Bên cạnh đó điều quan trọng là phải động viên khích lệ học sinh khi các em có tiến bộ và thường xuyên kiểm tra việc chuẩn bị bài của các em, luyện cho các em có tính tự giác trong luyện [r]
Trang 1Mục lục
Nội dung Trang
I Tóm tắt .2
II Giới thiệu 3
1 Tìm hiểu thực trạng 3
2 Kết quả điều tra thực trạng 3
III Phương pháp 4
1 Khách thể nghiên cứu 4
2 Thiết kế nghiên cứu 5
3 Quy trình nghiên cứu 6
4 Đo lường và thu thập dữ liệu 16
IV Phân tích dữ liệu 16
V Kết luận và khuyến nghị 18
Tài liệu tham khảo 20
Phụ lục 1: Kế hoạch bài học 21
Bài 30: ua - ưa .21
Bài 91: oa - oe .23
Phụ lục 2: Bảng điểm 25
Trang 2I Tóm tắt
Môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học có vị trớ rất quan trọng trong việc đặt nền múng cho sự hỡnh thành nhõn cỏch của học sinh trờn cơ sở cung cấp những tri thức khoa học ban đầu cho học sinh về tự nhiờn và xó hội, phỏt triển cỏc năng lực nhận thức giỳp cho học sinh nhận thức tạo động lực phỏt huy tỡnh cảm ,thúi quen đạo đức tốt đẹp Một trong những hạnh phúc lớn nhất của trẻ là được đến trường, được học đọc, học viết, biết đọc, biết viết là cả một thế giới rộng mở ra trước mắt các em.Năng lực hoạt động ngôn ngữ được thể hiện trong bốn dạng hoạt động tương ứng với chúng là bốn kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết Học chữ chính là công việc đầu tiên khi các em đến trường Chữ viết và dạy viết được cả xã hội quan tâm
Nhiều thầy cô giáo đã rất trăn trở trong việc luyện chữ cho học sinh Tuy vậy nhiều
em vẫn viết sai, viết chưa đúng mẫu, chưa đẹp làm ảnh hưởng không nhỏ đến các môn học khác Vì vậy dạy chữ chính là dạy người, dạy Tiếng Việt và tập viết Tiếng Việt là đã trao cho các em chìa khoá để mở ra những cánh cửa bước vào tương lai, là công cụ để các em vận dụng suốt đời Chính vì vậy tôi đã nghiên cứu đề tài: Nâng cao chất lượng vở sạch chữ
đẹp thông qua việc rèn chữ cho học sinh lớp 1.
Nghiên cứu đề tài này được tiến hành trên hai nhóm tương đương ở hai lớp: 1A- 1C trường Tiểu học Hiệp Hoà- Vĩnh Bảo- Hải phòng Lớp 1C là nhóm thực nghiệm, lớp 1A là nhóm đối chứng Lớp thực nghiệm được thực hiện biện pháp thay thế Kết quả cho thấy tác động đã có ảnh hưởng tốt đến chất lượng chữ viết của học sinh Lớp thực nghiệm đã có khả năng viết đẹp hơn, giữ vở sạch sẽ hơn hơn lớp đối chứng Kết quả kiểm tra cho thấy không có học sinh nào bị chữ viết không xếp loại và kết quả kiểm chứng T- test cho thấy
p < 0,05 có nghĩa là đã có sự khác biệt lớn giữa kết quả của nhóm thực nghiệm và nhóm
đối chứng Kết quả đó đã chứng minh rằng :Để đạt được yêu cầu này giáo viên cần sử dụng linh hoạt các biện pháp, hình thức tổ chức cho học sinh luyện viết đúng mẫu, đẹp và giữ gìn vở sạch trong mọi giờ học và tất cả các thời gian học
Trang 3II Giới thiệu
1.Tìm hiểu thực trạng
Hiện nay chữ viết của các em học sinh tiểu học chưa được đẹp, chưa đúng mẫu, sự liên kết giữa các nét, các con chữ chưa chuẩn, tốc độ viết còn chậm, học sinh còn dùng nhiều loại mực, ngòi bút viết nét chữ to quá hoặc nhỏ quá đều làm ảnh hưởng đến việc giữ gìn vở sạch, viết chữ đẹp Đặc biệt càng lên lớp trên thì chữ viết của nhiều em không đúng mẫu Các em không tích cực rèn chữ viết thường xuyên dẫn đến chữ viết của các em chưa
đẹp, vở không giữ gìn sạch sẽ
Việc dạy của một số giáo viên chưa chú trong thường xuyên đến rèn chữ viết cho học sinh Trong ngôn ngữ viết có chức năng giao tiếp và được quy định thống nhất, mặc dù như vậy nhưng thực tế cho thấy phân môn tập viết trong trường tiểu học chưa được coi trọng , sách giáo viên, tài liệu tham khảo chưa cụ thể, rõ ràngnhư những môn học khác, việc dạy phân môn tập viết còn hạn chế, giáo viên chưa nắm vững tên gọi các nét cơ bản
Đây là nguyên nhân làm cho chữ viết của học sinh không đúng mẫu, không đẹp, vở không sạch sẽ
2.Kết quả điều tra thực trạng.
Chương trình tập viết lớp 1 gồm có 2 phần: Học kì 1 và nửa đầu học kì 2 sau mỗi bài học vần học sinh được luyện viết những chữ các em vừa học và mỗi tuần có thêm một bài tập viết Nửa sau học kì 2 mỗi tuần có 1 tiết tập viết, mỗi tiết học trong 35 phút, học sinh
được làm quen với chữ viết hoa, mỗi bài gồm hai lần viết, mỗi lần viết gồm 3 phần: phần thứ nhất là tô chữ viết hoa cỡ chữ vừa ,riêng tuần cuối viết số theo mẫu cỡ vừa và cỡ nhỏ; phần thứ hai viết lại hai vần đã học theo cỡ chữ vừa; phần thứ ba viết hai từ chữ cỡ nhỏ Qua khảo sát thực trạng dạy và học tập viết ở lớp 1 cho thấy kỹ năng viết của học sinh chưa đẹp, giữ gìn vở chưa sạch, giáo viên chưa chú ý sửa sai theo dõi tốc độ viết cho học sinh , tất cả các yếu tố trên cho thấy chất lượng giữ vở sạch, viết chữ đẹp chưa cao
Trang 4III Phương pháp
1 Khách thể nghiên cứu
Với học sinh, tư thế ngồi viết đúng, thoải mái, tâm trạng phấn khởi thì chất lượng chữ viết tốt, nếu tư thế ngồi chưa đúng, tâm trạng buồn phiền thì chữ viết cũng bị ảnh hưởng Để viết được chữ thì phải hoạt động tiêu hao năng lượng của thần kinh và bắp thịt Khi giáo viên hướng dẫn thì trẻ phải tri giác bằng mắt, tai và tay sẽ làm theo, nói điều mình tri giác được, vừa nói vừa đưa tay theo các đường nét của chữ cái để nhấn mạnh cách viết
đồng thời nhận ra tên gọi, hình dáng của chữ đó Nói thầm kiến thứ mới thu nhập được để tái hiện hình ảnh đó trong óc trước khi viết, được thể hiện trên bảng con, trên giấy bằng các dụng cụ như phấn, bút.Tay điều khiển quá trình viết là các cơ và xương bàn tay còn đang
độ phát triển nên cử động các ngón tay còn vụng về, chóng mệt mỏi Khi cầm bút các em
có tâm lí sợ rơi nên các em cầm rất chặt, các cơ tay cứng khó di chuyển Nếu các em cầm bút bằng bốn hoặc năm ngón tay thì khi viết vận động cổ tay, cánh tay sẽ mau mệt mỏi, sức chú ý kém, kết quả chữ viết không đúng, không nhanh Trẻ tiếp thu hình ảnh chữ viết qua mắt nhìn, do vậy nếu chữ viết được trình bày với kích thước quá nhỏ hoặc ánh sáng kém thì các em phải cúi sát mắt nhìn cho rõ chữ , lâu dần sẽ dẫn đến cận thị Trong thời gian đầu, có thể các em nhận ra đúng hình dáng của chữ nhưng bàn tay chưa ghi lại đầy đủ hình dáng của mẫu chữ Chỉ sau quá trình luyện tập, số lần nhắc đi nhắc lại nhiều thì các
em mới chép đúng mẫu
ở nghiên cứu này tôi lựa chọn 2 lớp của khối 1 Vì đối tượng học sinh của lớp 1 lực học, giới tính, khả năng tiếp thu bài và thái độ học tập cũng như ý thức của các em đương tương nhau Về ý thức học tập, tất cả các em ở hai lớp đều tích cực, chủ động, chữ viết tương đối đồng đều như nhau
Cụ thể như sau:
Trang 5Bảng 1: Kết quả khảo sát trước tác động
Tổng số
2 Thiết kế nghiên cứu
Thời gian tiến hành nghiên cứu vẫn thực hiện theo thời gian biểu của nhà trường để
đảm bảo tính khách quan và tiện lợi không ảnh hưởng đến tâm lý học sinh.Chọn hai lớp nguyên vẹn: lớp 1C là lớp thực nghiệm và lớp 1A là lớp đối chứng Tôi chọn một bài tập viết “Bài 30: ua, ưa, cua bể, ngựa gỗ ” kiểm tra trước tác động Kết quả kiểm tra trước tác
động cho kết quả khác nhau nên tôi dùng phép kiểm chứng T-test để kiểm chứng sự chênh lệch giữa điểm số trung bình của hai nhóm Sau khi đã có kết quả kiểm tra trước tác động tôi thấy rằng điểm trung bình của 2 nhóm có sự khác nhau, do đó tôi dùng phép kiểm chứng T-test để kiểm chứng độ chênh lệch giữa điểm số trung bình của hai nhóm trước khi tác động
Bảng 2: Kiểm chứng để xác định các nhóm tương đương
Kết quả cho thấy p = 0,4 > 0,05 vì vậy có thể kết luận sự chênh lệch điểm số trung bình của hai nhóm là không có ý nghĩa, hai nhóm được coi là tương đương nhau
Tôi sử dụng thiết kế 2 để kiểm tra trước và sau tác động đối với các nhóm đương tương ( được mô tả ở bảng 3)
ở thiết kế này, tôi sử dụng phép kiểm chứng T - test theo cặp
Trang 6Bảng 3: Thiết kế nghiên cứu
Nhóm Kiểm tra
trước tác động Tác động sau tác động Kiểm tra Thực nghiệm O1 Dạy có sử dụng các phương
pháp theo hướng tích cực O3
Đối chứng O2 Dạy không sử dụng các
phương pháp tích cực
O4
3 Quy trình nghiên cứu.
Trong quá trình thực nghiệm tôi đã chuẩn bị kĩ càng về kiến thức chuyên môn để khắc sâu biểu tượng cho học sinh về chữ viết, chủ động phân tích hình dáng, kích thước và cấu tạo đặc biệt giúp cho học sinh xác định được toạ độ, chiều hướng và kĩ thuật của chữ viết được thể hiện như sau:
a Chuẩn bị của giáo viên về kiến thức chuyên môn
1.Cấu tạo của chữ viết
1.1 Xác định toạ độ và chiều hướng chữ viết
Toạ độ chữ được xác định trên đường kẻ, đường li Mỗi đơn vị dòng kẻ trong
vở gồm 4 dòng li ( đường kẻ dưới và đường kẻ trên in đậm còn lại 3 đường li in nhạt hơn) Thống nhất kí hiệu từ đường kẻ in đậm dưới lên trên là các dòng li 1, 2, 3; đường kẻ
đứng là đường kẻ dọc, mỗi ô vuông nhỏ là một ô li
Ví dụ:
Đường l i
Dòng li
Đường kẻ
Đường kẻ dọc
Cách xác định toạ độ trên khung chữ phải dựa vào đường kẻ dọc, đường kẻ, đường li, dòng kẻ và các ô li, ô vuông làm định hướng Đây là một trong những điều kiện dạy chữ
Trang 7thành một quy trình; quy trình được thực hiện lần lượt bởi các thao tác mà hành trình ngòi bút đi qua toạ độ các con chữ Xác định toạ độ cấu tạo các chữ viết hoa đều phải căn cứ vào các ô vuông của khung chữ mẫu để phân tích
Ngoài ra cần nắm thêm một số thuật ngữ khi dạy tập viết như : điểm bắt đầu, điểm kết thúc, đặt bút, đưa bút, nối liền, nhấc bút
1.2 Điểm bắt đầu:
Điểm bắt đầu là điểm khi viết một nét trong con chữ cái, điểm bắt đầu có khi nằm trên đường kẻ, đường li hoặc dòng li tuỳ theo con chữ cái đứng đầu của chữ đó
Ví dụ : Điểm bắt đầu nằm trên đường kẻ
Điểm bắt đầu nằm trên đường li
Điểm bắt đầu nằm giữa dòng li
1.3 Điểm kết thúc:
Trang 8Điểm kết thúc là vị trí kết thúc của nét chữ trong một chữ cái Điểm kết thúc có thể có thể trùng với điểm bắt đầu hoặc giống vị trí điểm bắt đầu
Ví dụ: Điểm kết thúc trùng với điểm bắt đầu ở các chữ cái o, ô, ơ viết thường
1.4 Nối liền:
Là thao tác đưa ngòi bút liên tục từ điểm kết thúc của nét đứng trước tới điểm bắt đầu của nét đứng sau
Ví dụ: Con chữ a nối với con chữ n :an
Con chữ x nối với inh : inh
1.5 Đặt bút:
Đặt bút là điểm bắt đầu của con chữ, trùng với điểm bắt đầu của chữ Trong một chữ
có một điểm bắt đầu nhưng cũng có thể có nhiều điểm đặt bút, chẳng hạn khi viết chữ : tho
- đặt bút viết con chữ t , đặt bút viết con chữ o
Trang 91.6 Nhấc bút:
Nhấc bút là điểm kết thúc của con chữ, trùng với điểm kết thúc của chữ Trong một chữ có nhiều lần nhấc bút, chẳng hạn khi viết chữ : oa- nhấc bút, đặt bút viết con chữ a
1.7 Đưa bút
Đưa bút là điểm kết thúc của con chữ, viết nối các chữ cái với nhau, nét bút đước thể hiện liên tục ngòi bút không chạm vào mặt giấy , thao tác đưa trên không hoặc viết đè lên theo hướng ngược lại; ngói bút chạy nhẹ từ điểm kết thúc của nét đứng trước đên điểm bắt
đầu của nét liền sau
Chẳng hạn khi viết chữ : thoáng ( cỡ chứ vừa)- Đặt bút từ đường li thứ hai viết con chữ
t cao 3 dòng li, nối liền sang con chữ h cao 5 dòng li, dừng bút ở đường li 1, nhấc bút, đặt bút dưới đường li2 viết con chữ o cao 2 dòng li, viết nét nối, nhấc bút, đặt bút dưới dòng li
2 viết con chữ a cao 2 dòng li, nối liền sang con chữ n cao 2 dòng li, dừng bút ở đường li 1, nhấc bút, đặt bút dưới dòng li 2 viết con chữ g cao 5 dòng li, kết thúc ở đường li 1, được chữ thoáng
2 Cấu tạo của chữ cái Tiếng Việt
Trang 10Kí hiệu của ngôn ngữ được xây dựng trên hệ thống kí tự đã được chuẩn hoá Những
đặc điểm của chữ viết là yếu tố để phân biệt các chữ cái khi thể hiện ngôn ngữ viết Những yếu tố cấu tạo nên chữ viết là hệ thống các nét chữ gồm hai loại:
- Nét thẳng:+ Nét thẳng đứng
+ Nét ngang
- Nét xiên :+Nét xiên phải
+ Nét xiên trái
- Nét cong: + Nét cong hở trái
+ Nét cong hở phải
+ Nét cong kín
Tuy vậy, hệ thống chữ ghi âm Tiếng Việt ngoài các nét cơ bản trong cấu tạo chữ viết còn
có nét dư Những nét dư này tạo nên sự liên kết giữa các con chữ trong chữ Nét phối hợp
Trang 11là nét trên cơ sở lấy nét chữ cơ bản làm nền tính từ điểm xuất phát kéo dài nét đó cho đến khi đủ độ cao nhờ vậy chữ viết không bị gãy vụn, chẳng hạn khi viết chữ a ta phân tích thành hai nét: nét cong kín và nét móc ngược Dưới đây là là một số nét phối hợp cần được thống nhất để dạy viết nét và viết chữ cái Tiếng Việt
- Nét móc: + Nét móc xuôi
+ Nét móc ngược
- Nét móc hai đầu:
- Nét thắt giữa : - Nét khuyết :+ Nét khuyết trên
Trang 12+ Nét khuyết dưới
- Nét thắt trên
Cách sắp xếp các chữ cái có hình dáng tương tự vào cùng bài dạy xuất phát từ quan niệm muốn dùng thao tác tương đồng để dạy chữ cái và dạy viết theo thứ tự từ đơn giản
đến phức tạp về cấu tạo nét chữ Về cơ bản cách sắp xếp này cũng theo sát các nhóm bài luyện tập viết trong vở, đối với chữ viết thường
- Nhóm 1: Nhóm các chữ cái có nét cơ bản là nét cong: c, o, ô, ơ, e, ê, x
- Nhóm 2: Nhóm các chữ cái có nét cơ bản là nét cong phối hợp với nét móc hoặc nét thẳng : a, ă, â, g, d, đ, q
- Nhóm 3: Nhóm các chữ cái có nét cơ bản là nét móc: i, t, u, ư, p, m, n
- Nhóm 4: Nhóm các chữ cái có nét cơ bản là nét khuyết hoặc cong phối hợp với nét móc: l, h, k, b y, g
- Nhóm 5: Nhóm các chữ cái có nét móc phối hợp với nét thắt : r, v, s
Với các chữ viết hoa thì độ cao gấp 2 lần chữ viết thường Riêng chữ hoa G và Y có
độ cao là 8 dòng li
b Phương pháp dạy tập viết
b.1 Phương pháp trực quan.
Chữ viết mẫu là hình thức trực quan ở tất cả các bài tập viết Đây là điều kiện đầu tiên
để các em viết đúng Có các hình thức chữ mẫu: chữ mẫu in sẵn, chữ phóng to trên bảng hoặc trên máy chiếu, chữ mẫu trong vở tập viết, hộp chữ mẫu
Chữ mẫu phải đúng mẫu, rõ ràng và đẹp giúp học sinh dễ quan sát giúp các em phân tích hình dáng và các nét chữ cơ bản, cấu tạo chữ cái cần viết cần viết trong bài học Chữ
Trang 13mẫu của giáo viên trên bảng sẽ giúp học sinh nắm được thứ tự các nét chữ của từng chữ cái, cách nối các chữ cái trong một chữ nhằm đảm bảo yêu cầu viết liền mạch, viết nhanh,
đồng thời cũng giúp giáo viên hướng dẫn học sinh quy trình viết một cách cụ thể, rõ ràng
b.2 Phương pháp đàm thoại gợi mở.
Phương pháp đàm thoại gợi mở được sử dụng chủ yếu ở giai đoạn đầu của tiết học Giáo viên cần cho học sinh tri giác chữ cái đồng thời nhận biết thông qua hệ thống câu hỏi
để học sinh nắm được cấu tạo, độ cao, kích thước của chữ cái Từ đó, so sánh các nét giống nhau và các nét khác biệt giữa các chữ cái đã học Khi dạy, giáo viên cần có hệ thống câu hỏi khái quát và nhất quán để học sinh có biểu tượng trong đầu trước khi nhận xét chữ cái
đó là: độ cao, bề rộng , khoảng cách và các nét
Chẳng hạn: Khi dạy chữ A viết hoa, giáo viên cần đưa ra một số câu hỏi : Chữ A viết hoa cao mấy dòng li, bề rộng là bao nhiêu? Chữ A viết hoa nằm trong mấy ô ? Chữ A viết hoa gồm có mấy nét? Là những nét nào ? Khi học sinh đã quen với các câu hỏi đó thì giáo viên hướng dẫn học sinh trả lời câu hỏi khái quát như: Em hãy nhận xét cách viết chữ viết hoa A?
b.3 Phương pháp luyện tập
Việc hướng dẫn học sinh luyện tập phải được tiến hành từ dễ đến khó để giúp học sinh dễ tiếp thu, đầu tiên là viết đúng hình dáng, cấu tạo kích thước, cỡ chữ, sau đó là viết
đúng dòng, đúng tốc độ Quá trình rèn luyện kĩ năng viết chữ phải được tiến hành thường xuyên, liên tục ở lớp cũng như ở như ở nhà và ở các phân môn học khác Trong khi học sinh luyện tập viết chữ thì giáo viên phải luôn quan tâm uốn nắn từng nét, từng con chữ và
đặc biệt là tư thế ngồi viết đúng
Hình thức luyện tập trên bảng con được sử dụng trong khi kiểm tra bài cũ, trước khi viết vào vở, giúp cho học sinh định hình và nắm được quy trình viết, đồng thời cũng giúp giáo viên cần hướng dẫn tỉ mỉ nội dung và yêu cầu về kĩ năng viết của từng bài: từ điểm bắt