Vâng, có lẽ do Bình Định nói chung và Cát Tiến nói riêng có quá nhiều từ ngữ địa phương; với lại đại đa số người dân có cách phát âm không chuẩn, nhầm lẫn giữa âm – chữ , Nguyên âm đơn –[r]
Trang 1PHÒNG GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO PHÙ CÁT
TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ CÁT TIẾN
………
NGUYÊN NHÂN VIẾT SAI CHÍNH TẢ CỦA
HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ CÁT TIẾN.
TỔ : VĂN – SỬ – GDCD – TIẾNG ANH
GIÁO VIÊN: NGUYỄN THỊ QUỲNH NHƯ
Trang 2PHẦN I
LỜI NÓI ĐẦU
Khi bàn về cách phát âm, nhà thơ Hạ Tri Chương đã nói:
“Trẻ đi, già trở lại nhà
Giọng quê khó đổi, sương pha mái đầu”
Vâng, ngay trong lời nói của nhà thơ xưa đã khẳng định một điều: cách phát âm của mỗi người từ khi sinh ra và lớn lên đã “thấm” cái chất giọng của quê hương, hay nói khác
đi, đó chính là từ ngữ địa phương Nên dù có đi đâu, ở đâu, cái “giọng quê “ ấy cũng khó
mà thay đổi Vì thế, ta có thể khẳng định: trong xã hội, ngoài hoạt động viết ra, hoạt động nói cũng không phải là không quan trọng, mà cứ ngày càng quan trọng hơn, nhất là trong xã hội hiện đại
Là một giáo viên dạy phân môn Ngữ văn, đặc biệt khi dạy đến bài “Từ ngữ địa
phương và biệt ngữ xã hội”, Ngữ văn 8, tập I, tôi càng trăn trở hơn về sự nhầm lẫn giữa từ
địa phương với cách phát âm sai chính tả của học sinh địa phương Cát Tiến, đặc biệt là học sinh ở vùng biển Trung Lương
Với lí do trên, tôi xin mạnh dạn trình bày một vài vấn đề về “Nguyên nhân viết sai
chính tả của học sinh trường trung học cơ sở Cát Tiến” thông qua bài “Từ ngữ địa phương và biệt ngữ xã hội”, Ngữ văn 8, tập I Từ đo,ù giúp các em nhận thấy cái hay của từ địa
phương để gìn giữ và phát huy hơn nữa tiếng của địa phương mình Song, bên cạnh đó, giúp các em nhận ra cái sai mà sửa chữa để phát âm và viết cho đúng chính tả
Những gì tôi nêu trên chỉ là ý kiến chủ quan của cá nhân nên chắc chắn vẫn còn nhiều thiếu sót Vì thế, bản thân rất mong quý thầy, cô trong nhóm Ngữ văn, trong tổ Văn – Sử – GDCD – Anh văn cũng như các đồng nghiệp đóng góp thêm để việc giảng dạy của chúng ta được tốt hơn
Cát Tiến, ngày 15 tháng 03 năm 2009
Trang 3PHẦN II
NỘI DUNG
A.KHÁI NIỆM VỀ TỪ NGỮ ĐỊA PHƯƠNG:
Tiếng Việt có vị trí và vai trò vô cùng quan trọng trong chương trình phổ thông Nó đã rèn luyện cho học sinh kĩ năng sử dụng tiếng mẹ đẻ, biến nó thành công cụ giao tiếp hữu hiệu trong nhà trường, trong gia đình cũng như ngoài xã hội Tiếng Việt là chìa khóa khởi đầu cho việc tiếp thu, khám phá mọi lĩnh vực khoa học tự nhiên và xã hội cho từng cá nhân Tiếng Việt là một ngôn ngữø bao gồm những phương ngữ ( hay còn gọi là tiếng địa phương) khác nhau Đó là tiếng Nghệ An, tiếng Huế, tiếng Quảng Nam, tiếng Bình Định … và những địa phương khác nữa
Vì thế, theo sách giáo khoa Ngữ văn 8, tập I có đưa ra khái niệm về từ địa phương như
sau: “Từ địa phương là những từ chỉ được sử dụng ở một số địa phương nhất định.”
Như vậy, từ địa phương được dùng chủ yếu trong khẩu ngữ tự nhiên ở các địa phương, mang màu sắc của địa phương đó Vấn đề đặc ra ở đây là dùng từ địa phương như thế nào để người đọc, người nghe dù ở địa phương khác cũng dễ dàng thông hiểu, từ đó có thể rung cảm được với các từ mới lạ này
Bên cạng đó, từ địa phương cũng được sử dụng phổ biến trong ngôn ngữ văn chương,
do nhu cầu phải tạo ra màu sắc địa phương cho cảnh vật, nhân vật trong tác phẩm nên các nhà văn, nhà thơ đã chọn lọc và dùng một số từ địa phương nhằm bổ sung cho những từ toàn dân trong các trường hợp vốn từ toàn dân thiếu phương tiện miêu tả thật trúng với đối tượng mà nhà văn định biểu hiện
Ví dụ: Tố Hữu có rất nhiều bài thơ hay khi sử dụng ngôn ngữ địa phương, như bài
“O du kích”: “O du kích nhỏ giương cao súng”
Người ta có thể dễ dàng đoán hiểu như sau:”O” phải là một người, bởi vì văn cảnh
của câu thơ cho thấy trước tổ hợp từ “ du kích nhỏ giương cao súng” chỉ có thể là một từ
xưng hô chỉ người thì câu thơ mới có nghĩa Ngoài ra đây cũng không phải là một người
nhiều tuổi vì là “ du kích nhỏ”.
Văn cảnh tiếp theo khẳng định: ”Anh hùng đâu cứ phải mày râu”.
Lại ngầm báo rằng “Người du kích trẻ” này không phải là “nam” mà là nữ, một cô gái còn đang rất trẻ
Hay khi viết về hình ảnh người mẹ, ta không chỉ thấy trong thơ Tố Hữu hình ảnh bà mẹ Việt Nam nói chung mà còn thấy hình ảnh của các bà mẹ trên khắp mọi miền của Tổ quốc nhờ cách xưng hô từ địa phương:
- Bà mẹ miền Nam (“Bà má Hậu Giang”)
- Bà mẹ trung du Bắc Bộ (“Bầm ơi!” , “Bà bủ”)
- Bà mẹ người dân tộc ( “Mé” trong “Bà mẹ Việt
Bắc”)
- Bà mẹ người miền Trung (“Mẹ Suốt”, “Quê mẹ”)
Trang 4
Song, trong giao tiếp hằng ngày, chúng ta nên hạn chế việc sử dụng từ địa phương với những người ở các địaphương khác, vì như vậy sẽ làm cho người nghe khó hiểu dẫn đến cuộc hội thoại sẽ ít thành công Vì thế, ta nên sử dụng từ ngữ toàn dân tương ứng để đạt được kết quả tốt trong giao tiếp
Ví dụ: Các nhà hoạt động chính trị của ta tuy sinh trưởng ở những vùng có nhiều từ địa phương nhưng trong các bài nói, bài viết và các tác phẩm của mình, họ đều cố gắng dùng từ toàn dân để phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp chung của xã hội
Như vậy, mỗi người chúng ta, không ít thì nhiều ai cũng sử dụng từ ngữ của địa
phương mình nhưng cần phải sử dụng sao cho phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp
Và, tại sao tôi lại đưa ra khái niệm về “Từ ngữ địa phương” để làm gì ?
Vâng, có lẽ do Bình Định nói chung và Cát Tiến nói riêng có quá nhiều từ ngữ địa phương; với lại đại đa số người dân có cách phát âm không chuẩn, nhầm lẫn giữa âm – chữ ,
Nguyên âm đơn – nguyên âm đôi, … Đó là những nguyên nhân dẫn đến việc viết sai chính tả của học sinh địa phương Chúng ta tìm hiểu cụ thể hơn ở phần sau
Trang 5B.NHỮNG NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN VIỆC VIẾT SAI
CHÍNH TẢ Ở HỌC SINH TRƯỜNG THCS CÁT TIẾN:
Muốn biết được những nguyên nhân nào dẫn đến việc viết sai chính tả ở học sinh THCS nói chung và học sinh của trường THCS Cát Tiến nói riêng, trước hết tôi sẽ đưa ra hệ thống ngôn ngữ của tiếng Việt Và từ đó, ta sẽ dễ dàng phát hiện ra những lỗi các em mắc phải để kịp thời sửa chữa để phù hợp với ngôn ngữ chung của tiếng Việt
HỆ THỐNG NGÔN NGỮ TIẾNG VIỆT :
I HỆ THỐNG CÁC ÂM VỊ :
1.Khái quát:
Hiện nay các nhà ngôn ngữ học Việt Nam đang tích cực nghiên cứu xây dựng một hệ thống âm (Âm vị) chuẩn của Tiếng Việt và trên cơ sở đó xây dựng một hệ thống chữ viết hợp lý biểu thị hệ thống âm chuẩn
Căn cứ tình hình phát triển của Tiếng Việt hiện đại, tạm thời thừa nhận một hệ thống các âm vị (phônem) cơ bản của Tiếng Việt hiện đại theo hệ thống nguyên âm và phụ âm Cách nói trên chẳng qua chỉ là cách nói theo học thuật, nhưng chúng ta cũng có thể
nói một cách nôm na, dân dã, bình dân, dễ hiểu về “ Aâm vị” (nghĩa là cách phát âm của một ngôn ngữ – Ta gọi tắt là Âm, ta nên hiểu Aâm của một ngôn ngữ chứ không phải “Âm”
của các ngành khoa học khác.)
Chính vì thế, ta nên hiểu một cách nôm na, sơ đẳng về khái niệm của Âm vị (âm) như sau:“Aâm là hơi từ luồng phổi đi ra hệ thống dây thanh ra khoan miệng, nó phá vỡ Răng,
Môi, Lưỡi, Lợi… Thoát ra bên ngoài để tạo thành âm ”.
Do đó, ta có 2 loại âm vị: Nguyên âm và phụ âm
Để kí hiệu cho âm tiếng Việt, người ta dùng “Chữ cái” kí hiệu cho no.ù
2 Nguyên âm của Tiếng Việt:
Ta nên hiểu rằng: Nguyên âm là những âm được phát ra từ luồng phổi đi ra hệ thống
dây thanh và khoan miệng để thoát ra bên ngoài mà không bị cản trở bởi Răng, Môi, Lưỡi,
Lợi…
Trong tiếng Việt, gồm có 14 nguyên âm, được phân chia thành 2 loại:
* Nguyên âm đơn: có 11 nguyên âm (A, Ă, Â, E, Ê, I O, Ô, Ơ, U, Ư)
*Nguyên âm đôi: có 3 nguyên âm:IE (IA,IÊ,YA,YÊ); UO(UA, UÔ); ƯA(ƯƠ)
(Ở đây, tôi không có ý đồ đi sâu vào lĩnh vực học thuật này, mà tôi chỉ nêu sơ
qua để ta hiểu nguyên nhân tại sao học sinh hiện nay viết sai chính tả nhiều)
Trang 6BẢNG PHÂN LOẠI NGUYÊN ÂM
Có thể nói đây là nguyên nhân thứ nhất của việc viết sai chính tả ở các em vì sự
nhầm lẫn khi sử dụng các nguyên âm đôi và biến nguyên âm đôi thành nguyên âm đơn khi nói và viết:
Trường hợp 1 : Phát âm trùng lặp dẫn đến viết sai chính tả ở các nguyên âm đôi, như
:
IÊ với YÊ , IA với YA, …
Ví dụ:
NÓI (VIẾT) CHUẨN NÓI (VIẾT) SAI
TIỀN TUYẾN ĐÊM KHUYA KHUYÊN RĂNG CHUYÊN CHỞ CHUYỂN GIAO
………
TIỀN TIẾN ĐÊM KHIA KHIÊN RĂNG CHIÊN CHỞ CHIỂN GIAO
………
Nguyên âm TT Ký hiệu
nguyên âm
ĐƠN
kiều, khuya, tiên tiến.
luôn
ĐÔI
lượt thượt
Trang 7Trường hợp 2: biến nguyên âm đôi thành nguyên âm đơn (thường bỏ bán nguyên âm
U; O) nói và viết.
Ví dụ:
Thuở ấy Thở ấy Thuê bao Thơ (thê) bao Hoa huệ Hoa hệ (hợ) Khoe khoan Khe khoan
……… ………
Ngoài ra, thầy, cô giáo có thể tìm hiểu thêm về một số trường hợp viết sai chính tả nữa ở phần nguyên âm đơn và nguyên âm đôi
3.Các phụ âm của Tiếng Việt :
Ta cũng nên hiểu rằng: Phụ âm là những âm được phát ra từ luồng phổi đi qua hệ
thống dây thanh và khoan miệng để thoát ra bên ngoài bị cản trở bởi Răng, Môi, Lưỡi,
Lợi, …
Trong tiếng Việt gồm có 22 phụ âm( âm vị) : Tại sao, ta chỉ có 22 phụ âm?
Điều này nên lưu ý rằng:
* Có trường hợp chỉ có một phụ âm mà lại kí hiệu bằng nhiều con chữ khác nhau, không có cấu trúc liên kết với nhau để tạo thành một “Tiếng” hoặc một “Từ” :
Ví dụ : - Âm /k/ (“Cờ”) được viết bằng 03 con chữ nhưng không có sự liên quan với
nhau : “ C ; K ; Q”
- Trường hợp này hoàn toàn khác với phụ âm kép / / (“Ngờ”) cũng được viết bằng
03 con chữ “N-G-H” nhưng lại có cấu trúc liên kết với nhau khi kết hợp một nguyên âm thì tạo thành một tiếng Ví dụ: NGHE.
Chính những trường hợp nêu trên, tạm thời ta có thể phân thành 03 loại phụ âm theo
kí hiệu của bảng chữ cái như sau:
* Phụ âm được kí hiệu bằng một con chữ (chữ cái)
* Phụ âm được kí hiệu bằng hai con chữ (chữ cái)
* Phụ âm được kí hiệu bằng ba con chữ (chữ cái)
Trang 8BẢNG PHÂN LOẠI PHỤ ÂM THEO KÍ HIỆU BẰNG CON CHỮ
LOẠI PHỤ ÂM TT KÍ HIỆU
PHỤ ÂM
CÁCH ĐỌC
CHỮ CÁI VÍ DỤ
1 /b/ Bờ B bồng bềnh
3 /z/ Dờ D duyên dáng
10 /n/ Nờ N nôn nóng
13 /Zc/ Rờ R róc rách
14 /S/ Sờ S sung sướng
15 /t/ Tờ T tin tưởng
MỘT
CHỮ CÁI
18 /C/ Chờ Ch chông chênh
19 / / Gờ Gh gồ ghề
20 /z/ Dờ Gi giữ gìn
21 / / Khờ Kh khúc khích
22 / / Ngờ Ng ngô nghê
23 / / Nhờ Nh nhọc nhằn
24 /f/ Phờ Ph phôi pha
25 /t’/ Thờ Th thơ thẩn
HAI
CHỮ CÁI
26 /t/ Trờ Tr trồng trọt
BA
CHỮ CÁI
27 / / Ngờ Ngh ngô nghê
* Lưu ý: Ta nên xem kĩ bảng “Tên âm và chữ cái” ở phần sau
Qua bảng phụ, ta rút ra nguyên nhân thứ hai của việc viết sai chính tả ở các em là do
không nắm vững nguyên tắc cấu tạo phụ âm có nhiều con chữ và phụ âm chỉ có một con chữ khi nói và viết
Ví dụ:
* Trường hợp 1: Biến phụ âm 02 con chữ thành phụ âm có một con chữ, như :
Trang 9+ TR (âm TRỜ) viết (nói) thành T (TỜ) : Trăng tròn Tăng tòn.
+ GI (âm DỜ) viết (nói) thành D (DỜ) : Giang sơn Dang sơn ……
* Trường hợp 2: Nhầm lẫn giữa các phụ âm có cùng một chữ cái, như :
+ V (âm vờ) viết (nói) thành D (DỜ) : Vĩnh Long Dĩnh Long
+ S (âm sờ) viết (nói) thành X (XỜ) : Sung Sướng Xung Xướng.
II.CHỮ CÁI VÀ BẢN CHỮ CÁI:
1.CHỮ CÁI:
Ở đây, tôi không muốn nói đến vấn đề về khái niệm học thuật “Chữ cái” Bởi nói
đến vấn đề này là liên quan đến nhiều khái niệm khác nữa, như : NÉT CHỮ, CÁCH VIẾT
CHỮ, … Mà nói đến nét chữ là phải bàn đến nét cong, nét hở, nét móc, hay cách viết chữ
thì phải viết như thế nào; bao nhiêu ô li; độ rộng, độ mở; độ cao, độ thấp; … và gồm có những nét gì
Ví dụ 1: - Âm “sờ” được kí hiệu bằng chữ S (ét-sì)
- Viết chữ S gồm các nét: nét xiên phải, nét thắt, nét cong hở – trái.
Ví dụ 2: - Âm “nờ” được kí hiệu bằng chữ N (en-nờ)
- Viết chữ N gồm các nét: nét móc xuôi và nét móc hai đầu.
(Trích SGV lớp 1, tập I- trang 53 và 71)
Do đó, bàn về vấn đề học thuật này là dành cho trình độ sinh viên môn Ngữ văn của các trường Đại học, Cao đẳng Còn ở đây, ta chỉ nói đến nguyên nhân việc viết sai chính tả của học sinh cấp THCS Chính vì vậy, tôi chỉ nói một cách nôm na, đơn giản và dễ hiểu
rằng: “Chữ cái là những kí hiệu dùng để ghi âm vị, nghĩa là dùng ghi những nguyên âm
và phụ âm.”
Bởi vậy, ta có bảng tên âm và chữ cái như sau:
2 BẢNG TÊN ÂM VÀ CHỮ CÁI:
STT CHỮ
CÁI
TÊN CHỮ CÁI
ÂM (PHÁT ÂM)
STT CHỮ
CÁI
TÊN CHỮ CÁI
ÂM (PHÁT ÂM)
3 â Ớ Ớ (Ơ ngắn) 18 ô Ô Ô
14 l E-Lờ LỜ 29 y I (dài) I
Trang 1015 m Em-Mờ MỜ
(Trích SGV – Lớp 1, Tập I)
* Lưu ý: - Khi đánh vần, K được đọc là “ Ca” : ví dụ: KẺ đọc là ca- e –hỏi-kẻ.
- Q bao giờ cũng đi với U, tạo thành QU: phát âm (đọc) là Quờ
Đặc biệt, trong việc giao tiếp của người Việt, có thói quen là thường gọi tên chữ cái chứ không nói đến cách phát âm được kí hiệu bởi chữ cái đó
Ví dụ: Văn bản số 36 / CP : * Đọc là “Văn bản số ba mươi sáu xẹt (/) XÊ PÊ”
* Chứ không ai đọc “Văn bản số ba mươi sáu CỜ PỜ”.
Chính điều này, thầy (cô) giáo không giúp học sinh phân biệt ngay từ nhỏ thì sẽ đưa đến sự nhầm lẫn giữa âm và chữ cái Từ chỗ nhầm lẫn này dễ dẫn đến việc các em đồng nghĩa giữa âm chính là chữ cái và ngược lại, mà đã nhầm lẫn thì rất khó sửa chữa Khi đã tạo thành thói quen thì đây chính là nguyên nhân cơ bản ban đầu cho việc viết sai chính tả sau này của học sinh
Ví dụ: Âm CHỜ (Ch) gồm có 02 con chữ : chữ Xê (C) và chữ Hát (H) (Một âm
được kí hiệu bằng 02 con chữ) Thế nhưng, có nhiều học sinh và giáo viên gọi là chữ
“Chờ” chứ không gọi là âm “Chờ” được kí hiệu bằng 02 con chữ : chữ Xê (C) và chữ Hát
(H)
Chính sự nhầm lẫn giữa âm và chữ nên có sự đồng hoá âm chính là chữ, chữ chính là
âm Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc viết sai chính tả.
Vấn đề âm, chữ cái và tên chữ cái lại được nhắc lại một lần nữa ở sách tiếng Việt- Lớp
2, Tập I, cụ thể như sau:
BẢNG CHỮ CÁI
STT Chữ cái Tên chữ cái STT Chữ cái Tên chữ cái
(Trích Tiếng Việt – Lớp 2, Tập I, trang 6, 11 và 15)
Trang 11
Ngoài ra, ở địa phương ta lại conø có hiện tượng phát âm sai, phát âm không chuẩn khá phổ biến, đây cũng một nguyên nhân nữa của việc viết sai chính tả
Từ những kiến thức trên, ta có thể rút ra được Nguyên nhân thứ ba trong việc viết sai
chính tả của học sinh là :
* Không phân biệt được giữa tên âm với tên chữ cái:
+ Trường hợp 1: Phát âm sai, phát âm không chuẩn: Ê (âm Ê) đọc thành Ơ (âm Ơ)
Ví dụ : Cây khế đọc thành Cây khớ.
Lễ đài đọc thành Lỡ đài.
+ Trường hợp 2 : Tên âm cũng chính là tên chữ cái: S với X ; GI với D ; I với Y …
(như trên đã nêu ví dụ)
Ta cũng biết rằng: nhiều âm vị kết hợp lại với nhau sẽ tạo thành âm tiết (tiếng) trong ngôn ngữ của người Việt, mà ta lại có thói quen nói sao là viết vậy nên dễ dẫn đến việc viết sai chính tả Vì thế, ta sẽ tìm hiểu sơ lược, khái quát về “Âm tiết” (tiếng) để hiểu thêm một số nguyên nhân nữa: Tại sao ta lại viết sai chính tả?
III.NGUYÊN NHÂN VỀ ÂM TIẾT (TIẾNG) :
Ta cũng biết rằng: nhiều âm vị kết hợp lại với nhau sẽ tạo thành âm tiết (tiếng) trong ngôn ngữ của người Việt Mà ta lại có thói quen nói sao viết vậy nên dẫn đến viết sai chính tả Vì vậy, ta cũng nên tìm hiểu sơ lược về âm tiết (tiếng) để hiểu thêm một số nguyên nhân nữa: Vì sao học sinh hay viết sai chính tả?
1.KHÁI QUÁT:
Âm tiết (tiếng) là đơn vị nhỏ nhất của lời nói, do nhiều âm (âm vị) kết hợp lại cùng
với thanh điệu mà tạo thành Tiếng nào cũng phải có Nguyên âm, không có nguyên âm thì
không tạo thành tiếng (âm tiết), đôi khi chỉ có một nguyên âm cũng có thể tạo thành tiếng
Muốn hiểu và nắm rõ điều này, ta cần tìm hiểu sơ lược về “Đặc điểm” và “Cấu
trúc” của âm tiết (tiếng).
2 ĐẶC ĐIỂM CỦA ÂM TIẾT (TIẾNG):
Trong tất cả các ngôn ngữ, người ta thường phân chia dòng ngữ lưu thành các âm tiết Aâm tiết là một đơn vị phát âm tối thiểu của lời nói Nghiên cứu âm tiết tức là nghiên cứu sự tổ hợp các phônem (các âm vị) trong dòng ngữ lưu, trong kết cấu làm dấu hiệu của các đơn vị có nghĩa của ngôn ngữ, Ví dụ như các thực từ
Một điểm cơ bản nhất của các âm tiết tiếng Việt là ranh giới của âm tiết tiếng Việt trùng với ranh giới của moocphem (hình vị), tức là mỗi một âm tiết đều đóng vai trò là dấu hiệu của một moocphem (hình vị), đơn vị có nghĩa dùng làm thành tố cấu tạo từ Nói một
cách khác, trong tiếng Việt, mỗi một âm tiết đồng thời là một hình vị.
V í dụ: Câu thơ “Lòng ta ơn Bác đời đời” (Tố Hữu) gồm có 6 hình vị, tức là 6 đơn vị
có ý nghĩa nhỏ nhất, và có 6 âm tiết, tức là 6 đơn vị phát âm nhỏ nhất Tình hình đó nói chung cũng xảy ra đối với tiếng Hán và một số ngôn ngữ phương Đông khác