1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Sáng kiến kinh nghiệm Một số phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử

20 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 341,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ Cuộc khởi nghĩa Đô Lương Nguyễn Ái Quốc về nước Mặt trân Việt Minh thành lập Đội Việt Nam Tuyên Truyền Giải Phóng Quân thành lập 4 - 6 - 19[r]

Trang 1

MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI

MÔN LỊCH SỬ



A PHẦN MỞ ĐẦU

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1 Có lý luận

- Một trong những đặc điểm cơ bản của thời đại ngày nay là cuộc cách mạng khoa học – công nghệ đang phát triển như vũ bảo đã dẫn đến sự bùng

nổ thông tin Tình hình đó đòi hỏi người giáo viên phải không ngừng đổi mới, hiện đại hoá nội dung dạy học để phản ánh những thành tựu hiện đại về các lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội – nhân văn, nhằm cung cấp cho học sinh những khối lượng kiến thức mới được cập nhật để họ có thể thích nghi với cuộc sống và có cơ sở để tiếp tục học tập

- Với phương pháp dạy học đổi mới đòi hỏi học sinh phải làm việc nhiều đặc biệt với những bài có đồ dùng dạy học: lược đồ hoặc tranh ảnh đòi hỏi học sinh phải tự nghiên cứu thảo luận nhóm để rút ra kiến thức mới rồi trình bày Nếu giáo viên thường xuyên sử dụng thì tạo cho các em một thói quen học tập, làm việc thì sẽ dễ dàng hơn, nhưng ở đây hầu như một số giáo viên ít sử dụng thường xuyên, hoặc chỉ sử dụng qua loa, chiếu lệ Điều đó có nhiều lý do, một trong những lý do đó là: nhiều bài dạy đòi hỏi phải có thiết

bị, đồ dùng tự làm (làm bổ sung), kinh phí, học sinh học thụ động …

- Vì lẽ đó quá trình dạy học ở bậc trung học đang tồn tại mâu thuẫn giữa một bên là khối lượng tri thức đã được đổi mới tăng lên, phức tạp hơn với một bên là thời hạn học tập không thể tăng lên được Để giải quyết mâu thuẫn đó phải đổi mới phương pháp theo hướng tích cực hoá hoạt động nhận thức của người học Bản chất của hướng đó là khơi dậy và phát huy năng lực tìm tòi độc lập, sáng tạo của người học thông qua việc tạo điều kiện cho trường phổ thông đã và đang được quan tâm rất lớn, với phương pháp học như vậy, học sinh phát triển và giải quyết vấn đề Nhờ vậy mà học sinh nắm vững tri thức và nắm vững đó được phương pháp học tập

Để đạt được mục tiêu, hiện nay việc đổi mới chương trình và phương pháp sử dụng đồ dung dạy học ở các vị thế của người giáo viên trong quá

trình dạy học hiện nay ở trường phổ thông “… trước hết không phải là người cung cấp thông tin mà là người hướng dẫn đắc lực cho học sinh tự mình học tập Họ nhường việc cung cấp tri thức cho sách vở, tài liệu và cuộc sống, để thay vào đó, họ phải đóng vai trò người hỗ trợ cho kinh nghiệm học tập của bản thân học sinh ”

2 Có thực tiễn

- Thực trạng trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi những năm qua còn nhiều bất cập, chất lượng giải không cao Đây là điều trăn trở của

Trang 2

những giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi nhiều năm liền, 1 số giáo viên bồi dưỡng chưa tiếp cận với cách ra đề của Huyện và Sở GD – ĐT và một điều nữa là môn Sử bài rất dài quá nhiều sự kiện nên học sinh rất chán và ngán ngẩm Cho nên dạy bám sát, chuyên sâu là một yêu cầu bức thiết đáp ứng cho yêu cầu thi học sinh giỏi, vì vậy bản thân tôi quyết định chọn đây làm đề tài nghiên cứu cho mình

- Trong chương trình Lịch Sử ở trường THCS trước đây nội dung được chú trọng đến hệ thống kiến thức lý thuyết chủ yếu là kênh chữ, thì hiện nay chương trình Lịch Sử ở bậc THCS được thiết kế dựa trên tư tưởng nhấn mạnh vai trò tích cực chủ động của người học kênh hình và kênh chữ song song Trong đó, rất coi trọng cả việc trao dồi kiến thức lẫn kỹ năng và năng lực nhận thức của học sinh

- Để giúp học sinh có thể trình bày được khái niệm, diễn biến trên lược

đồ hay tranh ảnh thì học sinh phải tự tìm hiểu trước bài mới ở nhà kết hợp với sự hướng dẫn của giáo viên khi lên lớp

- Chính vì nhận thấy sự học tập của học sinh rất thụ động, không mạnh dạn khi đăng kí thi học sinh giỏi môn Sử và ngay khi học trên lớp Tôi đã tìm hiểu nguyên nhân và đề ra một số phương pháp thích hợp để bồi dưỡng học sinh giỏi đạt kết quả cao cũng như trong quá trình giảng dạy

* Nguyên nhân dẫn đến học sinh học không thích học môn Sử, không mạnh dạn đăng kí thi học sinh giỏi :

- Phương tiện, đồ dùng dạy học chưa đầy đủ cho mỗi tiết học Chương trình thi học sinh giỏi quá dài, quá nhiều sự kiện nên học sinh chán học nên

ít chọn thi môn Sử

- Học sinh thường lười nhác không tìm hiểu bài mới hay soạn bài trước ở nhà, còn nhút nhát chưa mạnh dạn

- Phụ huynh chưa thật sự quan tâm đến việc học tập của con em mình

II MỤC ĐÍCH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU :

- Nhằm góp phần nâng cao chất lượng giải học sinh giỏi cấp Huyện và

Tỉnh, góp phần quan trọng trong việc trang bị kiến thức cần thiết và kĩ năng làm bài lịch sử, hình thành phong cách tự học tự nghiên cứu chuyên sâu một vấn đề lịch sử, phát huy tính năng động, sáng tạo của học sinh chuyên sử

- Mục đích nghiên cứu của sáng kiến kinh nghiệm này là nhằm đưa ra một

số kinh nghiệm ôn luyện học sinh giỏi môn lịch sử (chọn đối tượng học sinh, phương pháp ôn luyện , kết quả đạt được )

- Sách giáo khoa lịch sử lớp 6 , 7 , 8 , 9

- Một số tài liệu tham khảo khác như danh nhân lịch sử, sách nâng cao…

- Một số đề thi cấp huyện, cấp tỉnh môn lịch sử

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Phương pháp điều tra nghiên cứu

Trang 3

- Phương pháp thu thập thông tin.

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm

- Phương pháp đàm thoại

- Phương pháp phỏng vấn

III GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI:

- Trong phạm vi bài sáng kiến kinh nghiệm này tôi chỉ nghiên cứu áp dụng cho việc bồi dưỡng học sinh giỏi thuộc giới hạn một số phần lịch sử lớp 6,

7, 8, 9

- Nghiên cứu đề tài thuộc phạm vi Trường Trung học cơ sở Bình Hàng Tây

IV KẾ HOẠCH THỰC HIỆN:

a CÁCH TUYỂN CHỌN ĐỐI TƯỢNG ÔN THI

- Đa phần học sinh hiện nay cứ xem thường môn lịch sử cho đó là môn học phụ Mặt khác giáo viên dạy lịch sử cũng gặp khó khăn trong khâu tuyển chọn học sinh, phải lựa chọn đối tượng sau cùng Những em có năng khiếu đặc biệt thường thích ôn luyện các môn học tự nhiên Còn các môn học ít tiết như lịch sử, địa lí cần học bài dài và nhiều nên phần đông các em rất chán Bởi vậy giáo viên cần động viên, khuyến khích thì học sinh mới chịu đi thi

- Mặt khác giáo viên phải biết khơi dậy ở học sinh niềm tự hào, hãnh diện khi đỗ đạt Đã là học sinh giỏi cấp tỉnh có giải thì đương nhiên bất

cứ môn học nào cũng được hưởng chế độ ưu tiên ngang nhau và vinh quang như nhau

- Trong công tác tuyển chọn cũng cần lưu ý về vấn đề tâm lý học sinh Tâm lí vững vàng, bình tĩnh, tự tin thì bài làm sẽ đạt kết quả cao Ngược lại tâm lí hoang mang, sợ sệt thì chất lượng bài làm sẽ kém Bởi vậy giáo viên ôn luyện cũng phải biết trấn tỉnh niềm tin cho đối tượng ôn thi

- Khi lựa chọn được đối tượng để ôn rồi thì giáo viên phải biết yêu nghề tận tụy với nghề Luôn luôn biết khích lệ, níu kéo các em vào niềm ham mê yêu thích bộ môn Đồng thời giáo viên cũng phải biết xây dựng vun đắp uy tín của mình để có được lòng tin đối với học sinh

b PHƯƠNG PHÁP ÔN LUYỆN HỌC SINH GIỎI BỘ MÔN LỊCH

SỬ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ

- Ôn luyện học sinh giỏi không giống như tiết dạy ở lớp học bình thường Vì ở lớp ta dạy cho học sinh phù hợp với ba đối tượng ( khá giỏi, trung bình và yếu kém) Song dạy cho học sinh đi thi có nghĩa là ta đưa các

em “mang chuông đi đánh đất người” Đối tượng dự thi đều ngang tầm nhau

về mặt học lực, nhận thức Vì vậy ngoài kiến thức sách giáo khoa giáo viên cần có thêm tài liệu nâng cao, để giúp đối tượng dự thi học sâu, hiểu rộng

- Người dạy phải có niềm tin và tâm huyết với nghề Phải biết dạy thế nào khi học sinh không hiểu bài, biết vui mừng phấn khởi khi học sinh thành

Trang 4

đạt Hay nói cách khác là người dạy phải lấy kết quả của học sinh làm thước

đo tay nghề của nhà giáo

- Yếu tố cơ bản nhất là người dạy luôn luôn biết tự hoàn thiện mình

Có tâm huyết với nghề chưa đủ, hơn thế nữa phải có năng lực chuyên môn vững vàng, biết xác định được kiến thức trọng tâm, biết làm chủ điều mình dạy và phải biết dạy học sinh cách học để học sinh bình tĩnh, tự tin lĩnh hội kiến thức và tư duy sáng tạo Nâng quan điểm từ biết để hiểu để vận dụng vào làm bài

- Thực tế cho thấy học sinh nhiều trường dự thi học sinh giỏi, mặc dù thang điểm 20 song kết quả một số thí sinh chỉ đạt: 0.5;1;2;3;… Lí do là người dạy và người học hời hợt, thiếu đầu tư, chưa xác định được cách ôn luyện, cách học

- Theo bản thân tôi đã là học sinh giỏi thì phải được trang bị kiến thức tương đối toàn diện Hiểu khái quát được đặc trưng của bộ môn lịch sử

là tìm hiểu, nghiên cứu những hoạt động của con người và xã hội loài người

từ khi xuất hiện cho đến ngày nay Cách mạng Việt Nam có quan hệ mật thiết với cách mạng thế giới Cho nên phương pháp ôn luyện của tôi là:

- Hệ thống hóa kiến thức cơ bản bằng phân kỳ lịch sử

- Chốt kiến thức trọng tâm bằng hệ thống câu hỏi, bài tập

- Rèn kỹ năng tư duy, sáng tạo cho học sinh

1) PHẦN LỊCH SỬ THẾ GIỚI

a) Lịch sử thế giới cận đại( lớp 8).

- Sự hình thành và phát triển chủ nghĩa tư bản, các cuộc cách mạng tư sản

- Chủ nghĩa đế quốc giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản Những đặc điểm của chủ nghĩa đế quốc

- Chiến tranh thế giới thứ nhất

- Phong trào công nhân và sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học

- Vai trò của Mác – Ăng Gen và sự ra đời quốc tế thứ nhất, quốc tế thứ hai( hoàn cảnh ra đời, hoạt động, tác dụng đối với phong trào cách mạng thế giới

- Công xã Pari - nhà nước vô sản đầu tiên trên thế giới Học sinh vẽ được sơ đồ nhà nước và lấy dẩn chứng công xã Pari là nhà nước kiểu mới

b) Lịch sử thế giới hiện đại ( lớp 8-9)

Gồm hai giai đoạn: 1917-1945 (lớp 8) và 1945 đến nay ( lớp 9)

- Cách mạng tháng Mười Nga thành công 1917 và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô (1921-1941)

- Nước Mĩ, châu Âu, châu Á giữa hai cuộc chiến tranh thế giới

- Chính sách mới của Ph.Ru-Giơ-Ven

- Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945)

Trang 5

- Sự phát triển của khoa học kỉ thuật và văn hoá thế giới nửa đầu thế

kỉ XX

- Liên Xô và các nước Đông Âu từ sau chiến tranh thế giới thứ hai

- Các nước Á – Phi - Mĩ La Tinh từ 1945 đến nay

- Sự ra đời và hoạt động của hội đồng tương trợ kinh tế (SEV)

- Ba trung tâm kinh tế tài chính của thế giới (Mĩ, Nhật Bản, Tây Âu)

- Quan hệ quốc tế từ 1945 đến nay

- Cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật lần thứ hai

2 PHẦN LỊCH SỬ VIỆT NAM

a) Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỉ X (lớp 6).

+ Thời đại dựng nước Văn Lang – Âu Lạc:

- Sự ra đời nhà nước Văn Lang đời sống vật chất, tinh thần của cư dân Văn Lang Công lao to lớn của vua Hùng Vương trong buổi đầu dựng nước được Bác Hồ hằng căn dặn :

Các Vua Hùng có công dựng nước

Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước.

- Nước Âu Lạc ra đời trong hoàn cảnh nào? Bài học mất nước đầu tiên của An Dương Vương để lại cho dân tộc là mất hết tướng giỏi, thiếu đoàn kết, âm mưu của kẻ thù

- Thời Văn minh Văn Lang-Âu Lạc để lại cho chúng ta: Tổ quốc, thuật luyện kim, nông nghiệp lúa nước, phong tục tập quán riêng và bài học đầu tiên về công cuộc giữ nước

Cho học sinh vẽ và giải thích được sơ đồ nhà nước Văn Lang - Âu Lạc

+ Thời kì bắc thuộc và đấu tranh giành độc lập:

- Xuất hiện hai vị nữ anh hùng dân tộc đã ghi vào lịch sử như một mốc son chói lọi đó là Trưng Trắc, Trưng Nhị quyết tâm đánh giặc

Khởi nghĩa hai Bà Trưng bùng nổ tháng 3- năm 40 đã đi vào lịch sử như một chiến công hiển hách chống giặc ngoại xâm Nâng cao lòng tự hào dân tộc, tự hào về truyền thống của người phụ nữ Việt Nam Lần đầu tiên trong lịch sử chống giặc ngoại xâm chưa có một quốc gia nào lại có được niềm vinh quang như vậy

- Hơn hai trăm năm sau xuất hiện cuộc khởi nghĩa bà Triệu Thị Trinh (248): Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển khơi đánh đuổi quân Ngô chứ đâu chịu khom lưng làm tì thiếp cho người

- Tiếp theo là cuộc khởi nghĩa của Lí Bí - 542 đánh đuổi quân Lương và lập ra đất nước có quốc hiệu là Vạn Xuân Để lại bài học đánh giặc bằng lối du kích của Triệu Quang Phục: Đầm Dạ Trạch lừng danh nơi hiểm yếu

- Kế tục là cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan, Phùng Hưng

Trang 6

+ Bước ngoặt lịch sử ở đầu thế kỉ X :

Đó là cuộc đấu tranh giành quyền tự chủ của họ Khúc, họ Dương Đặc biệt

Ngô Quyền Bạch Đằng Giang bất tử

Thành mồ chôn quân Nam Hán hung tàn.

Cho đến nay sông Bạch Đằng còn đó, nước sông vẫn chảy hoài mà nhục quân thù không rửa hết Bởi nghệ thuật quân sự có tính toán kỉ lưỡng dùng cọc nhọn và lợi dụng nước thuỷ triều để đánh giặc Một chiến thắng lẫy lừng kết thúc hơn một nghìn năm Bắc thuộc, mở ra kỉ nguyên nhà nước phong kiến Việt Nam ra đời

b)Lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến giữa thế kỉ XIX (lớp 7).

- Là quá trình hình thành và phát triển của các triều đại phong kiến bằng những hình thái chính trị , kinh tế , xã hội khác nhau gắn với các cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm mà tương quan lực lượng quá chênh lệch giữa ta

và địch Song với nghệ thuật quân sự tài tình , với lòng yêu nước nồng nàn

và tinh thần đấu tranh kiên cường bất khuất quân và dân ta đã làm nên những chiến thắng vẻ vang

Nhà nước phong kiến Việt Nam được hình thành và phát triển theo các triều đại:

- Triều đại nhà Ngô (939 - 968 ) mở đầu cho nhà nước phong kiến Việt Nam của dân tộc ta Ngô Quyền xưng Vương, đóng đô ở Cổ Loa Ngô Quyền mất (944) hai con là Ngô Xương Ngập và Ngô Xương Văn còn nhỏ tuổi bị em vợ là Dương Tam Kha cướp ngôi Năm 950 Ngô Xương Văn phục quốc song do mâu thuẫn nội bộ, uy tín nhà Ngô giảm sút Năm 965 Ngô Xương Văn chết, đất nước xảy ra loạn 12 sứ quân

- Triều đại nhà Đinh (968 - 980 ) tên nước là Đại Cồ Việt , kinh đô Hoa Lư Đinh Bộ Lĩnh tức Đinh Tiên Hoàng đã có công dẹp loạn 12 sứ quân và thống nhất đất nước song đất nước thái bình chưa được bao lâu, năm 979 Đinh Tiên Hoàng và con trai là Đinh Liễn bị Đỗ Thích sát hại, nhân cơ hội

đó nhà Tống lăm le xâm phạm bờ cõi Đại Cồ Việt Trước tình thế hiểm nghèo, thái hậu Dương Văn Nga đặt lợi ích của dân tộc lên trên lợi ích gia đình, dòng họ đã trao chiếc áo hoàng bào cho thập đạo tướng quân Lê Hoàn

mở ra một triều đại mới chống giặc ngoại xâm và xây dựng đất nước

- Triều đại nhà Tiền Lê (980 - 1009 ) tên nước cũng là Đại Cồ Việt đã chiến thắng quân xâm lược Tống giành thắng lợi ở sông Bạch Đằng Nhà Tiền Lê chia nước thành 10 lộ, thịnh hành ở thời vua Lê Đại Hành và suy vong thời vua Lê Long Đỉnh tức Lê Ngọa Triều Cuối năm 1009 Lê Long Đỉnh chết, các triều thần lúc đó cùng nhau suy tôn điện tiền chỉ huy sứ Lí Công Uẩn lên làm vua, triều Lý thành lập

Trang 7

- Triều đại nhà Lý (1009 -1226 ) Lí Thái Tổ đã có công dời đô từ Hoa

Lư về Đại La đổi tên là Thăng Long (1010) Năm 1054 đổi tên nước là nước Đại Việt, chia nước thành 24 lộ, dưới lộ là phủ, châu, huyện xã Về văn bản pháp lí: Nhà Lí có bộ luật Hình thư(1042) Về quân đội thực hiện chính sách “ngụ binh ư nông” Nhà Lí hai lần đánh thắng quân xâm lược Tống: lần thứ nhất (1075 ) , lần thứ hai (1077 ) Cách đánh giặc của Lí Thường Kiệt rất độc đáo : Một là tấn công để tự vệ đó là mở cuộc tập kích vào đất Tống nhằm mục đích làm tiêu hao sinh lực địch Phòng thủ để tấn công: Xây dựng phòng tuyến Như Nguyệt, khiến cho quân Tống rơi vào tình thế tiến thoái lưỡng nan , khiến cho tướng giặc Quách Quỳ thất vọng, ra lệnh: “Ai bàn đánh sẽ bị chém.” chuyển sang thế phòng ngự Nắm được tình hình bế tắc của địch, Lí Thường Kiệt đã sáng tác bài thơ thần “ Sông núi nước Nam” được coi là bản tuyên ngôn độc lập lần thứ nhất của nước ta khích lệ tinh thần chiến đấu của quân ta và khẳng định chủ quyền dân tộc Mặt khác nhận thấy chiến tranh đã đến hồi kết thúc, chủ động đề nghị giảng hòa , Quách Qùy chấp nhận ngay Đây là kiểu kết thúc chiến tranh độc đáo, thể hiện tinh thần nhân nghĩa của dân tộc ta, mục đích để giữ mối quan hệ tốt giữa Đại Việt và nước Tống Vị vua cuối cùng của triều Lí là Lí Chiêu Hoàng

- Triều đại nhà Trần (1226 -1400), tên nước cũng là Đại Việt đã ba lần đánh tan quân xâm lược Mông Nguyên , một thứ giặc được coi là hùng mạnh nhất lúc bấy giờ Bằng chiến thuật “vườn không nhà trống”, rút lui để bảo toàn lực lượng, khi giặc rơi vào tình thế khó khăn, quân ta đã tổ chức phản công và giành thắng lợi vẻ vang (lần1: 1258, lần 2: 1285, lần 3:1287-1288) thắng lợi đó đã đập tan tham vọng và ý chí xâm lược Đại Việt của đế chế Nguyên, bảo vệ độc lập toàn vẹn lãnh thổ của chủ quyền quốc gia Góp phần xây đắp nên truyền thống quân sự Việt Nam để lại nhiều bài học quý giá đó là cũng cố khối đoàn kết dân tộc, dựa vào dân để đánh giặc, tinh thần quyết chiến đấu của toàn dân mà nòng cốt là lực lượng quân đội Chiến thắng chống quân Mông Nguyên gắn liền với nhà quân sự tài ba, lỗi lạc là Trần Quốc Tuấn Nhà Trần chia nước thành 12 lộ Đặt ba chức quan chăm lo sản xuất nông nghiệp: Hà đê sứ, khuyến nông sứ, đồn điền sứ nên kinh tế thời Trần phát triển; ban hành bộ quốc triều hình luật (1230); văn học chữ Hán, chữ Nôm phát triển chứa đựng lòng yêu nước của dân tộc

- Triều đại nhà Hồ (1400 -1407),tên nước là Đại Ngu Sau khi cướp ngôi nhà Trần, Hồ Quý Ly lập ra nhà Hồ Ban hành một số cải cách chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội song chưa phù hợp với tình hình thực tế, chưa giải quyết được những yêu cầu bức thiết của nhân dân nên nhanh chóng bị thất bại

Trang 8

- Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Minh của nghĩa quân Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo mở đầu bằng hội thề Lũng Nhai(1416) và kết thúc bằng hội thề Đông Quan (1427)

Nghệ thuật quân sự dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều cũng được Lê Lợi

sử dụng triệt để: Trong cuộc kháng chiến chống quân Minh khi Vương Thông xuất quân hướng về Cao Bộ ngày 7-11-1426, biết được ý đồ của giặc

ta đặt phục binh ở Tốt Động- Chúc Động giặc rơi vào trận địa của ta

“Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh trôi vạn dặm

Tốt Động thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm”.

(Trích Bình Ngô đại cáo )

- Đặc biệt là trận Chi Lăng – Xương Giang ngày 8-10-1427 ta giành thắng lợi Vương Thông ở Đông Quan vô cùng khiếp đảm, vội vàng xin hòa và chấp nhận hội thề Đông Quan(10-12-1427) Chiến thắng Chi Lăng -Xương Giang một lần nữa chứng tỏ bộ chỉ huy nghĩa quân Lam Sơn đứng đầu Lê Lợi và Nguyễn Trải đã biết khai thác yếu tố địa hình, để tìm ra một cách đánh phù hợp

Chiến thắng Chi Lăng -Xương Giang đã mở ra triều đại mới đó là thời

Lê Sơ ( 1428 – 1527 ) là triều đại phong kiến thịnh đạt nhất cả về chính trị, kinh tế lẫn văn hóa , giáo dục Có bản tuyên ngôn độc lập lần thứ hai của Nguyễn Trãi là bài : “ Bình Ngô Đại Cáo” ;có bộ luật Hồng Đức (1483) là

bộ luật tiến bộ nhất trong thời kì phong kiến

- Bộ máy nhà nước thời Lê Sơ là nhà nước quân chủ quan liêu chuyên chế Các đơn vị hành chính được tổ chức chặt chẻ hơn Cách đào tạo bổ dụng quan lại lấy phương thức học tập thi cử làm phương thức chủ yếu

- Về kinh tế thời Lê Sơ cũng phát triển mạnh mẽ, chú trọng kinh tế nông nghiệp, đặt ba chức quan chăm lo sản xuất nông nghiệp (hà đê sứ, khuyến nông sứ, đồn điền sứ) Định lại chính sách ruộng công làng xã Các nghề thủ công truyền thống phát triển, nhiều làng thủ công truyền thống ra đời Thăng Long là nơi tập trung nhiều ngành nghề thủ công nhất

- Về buôn bán: Nhà vua khuyến khích mở chợ, họp chợ Buôn bán với nứơc ngoài cũng được duy trì (Vân Đồn - Quảng Ninh)

- Về văn hóa giáo dục thời Lê Sơ cũng rất phát triển vua Lê Thái Tổ cho xây dựng lại Quốc tử giám, mở trường học ở các lộ, mở khoa thi và cho phép người có học đều được dự thi Nhà nước tuyển chọn người giỏi, có đạo đức để làm thầy giáo Thời Lê Sơ tổ chức được 26 khoa thi tiến sĩ, lấy đổ

989 tiến sĩ và 20 trạng nguyên Riêng thời vua Lê Thánh Tông (1460-1497)

tổ chức được 12 khoa thi tiên sĩ, lấy đổ 501 tiến sĩ, 9 trạng nguyên

- Giai đoạn bi đát nhất của lịch sử là cuộc chiến tranh Nam Triều - Bắc Triều (1527-1592) và chiến tranh Trịnh - Nguyễn (1627 -1672) làm tổn thương tình đoàn kết dân tộc Đất nước bị chia cắt, nhân dân cực khổ

Trang 9

Khôn ngoan qua được Thanh Hà

Dẫu rằng có cánh khó qua Lũy Thầy

- Phong trào Tây Sơn bùng nổ , nhân vật lịch sử nổi tiếng đó là Quang Trung (Nguyễn Huệ) người anh hùng áo vải , vị lãnh tụ nông dân kiệt xuất

đã lật đổ các tập đoàn phong kiến Nguyễn, Trịnh, Lê, xóa bỏ ranh giới chia cắt đất nước, đặt nền tảng thống nhất quốc gia đồng thời đánh tan quân Xiêm (1785), quân Thanh (1789) bảo vệ độc lập và lãnh thổ của tổ quốc Sau đó bắt tay vào khôi phục kinh tế, ban hành chiếu khuyến nông, mở cửa

ải thông thương chợ búa Xây dựng nền văn hóa dân tộc, ban bố chiếu lập học Đề cao chữ Nôm, lập viện sùng chính dịch chữ Hán sang chữ Nôm do Nguyễn Thiếp đứng đầu và thực hiện những chính sách quốc phòng, ngoại giao

Nghệ thuật quân sự của Nguyễn Huệ cũng thật là độc đáo Biết lợi dụng yếu tố thiên thời địa lợi để đặt phục kich tiêu diệt giặc ở trận Rạch Gầm -Xoài Mút Chiến thắng Rạch Gầm- -Xoài Mút ngày 19-1-1785 là một trong những trận mai phục thủy chiến lớn nhất của nhân dân ta, đập tan âm mưu xâm lược của quân Xiêm Làm cho quân Xêm “ngoài miệng tuy nói khoác, nhưng trong bụng thì sợ quân Tây Sơn như cọp”

Nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh thần tốc, bất ngờ táo bạo, tổ chức chiến đấu hết sức cơ động Đó cũng là nét độc đáo trong cách đánh giặc của Quang Trung Ông đã cho quân ăn tết trước và bất ngờ tiêu diệt 29 vạn quân Thanh trong dịp tết kỉ Dậu năm 1789 từ đêm 30 tết đến ngày mồng 5 tết giải phóng Thăng Long, “ thây ngổn ngang đầy đồng, máu chảy thành suối quân Thanh đại bại ”(Hoàng Lê Nhất Thống Chí)

Quang Trung mất(1792) Quang Toản nối ngôi nhưng không đủ năng lực

và uy tín điều hành công việc của quốc gia Nội bộ triều Tây Sơn nảy sinh mâu thuẫn và suy yếu Nhà Nguyễn lập lại chế độ phong kiến tập quyền - Nguyễn Ánh (1802), ban hành bộ hoàng triều luật lệ (1815) tức bộ luật Gia Long Triều Nguyễn tồn tại đến năm 1945 (vị vua cuối cùng của triều đại phong kiến là Bảo Đại)

c) Lịch sử Việt Nam từ 1858 đến 1918 ( lớp 8).

Do nhu cầu tìm kiếm thị trường, thuộc địa, 1-9-1858 thực dân Pháp xâm lược nước ta taị Đà Nẵng Nhà Nguyễn yếu hèn không phối hợp với nhân dân để chống giặc ngoại xâm Vì quyền lợi giai cấp Nhà Nguyễn đã phản bội lợi ích của dân tộc lần lượt kí các hiệp ước đầu hàng ( 1862, 1874 ,1883 và 1884 ) Thực dân Pháp lần lượt chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kì,

ba tỉnh miền Tây Nam Kì, mở rộng xâm lược Bắc Kì lần một (1873 -1874), lần hai (1882 -1884)

Đối lập với triều đình Nhà Nguyễn, nhân dân kiên quyết đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược

Trang 10

Trước hành động xâm lược của liên quân Tây Ban Nha-Pháp, khiến cho nhân dân Đà Nẵng vô vùng căm phẫn đã nổi dậy đấu tranh, thực dân Pháp bị thất bại phải kéo quân vào Gia Định

-1859 Pháp đánh vào Gia Định, phong trào kháng chiến nhân dân sôi nổi Nghĩa quân Nguyển Trung Trực đã đốt cháy tàu Pháp trên sông Vàm Cỏ Đông(10-12-1861)

Nghĩa quân do Trương Định lãnh đạo đã làm địch thất điên bát đảo, ông được nhân dân tôn là Bình Tây Đại Nguyên Soái

Nhân dân sáu tỉnh Nam Kì nêu cao tinh thần quyết tâm kháng chiến chống Pháp Tấm gương Nguyển Trung Trực trước kháng chiến ở miền Đông, sau sang miền Tây lập căn cứ ở Hòn Chông( Rạch Giá) Bị giặc bắt đem ra chém, ông đã khẳng khái tuyên bố: “Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây”

Khi thực dân Pháp xâm lược Bắc Kì lần thứ 1và 2 cũng bị quân và dân ta đánh trả quyết liệt Đã giết được tên Gác-Ni-Ê , Ri-Vi-E và nhiều sĩ quan, binh lính Pháp ở trận Cầu Giấy lần thứ 1 và 2

Hưởng ứng chiếu Cần Vương có ba cuộc khởi nghĩa tiêu biểu: Khởi nghĩa Ba Đình (1886 -1887) , khởi nghĩa Bãi Sậy (1883 – 1892) đặc biệt là khởi nghĩa Hương Khê (1885 -1895) Phong trào Cần Vương đã gây cho địch nhiều khó khăn, lúng túng nhưng cuối cùng bị thất bại Thất bại của phong trào Cần Vương chứng tỏ ngọn cờ cứu nước theo phạm trù phong kiến không phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử

Tiếp theo là cuộc khởi nghĩa nông dân Yên Thế (1884 -1913) và phong trào đấu tranh chống Pháp của đồng bào miền núi cuối thế kỉ XIX quy

mô quyết liệt, thời gian kéo dài đã gây cho địch nhiều thiệt hại song kết quả cũng bị thất bại Một lần nữa chứng tỏ giai cấp nông dân không đảm đương được sứ mệnh lịch sử

Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX do ảnh hưởng cuả cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp, xã hội Việt Nam phân hóa sâu sắc Một

số sĩ phu yêu nước đương thời đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh cách mạng theo khuynh hướng dân chủ tư sản như phong trào Đông Du của Phan Bội Châu (1905 -1909), Đông Kinh Nghĩa Thục của Lương Văn Can, Nguyễn Quyền (1907), cuộc vận động Duy Tân của Phan Chu Trinh, phong trào chống thuếTrung Kì (1908) và phong trào yêu nước trong thời kì chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 - 1918) Tất cả đều bị thất bại chứng tỏ phong trào cách mạng Việt Nam còn bế tắc về đường lối, khủng hoảng về lãnh đạo cách mạng

Nguyễn Tất Thành không tán thành con đường cứu nước của các bậc tiền bối Người quyết định đi ra nước ngoài, xem nước ngoài làm thế nào để

về cứu giúp đồng bào ta Những hoạt động cứu nước của Người (1911-

Ngày đăng: 31/03/2021, 20:47

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w