HĐNT trong nghị định 68

Bảng 2.3 Thống kê các HĐNT trong thông tư 69

Bảng 2.4 Số liệu thống kê các HĐNT trong tờ trình 74

Bảng 2.5 Thống kê phương tiện ngôn ngữ biểu hiện Sp1 trong BTNHĐK 81

Bảng 2.6 Thống kê sự có mặt - lược bỏ Sp1 trong HĐNTĐK của nghị định, thông tư và tờ trình 82

Bảng 2.7 Thống kê các động từ ngôn hành điều khiển (khiến) trong HĐNTĐK 83

Bảng 2.8 Bảng thống kê các động từ ngôn hành điều khiển (mang tính cầu) trong diễn ngôn tờ trình 86

Bảng 2.9 So sánh ĐTNHĐK trong nghị định, thông tư và tờ trình 87

Bảng 2.10 Thống kê phương tiện ngôn ngữ biểu hiện Sp2 trong BTNHĐK của tờ trình 89

Bảng 2.11 Thống kê sự có mặt - lược bỏ Sp2 trong HĐNTĐK của diễn ngôn nghị định, thông tư và tờ trình 90

Bảng 2.12 Bảng thống kê tần số xuất hiện các vị từ tình thái và tổ hợp từ biểu thị tình thái trong diễn ngôn nghị định, thông tư (1324 trang dữ liệu A4) 95

Bảng 2.13 So sánh ĐTTT trong nghị định, thông tư và Tờ trình 101

Bảng 3.1 Chức năng của hành động ngôn từ 109

Bảng 3.2 Hệ thống các phương thức biến đổi cường độ lực ngôn trung trong biểu thức ngôn hành 129

Bảng 3.3 Hệ thống các phương thức biến đổi cường độ lực ngôn trung điều khiển bên ngoài biểu thức ngôn hành 130

Bảng 3.4 Bảng tổng hợp luận cứ lý trí trong thông tư 142

Bảng 3.5 Bảng tổng hợp luận cứ pháp lý trong nghị định 143

Trang 11

Danh mục các sơ đồ

Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ liên nhân giữa người nói với người nghe 19

Sơ đồ 1.2 Mô hình giao tiếp của Jacobson 24

Sơ đồ 1.3 Mô hình giao tiếp của Lyons 26

Sơ đồ 1.4 Sơ đồ văn bản quản lý nhà nước 44

Sơ đồ 1.5 Sơ đồ các tiểu loại ngôn ngữ luật pháp 48

Danh mục các biểu đồ Biểu đồ 2.1 Tỷ lệ các HĐNT trong nghị định 68

Biểu đồ 2.2 Tỷ lệ các HĐNT trong thông tư 69

Biểu đồ 2.3 Thống kê phương tiện ngôn ngữ biểu hiện Sp1 trong BTNHĐK 81 Biểu đồ 2.4 Thống kê phương tiện ngôn ngữ biểu hiện Sp2 trong BTNHĐK tờ trình 90

Biểu đồ 3.1 Luận cứ pháp lý trong thông tư 142

Biểu đồ 3.2 Luận cứ pháp lý trong nghị định 143

Trang 12

“sợi dây” văn bản Văn bản là công cụ để nhà quản lý điều hành mọi hoạt động trên tất cả các lĩnh vực kinh tế chính trị, xã hội, an ninh, quốc phòng, nâng cao chất lượng của văn bản là góp phần nâng cao chất lượng và năng lực quản lý Có thể nói, văn bản quản lý nhà nước là linh hồn của một cơ quan công quyền và mọi cách thức

tổ chức, phạm vi hoạt động của các cơ quan tổ chức đều được qui định bằng văn bản

Văn bản QLNN bao gồm văn bản của ba quyền lực nhà nước Văn bản quản

lý của cơ quan lập pháp, văn bản quản lý của cơ quan hành pháp và văn bản quản

lý của cơ quan tư pháp Văn bản của cơ quan hành pháp được gọi là văn bản hành chính Văn bản hành chính bao gồm các văn bản hành chính thuộc cơ quan hành chính trung ương như chính phủ và các bộ Văn bản hành chính của cơ quan hành

chính địa phương như UBND các cấp Như vậy có thể hiểu văn bản hành chính là một bộ phận trong hệ thống văn bản quản lý nhà nước

Văn bản quản lý hành chính của các cơ quan hành chính trung ương là công

cụ điều hành ở tầm vĩ mô, nó có thể tác động lên toàn xã hội hay một ngành hoặc lĩnh vực Do đó, việc văn bản có chất lượng tốt sẽ giúp hoạt động quản lý điều hành trở nên hiệu quả, ngược lại chất lượng văn bản kém thì hoạt động quản lý điều hành kém hiệu quả

Trang 13

Văn bản QLNN muốn có chất lượng tốt thì việc soạn thảo văn bản phải đáp ứng những yêu cầu chung và riêng của nó, muốn soạn thảo tốt, một trong những việc cần làm là phải phân tích làm rõ: nó là gì, được tổ chức (viết) như thế nào về

mặt hình thức và nội dung, hay cụ thể hơn là ngôn ngữ của văn bản

Từ trước tới nay, ngôn ngữ học đã có những nghiên cứu, phân tích văn bản ngôn ngữ (diễn ngôn) nhằm giúp cho việc xây dựng diễn ngôn và phân tích để hiểu diễn ngôn Gần đây, Ngôn ngữ học có phân ngành gọi là phân tích diễn ngôn để làm

việc phân tích đó với nhiều tiến bộ hơn trước Nhiều người gọi diễn ngôn là ngữ pháp văn bản giai đoạn II, III để phân biệt với ngữ pháp văn bản giai đoạn I của

những năm đầu thập niên 70

Sự khác biệt nằm ở chỗ, trong khi ngữ pháp văn bản giai đoạn I tập trung vào khái niệm liên kết về hình thức của văn bản viết, thì ngữ pháp văn bản giai đoạn

II lại tập trung vào khái niệm liên kết về nội dung, tức là mạch lạc (coherence) của

cả văn bản nói và văn bản viết, dùng cả hai thuật ngữ ngôn ngữ học văn bản và diễn ngôn Thuật ngữ “văn bản” dành cho văn bản viết và “diễn ngôn” dành cho văn bản nói Giai đoạn III thì chỉ sử dụng thuật ngữ diễn ngôn chung cho cả văn bản nói và văn bản viết Nghiên cứu diễn ngôn giai đoạn này quan tâm đến nhiều vấn đề khác nữa đặc biệt phân tích diễn ngôn như là một đơn vị nghĩa trong quá trình hoạt động chứ không phải là một đơn vị tĩnh Diễn ngôn là quá trình (quá trình giao tiếp) vì vậy khi giao tiếp liên quan đến người nói người nghe, đến ngữ cảnh, mục đích và các phương tiện ngôn ngữ thể hiện còn văn bản là sản phẩm của quá trình giao tiếp Với những công trình mẫu mực của Leech (1974), Widdowson (1975), Brown Yule (1983), lí luận về phân tích diện ngôn đã trở thành một lĩnh vực mũi nhọn của ngôn ngữ học ứng dụng

Ở Việt Nam so với các lĩnh vực khác như ngữ âm học, từ vựng học, ngữ pháp học, ngữ nghĩa học thì đến nay số lượng các công trình nghiên cứu về diễn ngôn vẫn còn rất hạn chế Đặc biệt, đối với diễn ngôn hành chính thì số lượng các chuyên luận bàn về vấn đề này không nhiều, nếu có thì chỉ các chuyên luận nghiên

Trang 14

cứu về ngôn ngữ của văn bản quản lý nhà nước (văn bản hành chính) nói chung hoặc văn bản hành chính (văn bản hành chính cá biệt hoặc hành chính thông thường) dùng trong các ngành, còn tách từng loại diễn ngôn hành chính để khảo sát cũng đã có một vài công trình nghiên cứu nhưng loại diễn ngôn NĐ, TT hiện chưa

có công trình nghiên cứu nào

Để những văn bản hành chính nhà nước ở cấp hành chính trung ương được tốt thì người xây dựng văn bản không chỉ nắm vững đường lối chủ trương của Đảng, nắm vững hiến pháp và các bộ luật, pháp lệnh mà phải có kiến thức sâu rộng

về ngôn ngữ học đặc biệt là kiến thức về ngôn ngữ học văn bản, từ đó tạo ra những văn bản không chỉ đúng về kết cấu hình thức mà còn phải đạt được hiệu quả giao tiếp nhờ vào việc vận dụng ngôn ngữ chuẩn mực, giúp người tiếp nhận có thể nắm được thông tin nhanh chóng từ đó mà hành xử một cách thích hợp Trong quản lý chất lượng văn bản quyết định hiệu quả quản lý Xây dựng được những văn bản quản lý tốt thì hiệu quả quản lý sẽ được nâng cao

Luận án này lựa chọn “nghiên cứu văn bản quản lý hành chính nhà nước cấp trung ương từ bình diện quan hệ liên nhân và chức năng tác động” Mục tiêu

của luận án này là phân tích nhận diện các đặc trưng ngôn trong văn bản quản lý nhà nước mà cụ thể là nghị định của chính phủ và TT của các, qua đó phân tích và chỉ ra các đặc trưng ngôn ngữ của loại hình diễn ngôn (văn bản) xét từ bình diện quan hệ liên nhân, bình diện chức năng tác động, cùng với các phương tiện ngôn ngữ nhằm thực hiện các chức năng đó Trên cơ sở các phân tích như vậy, luận án sẽ chỉ ra: Một diễn ngôn (văn bản) thông tư, nghị định sẽ đạt hiệu quả giao tiếp, quản

lý nhà nước cao khi nó đáp ứng những yêu cầu gì về mặt tổ chức diễn ngôn (tổ chức hình thức, tổ chức nội dung, mạch lạc); muốn đạt được điều đó người tạo lập văn bản – diễn ngôn cần phải làm gì và làm thế nào Từ những lí do trên chúng tôi chọn

đề tài của luận án là “nghiên cứu văn bản quản lý hành chính nhà nước cấp trung

ương từ bình diện quan hệ liên nhân và chức năng tác động”

Trang 15

2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN

a) Đối tượng: Đối tượng nghiên cứu của luận án là quan hệ liên nhân và chức

năng tác động được thể hiện (bằng phương tiện ngôn ngữ nào, theo phương thức gì)

trong diễn ngôn nghị định, thông tư với tư cách là một kiểu loại văn bản hành chính

Như vậy, hai vấn đề quan hệ liên nhân và các phương tiện ngôn ngữ biểu thị quan

hệ liên nhân và chức năng tác động và các phương tiện ngôn ngữ thể hiện chức

năng tác động sẽ là hai đối tượng được nghiên cứu chính của luận án này

b) Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu hai vấn đề quan hệ liên nhân và

các phương tiện ngôn ngữ biểu thị quan hệ liên và chức năng tác động và các

phương tiện ngôn ngữ thể hiện chức năng tác động sẽ là hai đối tượng được nghiên cứu chính của luận án này Phạm vi nghiên cứu tập trung phân tích về giao tiếp vấn

đề trong diễn ngôn nghị định, thông tư Từ giao tiếp xác định quan hệ liên nhân (

vai giao tiếp) biểu thị qua hành động ngôn từ Về bình diện chức năng tác động (

giao tiếp với ai để nhằm đạt được mục đích tác động gì và thể hiện như thế nào )

luận án tập trung khảo sát tác động qua hành động ngôn từ và tác động thông qua lập luận

3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

3.1 Mục đích nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, luận án hướng đến mục đích làm sáng tỏ một số đặc điểm của ngôn ngữ văn bản nghị định, thông tư từ góc độ phân tích diễn ngôn Đặc biệt, luận án chú ý đến phương thức và phương tiện ngôn ngữ để biểu thị quan hệ liên nhân và chức năng tác động của diễn ngôn

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án đặt ra những nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:

- Áp dụng khung lý thuyết gồm những vấn đề dụng học về giao tiếp, quan hệ liên nhân, hành động ngôn từ, lập luận và một số vấn đề lí thuyết cơ bản về văn bản hành chính để làm cơ sở lí luận cho nghiên cứu quan hệ liên nhân và chức năng tác

Trang 16

động của các diễn ngôn nghị định, thông tư

- Trên cơ sở lý thuyết đã nêu, vận dụng vào phân tích quan hệ liên nhân trong diễn ngôn nghị định, thông tư Đặc biệt nhấn mạnh đặc điểm của giao tiếp hành chính, các nhân tố giao tiếp hành chính, ngữ cảnh giao tiếp hành chính, các biểu hiện của quan hệ liên nhân và yếu tố quyền lực trong nghị định, thông tư

- Khảo sát chức năng tác động trong diễn ngôn nghị định, thông tư, các phương tiện thể hiện chức năng tác động luận án tập trung khảo sát các phương tiện tác động của hành động ngôn từ điều khiển và lập luận

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để giải quyết những nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra, luận án sử dụng những phương pháp cụ thể sau đây:

Phương pháp phân tích diễn ngôn: phân tích đặc điểm tổ chức diễn ngôn

nghị định, thông tư nhằm thực hiện quá trình giao tiếp, phân tích mối quan hệ liên nhân (các vai giao tiếp, ngữ cảnh, yếu tố quyền lực, ngữ vực) và chức năng tác động (tác động qua hành động ngôn từ, qua lập luận) Phân tích các phương tiện ngôn ngữ thể hiện quan hệ liên nhân, chức năng tác động trong nghị định, thông tư

Phân tích ngữ nghĩa và dụng học: luận án sử dụng các phương pháp phân

tích ngữ nghĩa dụng học để phân tích các yếu tố ngôn ngữ thể hiện quan hệ liên

nhân, chức năng tác động trong diễn ngôn nghị định, thông tư

Phương pháp miêu tả: phương pháp này được sử dụng để miêu tả các biểu

thức ngôn hành, động từ ngôn hành, các yếu tố tình thái nhằm thể hiện quan hệ liên nhân trong nghị định, thông tư Phương pháp đã mô tả HĐNT chủ đạo, miêu tả cấu tạo lập luận, các yếu tố cấu thành lập luận các dạng lập luận được sử dụng trong nghị định, thông tư nhằm thực hiện chức năng tác động

Thủ pháp thống kê: Thống kê tần số xuất hiện các HĐNT trong nghị định,

thông tư, tần suất sử dụng các yếu tố trong cấu trúc lập luận trong nghị định, thông

tư, từ đó rút ra các nhận xét về lượng các đơn vị từ ngữ xuất hiện trong nghị định,

Trang 17

thông tư Đây là cơ sở cho việc mô tả phân tích và rút ra các kết luận của luận án

5 NGỮ LIỆU

Nguồn ngữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu của luận án này là nghị định của chính phủ, thông tư của bộ Giáo dục và Đào tạo, bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch từ năm 2005 đến 2018

Về mặt thời gian, khối ngữ liệu này được thu thập trong khoảng gần15 năm nay, không cũ, nhưng cũng không chỉ là tại thời điểm hiện thời

Về mặt số lượng, khối ngữ liệu này gồm 203 văn bản nghị định, thông tư về lĩnh vực GDĐT và VHTTDL Trong đó nghị định là 24 văn bản và thông tư là 179

Để so sánh làm nổi bật đặc điểm về quan hệ liên nhân của nghị định, thông tư, luận

án khảo sát 69 tờ trình văn bản thuộc văn bản hành chính thông thường làm dữ liệu

- Luận án cũng chỉ rõ những phương tiện ngôn ngữ thực hiện quan hệ liên nhân, thực hiện chức năng tác động của diễn ngôn nghị định, thông tư;

- Luận án cũng cung cấp thông tin, tư liệu làm rõ thêm những vấn đề lý luận

và thực tiễn phân tích diễn ngôn

Trang 18

6.2 Về mặt thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của luận án đề ra các giải pháp giúp cho việc hiểu về ngôn ngữ sử dụng trong nghị định, thông tư, giúp cho người xây dựng văn bản sử dụng ngôn ngữ chuẩn xác Luận án có thể trở thành tài liệu tham khảo cho cho môn học

tiếng Việt và Giao tiếp Hành chính, Kỹ năng xây dựng và ban hành văn bản QLNN

trong các các cơ sở giao dục về QLNN

7 BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung nghiên cứu của luận án được tổ chức thành 3 chương như sau:

Chương 1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận của luận án

Chương 2 Quan hệ liên nhân trong diễn ngôn nghị định, thông tư

Chương 3 Chức năng tác động trong diễn ngôn nghị định, thông tư

Trang 19

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN ÁN

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Tình hình nghiên cứu văn bản quản lý nhà nước

Văn bản quản lý nhà nước (QLNN) là những văn bản chứa đựng những quyết định và thông tin quản lý do những các cơ quan quản lý nhà nước ban hành theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục, hình thức nhằm điều chỉnh các mối quan hệ nội bộ giữa các cơ quan nhà nước với nhau hoặc giữa cơ quan nhà nước với các tổ chức, cá nhân Đây là loại văn bản có vai trò to lớn trong hoạt động quản lý nhà nước ở mọi quốc gia, trong đó có Việt Nam

Để hệ thống văn bản QLNN hoạt động một cách hiệu quả, không ít các nghiên cứu lấy văn bản QLNN làm đối tượng khảo sát về phương diện chức năng, thể thức,

mô hình, phong cách Tuy vậy, ở các quốc gia với thể chế chính trị khác nhau, chức năng, vai trò của hệ thống văn bản này cũng được nhìn nhận không hoàn toàn giống nhau

Những quốc gia tồn tại độc lập ba cơ quan quyền lực - lập pháp, hành pháp và

tư pháp như Hoa Kỳ, Anh , chỉ cơ quan lập pháp mới được quyền xây dựng và ban hành các văn bản QLNN, thể hiện qua các bộ luật, còn những quốc gia có hệ thống chính trị tương tự như Việt Nam, văn bản QLNN lại được phân chia theo đặc trưng của hệ thống cơ quan ban hành Cơ quan lập pháp được quyền ban hành Hiến pháp, các bộ luật, luật, pháp lệnh Cơ quan hành pháp được quyền ban hành những văn bản quản lí hành chính nhà nước như nghị định, thông tư, quyết định (của thủ tướng) và các văn bản quản lý cấp địa phương (cấp tỉnh) Hệ thống cơ quan tư pháp

ban hành được quyền ban hành cáo trạng, bản án… Do vậy, thuật ngữ văn bản

QLNN được sử dụng gắn liền với đặc điểm của bộ máy quản lý của từng nhà nước, từng quốc gia

Trang 20

Nghiên cứu ngôn ngữ trong văn bản QLNN từ lâu đã được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học và liên ngành ở trên thế giới quan tâm và đã mang lại nhiều thành tựu Các nghiên cứu về ngôn ngữ trong văn bản QLNN chủ yếu tập trung phục vụ cho các mục đích ứng dụng như xây dựng văn bản QLNN, giảng dạy ngôn ngữ hành chính, dịch thuật văn bản QLNN, bên cạnh những nghiên cứu về đặc trưng ngôn ngữ và văn bản QLNN từ góc độ ngôn ngữ Từ đầu những năm 1960 trở lại đây có nhiều nhà khoa học tên tuổi như: Hager (1960), Mellinkoff (1963), Prederick Schauder (1982), Bhatia (1987, 1993), Maley (1994), Peter Tiersma (1999)

Peter Tiersma, một nhà nghiên cứu ngôn ngữ hành chính – pháp luật nổi

tiếng của đại học Berkeley (Hoa Kỳ) trong bài viết “Bản chất của ngôn ngữ pháp luật” (The nature of legal language) [86] đã chỉ ra ngôn ngữ QLNN chính là sản

phẩm của lịch sử đất nước, của chính quyền và của toàn bộ sự phát triển của hệ thống văn bản QLNN Chính vì nguyên nhân lịch sử, ngôn ngữ văn bản QLNN của nước Anh chịu nhiều ảnh hưởng của ngôn ngữ La tinh và ngôn ngữ Pháp – ngôn ngữ của những người Saxony và Scandinavia xâm lược mang đến Hệ quả là ngôn ngữ trong văn bản QLNN của Anh mang những đặc điểm riêng so với hệ thống ngôn ngữ đang hiện hành về phương diện phát âm, chính tả, từ vựng, về cấu trúc câu với sự nổi trội của một số mẫu câu khá đặc biệt như câu bị động, câu chứa nhiều mệnh đề con

Cùng khuynh hướng nghiên cứu ngôn ngữ các văn bản QLNN, đã có nhiều công trình tập trung nghiên cứu ngôn ngữ trong các văn bản do các cơ quan lập pháp ban hành Từ những nghiên cứu toàn diện ngôn ngữ của các văn bản luật pháp, các tác giả đi đến cơ bản thống nhất khi nhận xét tổng quả về phong cách chức năng, ngôn ngữ văn bản QLNN chủ yếu là ngôn ngữ cổ, nghi thức, phi cá thể và dài dòng

Có thể nói những nghiên cứu văn bản QLNN ở nhiều nước tập trung chủ yếu ở hai nội dung chính Thứ nhất là tìm hiểu đặc trưng ngôn ngữ của hệ thống văn bản QLNN; thứ hai là nghiên cứu ngôn ngữ văn bản QLNN để ứng dụng trong

Trang 21

dịch thuật

 Về miêu tả những đặc trưng ngôn ngữ cơ bản của văn bản QLNN

Có thể nói, khởi đầu cho việc nghiên cứu ngôn ngữ văn bản QLNN là

Melinkoff với cuốn The Language of the Law (1963) [80] Tác giả được xem là

người đầu tiên đặt viên gạch trong địa hạt ngôn ngữ học pháp luật khi nghiên cứu

về đặc điểm ngôn ngữ trong các văn bản QLNN Với cách đặt vấn đề “The law is a profession of words”, tác giả đã khẳng định nghiên cứu văn bản QLNN không thể

bỏ qua nghiên cứu ngôn ngữ sử dụng trong đó Theo tác giả, nghiên cứu ngôn ngữ QLNN cần tập trung vào một số vấn đề chính là phát hiện ra những đặc điểm đặc trưng của ngôn ngữ được sử dụng trong VBQLNN, đồng thời chỉ ra sự khác biệt của việc sử dụng ngôn ngữ trong thể loại văn bản này so với các thể loại văn bản khác Tác giả đặt vấn đề “so với ngôn ngữ được sử dụng trong đời sống thì ngôn ngữ trong văn bản QLNN có điểm gì khác biệt trong khi ngôn ngữ trong văn bản QLNN vẫn sử dụng phần lớn các từ ngữ, các mô hình câu, … của ngôn ngữ bình thường Điểm khác biệt lớn nhất trong văn bản QLNN là việc sử dụng nhiều phép lặp từ vựng nhằm đảm bảo tính chính xác của văn bản QLNN” [Dẫn theo Nguyễn Văn Khang, 2014, tr.501] [41]

Tiếp sau công trình The Language of the Law của Melinkoff, nhiều công

trình nghiên cứu về ngôn ngữ văn bản QLNN được công bố Tựu chung lại có thể thấy một số khuynh hướng nghiên cứu cơ bản:

Khuynh hướng thứ nhất tập trung phân chia thể loại ngôn ngữ văn bản QLNN Một trong những tác giả tiêu biểu của khuynh hướng này là Bhatia (1987)[65] Theo ông, từ góc độ ngôn ngữ, các văn bản QLNN có thể được chia thành nhiều tiểu loại khác nhau, tùy thuộc vào mục đích giao tiếp trong từng ngữ cảnh cụ thể, vào các sự kiện hoặc hoạt động giao tiếp liên quan, mối quan hệ xã hội hoặc mối quan hệ chuyên môn giữa các thành viên tham dự vào các hoạt động giao tiếp, phụ thuộc vào tri thức chung giữa các thành viên tham gia quá trình giao tiếp và nhiều yếu tố khác nữa Sự khác biệt giữa các tiểu loại này được phản ánh trong vốn từ

Trang 22

vựng – ngữ pháp

Khuynh hướng thứ hai tập trung nghiên cứu chức năng ngôn ngữ văn bản QLNN, chẳng hạn, Heikki E.S Mattila (2006) đã nghiên cứu chức năng và đặc điểm của ngôn ngữ văn bản QLNN, nghiên cứu bản thân nội hàm của khái niệm văn bản QLNN, ngôn ngữ văn bản QLNN hiện đại chủ yếu và cả những vấn đề trong dịch thuật ngôn ngữ văn bản QLNN [79]

 Các nghiên cứu văn bản QLNN với mục đích phục vụ công việc dịch thuật cũng

thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa, đáp ứng nhu cầu trao đổi văn hóa, giao thương giữa các quốc gia Đặc biệt khi trên thế giới đang hình thành những cộng đồng kinh tế chung thì hoạt động dịch thuật để tìm hiểu hệ thống văn bản QLNN của từng quốc gia là hết sức cần thiết

Alcaraz Varo trong công trình nghiên cứu “Dịch thuật pháp luật” (Legal

translation) [87] quan tâm đến những “lỗ hổng” trong dịch thuật ngôn ngữ văn bản QLNN và những chủ đề gây tranh cãi khi chuyển ngữ giữa hai hệ thống văn bản QLNN khác nhau Ông cũng đề xuất khá nhiều phương pháp đa dạng nhằm hỗ trợ công việc của mà các nhà dịch thuật

Cùng mối quan tâm với Alcaraz Varo, tác giả Alenka Kocbek của đại học

Primorska đã công bố bài “Khung văn hóa của các văn bản QLNN” (The Cultural

Embeddedness of Legal Texts) [76] đăng trên tạp chí Ngôn ngữ và dịch thuật (Journal of Language & Translation) số 9 ngày 2/9/2008 Bài viết đề cập đến vai trò của khung văn hóa trong hoạt động dịch thuật ngôn ngữ văn bản QLNN từ ngôn ngữ nguồn sang ngôn ngữ đích, trong bối cảnh tiếng Anh vốn được coi là ngôn ngữ chung trên toàn thế giới Tác giả đã đề xuất một số giải pháp cho sự không tương ứng về những khái niệm và thuật ngữ QLNN trong các ngôn ngữ như sáng tạo ra những thuật ngữ mới và nâng cao hiểu biết về văn bản QLNN của ngôn ngữ đích Những kết quả của hướng nghiên cứu này có thể ứng dụng vào việc dạy và học phong cách ngôn ngữ văn bản QLNN trong các trường luật, trường hành chính, hữu ích với cả những dịch giả trong lĩnh vực ngôn ngữ văn bản QLNN,

Trang 23

những luật sư có nhu cầu tìm hiểu thông tin về hệ thống văn bản QLNN Nói chung, những nghiên cứu này đóng góp vào việc nâng cao hiểu biết về QLNN, hữu ích cho người làm công tác xây dựng văn bản QLNN và người sử dụng văn bản QLNN

1.1.2 Nghiên cứu văn bản quản lý nhà nước (QLNN) ở Việt Nam

Với đặc thù của văn bản QLNN, đặc biệt tầm quan trọng của kiểu loại văn bản này trong xã hội, trực tiếp tham gia vào công tác quản lý nhà nước, văn bản QLNN đã được không ít nhà nghiên cứu quan tâm từ các góc độ khác nhau Bản thân việc xác định nội hàm cùng những đặc trưng cơ bản của thuật ngữ văn bản QLNN đã được thực hiện trong các tài liệu chính thức của bộ Nội vụ, trong các giáo trình giảng dạy về quản lý hành chính của nhiều trường đại học và cao đẳng Tuy vậy, với tư cách là một đối tượng nghiên cứu, các văn bản QLNN được quan tâm theo hai khuynh hướng chủ yếu sau:

1.1.2.1 Khuynh hướng nghiên cứu văn bản quản lý nhà nước với tư cách là một kiểu loại trong phong cách hành chính

Nghiên cứu văn bản QLNN từ cách tiếp cận phong cách chức năng có thể nói là một trong những khuynh hướng đầu tiên Khi nghiên cứu các văn bản QLNN dưới góc độ của phong cách học, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ thường xếp chúng vào kiểu loại phong cách hành chính – công vụ với những đặc trưng chung của các văn bản thuộc thể loại này

Vương Đình Quyền, Nguyễn Văn Hàm (1997) trong giáo trình Văn bản và lưu trữ đại cương (NXB Giáo dục) [49] thì gọi các văn bản Hiến pháp, bộ luật, luật,

pháp lệnh, nghị định, thông tư bằng một tên chung là văn bản quản lí hành chính nhà nước Các tác giả Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa (1997) trong giáo trình

hong cách học tiếng Việt (NXB Giáo dục) [42] và Lưu Kiếm Thanh (2010) trong Ngôn ngữ văn bản quản lý hành chính nhà nước (NXB Khoa học và Kỹ thuật) [51]

đều xếp tất cả VBQLNN vào phong cách hành chính - công vụ

Nguyễn Hữu Đạt [22] xác định các văn bản như: Hiến pháp, các bộ luật, sắc

Trang 24

lệnh, nghị định là một tiểu loại của phong cách hành chính-công vụ Trong công trình của mình, tác giả chỉ rõ, đây là phong cách được sử dụng để trao đổi những công việc hành chính sự vụ hàng ngày giữa các cơ quan hành chính, các đoàn thể, các cấp từ trung ương xuống địa phương với các thành viên và bộ phận xã hội có liên quan Tác giả còn chỉ ra một số đặc điểm của phong cách này là tính khuôn mẫu đồng loạt; tính phi biểu cảm; tính hệ thống, đồng bộ và thống nhất; tính ngắn gọn, súc tích và không đa nghĩa; tính trang trọng và tính quốc tế; tính quy ước và khả biến theo thời gian

Cù Đình Tú (1982) trong hong cách học tiếng Việt [60] cũng xếp các văn

văn bản Hiến pháp, luật, bộ luật, điều lệ, nội quy vào phong cách hành chính tiếng Việt và chỉ ra những đặc điểm riêng của phong cách này là mang tính thể thức, nghiêm trang về hình thức

Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hòa đã có những nghiên cứu sâu và hệ thống hơn đối với ngôn ngữ của thể loại VBQLNN Hai tác giả này cũng xếp các văn bản QLNN thuộc phong cách hành chính - công vụ, thuộc kiểu văn bản pháp quyền, đối lập với các kiểu văn bản quân sự, ngoại giao và văn thư Các tác giả này cũng chỉ ra một cách chi tiết chức năng và đặc trưng của cả phong cách hành chính công vụ Về chức năng ngôn ngữ, phong cách này thực hiện hai chức năng chính là chức năng thông báo và chức năng sai khiến Hai chức năng này tạo cho các văn bản hành chính - công vụ một màu sắc phong cách, đặc biệt là sự bắt buộc thi hành đều được thông báo Về đặc điểm ngôn ngữ, theo Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hòa, loại văn bản này mang tính chính xác, minh bạch, tính nghiêm khắc khách quan và tính khuôn mẫu cao [42]

Ưu điểm của các công trình nghiên cứu theo phong cách học đã đưa ra những đặc trưng về ngôn ngữ cho hệ thống văn bản thuộc phong cách hành chính công vụ Những đặc trưng riêng về ngôn ngữ của nhóm văn bản này giúp phân biệt với các nhóm văn bản khác như văn bản khoa học, báo chí, văn học nghệ thuật

Trang 25

1.1.2.2 Khuynh hướng nghiên cứu văn bản quản lí nhà nước từ cách tiếp cận của phân tích văn bản/diễn ngôn

Nghiên cứu các văn bản QLNN từ góc độ phân tích diễn ngôn gắn liền với sự phát triển của khoa học phân tích diễn ngôn với tư cách là một phân ngành của ngôn ngữ học

Như nhiều nhà nghiên cứu phân tích, giai đoạn đầu từ những năm 1980 cho

đến những năm 2000 phân tích diễn ngôn chủ yếu tập trung vào phân tích ngữ pháp văn bản mà cốt lõi là phân tích sự liên kết, cấu trúc, tính mạch lạc của văn bản,

trong đó đại diện là một số nhà nghiên cứu như Trần Ngọc Thêm, Nguyễn Việt Thanh, Diệp Quang Ban, Nguyễn Đức Dân, Đỗ Hữu Châu Trần Ngọc Thêm [57] với “ Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt” đã đánh dấu một cột mốc cho sự khởi đầu của ngôn ngữ học văn bản tại Việt Nam, trong đó tập trung khảo sát sự liên kết

về mặt nội dung và hình thức của văn bản Tiếp nối công trình nghiên cứu của nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm là công trình nghiên cứu “Hệ thống liên kết lời nói” của nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Việt Thanh [52] với trọng tâm là tiếp tục nghiên cứu các phương tiện liên kết hình thức và nội dung trên cơ sở chất liệu lời nói Sau

đó, hàng loạt chuyên khảo của Diệp Quang Ban đã mang tính tổng quát hơn, tiếp cận và giới thiệu những trào lưu nghiên cứu cơ bản của phân tích diễn ngôn trên thế giới với những đặc trưng của từng giai đoạn phát triển, từng hệ vấn đề Bên cạnh

đó, các công trình của Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đức Dân [8,11,15] lại có đề cập tới phân tích diễn ngôn dưới góc độ dụng học

Trong cuốn “Dụng học Việt ngữ” [26] nhà nghiên cứu Nguyễn Thiện Giáp có một chương đề cập đến diễn ngôn và phân tích diễn ngôn Tác giả đề cập đến các nội dung như ngữ cảnh và ý nghĩa, cấu trúc thông tin, diễn ngôn và phân tích diễn ngôn, diễn ngôn và văn hóa, ngữ dụng học diễn ngôn, dụng học và giao thoa văn hóa …

Nguyễn Hòa là đại diện tiêu biểu cho giai đoạn 3 của nghiên cứu diễn ngôn, nhất quán sử dụng thuật ngữ diễn ngôn Trong các nghiên cứu của Nguyễn Hòa, yếu

tố quyền lực và chức năng tác động của ngôn ngữ được quan tâm nhiều khi đề cập

Trang 26

đến diễn ngôn phê phán, một đường hướng phân tích diễn ngôn tập trung vào vấn

đề xã hội, nhất là đến vai trò tạo và tái tạo quyền lực của ngôn ngữ trong xã hội [33,34,35]

Tiếp sau những nghiên cứu về mặt lý thuyết là sự xuất hiện của nhiều nghiên cứu ở các mức độ khác nhau khi vận dụng lý thuyết phân tích diễn ngôn vào việc phân tích các thể loại diễn ngôn cụ thể như văn học nghệ thuật, bản báo chí, chính luận, hành chính Riêng đi sâu vào thể loại văn bản quản lý nhà nước, có thể kể ra một số nghiên cứu tiêu biểu như sau:

Một trong những công trình nghiên cứu sớm về loại đối tượng này là luận án

“Một số đặc điểm ngôn ngữ luật pháp tiếng Việt” (có so sánh đối chiếu với tiếng Anh) của Lê Hùng Tiến [58] Nghiên cứu của Lê Hùng Tiến được xem là một trong những công trình đầu tiên ở Việt Nam ứng dụng lí thuyết phân tích diễn ngôn của Bhatia, Swales và Maley để chỉ ra một số đặc điểm đặc trưng về từ vựng, ngữ pháp

và văn bản trong văn bản pháp luật Đây là một cách nhìn văn bản pháp luật dưới góc độ chức năng và dụng học Lê Hùng Tiến đã ứng dụng những luận điểm hiện đại của ngữ pháp chức năng hệ thống để phân tích ngôn ngữ các văn bản luật (chủ yếu lấy từ Bộ Luật Dân sự và Hình sự) Công trình đã mô tả, giải thuyết các phương tiện từ vựng, ngữ pháp như động từ ngữ vi, câu ngữ vi, từ tình thái, hệ thuật ngữ luật pháp được sử dụng trong các văn bản luật nhằm hoàn thành chức năng giao tiếp tiếng của thể loại văn bản này Luận án nghiên cứu phân tích diễn ngôn văn bản pháp luật tiếng Việt có đối chiếu với các đặc điểm tương ứng của diễn ngôn văn bản pháp luật tiếng Anh và từ đó rút ra gợi ý cho việc dịch thuật văn bản pháp luật từ tiếng Việt sang tiếng Anh

Tiếp sau nghiên cứu của Lê Hùng Tiến có thể kể đến công trình của Dương Thị Hiền [32] “Phân tích ngôn ngữ trong văn bản pháp luật qua hiến pháp Hoa Kỳ

và hiến pháp Việt Nam”, tác giả Dương Thị Hiền đã ứng dụng lí thuyết phân tích diễn ngôn phê phán vào phân tích văn bản pháp luật Nếu như trước đó, vào những năm 1998, Lê Hùng Tiến mới chỉ dừng lại ở việc ứng dụng phương pháp phân tích

Trang 27

diễn ngôn ứng dụng thì năm 2008 Dương Thị Hiền đã sử dụng phương pháp phân tích diễn ngôn phê phán để chỉ ra các đặc điểm ngôn ngữ trong Hiến pháp Hoa Kỳ

và so sánh với các đặc điểm ngôn ngữ trong Hiến pháp Việt Nam 1992 Việc phân tích và so sánh hai văn bản pháp luật của hai quốc gia nhằm phục vụ cho việc tìm hiểu đặc điểm của ngôn ngữ pháp luật và dịch thuật giữa hai ngôn ngữ, từ đó ứng dụng việc nâng cao năng lực xây dựng pháp luật

Trong luận án “Biểu hiện của mạch lạc trong thể loại báo cáo và tờ trình thuộc văn bản hành chính – công vụ” của Nguyễn Thị Hường (2010) [36], tác giả

đã tập trung nghiên cứu hiện tượng liên kết về nội dung và hình thức giữa các đơn

vị trong văn bản tạo nên tính mạch lạc trong loại văn bản hành chính thông thường,

mà đối tượng nghiên cứu chủ yếu là báo cáo và tờ trình

Trong luận án “nghiên cứu ngôn ngữ trong văn bản hành chính tiếng việt từ góc độ dụng học” của Đỗ Thị Thanh Nga năm (2016 ) tác giả đã tập trung

nghiên cứu đăc trưng ngôn ngữ của các loại văn bản hành chính nói chung và

nhấn mạnh đến nhóm văn bản hành chính thông dụng như tờ trình, báo cáo

Tác giả tập trung khảo sát các hành động ngôn từ và cách thức tổ chức văn bản.

Bên cạnh các công trình nghiên cứu diễn ngôn dưới góc độ ngôn ngữ học thì văn bản quản lý nhà nước với tư cách là công cụ quản lý điều hành xã hội cũng được tiếp cận góc độ khoa học quản lý nhà nước Một số tác giả khảo sát văn bản quản lý trên bình diện quản lý nhà nước như tác giả Tống Duy Tình [59] với công trình khảo sát “Hệ thống hóa các văn bản qui phạm pháp luật của Bộ giáo dục và Đào tạo” (2015) đã đi vào tìm hiểu về thẩm quyền ban hành văn bản cũng như mối liên hệ về nội dung giữa các văn bản trong hệ thống Tuy vậy, trong phạm vi của nghiên cứu này, bình diện tổ chức nội dung cũng như ngôn ngữ của văn bản không dành được sự quan tâm thích đáng

Bên cạnh đó cũng có một số công trình tập trung nghiên cứu về kỹ năng soạn thảo văn bản nói chung như công trình "Soạn thảo văn bản” của tác giả Trần Anh

Trang 28

Minh [46] Công trình chủ yếu nghiên cứu văn bản dưới góc độ khoa học quản lý nhấn mạnh đến thẩm quyền ra văn bản, nghiên cứu các nguyên tắc xây dựng văn bản

Bên cạnh những nghiên cứu trên, văn bản QLNN cũng còn được không ít luận văn thạc sĩ và khóa luận tốt nghiệp lựa chọn làm đối tượng nghiên cứu với những mức độ và góc độ khác nhau, như về phương diện cấu trúc, tổ chức văn bản với cách tiếp cận vĩ mô, hay hiện tượng liên kết, mạch lạc với các phương thức và phương tiện được ưu tiên lựa chọn phụ thuộc vào đặc điểm riêng của thể loại văn bản hành chính

Mặc dù mỗi nghiên cứu đều cung cấp những cái nhìn khác nhau và đem lại những đóng góp khác nhau về thể loại văn bản QLNN, xong có thể nói còn một khía cạnh khác của quá trình giao tiếp hành chính, đó là mối quan hệ giữa người ban hành văn bản và người tiếp nhận văn bản, những phương thức và phương tiện ngôn ngữ sử dụng trong văn bản với chức năng liên nhân xác định quyền lực của các nội dung được thể hiện trong văn bản, hiệu quả tác động để phù hợp với chức năng giao tiếp của văn bản QLNN vẫn chưa được chú trọng đúng mức Mặc dù không ít nhà nghiên cứu khẳng định văn bản QLNN là một thể loại điển hình với đặc trưng phi cá thể, vai trò của cá nhân người viết không được thể hiện, đồng thời hướng tới một đối tượng tiếp nhận xác định không dựa trên những quan hệ cá nhân, song không thể nói khi giao tiếp, chức năng liên nhân của ngôn ngữ hoàn toàn không được coi trọng Có thể nói cho tới nay, mối quan hệ liên nhân, các chức năng tác động thông qua các phương tiện như hành động ngôn từ hay lập luận của văn bản QLNN chưa có một công trình khảo sát nào Đây chính là một khoảng trống cần những nghiên cứu để lấp đầy

1.2 Cơ sở lí luận của luận án

1.2.1 Chức năng liên nhân của ngôn ngữ

Chức năng liên nhân của ngôn ngữ là một nội dung thu hút sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu trong những năm gần đây Về phương diện lý thuyết, từ

Trang 29

lâu chức năng giao tiếp (bao gồm cả chức năng tư duy, hoặc được tách thành chức năng giao tiếp và tư duy) là chức năng cơ bản của ngôn ngữ Cùng với sự phát triển của ngôn ngữ học, đặc biệt của phân tích diễn ngôn với tư cách là một chuyên ngành của ngôn ngữ học khi tập trung nghiên cứu ngôn ngữ trong quá trình sử dụng, trong quá trình giao tiếp, việc phát hiện, phân biệt, cụ thể hóa các chức năng của ngôn ngữ với những tên gọi khác nhau là thành quả của nhiều nghiên cứu Theo Diệp Quang Ban “Chính các nhà phân tích diễn ngôn nhận ra sự phân tích ngôn ngữ không chỉ giới hạn ở việc miêu tả các hình thức ngôn ngữ độc lập với các mục đích hay chức năng mà các hình thức này được thiết kế nhằm phục vụ công việc của con người, trong đó ngôn ngữ thực hiện hai chức năng chính yếu là chức năng giao dịch

và chức năng liên nhân” (Diệp Quang Ban, 2009, Tr.21) [1]

Chức năng giao dịch (transactional function), còn được gọi là chức năng biểu hiện của ngôn ngữ được dùng trong việc diễn đạt kinh nghiệm, nội dung sự việc, giao tiếp truyền tin, được coi là chức năng quan trọng nhất

Chức năng liên nhân (interpersonal function - theo quan niệm của M.A.K Halliday, là chức năng ngôn ngữ thiết lập, duy trì mối quan hệ giữa người với người trong giao tiếp), còn gọi là chức năng tương tác, chức năng xã hội Với chức năng này, ngôn ngữ trong khi sử dụng với tư cách là phương tiện giao tiếp để trao đổi với người khác sẽ bộc lộ các mối quan hệ xã hội, bộc lộ các quan hệ vị thế hay quyền lực giữa những tham thể giao tiếp, bộc lộ quan điểm hay thái độ đối với đối tượng giao tiếp, tạo dựng hoặc duy trì các quan hệ xã hội, từ đó tác động khiến người khác

có thể thay đổi thái độ hay hành vi đối với những hiện tượng, sự vật hay những vấn

đề của xã hội

Với sự ra đời và phát triển của những nghiên cứu ngữ pháp chức năng mà Halliday là một trong những đại diện tiêu biểu, chức năng liên nhân vẫn được coi là một siêu chức năng quan trọng, cùng với siêu chức năng tư tưởng và siêu chức năng văn bản tạo thành 3 siêu chức năng cơ bản của ngôn ngữ

Trang 30

Quan hệ liên nhân là quan hệ so sánh xét trong tương quan vị thế xã hội, hiểu biết, tuổi tác, uy tín, khoảng cách xã hội, giới tính giữa các nhân vật giao tiếp với nhau

Theo R Brown và A Gilman, [dẫn theo Vũ Tiến Dũng (2007), Lịch sự trong tiếng Việt và giới tính, Nxb Giáo dục, Hà Nội] [21] quan hệ liên nhân giữa người

nói và người nghe được xét theo hai trục: trục quyền lực (quan hệ dọc) và trục thân hữu (quan hệ ngang) hay còn gọi là trục khoảng cách Quan hệ liên nhân giữa người nói và người nghe, theo R Brown và A Gilman có thể hình dung đại thể như sau:

Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ liên nhân giữa người nói với người nghe

Trong sơ đồ ở trên: Trục tung là trục quyền lực, còn trục hoành là trục thân hữu (quan hệ khoảng cách) Trong quá trình giao tiếp, quan hệ theo trục thân hữu có thể thay đổi, trục quyền lực thì không Theo trục thân hữu, các nhân vật giao tiếp có thể gần gũi nhau mà cũng có thể xa cách nhau Thông thường, qua giao tiếp, người

ta có thể hiểu nhau hơn và rút ngắn khoảng cách (trừ trường hợp từ chối cộng tác, từ chối sự thay đổi khoảng cách) Trên trục quyền lực thì những người giao tiếp khi đã xác định được vị thế xã hội (cái địa vị có thể do tuổi tác, quan hệ gia đình, dòng tộc, chức quyền, nghề nghiệp… mà có) thì sẽ giữ nguyên trong quá trình giao tiếp, và không thể thay đổi qua thương lượng

Trang 31

Có thể nói trong quan hệ liên nhân, khái niệm “quyền lực” giữ vai trò hết sức

quan trọng Theo Từ điển tiếng Việt thì « quyền lực » được định nghĩa là: “Quyền định đoạt mọi công việc quan trọng về mặt chính trị và sức mạnh để đảm bảo việc thực hiện quyền ấy” [tr.1056] Quan hệ quyền lực là vị thế giao tiếp khác nhau tùy

thuộc vào địa vị gia đình và xã hội, thứ bậc, tuổi tác, nghề nghiệp theo những quy ước xã hội mà các nhân vật tham gia giao tiếp có được Quan hệ quyền lực trong xã hội hình thành nên quan hệ vị thế (Power Relationship) trong một bối cảnh giao tiếp

cụ thể Trong quan hệ quyền lực, người trên quyền có khả năng chi phối trực tiếp đến việc kiềm chế hành vi của người dưới quyền Khái niệm này được thể hiện rõ nhất trong hệ thống tổ chức chính trị Quyền lực nhà nước mà chính phủ, các bộ và bộ trưởng đảm nhiệm có quyền quyết định những công việc quan trọng về mặt chính trị (trong giới hạn chính phủ và các bộ trưởng được nhà nước trao) và nhà nước sẽ đảm bảo cho việc thực hiện bằng nhiều biện pháp khác nhau

Chức năng liên nhân thể hiện qua việc sử dụng các phương tiện ngôn ngữ để

diễn đạt các mối quan hệ xã hội và quan hệ liên cá nhân Văn bản QLNN nói chung,

cụ thể là nghị định, thông tư, thể hiện mối quan hệ giữa nhà nước (bên nắm quyền lực) và bên chịu sự điều chỉnh của quyền lực Bên ban hành văn bản đưa ra những qui định còn bên tiếp nhận chỉ có trách nhiệm tuân thủ và thi hành các nội dung được truyền đạt Bản chất này qui định chức năng liên nhân của diễn ngôn và được thể hiện thông qua nguồn lực ngôn ngữ như tình thái, động từ ngôn hành, câu ngôn hành, đại từ nhân xưng trong văn bản

1.2.2 Phân tích văn bản và phân tích diễn ngôn

Văn bản (text) và diễn ngôn (discourse) là hai thuật ngữ quan trọng của phân tích diễn ngôn, diễn tả sản phẩm của hoạt động giao tiếp Việc sử dụng hai thuật ngữ có những điểm không thật thống nhất giữa các nhà nghiên cứu Có lúc thuật ngữ văn bản hay diễn ngôn được sử dụng để chỉ chung các sản phẩm giao tiếp dưới dạng văn tự và dạng âm thanh Nhưng cũng ở một số nhà nghiên cứu khác, hai thuật ngữ này lại có sự phân định, khi văn bản chỉ là sản phẩm ngôn ngữ ở dạng viết, tồn

Trang 32

tại tách biệt với ngữ cảnh, khác với diễn ngôn là “một sản phẩm giao tiếp trong ngữ

cảnh.” (D Nunan 1997, tr.37) [47] Do vậy để thống nhất, ngoài thuật ngữ chung là

diễn ngôn, chúng tôi sẽ sử dụng thuật ngữ ngôn bản để chỉ diễn ngôn nói và văn bản

để chỉ diễn ngôn viết

Sự phân biệt giữa diễn ngôn và văn bản sẽ dẫn đến sự phân biệt giữa PTDN (discourse analysis) và phân tích văn bản (text analysis) Theo D Nunan [47] phân tích văn bản tách rời ngữ cảnh, còn phân tích diễn ngôn sẽ quan tâm đến mặt chức năng và đặc biệt, luôn luôn đặt diễn ngôn trong ngữ cảnh để phân tích, do vậy phân tích diễn ngôn có thể đối lập với phân tích văn bản Trong thực tế nghiên cứu chúng tôi nhận thấy khó có thể phân tích thuần túy hình thức (phân tích văn bản) tách biệt khỏi chức năng (PTDN) và ngược lại Và mối quan hệ giữa diễn ngôn và văn bản, PTDN và PTVB không phải hai bộ môn khác biệt, mà chỉ là hai mặt của phân tích ngôn ngữ trong hoàn cảnh giao tiếp xã hội Điều này thấy rõ trong quan niệm phân tích văn bản hoặc phân tích diễn ngôn của một số nhà nghiên cứu

Theo M.A.K Halliday (1985:496), “Tổ chức của văn bản là tổ chức ngữ

nghĩa chứ không phải là tổ chức hình thức, và lỏng lẻo hơn tổ chức của các đơn vị ngữ pháp rất nhiều […] Nhưng điều quan trọng là chúng ta có thể xem văn bản trong trạng thái động, như là một quá trình ý nghĩa đang diễn ra; và liên kết văn bản như là một bình diện của quá trình, qua đó có thể tìm ra được dòng ý nghĩa hướng vào dòng văn bản thay vì việc đổ nó ra ngoài theo mọi hướng có thể không có hình thức”[74]

G Brown và G Yule phân tích vai trò của ngữ cảnh trong giải thuyết diễn ngôn, biểu hiện của chủ đề trong diễn ngôn, cách qui chiếu, phân đoạn, tính mạch lạc […] Theo hai tác giả này, nhà phân tích diễn ngôn xử lí dữ liệu của mình như là

dữ kiện (văn bản) của một quá trình động, trong đó ngôn ngữ được sử dụng như một công cụ giao tiếp trong ngữ cảnh mà qua đó người viết người nói thể hiện nghĩa và đạt được ý định Từ dữ kiện này, nhà phân tích tìm cách mô tả các quy tắc trong ngôn ngữ được mọi người sử dụng để giao tiếp” [tr.51][67]

Trang 33

Nguyễn Thiện Giáp trong Dụng học Việt ngữ cũng đã trình bày về phân tích

diễn ngôn như sau “tập trung vào quá trình sử dụng ngôn ngữ để thể hiện ý định trong ngữ cảnh nào đó Tất nhiên người ta quan tâm nhiều hơn đến cấu trúc của diễn ngôn, đặc biệt là chú ý đến cái tạo ra một văn bản chuẩn tắc Trong cách nhìn cấu trúc, tiêu điểm chú ý là những chủ đề như những khâu nối hiển ngôn giữa các câu trong văn bản có mạch lạc hoặc những yếu tố tổ chức văn bản” [tr.184] [26]

Diệp Quang Ban (2009) cũng đã chỉ ra đối tượng và phương pháp của phân tích diễn ngôn: “Phân tích diễn ngôn là đường hướng tiếp cận tài liệu ngôn ngữ nói

và viết bậc trên câu, từ tính đa diện hiện thực của nó, bao gồm các mặt ngôn từ và ngữ cảnh tình huống với các mặt hữu quan thể hiện trong khái niệm ngữ vực mà nội dung hết sức phong phú và đa dạng (gồm các hiện tượng thuộc thể loại và phong cách chức năng, phong cách cá nhân cho đến các hiện tượng xã hội, văn hóa dân tộc [tr.158] [1]

Nói tóm lại, nét chung trong quan niệm của các nhà nghiên cứu nêu trên về Văn bản và diễn ngôn chỉ là những góc tiếp cận khác nhau của cùng một vấn đề Với những quan niệm, cách hiểu như vậy, chúng ta có thể cho rằng văn bản sẽ bao gồm các yếu tố như liên kết, cấu trúc đề thuyết, còn diễn ngôn sẽ bao gồm mạch lạc, các hành động ngôn từ Điều này cho thấy, phân tích văn bản hay phân tích diễn ngôn chỉ là hai thuật ngữ phản ánh hai thời kì khác nhau của ngôn ngữ học văn bản

Xuất phát từ đối tượng nghiên cứu của luận án là văn bản nghị định của Chính phủ và thông tư của các bộ, trong luận án này, các văn bản nghị định, thông

tư vừa được nghiên cứu như một thực thể tĩnh vừa được nghiên cứu như một thực thể động, vừa được nhìn nhận như là một sản phẩm, vừa lại như một quá trình Chính vì vậy, một mặt chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích văn bản đồng thời chúng tôi sử dụng cả phương pháp phân tích diễn ngôn để phân tích các văn bản nghị định và thông tư

Trang 34

1.2.3 Một số bình diện nghiên cứu trong trong phân tích diễn ngôn

Trong các công trình nghiên cứu trước đây, việc nghiên cứu phân tích diễn ngôn có thể được thực hiện trên bốn bình diện:

Thứ nhất, bình diện lý thuyết Ở bình diện này, các hướng nghiên cứu về

phân tích diễn ngôn có thể dược xếp thành hai hướng Một hướng được coi là phân nhánh của ngữ pháp hình thức với trọng tâm nghiên cứu là mặt hình thức hoặc chức năng của việc sử dụng ngôn ngữ gồm cả ngữ nghĩa học và ngữ dụng học Ở hướng còn lại, các nghiên cứu phân tích diễn ngôn tập trung vào việc sử dụng mang tính chế ước hóa (institutinalised) của ngôn ngữ trong bối cảnh văn hóa – xã hội khác nhau, trong đó sự giao tiếp bằng ngôn ngữ được coi là một hoạt động xã hội (communication as social action)

Thứ hai, ở bình diện chung, hướng nghiên cứu chuyên ngành Hướng nghiên

cứu chung tập trung vào phân tích các diễn ngôn hội thoại hàng ngày, các thể loại văn bản viết như mô tả, trần thuật, chính luận, còn bình diện chuyên ngành thì tập trung vào các thể loại văn bản chuyên ngành như bài báo khoa học, văn bản luật, các cuộc giao tiếp giữa bác sĩ, bệnh nhân…

Thứ ba là bình diện ứng dụng, nghiên cứu PTDN tập trung vào các mục tiêu

ứng dụng khác nhau như dạy học, học tiếng và dịch thuật

Thứ tư là bình diện mức độ phân tích Các nghiên cứu phân tích diễn ngôn

được phân loại theo mức độ, từ phân tích hình thức bề mặt tới phân tích chiều sâu

các chức năng của ngôn ngữ Sự phân loại này đồng thời cũng phản ánh sự chuyển biến của phân tích diễn ngôn ứng dụng trong những năm gần đây: từ nghiên cứu hình thức sang nghiên cứu chức năng, từ nghiên cứu ngữ pháp sang nghiên cứu diễn ngôn và giao tiếp

Trang 35

1.2.4 Các mô hình lý thuyết được vận dụng

Trong luận án này, chúng tôi áp dụng ba khung lý thuyết miêu tả, gồm: lý thuyết về giao tiếp ngôn ngữ, lý thuyết về hành động ngôn từ và lý thuyết về lập luận Dưới đây là những nội dung cốt lõi của các khung lý thuyết đó

1.2.4.1 Các lý thuyết giao tiếp ngôn ngữ

Hoạt động giao tiếp của con người đã được ngôn ngữ học nghiên cứu từ khoảng giữa thế kỉ này Một số tác giả như Shannon [82] khi nghiên cứu về mô hình truyền thống đã đưa ra mô hình giao tiếp Tuy nhiên đây chỉ là mô hình về quá trình giao tiếp trên mạng điện báo và quá trình truyền thông cho nên chưa diễn tả được quá trình giao tiếp của con người Sau đó Jacobson [75], được coi là người đầu tiên nghiên cứu tương đối đầy đủ quá trình giao tiếp của con người trong công trình

"linguistics and poetics" (1960), đã đưa ra sơ đồ giao tiếp như sau:

Sơ đồ 1.2 Mô hình giao tiếp của Jacobson [75]

Mô hình của Jacobson mô tả một hoạt động giao tiếp chịu sự tác động của 6 nhân tố giao tiếp: người phát, người nhận, thông điệp, ngữ cảnh, tiếp xúc, mã ngôn ngữ Sơ đồ này được coi là sơ đồ cổ điển về ngôn ngữ trong giao tiếp bởi lẽ nó đã thể hiện khá đầy đủ các nhân tố giao tiếp Hoạt động giao tiếp ở đây được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các dạng của quá trình trao đổi thông tin giữa con người với nhau Sơ đồ này được nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ sau này như Halliday (1973), Leech (1974)… kế thừa và phát triển theo nhiều cách khác nhau Để giản tiện chúng tôi gọi đây là mô hình giao tiếp hai nhân vật (người phát - người nhận)

Trang 36

với chức năng được phân định rõ ràng của 6 thành tố hoạt động đồng thời và chi phối trực tiếp tới sản phẩm giao tiếp (văn bản hay ngôn phẩm)

Nhân tố đầu tiên và thứ hai là nhân vật giao tiếp, gồm người phát (truyền

thông điệp) và người nhận Khi truyền thông điệp nào đó, người phát buộc phải lựa chọn nội dung và cách thể hiện thông điệp đó, cùng với sự cân nhắc tới các thông số

ở phía người nhận và như vậy thông điệp bị qui định bởi cả hai chiều người phát và người nhận Hơn nữa, trong giao tiếp người phát thường chỉ có một người song người có thể là số đông Điều này cũng qui định hình thức và nội dung thông điệp Trong trường hợp người nhận là số đông cần phân biệt người nhận đích thực và người nhận nói chung Giao tiếp có thể diễn ra theo hai hoặc một chiều Trong giao tiếp hai chiều, người nhận đóng vai trò tích cực bởi vì anh ta luôn đổi vai giao tiếp trong suốt quá trình giao tiếp

Nhân tố thứ ba là thực tế được nói tới được thể hiện bằng sản phẩm ngôn từ, tức là thông điệp Thực chất đây là những nhận thức của người viết/ nói về hiện thực được đưa vào nội dung thông điệp để truyền đạt cho người nhận nhằm đạt đến mục đích giao tiếp nào đó

Nhân tố thứ tư là hoàn cảnh giao tiếp của văn bản Hiểu theo nghĩa rộng,

hoàn cảnh giao tiếp bao gồm hoàn cảnh tự nhiên xã hội, lịch sử văn hóa của cộng đồng quốc gia mà các nhân vật giao tiếp đang có mặt Hoàn cảnh này chắc chắn chi phối cả nội dung và hình thức của thông điệp Tuy nhiên chúng không tham gia trực tiếp vào giao tiếp mà chỉ tham gia gián tiếp dưới dạng những hiểu biết những kinh nghiệm tồn ẩn trong tư duy người phát và người nhận trước khi cuộc giao tiếp diễn

ra Chúng được gọi là các tiền giả định giao tiếp hay các tiền giả định bách khoa của giao tiếp Nếu hiểu theo nghĩa hẹp thì hoàn cảnh giao tiếp chỉ nơi chốn cụ thể, với những đặc trưng riêng, là nơi sẽ diễn ra hoạt động giao tiếp Nó còn được gọi là môi trường giao tiếp Đến lượt mình môi trường giao tiếp ảnh hưởng không nhỏ đến nội dung và hình thức của thông điệp và hiệu quả của cuộc giao tiếp

Trang 37

Nhân tố thứ năm là mã ngôn ngữ được sử dụng trong giao tiếp Đó có thể là ngôn ngữ này hoặc khác (thường là quá trình giao tiếp được thực hiện khi sử dụng chung một ngôn ngữ), là dạng thức ngôn ngữ nói hoặc ngôn ngữ viết, các yếu tố kèm ngôn ngữ, như: giọng nói, nụ cười, ánh mắt hoặc các tín hiệu phi ngôn ngữ (non-verbal) Bên cạnh đó, các tri thức đi kèm với mã, có thể tạo nên ý nghĩa hay hàm ý riêng đối với những người tham gia giao tiếp cũng được xếp vào thành tố này Đối với các nhân vật tham giao tiếp, mỗi loại tín hiệu sẽ có hiệu quả và chất lượng giao tiếp khác nhau

Thành tố cuối cùng là kênh tiếp xúc của một hoạt động giao tiếp là điều kiện thiết lập và duy trì sự giao tiếp, có chức năng đưa đẩy cho quá trình giao tiếp được thực hiện liên tục, trơn tru

Khi thực hiện một hoạt động giao tiếp, người truyền hay phát thông điệp bao giờ cũng hướng đến một mục đích nhất định Đó là đích của hoạt động giao tiếp Đích này được thể hiện ở hai loại mục đích của thông điệp: đích nhận thức và đích tác động Mục đích nhận thức của thông điệp là làm cho người nhận sau khi tiếp nhận nội dung của thông điệp sẽ có cùng nhận thức với người phát Mục đích tác động của thông điệp là mục đích làm cho người tiếp nhận phải có những biến đổi nhất định trong trạng thái tâm lý, tình cảm từ đó có hành động phù hợp với mong muốn của người phát Hai loại mục đích này luôn tương tác, cái này là chỗ dựa cho cái kia

Cùng với thời gian trong ngôn ngữ học sự giao tiếp được nhận thức lại một cách đầy đủ hơn và sâu sắc hơn Theo đó hoạt động giao tiếp của con người có thể được hình dung trong một sơ đồ khác đã có sự phát triển hơn so với sơ đồ của Jacobson, Lyons [77] nêu ra sơ đồ sau đây:

Tín hiệu truyền Tín hiệu nhận X Thể phát I Kênh I Thể nhận Y

(Theo Lyons 1978, Elêment de semantique, Larousse, Pari trang 36)

Sơ đồ 1.3 Mô hình giao tiếp của Lyons

Trang 38

Trong đó X là nguồn phát hay chủ thể phát tín, Y là đích nhận hay chủ thể nhận tin Khác với Jacobson và những người khác, Lyons phân biệt chủ thể phát với thể phát ở bên phát, chủ thể nhận với thể nhận ở bên nhận Sơ đồ này đã được Đỗ Hữu Châu tiếp thu và phát triển một cách sáng tạo Theo đó chủ thể phát là người phát đích thực hay chủ ngôn của một phát ngôn hoặc ngôn bản, còn thể phát chỉ là trung gian truyền đạt nội dung của một thông tin nào đó từ chủ thể phát tới bên nhận Do đó, thể phát có thể được gọi là người truyền ngôn Tương tự chủ thể nhận

là người nhận đích thực hay người thụ ngôn, còn thể nhận là trung gian truyền tin giữa hai bên, do đó còn có thể gọi là người tiếp ngôn

Chủ thể phát

A A' T B B

Trong sơ đồ giao tiếp nói trên, việc phát hiện ra các nhân vật giao tiếp trung gian giữa hai nhân vật người phát và người nhân đích thực đã đánh dấu một bước biến bộ quan trọng trong nhận thức của ngôn ngữ học về ngôn giao Nó góp phần đáng kể trong việc nghiên cứu giao tiếp hành chính

Để dễ hình dung chúng tôi gọi sơ đồ giao tiếp của Lyons là sơ đồ giao tiếp bốn nhân vật (chủ ngôn - người truyền tin - người tiếp ngôn - người thụ ngôn), chúng tôi sẽ còn trở lại sơ đồ này phần sau khi phân tích về giao tiếp hành chính

Ngôn ngữ tiền dụng học có hạn chế rất lớn là chưa phát hiện ra bản chất hành động của sự giao tiếp, chỉ đến khi ngữ dụng học ra đời giao tiếp ngôn ngữ mới được quan tâm nghiên cứu như là địa hạt thể hiện và thực thi các Hành động ngôn từ của các nhân vật giao tiếp Theo đó nói năng là một loại hành động, một loại hành động thực hiện bằng ngôn từ Như vậy giao tiếp ngôn ngữ thực chất là sự trao đổi hành động bằng ngôn từ, và lý thuyết ngôn giao thực chất là lý thuyết của ngữ dụng học

mà nòng cốt của nó là lý thuyết Hành động ngôn từ với các đại diện là Austin, Searle Trọng tâm nghiên cứu của ngôn giao là nghiên cứu ngôn ngữ ở dạng hành chức, trong mối quan hệ với người sử dụng nó, với hiện thực được nói tới, với hoàn cảnh trong đó sự giao tiếp đang diễn ra Vì vậy có thể nói rằng lý thuyết về giao tiếp

Trang 39

ngôn ngữ chính là lý thuyết ngữ dụng học Lý thuyết này sẽ được tiếp tục giới thiệu

ở phần sau đây

Tiếp thu kết quả của những nghiên cứu trước đó, hệ thống hóa, phát triển thành một lý thuyết mới, với góc nhìn mới của lý thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống, đó là thành tựu cơ bản mà M.A.K Halliday đem tới cho ngôn ngữ học

Ngôn ngữ, theo cách nhìn của ngữ pháp chức năng hệ thống là một hệ thống các lựa chọn có liên hệ tương tác với nhau mà từ đó người nói lựa chọn một cách nhìn chung Halliday tập trung vào các chức năng tạo cho ngôn ngữ một hình thức như hiện có, thường được gọi là "ngôn ngữ theo cách nhìn xã hội - ký hiệu học" (language in social - semiotic perspective)

Một trong những đặc điểm quan trọng của ngữ pháp chức năng hệ thống là mối quan hệ giữa ngôn ngữ và ngữ cảnh (context) Các nhà ngữ pháp chức năng hệ thống cho rằng, người ta không thể hiểu được ý nghĩa của những điều được nói ra nếu không biết gì về ngữ cảnh xung quanh chúng Hoặc ngược lại nếu hiểu được những gì viết hoặc nói ra thì cũng có thể hình dung ra ngữ cảnh của chúng Như vậy, để giải thích ý nghĩa của một câu, người ta cần miêu tả bản thân câu đó và đồng thời miêu tả cả ngữ cảnh mà câu đó được sử dụng

Theo Halliday: "Văn bản là một sản phẩm theo nghĩa nó là một đầu ra, một cái gì đó có thể ghi lại và nghiên cứu được, nó có một cấu trúc nhất định có thể được thể hiện ra một cách hệ thống Văn bản là một quá trình, theo nghĩa là một quá trình liên tục của các lựa chọn về nghĩa, một sự vận động qua các hệ thống tiềm năng về nghĩa trong đó mỗi một chuỗi chọn lựa lại tạo ra môi trường cho chuỗi tiếp theo" [74] Theo quan điểm này thì một văn bản (text) thực sự được tạo nên bởi các

ý nghĩa, đó là một đơn vị nghĩa (a semantic unit) được mã hóa bằng một cái gì đó nhằm mục đích thực hiện giao tiếp

Còn về quan hệ giữa ngữ cảnh và văn bản, Halliday lý giải như sau: "Văn bản là một hiện hữu của quá trình và sản phẩm cùa ý nghĩa của xã hội trong một ngữ cảnh tình huống nào đó Ngữ cảnh tình huống, ngữ cảnh mà trong đó văn bản được thể hiện lại được lồng ghép vào trong văn bản, không phải theo lối từng đoạn

Trang 40

một hoặc cũng không phải theo bất cứ cách thức cơ giới nào mà một mặt qua một quan hệ xã hội, mặt khác qua tổ chức chức năng của ngôn ngữ"[74] Ông cũng chỉ

ra mối quan hệ của môi trường xã hội với tổ chức, chức năng của ngôn ngữ Môi trường xã hội của văn bản được mô tả bằng ba khái niệm, đó là:

- Trường diễn ngôn (field of discourse) nói về cái gì, là phạm vi hoạt động xã hội, trong đó ngôn ngữ được sử dụng như một phương tiện để giao tiếp, như một phương tiện để hành động

- Không khí chung của diễn ngôn (tenrnor of discourse) thể hiện mối quan hệ giữa người nói và người nghe hay nói cách khác nó quy chiếu đến các nhân vật tham gia giao tiếp, gồm người nói (chủ thể giao tiếp) và người nghe (đối tượng giao tiếp), các vai mà họ đóng địa vị và quyền lực của họ cũng như toàn bộ các quan hệ

về mọi mặt giữa họ

- Cách thức diễn ngôn (mode of discourse) chỉ phương tiện hoạt động ngôn ngữ (kênh mà người nói lựa chọn để giao tiếp) gồm cả ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết

Ba yếu tố nêu trên cùng xác định ngữ cảnh tình huống cho văn bản Mỗi đặc điểm trên của ngữ cảnh được thể hiện qua một chức năng của nghĩa Trường được thể hiện qua chức năng quan niệm, không khí chung của diễn ngôn qua chức năng liên nhân và cách thức qua chức năng văn bản

Có thể nói, một trong những đóng góp ghi dấu ấn lớn nhất của M.A.K Halliday là việc khái quát và đưa ra ba siêu chức năng của ngôn ngữ, đó là siêu chức năng tư tưởng (chức năng biểu ý - ideational), chức năng liên nhân (interpersonal) và chức năng văn bản (textual)

- Chức năng tư tưởng liên quan đến việc biểu đạt "nội dung", tức là kinh

nghiệm chủ quan và khách quan của con người Chức năng này có thể chia thành hai mặt kinh nghiệm và lôgíc Mặt kinh nghiệm là các thông tin về hoàn cảnh, mối quan hệ giữa các đối tượng tham gia như: tác thể, quá trình ; mặt lôgíc là các thông tin quan hệ sắp xếp giữa các câu nói theo các quan hệ như: quan hệ bình đẳng, nhân quả, điều kiện

Ngày đăng: 31/03/2021, 21:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban (2009), Giao tiếp, diễn ngôn và cấu tạo của văn bản, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao tiếp, diễn ngôn và cấu tạo của văn bản
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2009
2. Diệp Quang Ban (2003), Giao tiếp, văn bản, mạch lạc, liên kết, đoạn văn, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao tiếp, văn bản, mạch lạc, liên kết, đoạn văn
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2003
3. Diệp Quang Ban (2004), Ngữ pháp Việt Nam – Phần câu, NXB Đại học Sƣ phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp Việt Nam – Phần câu
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Đại học Sƣ phạm
Năm: 2004
4. Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung (1998), Ngữ pháp tiếng Việt, Tập 1. NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt, Tập 1
Tác giả: Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
5. Brown, G & Yule, G (1997), Phân tích diễn ngôn, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích diễn ngôn
Tác giả: Brown, G & Yule, G
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1997
6. Chafe, W.I (1998), Ý nghĩa và cấu trúc của ngôn ngữ, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ý nghĩa và cấu trúc của ngôn ngữ
Tác giả: Chafe, W.I
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 1998
7. Nguyễn Tài Cẩn (1996), Ngữ pháp Tiếng Việt, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp Tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1996
8. Đỗ Hữu Châu (1995), Giản yếu về ngữ dụng học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giản yếu về ngữ dụng học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1995
9. Đỗ Hữu Châu (1998), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
10. Đỗ Hữu Châu (2001), Đại cương ngôn ngữ học, Tập 2: Ngữ dụng học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học, Tập 2: Ngữ dụng học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
11. Đỗ Hữu Châu, Đỗ Việt Hùng (2012), Giáo trình ngữ dụng học in lần thứ hai, NXB Đại học Sƣ phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ngữ dụng học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu, Đỗ Việt Hùng
Nhà XB: NXB Đại học Sƣ phạm
Năm: 2012
12. Đỗ Hữu Châu (2005), Đỗ Hữu Châu tuyển tập, Tập 2: Đại cương – Ngữ dụng học – Ngữ pháp văn bản, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ Hữu Châu tuyển tập, Tập 2: Đại cương – Ngữ dụng học – Ngữ pháp văn bản
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
13. Nguyễn Đức Dân (1998), “Lí thuyết lập luận”, Tạp chí Ngôn ngữ ( 5), tr.33- 36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí thuyết lập luận”, "Tạp chí Ngôn ngữ ( 5)
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Năm: 1998
14. Nguyễn Đức Dân (1998), Biểu thức ngữ vi, Ngôn ngữ số 2, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biểu thức ngữ vi, Ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
15. Nguyễn Đức Dân (2003), Ngữ dụng học, Tập 1, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ dụng học, Tập 1
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003
16. Nguyễn Đức Dân (1996), Lôgic và tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nôi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lôgic và tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1996
17. Nguyễn Đức Dân (1998), Ngữ dụng học tập 1, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ dụng học tập 1
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
18. Nguyễn Đăng Dung (2006), Luật Hiến pháp Việt Nam, NXB ĐHQG Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Hiến pháp Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 2006
19. Nguyễn Đăng Dung, Võ Chí Hảo (2008), Kỹ thuật soạn thảo văn bản, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật soạn thảo văn bản
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung, Võ Chí Hảo
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2008
20. Hoàng Dũng, Bùi Mạnh Hùng (2007), Dẫn luận ngôn ngữ học, NXB Đại học Sƣ phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ học
Tác giả: Hoàng Dũng, Bùi Mạnh Hùng
Nhà XB: NXB Đại học Sƣ phạm
Năm: 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm