1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

Giáo án Giải tích 12 - Tiết 33-34-35 : Hàm số mũ. Hàm số logarit

13 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 307,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để làm được như vậy, sách giáo khoa và các tài liệu hướng dẫn giảng dạy cần giúp Gv tổ chức các hoạt động học tập, thường xuyên tạo ra tình huống có vấn đề, tìm các biện pháp lôi cuốn họ[r]

Trang 1

A PHẦN MỞ ĐẦU

I Lý DO CHỌN ĐỀ TÀI:

a CƠ SỞ Lí LUẬN:

Như chỳng ta đó biết trong chương trình môn Toán ở tiểu học, giải toán có lời văn giữ một vai trò quan trọng Thông qua việc giải toán các em thấy được nhiều khái niệm toán học Như các số, các phép tính, các đại lượng, các yếu tố hình học đều có nguồn gốc trong cuộc sống hiện thực, trong thực tiễn hoạt động của con người, thấy được mối quan hệ biện chứng giữa các sự kiện, giữa cái đã cho và cái phải tìm Qua việc giải toán đã rèn luyện cho học sinh năng lực tư duy và những đức tính của con người mới Có ý thức vượt khó khăn, đức tính cẩn thận, làm việc có kế hoạch, thói quen xét đoán có căn cứ, thói quen tự kiểm tra kết quả công việc mình làm óc độc lập suy nghĩ, óc sáng tạo, giúp học sinh vận dụng các kiến thức, rèn luyện kỹ năng tính toán, kĩ năng ngôn ngữ Đồng thời qua việc giải toán của học sinh

mà giáo viên có thể dễ dàng phát hiện những ưu điểm, thiếu sót của các em về kiến thức, kĩ năng, tư duy để giúp học sinh phát huy những mặt đạt được và khắc phục những mặt thiếu sót

Chính vì vậy việc đổi mới phương pháp dạy toán có lời văn ở cấp tiểu học là một việc rất cần thiết mà mỗi giáo viên tiểu học cần phải nâng cao chất lượng học toán cho học sinh

B.CƠ SỞ THỰC TIỄN:

T oán học có vị trí rất quan trọng phù hợp với cuộc sống thực tiễn đó cũng là công cụ cần thiết cho các môn học khác và để giúp học sinh nhận thức thế giới xung quanh, để hoạt động có hiệu quả trong thực tiễn

Khả năng giáo dục nhiều mặt của môn toán rất to lớn, nó có khả năng phát triển tư duy lôgic, phát triển trí tuệ Nó có vai trò to lớn trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề có suy luận, có khoa học toàn diện, chính xác, có nhiều tác dụng phát triển trí thông minh, tư duy độc lập sáng tạo, linh hoạt góp phần giáo dục ý trí nhẫn nại, ý trí vượt khó khăn

Từ vị trí và nhiệm vụ vô cùng quan trọng của môn toán vấn đề đặt ra cho người dạy là làm thế nào để giờ dạy - học toán có hiệu quả cao, học sinh được phát triển tính tích cực, chủ động sáng tạo trong việc chiếm lĩnh kiến thức toán học Vậy giáo viên phải có phương pháp dạy học như thế nào? Để truyền đạt kiến thức và khả năng học bộ môn này tới học sinh tiểu học

Từ đặc điểm tâm sinh lý học sinh tiểu học là dễ nhớ nhưng mau quên, sự tập trung chú ý trong giờ học toán chưa cao, trí nhớ chưa bền vững thích học nhưng chóng chán Vì vậy giáo viên phải làm thế nào để khắc sâu kiến thức cho học sinh và

Trang 2

Xuất phát từ cuộc sống hiện tại, đổi mới của nền kinh tế, xã hội, văn hoá, thông tin đòi hỏi con người phải có bản lĩnh dám nghĩ dám làm năng động chủ động sáng tạo có khả năng để giải quyết vấn đề Để đáp ứng các yêu cầu trên trong giảng dạy nói chung, trong dạy học toán nói riêng đạc biệt là trong giải toán có lời văn cần phải vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học để nâng cao hiệu quả dạy - học

Hiện nay toàn ngành giáo dục nói chung và giáo dục tiểu học nói riêng đang thực hiện yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh làm cho hoạt động dạy trên lớp "nhẹ nhàng, tự nhiên, hiệu quả" Để đạt

được yêu cầu đó giáo viên phải có phương pháp và hình thức dạy học để nâng cao hiệu quả cho học sinh, vừa phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của lứa tuổi tiểu học và trình độ nhận thức của học sinh Để đáp ứng với công cuộc đổi mới của đất nước nói chung và của ngành giáo dục tiểu học nói riêng

Trong quá trình dạy toán nói chung và dạy học sinh giải toán có lời văn nói riêng, mỗi giáo viên phải luôn cố gắng phấn đấu không ngừng tìm tòi nghiên cứu tìm ra những phương pháp giảng dạy mới nhất, hiệu quả nhất Hướng dẫn giảng dạy như thế nào để phát huy được tính tích cực và linh hoạt của tất cả các đối tượng học sinh, huy động thích hợp các kiến thức và khả năng đã có vào các tình huống khác nhau, khắc sâu được kiến thức cho các em, giúp các em hiểu được mình đã tự làm chủ kiến thức toán học, biến những kiến thức thầy cô dạy thành những kiến thức của mình

2.Mục đớch và phương phỏp nghiờn cứu:

- Chỉ ra những hoạt động cụ thể học sinh cần phải làm gỡ

- Chỉ ra những phương phỏp giải toỏn cú lời văn

- Nõng cao chất lượng học tập

- Tỡm hiểu tỡnh hỡnh học tập của học sinh

- Phương phỏp giải toỏn cú lời văn

- Phương phỏp đàm thoại giải quyết vấn đề

3 Giới hạn của đề tài

a) Nhiệm vụ nghiờn cứu:

Nhiệm vụ khỏi quỏt: Nờu những phương phỏp giải toỏn cú lời văn theo nội dung chương trỡnh đổi mới

b) Đối tượng nghiờn cứu:

Học sinh lớp 3 Trường tiểu học-THCS Mỹ Xương

4 Kế hoạch thực hiện:

- Thời gian thực hiện đề tài: Năm học 2011- 2012

Trang 3

- Địa điểm: Lớp 3/2 điểm 1 Trường tiểu học- THCS Mỹ Xương và cú thế ỏp dụng cỏc lớp khỏc ở trường

- Nhiệm vụ cụ thể;

- Tỡm hiểu thực trạng của học sinh

- Những phương phỏp đó thực hiện

- Những chuyển biến sau khi ỏp dụng

B PHẦN NỘI DUNG

1 Cơ sở lý luận:

- Lớp học cú số lượng học sinh khụng đồng đều về nhận thức gõy khú khăn cho giỏo viờn trong việc lưa chọn phương phỏp phự hợp Nhiều học sinh cú hoàn cảnh khú khăn do đú việc đầu tư chohọc tập bị hạn chế Vỡ vậy dạy học mụn toỏn phải thực hiện mục tiờu mới và quan trọng đú là: Giỳp học sinh tớch cực ứng dụng cỏc kiến thức và kỷ năng về mụn toỏn để giải quyết những tỡnh huống thừng gặp trong đời sống hàng ngày Cho nờn đũi hỏi người giỏo viờn khụng chỉ nắm vững nội dung, mục tiờu bài học mà phải cú phương phỏp dạy phự hợp với đặc điểm đối tượng học sinh

2 Cơ sở thực tiển:

- Đối với học sinh tiểu học thỡ tư duy trực quan và hỡnh tượng chiếm ưu thế hơn Nhận thức của cỏc em chủ yếu là nhận thức trực quan cảm tớnh.Cỏc em lĩnh hội kiến thức, quy tắc, khỏi niệm toỏn học và thực hành thao tỏc đều dưa trờn bài toỏn mẫu cụ thể, diễn đạt bằng lời lẽ đơn giản.Khả năng phõn tớch, tổng hợp làm rỏ mối quan hệ giữa kiến thức này với cỏc kiến thức khỏc.Trong quỏ trỡnh lĩnh hội kiến thức mới cũng như trong quỏ trỡnh thự hành chưa sõu sắc.Năng lực phỏn đoỏn,suy luận cũn thấp

Để nõng cao chất lượng dạy học cũng như phỏt huy tớnh tớch cực của học sinh trong dạy học toỏn núi chung và trong dạy học phần: Giải toỏn cú lời văn núi riờng

là một việc làm rất cần thiết đúi với giỏo viờn

II THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG MÂU THUẨN:

1 Thực trạng của việc dạy và học.

Giao vien chỉ truyền thụ những kiến thức sẵn có để cung cấp cho học sinh

Giáo viên còn lúng túng khi đặt câu hỏi để hướng dẫn học sinh giải

Truyền đạt của giáo viên khi hướng dẫn giải không rõ ràng, khó hiểu

Trang 4

Chưa đúc kết được kinh nghiệm hướng dẫn giải Mà cứ hướng dẫn theo bài bản sư phạm của môn toán ở Tiểu học Làm học sinh trung bình, yếu, kém, không thể tiếp thu được để giải bài toán

Giáo viên chỉ dừng lại ở mức độ giải các bài toán trong chương trình, chưa chú trọng đến kỹ năng giải toán nhận dạng các bài toán và cách giải từng dạng toán, cũng như việc vận dụng phương pháp dạy học còn hạn chế, chưa phát huy hoạt động nhóm, phát huy tính tích cực, độc lập của từng học sinh

Trong khâu lập kế hoạch giải bài toán (thực chất là phân tích đề bài, tìm các bước giải) thì giáo viên ít khi phân tích từ đáp số (nội dung phải đi tìm để trả lời cho câu hỏi cần giải quyết của bài toán), dần đi đến các dữ kiện, số liệu đã cho ở đầu bài, Vì

cách dạy ít hiệu quả trong việc giúp đỡ học sinh phát triển năng lực tư duy, óc phân tích cấu trúc vấn đề tìm ra đường lối giải quyết vấn đề cho phù hợp

Còn một số giáo viên chỉ theo bài giải có sẵn ở trong sách mà nêu các bước giải toán, dùng phương pháp thuyết trình, rập khuôn theo bước đó, điều này làm hạn chế phát triển tư duy toán học ở học sinh Các em chỉ biết rập khuôn máy móc để giải các bài toán tương tự mà không hiểu tại sao phải làm như vậy cũng như không suy nghĩ tìm tòi cách giải khác của bài toán

Học sinh đọc cho qua loa, không cần suy nghĩ giải như thế nào?

Đưa ra đề toán học sinh còn chưa được tập trung, không đọc kỹ đề để hiểu yêu cầu bài tập làm gì?

Giải toán có lời văn học sinh chưa biết cách để thể hiện bài giải, khó nhận ra đâu

là đơn vị, lời giải của bài toán

Học sinh không cảm thụ được đề toán yêu cầu làm gì? và phải làm như thế nào?

Một số em khi gặp đề toán phức tạp hơn thì đã biết biến đổi dạng đã học để giải bài toán một cách tốt hơn Tuy nhiên số học sinh này trong lớp thì không nhiều chỉ ở các em học sinh khá giỏi mới làm được

Đại đa số học sinh đều xem bài giải mẫu có trong sách, nên các em theo đó mà thực hiện rập khuôn máy móc, các bước giải toán cho các bài tương tự, cùng dạng như đã đổi giá trị số Điều này cho thấy cách giảng dạy, kết quả giảng dạy đã không phát triển được óc tư duy, lôgíc toán học cho học sinh

Đa số khi gặp các dạng bài toán giải hơi khác một chút thì các em đã không biết biến đổi đưa về dạng cơ bản hoặc tìm ra cách giải bằng các bước cơ bản đã học

Một số học sinh còn chậm, nhút nhát, kĩ năng tóm tắt bài toán cũng hạn chế, chưa có thói quen đọc và tìm hiểu kĩ bài toán dẫn tới thường nhầm lẫn giữa các dạng toán, lựa chọn phép tính cũng sai, chưa bám sát vào yêu cầu bài toán để tìm lời giải thích hợp với các phép tính Kĩ năng tính nhẩm với các phép tính (hàng ngang) và kĩ năng thực hành diễn đạt bằng lời còn hạn chế Một số em tiếp thu bài một cách thụ động, ghi nhớ bài còn máy móc nên còn chóng quên các dạng bài toán vì thế phải có phương pháp khắc sâu kiến thức

Trang 5

Mặt khác học sinh không tích cực tư duy sáng tạo để tìm nhiều cách giải khác nhau, từ tìm ra con đường ngắn nhất, cách giải hay nhất

Khi trình bày bài giải, học sinh hay rập khuôn máy móc Chính vì vậy khi gặp dạng toán khác học sinh có thể không giải được

Tóm lại học sinh không nhận ra được yêu cầu cốt lõi ở bài toán có lời văn và nếu thể hiện thì còn nhiều yếu tố như: trình bày bài giải, cách thể hiện bài giải, cách nhận ra phép tính cần làm để đáp ứng câu hỏi của bài, cách tìm ra đơn vị, đáp số của bài Từ đó học sinh không giải được hoặc giải không hoàn chỉnh được bài toán có lời văn

I các giải pháp thực hiện

1 Định hướng phương pháp dạy học phù hợp với các đối tượng học sinh trong lớp

2 Đổi mới phương pháp cách tổ chức dạy học về nội dung giải bài toán có lời văn

II các biện pháp để tổ chức thực hiện.

1 Định hướng phương pháp dạy học phù hợp với các đối tượng học sinh trong lớp:

Việc dạy học giải toán nhằm giúp học sinh biết vận dụng những kiến thức về toán, được rèn luyện thực hành với những yêu cầu thể hiện một cách đa dạng, phong phú Nhờ việc dạy học giải toán mà học sinh có điều kiện rèn luyện và phát triển năng lực tư duy, rèn luyện phương pháp suy luận và những phẩm chất cần thiết của người lao động mới

Giải toán là một hoạt động bao gồm những thao tác: Xác lập được mối quan hệ giữa các dữ liệu , giữa cái đã cho và cái phải tìm trong điều kiện của bài toán: chọn

được phép tính thích hợp trả lời đúng câu hỏi của bài toán

Các bài toán số học được phân chia thành các bài toán đơn và khối các bài toán hợp Bài toán được giải bằng một bước tính gọi là bài toán đơn; bài toán được giải bằng một số bước được gọi là bài toán hợp

Hình thành và rèn luyện kỹ năng: thực hành, đọc, viết, đếm, so sánh các số, giải một số dạng bài toán đơn về cộng trừ, bước đầu diễn đạt bằng lời Những nội dung

có quan hệ đến đời sống thực tế của học sinh

Giáo dục học sinh: chăm chỉ, tự tin, cẩn thận, ham hiểu biết và hứng thú trong học tập toán

Trang 6

Thông qua các hoạt động dạy học giải toán có lời văn , giáo viên tiếp tục giúp học sinh: Phát triển các năng lực tư duy ( so sánh, lựa chọn, phân tích , tổng hợp, trừ tượng hoá, khái quát hoá); Pháp triển trí tưởng tượng không gian, tập nhận xét các số liệu thu thập được, diễn đạt gọn, rõ, đúng các thông tin , cẩn thận, chăm chỉ, tự tin, hứng thú trong học tập và thực hành toán

Quá trình dạy học toán lớp 3 phải góp phần thiết thực vào việc hình thành phương pháp suy nghĩ, phương pháp học tập và làm việc tích cực, chủ động, khoa học, sáng tạo cho học sinh

Để làm được như vậy, sách giáo khoa và các tài liệu hướng dẫn giảng dạy cần giúp Gv tổ chức các hoạt động học tập, thường xuyên tạo ra tình huống có vấn đề, tìm các biện pháp lôi cuốn học sinh tự phát hiện và giải quyết vấn đề bằng cách hướng dẫn học sinh tìm hiểu kĩ vấn đề đó, huy động các kiến thức và công cụ đã có

để tìm con đường hợp lí nhất giải đáp từng câu hỏi đặt ra trong quá trình giải quyết vấn đề, diễn đạt và các bước đi trong cách giải, tự kiểm tra lại các kết quả đã đạt

được, cùng các bạn rút kinh nghiệm về phương pháp giải Đó là những cơ hội để rèn luyện ngôn ngữ toán học và tập dượt cho học sinh suy luận, hình thành phương pháp học tập và làm việc khoa học, giúp học sinh tự pháp hiện và chiếm lĩnh tri thức mới,

tự kiểm tra và tự khẳng định những tiến bộ của mình

2 Đổi mới phương pháp cách tổ chức dạy học về nội dung giải bài toán có lời văn:

Dạy học toán có lời văn là một trong những con đường hình thành và phát triển trình độ tư duy ở học sinh (phát hiện và tự giải quyết vấn đề, tự nhận xét, so sánh, phân tích, tổng hợp rút ra qui tắc ở dạng khái quát nhất định ) Tuy nhiên để đạt hiệu cao, người giáo viên phải biết tổ chức, hướng dẫn cho học sinh (cá nhân, nhóm, cả lớp ) hoạt động theo chủ đích với sự trợ giúp đúng mức của giáo viên, của sách giáo khoa và của đồ dùng dạy học, để mỗi cá nhân học sinh khám phá tự phát hiện

và giải quyết bài toán thông qua việc biết thiết lập mối quan hệ giữa kiến thức mới với kiến thức có liên quan đã học, với kinh nghiệm bản thân (đã học được ở trường, trong đời sống )

Với đặc trưng của mạch kiến thức này, cần lưu ý một số điểm mang tính phương pháp, cách tổ chức dạy học Cụ thể là:

Điều chủ yếu khi giải toán có lời văn là dạy học sinh biết cách giải bài toán (phương pháp giải toán) Giáo viên không làm thay, không được áp đặt cách giải Cần phải tạo cho học sinh tự tìm ra cách giải bài toán (tập trung vào ba bước: Tóm tắt bài toán để biết bài toán cho gì ?, hỏi gì ?, yều cầu gì?)

Tìm cách giải thông qua việc thiết lập mối quan hệ giữa các dữ liệu của đề bài (giả thiết) với yêu cầu của bài (kết luận) để tìm phép tính tương ứng

Trình bày bài giải, viết câu lời giải, phép tính trung gian và đáp số

Trong giải toán, giáo viên cần khuyến khích học sinh tìm nhiều cách giải và biết

so sánh, lựa chọn cách giải tốt Dần dần, hình thành cho học sinh thói quen không

Trang 7

bằng lòng với kết quả đạt được và có lòng mong muốn tìm giải pháp tốt cho bài làm của mình Vì vậy, điều đáng quan tâm không phải là học sinh làm được nhiều bài và giáo viên cung cấp thêm nhiều bài tập cho học sinh mà chính là giáo viên cùng học sinh khai thác được các tiềm năng trong các bài tập có sẵn trong sách giáo khoa, giáo viên hướng dẫn học sinh trao đổi ý kiến về các cách giải, qua củng cố, khắc sâu kiến thức bài học

2.1: Biện pháp giúp đỡ học sinh.

Để đạt mục đích trên, giáo viên phải thực hiện các yêu cầu sau:

- Tổ chức cho học sinh hoạt động nắm vững các khái niệm toán học, cấu trúc phép tính, các thuật ngữ, (chuẩn bị cho học giải toán )

- Tổ chức cho học sinh thực hiện các bước giải

- Rèn luyện kĩ năng giải toán

- Hoạt động nắm vững các khái niệm toán học, cấu trúc phép tính, các thuật ngữ:

- Bài toán có lời văn nêu các vấn đề thường gặp trong đời sống các vấn đề đó gắn liền với nội dung (khái niệm, cấu trúc, thuật ngữ) toán học, do vậy giáo viên cần cho học sinh nắm vững khái niệm, thuật ngữ

- Việc giải toán có lời văn, giáo viên giúp học sinh hình thành bước đầu về cách trình bày dạng bài toán có lời văn, biết giải các bài toán đơn về thêm bớt (giải bằng một phép cộng hoặc phép trừ, nhân chia) trình bày bài giải gồm: câu văn thể hiện lời giải, phép tính, đáp số

- ở lớp 3, học sinh cần nắm rõ thế nào là bài toán hợp, giải bằng hai phép tính, giải bài hợp khác với bài toán đơn (giải bằng một phép tính ở lớp 1, lớp 2 như thế nào? Trên cơ sở cách giải bài toán đơn mà chuyển sang hình thành các bước giải của bài hợp (Bài toán đơn có một bước giải, bài toán hợp có hai bước giải mà trong đó mỗi bước giải có câu lời giải và phép tính tương ứng) Giải bài toán hợp cần chú ý:

+ Khi tóm tắt bài toán, giáo viên cho học sinh đọc kĩ bài toán Điều này hết sức cần thiết nhằm làm rõ giả thiết (bài toán cho gì ?) và kết luận (bài toán hỏi gì ? yều cầu gì ?) Có thể tóm tắt bằng lời văn hoặc bằng sơ đồ đoạn thẳng Từ đó học sinh có thể tìm mối quan hệ giữa “cái đã biết và cái chưa biết” đó là cầu nối để tìm cách giải quyết một cách hợp lí Tuy nhiên không nhất thiết phải viết phần tóm tắt vào phần trình bày lời giải

+ Khi trình bày lời giải, giáo viên cần giúp học sinh hiểu rõ quy trình phải làm: Viết được câu lời giải và phép tính tương ứng Cần kiên trì để học sinh tự diễn

đạt câu trả lời bằng lời trước khi viết câu lời giải Có thể chấp nhận cách diễn đạt tuy

vụng về nhưng đúng, rồi giáo viên uốn nắn sửa dần Cái khócủa việc giải toán có lời

văn trong toán lớp 3 đối với học sinh chính là trinh bày (viết) bài giải Điều này đòi

Trang 8

hỏi giáo viên không sốt ruột, vội vàng làm thay học sinh mà phải cho học sinh tự luyện viết câu lời giải nhiều

2.2: Tổ chức cho học sinh thực hiện các bước giải:

- Tổ chức cho học sinh tìm hiểu nôi dung bài toán bằng các thao tác:

+ Đọc bài toán ( đọc to, đọc nhỏ, đọc thầm- đọc bằng mắt)

+ Tìm hiểu một số từ, thuật ngữ quan trọng để tìm hiểu nội dung, nắm bắt bài toán cho biết cái gì, bài toán yêu cầu phải tìm cái gì ?

- Tìm cách giải bài toán bằng các thao tác:

+ Tóm tắt bài toán (tóm tắt bằng lời, tóm tắt bằng hình vẽ, tóm tắt bằng sơ

đồ) Hoạt động này thường được tiến hành theo các bước sau :

+ Cho học sinh diễn đạt bài toán thông qua tóm tắt

+ Lập kế hoạch giải bài toán: Xác định trình tự giải bài toán, thông thường xuất phát từ câu hỏi của bài toán đi đến các yếu tố đã cho Xác lập mối qua hệ giữa các điều kiện đã cho với yêu cầu bài toán phải tìm và tìm được đúng phép tính số học thích hợp

- Thực hiện cách giải và trình bày lời giải bằng các thao tác:

+ Thực hiện các phép tính đã xác định (có thể viết phép tính sau khi viết câu lời giải và thực hiện phép tính)

+ Viết câu lời giải

+ Viết phép tính tương ứng

+ Viết đáp số

- Kiểm tra bài giải:

Kiểm tra số liệu, kiểm tra tóm tắt, kiểm tra phép tính, kiểm tra câu lời giải, kiểm tra kết quả cuối cùng có đúng với yêu cầu bài toán

Ví dụ:

Hướng dẫn học sinh thực hiện các bước giải bài toán sau:

Thu hoạch ở thửa ruộng thứ nhất được 127 kg cà chua, ở thửa ruộng thứ hai

được nhiều gấp 3 lần số cà chua ở thửa ruộng thứ nhất Hỏi thu hoạch hai thửa ruộng được bao nhiêu ki- lô- gam cà chua?

- Cho học sinh tìm hiểu thuật ngữ thu hoạch nghĩa là gì? (đồng nghĩa với việc hái cà chua để sử dụng) Thuật ngữ ở thửa ruộng thứ hai được nhiều gấp 3 lần số cà chua ở thửa ruộng thứ nhất.

- Nắm bắt nội dung bài toán:

Trang 9

+ Biết số cà chua ở thửa ruộng thứ nhất 127 kg và số cà chua ở thửa ruộng thứ hai nhiều gấp 3 lần số cà chua ở thửa ruộng thứ nhất

- Tìm cách giải bài toán:

+ Tóm tắt bài toán: Bước đầu học sinh mới giải toán, giáo viên làm mẩu và hướng dẫn học sinh tóm tắt, các bài tập kế tiếp giáo viên chỉ định, hướng dẫn kiểm tra học sinh tự tóm tắt (tóm tắt bằng lời, hoặc tóm tắt bằng hình vẽ)

+ Tóm tắt ngắn gọn làm nổi bật yếu tố đã cho và yếu tố phải tìm

Cách 1: Thửa 1 : 127 kg cà chua.

Thửa 2 : Gấp 3 lần thửa 1 ? kg cà chua

Cách 2 : Thửa 1 :

Thửa 2 : ? kg cà chua

+ Cho học sinh diễn đạt bài toán thông qua tóm tắt (không nhìn đề toán mà nhìn vào tóm tắt, học sinh tự nêu bài toán theo sự hiểu biết và ngôn ngữ của từng em)

+ Lập kế hoạch giải toán

- Xác định bài toán theo cách thông thường:

+ Tìm số cà chua ở hai thửa ruộng, cần biết những gì? (Biết số cà chua ở từng thửa ruộng là bao nhiêu kilôgam?)

+ Số ki- lô –gam cà chua ở từng thửa ruộng đã biết chưa? (Biết số kilô gam

cà chua ở thửa thứ 1 là 127 kg, còn số kilôgam cà chua ở thửa ruộng thứ 2 chưa biết)

+ Vậy phải tìm số kilô gam cà chua ở thửa thứ 2

- Tình tự giải:

+ Trước hết tìm số kilôgam cà chua ở thửa ruộng thứ hai

+ Sau đó tìm tìm số cà chua ở hai thửa ruộng

+ Xác lập mối quan hệ giữa các yếu tố và tìm đúng phép tính thích hợp: Tìm

số cà chua ở thửa ruộng thứ 2 ?

+ Biết số cà chua ở thửa thứ 1 là 127 kg

+ Biết số cà chua ở thửa thứ 2 nhiều gấp 3 lần số cà chua ở thửa thứ 1

+ Vậy số kilôgam cà chua ở thửa thứ 2 bằng số kilôgam cà chua ở thửa thứ 1 nhân với 3

Tìm số cà chua ở hai thửa ruộng ?

Trang 10

Biết số cà chua ở thửa thứ 2 : ( 127x 3) kg

Vậy số cà chua ở hai thửa ruộng bằng tổng số kilôgam cà chua ở hai thửa ruộng

Thực hiện cách giải và trình bày:

Giáo viên cho học sinh thực hiện các phép tính trước ở ngoài nháp sau đó trình bày bài giải hoặc viết câu lời giải và phép tính tương ứng, thực hiện phép tính, viết kết quả

Số kilôgam cà chua thu hoạch ở thửa ruộng thứ hai là :

127 x 3 = 381 (kg)

Số kilôgam cà chua thu hoạch ở hai thửa ruộng là :

127 + 381 = 508 (kg)

Đáp số: 508 kg

Kiểm tra bài giải:

Kiểm tra tóm tắt, câu lời giải, phép tính, bằng cách đọc lại, làm lại phép tính

- Tổ chức rèn kĩ năng giải toán

+ Sau khi học sinh đã biết cách giải toán (có kĩ năng giải toán), để định hình

kĩ năng ấy, giáo viên rèn kĩ năng giải toán cho học sinh Rèn kĩ năng giải toán, nghĩa

là cho học sinh vận dụng kĩ năng vào giải các bài toán khác nhau về hình thức Giáo viên có thể rèn kĩ năng từng bước hoặc tất cả các bước giải toán

Ví dụ : Rèn kĩ năng tìm hiểu nội dung bài toán bằng các thao tác:

+ Đọc bài toán (đọc to, đọc nhỏ, đọc thầm, đọc bằng mắt)

+ Tìm hiểu một số từ, thuật ngữ quan trọng để tìm hiểu nội dung của các bài toán cụ thể ở sách giáo khoa

Tóm lại để giải bài toán có lời văn học sinh cần nắm các yếu tố sau.

Tìm hiểu bài toán:

- Bài toán cho biết gì?

- Bài toán hỏi gì? (Tức là bài toán đòi hỏi phải tìm gì?)

Giải bài toán:

- Thực hiện phép tính để tìm điều chưa biết nêu trong câu hỏi

- Trình bày bài giải:

+ Nêu câu lời giải

+ Phép tính để giải bài toán

+ Đáp số

Ngày đăng: 31/03/2021, 20:46

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w