Và viễn cảnh thứ hai trái ngược với viễn cảnh thứ nhất sẽ hiện ra như sau: "Nh vËy, ch¼ng nh÷ng th¸i Êp cña ta m·i m·i v÷ng bÒn, mµ bæng lộc các ngươi cũng đời đời hưởng thụ; chẳng nhữn[r]
Trang 1H ỊCH TƯỚNG SĨ – TRẦN QUỐC TUẤN
I Giới thiệu tác giả - tác phẩm
1 Tác giả (SGK, tr 53)
* Trần Quốc Tuấn là ngời có phẩm chất cao đẹp: yêu nớc, thơng dân, quên hiềm khích riêng vì quyền lợi quốc gia dân tộc, yêu ngời hiền, trọng tử sĩ
- Là ngời có tài năng, văn võ song toàn, có công lao lớn trong các cuộc kháng chiến chống Nguyên lần 2 (1285), lần 3 (1287 - 1288)
2 Tác phẩm
* Hoàn cảnh ra đời:
- Trớc khi xảy ra cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ
2, trong không khí sôi sục chiến đấu của nhân dân ta (hội nghị Diên Hồng 1284, cờ nghĩa của Trần Quốc Toản)
- Theo Biên niên lịch sử cổ trung đại Việt Nam,bài hịch đợc
công bố vào tháng 9 - 1284 tại cuộc duyệt binh ở Đông Thăng Long nhằm mục đích thức tỉnh lòng yêu nớc căm thù giặc, cổ vũ tinh thần kháng chiến, sẵn sàng chiến đấu, quyết thắng trả thù xâm lợc của binh sĩ
* Thể loại: hịch
- Hịch là thể văn nghị luận thời xa, có tính chất cổ động, thuyết phục, thờng dùng để kêu gọi chống thù trong, giặc ngoài Cũng có khi hịch đợc dùng để hiểu dụ, răn dạy thần dân và ngời dới quyền
- Mục đích của hịch là khích lệ tinh thần, tình cảm Một bài hịch thờng có kết cấu chặt chẽ, lý lẽ sắc bén, dẫn chứng thuyết phục, giọng văn hùng hồn, đanh thép
- Thông thờng bài hịch kêu gọi đánh giặc gồm có 4 phần chính: phần mở đầu nêu vấn đề; phần thứ hai nêu truyền thống vẻ vang trong sách sử để gây tin tởng; phần thứ 3 nhận định tình hình để gây lòng căm thù giặc, phân tích phải trái để làm rõ đúng sai; phần kết thúc đề ra chủ trơng cụ thể và kêu gọi đấu tranh
* Đặc điểm tác phẩm:
- Hịch tướng sĩ về cơ bản giống kết cấu chung của thể hịch
nhng có sự thay đổi linh hoạt Tác giả không nêu phần đặt vấn đề riêng vì toàn bộ bài hịch là nêu vấn đề và giải quyết vấn đề
- Bài hịch đợc viết bằng văn biền ngẫu, ngôn ngữ không nặng
về khoa trơng mà gần gũi, thân tình có sức thuyết phục sâu sắc
* Bố cục:
Đoạn 1: từ đầu đến “còn lu tiếng tốt” -> nêu những gơng
trung thần nghĩa sĩ trong sử sách để khích lệ ý chí lập công danh, xả thân vì nớc
Trang 2Đoạn 2: từ “huống chi” đến “cũng vui lòng” -> từ “các ngơi” cho đến “không muốn vui vẻ phỏng có đợc không?”
+ từ “các ngơi” đến “muốn vui vẻ phỏng có đợc không?” -> nêu mối ân tình giữa chủ và tớng, phê phán những biểu hiện sai tráI trong hàng ngũ tớng sĩ
+ từ “nay ta bảo thật” đến “không muốn vui vẻ phỏng có
đợc không?” -> khẳng định những hành động đúng nên làm để tớng
sĩ thấy rõ điều hay, lẽ phải
Đoạn 4: Nêu nhiệm vụ cấp bách và khích lẹ tinh thần chiến đấu.
* Chiếu và hịch
- Giống: cùng là một loại văn bản công khai cùng là thể văn nghị luận, kết cấu chặt chẽ, lập luận sắc bén, có thể viết bằng văn xuôi, văn vần hoặc văn biền ngẫu
- Khác: Khác nhau về mục đích, chức năng: Chiếu dùng để ban
bố mệnh lệnh Hịch là để cổ vũ, thuyết phục, kêu gọi, mục đích là
kích động tinh thần, tình cảm
III Đọc - hiểu văn bản
1 Nêu gương sử sách
- Nêu gơng trong sử sách Trung Quốc, những tấm gơng cả tớng sĩ nhà Nguyên khích lệ lòng căm thù, khích lệ lòng hy sinh dũng cảm, ý chí lập công danh của tớng sĩ
-> Đây là những tấm gơng quên mình cứu chủ, những trung thần nghĩa sĩ bỏ mình vì nớc
- Nêu những tấm gơng của nhà Tống, nhà Nguyên: Trần Quốc Tuấn có hàm ý so sánh ông đối với tớng lĩnh có kém gì vậy mà một bên quên mình vì chủ, một bên nhìn chủ nhục Trần Quốc Tuấn đã gợi cho tớng sĩ phải suy nghĩ, gơng hy sinh của ngời thì nh vậy, còn ta nh thế nào?
- Cách nêu gơng: vừa có tớng lĩnh cao cấp, những bề tôi, có ngời bình thờng, có gơng đời xa, có gơng rất gần Cách nêu gơng nh vậy khích lệ đợc nhiều ngời, ai cũng có thể lập đợc công danh, lu tên trong sử sách
2 Tội ác của giặc và tâm sự của Trần Quốc Tuấn:
* Tố cáo tội ác của giặc:
+ Gọi giặc là cú diều, dê chó, hổ đói
+ Hành động: đi lại nghênh ngang, xỉ mắng, bắt nạt, đòi ngọc lụa, thu bạc vàng, vét của kho
-> Tác giả lột tả tội ác của giặc bằng hành động thực tế qua cảnh diễn đạt bằng hình ảnh ẩn dụ để thấy đợc kẻ thù thì tham lam, tàn bạo, ngang ngợc Thấy đợc nỗi căm giận và lòng khinh bỉ giặc của TQT Đồng thời tác giả cũng chỉ ra nỗi nhục khi chủ quyền đất nớc bị xâm phạm
-> Đoạn văn có giọng điệu cao dần, càng lúc càng gay gắt hơn
* Lòng yêu nớc, căm thù giặc đợc thể hiện qua những lời tâm sự,
Trang 3bộc bạch:
- Hành động: quên ăn, quên ngủ đau đớn đến thắt tim, thắt ruột
- Thái độ: uất ức, căm thù khi cha trả đợc thù, sẵn sàng hy sinh để rửa mối nhục cho đất nớc
=> Đây là những câu văn chính luận thể hiện tâm huyết của tác giả, khắc hoạ thật sinh động hình tợng ngời anh hùng yêu nớc đau xót
đến quặn lòng trớc cảnh tình đất nớc Căm thù giặc đến bầm gan tím ruột, mong rửa nhục đến mất ngủ, quên ăn, vì nghĩa lớn mà coi thờng xơng tan, thịt nát
=> Hai đoạn văn đợc thể hiện với hai giọng điệu khác nhau Nếu ở trên là giọng trách cứ gay gắt thì đến đây lại có giọng tâm tình, thủ thỉ Sự thay đổi giọng điệu đó tác động mạnh đến t tởng của ngời nghe
=>Trần Quốc Tuấn là một tấm gơng yêu nớc bất khuất có tác dụng
động viên to lớn đối với tớng sĩ
* Đoạn văn "Các ngời ở cùng ta kém gì” nêu lên 2 mối quan hệ: quan hệ chủ tớng và quan hệ giữa những ngời cùng cảnh ngộ
- Quan hệ chủ tớng có tác dụng khích lệ tinh thần trung quân,
ái quốc
- Quan hệ cùng cảnh ngộ: khích lệ lòng ân nghĩa, thuỷ chung của ngời chung hoàn cảnh
=> Trần Quốc Tuấn đã khích động đợc ý thức trách nhiệm của mỗi ngời đối với lễ vua tôi cũng nh tình cốt nhục
3 Phê phán thái độ, hành động sai, chỉ ra hành động đúng
* Hành động hởng lạc, thái độ bàng quan trớc vận mệnh đất nớc Những việc làm sai: vui chọi gà, đánh bạc, vui thú ruộng vờn, quyến luyến vợ con, lo làm giàu, ham săn bắn, thích món ngon, mê tiếng hát
* Hậu quả: thái ấp, bổng lộc, không còn xã tắc tổ tông bị giày xéo
+ Tác giả dùng cách nói thẳng, gần nh sỉ mắng: không biết nhục, thẹn tức, căm
+ Cách nói mỉa mai chế giễu
* Trần Quốc Tuấn chỉ ra những việc nên làm: đề cao tinh thần cảnh giác, chăm lo tập dợt cung tên
* Dụng ý của tác giả: Làm cho tớng sĩ tức khí muốn mau chóng chứng minh tài năng, phẩm chất của mình bằng việc làm thiết thực Kích động tinh thần quyết chiến, quyết thắng kẻ thù xâm lợc
* Nghệ thuật lập luận:
- So sánh: Tơng phản giữa hai viễn cảnh (đầu hàng thì mất tất cả, thắng lợi thì đợc cả chung và riêng) Sử dụng từ mang tính chất phủ định và khẳng định khi so sánh
Trang 4- Sử dụng điệp từ, điệp ý tăng tiến có tác dụng nêu bật vấn đề từ nhạt đến đậm, từ nông đến sâu, từng bớc thấy đúng sai, nhận ra điều phải trái
4 Đoạn kết
Tác giả vạch hai con đờng chính tà (sống - chết) để thuyết phục tớng sĩ
Thái độ của tác giả: dứt khoát, hoặc là địch, hoặc là ta, không
có vị trí cho kẻ bàng quan trớc thời cuộc
Phê phán thái độ bàng quan, do dự trong hàng ngũ tớng sĩ, động viên những ngời còn thờ ơ, do dự hãy đứng hẳn sang phía lực lợng quyết chiến, quyết thắng
Đoạn văn có tác dụng động viên tới mức cao nhất ý chí quyết tâm chiến đấu của mọi ngời
Ghi nhớ
Hịch tướng sĩ là một áng văn chính luận xuất sắc, có sự kết hợp
giữa lập luận chặt chẽ, sắc bén với lời văn thống thiết, có sức lôi cuốn mạnh mẽ Bài hịch đã phản ánh tinh thần yêu nớc của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, thể hiện qua lòng căm thù giặc sâu sắc và ý chí quyết chiến, quyết thắng kẻ thù xâm lợc
thaM khảo
Trần L Đạo tự liên hệ bản thân để làm * cho ) sĩ, vì rằng, muốn khơi bùng ngọn lửa yêu ) căm thù trong lòng ) sĩ,
) hết, ông phải tự khơi bùng ngọn lửa đó trong lòng mình Ông tự bộc bạch hết sức thành khẩn: "Ta tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối; ruột đau cắt, ) mắt đầm đìa; chỉ căm tức " xả thịt lột da, nuốt
gan uống máu quân thù " (Nguyên văn: Dư thường lâm san vong thực, trung dạ phủ chẩm, thệ tứ giao di, tâm phúc như đảo, thường dĩ vị năng thực nhục tẩm bì, nhụ can ẩm huyết vi hận dã ) Đó không phải là câu
văn suông, viết ra cho kêu, mà cả một uất hận trào lên từ gan ruột của bản thân Trần L Đạo, linh hồn cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên lần thứ hai và thứ ba sau đó Ngoài những từ và động từ phụ, có tính cách $" đẩy, nỗi uất hận của tác giả $3 khắc hoạ qua những câu văn
bốn từ một, liên tiếp, biểu hiện những mũi dao vô hình + từ
phía giặc đâm vào tim gan tác giả, nhờ có tinh thần yêu ) căm
thù sâu sắc của mình, lại hoá thành những mũi dao của mình, chuẩn bị
phóng 3 trở ra nhất quyết xả thịt lột da toàn bọn giặc ) cho hả
giận
Từ đoạn cuối trong phần thứ hai của bài hịch, Trần Hưng Đạo chuyển sang nhận định tình hình tư tưởng và hoạt động của tướng sĩ lúc đó, mà
ông nghiêm khắc phê phán nhiều mặt: đây là một đoạn văn trọng tâm rất
hay, ý văn có tình có lí, lời văn sắc bén, sôi động, đầy hình ảnh, âm thanh uyển chuyển nhờ có pha lối biền ngẫu ở đoạn văn trên đây, tác giả đã
Trang 5khơi dậy tình cảm sâu sắc, đồng cam cộng khổ giữa ông và ) sĩ, đến
đoạn này, tác giả vẫn tiếp tục khơi dậy tình cảm đó, chuyển sang phía căm thù giặc @) bị nhục, chủ bị nhục, giặc lăng loàn, giặc hống hách, thân làm ) sĩ của triều đình một ) độc lập mà lại là đầy tớ của giặc, dù giặc nấp +) danh nghĩa sứ bộ đi nữa, cũng đành đắp tai ngoảnh mặt làm ngơ để giết ngày tháng trong các lạc thú cá nhân chọi gà, đánh bạc, uống 3 nghe hát, hoặc nữa là vun vén gia đình, quyến luyến vợ con hay sao? Còn có cái nhục nào to lớn hơn, đau xót hơn
bằng cái nhục quốc thể, dẫn $ cho cái nhục mất nước? Từ sự nhận
định tình hình T và hoạt động không hợp thời của ) sĩ, nặng về mặt cầu nhàn và hưởng thụ cá nhân, thiếu tinh thần cảnh giác đối với !
đồ đen tối và sâu xa của giặc, cũng thiếu tinh thần trách nhiệm đối
với vận mệnh và tiền đồ dân tộc, Trần L Đạo đã dựng lên hai viễn cảnh: một viễn cảnh đen tối của ) mất nhà tan, một viễn cảnh sáng chói trong độc lập, tự do Hai viễn cảnh trái 3 nhau, tất yếu sẽ diễn ra
tình huống khác nhau mà nhân tố là do ta quyết định chứ không phải giặc quyết định
Hãy nói về viễn cảnh thứ nhất có thể xảy ra: viễn cảnh của nước mất nhà tan: "Lúc bấy giờ, ta cùng các * sẽ bị bắt, đau xót biết chừng
nào! Chẳng những thái ấp của ta không còn, mà bổng lộc của các * cũng mất; chẳng những gia quyến của ta bị tan, mà vợ con các * cũng khốn; chẳng những xã tắc tổ tông ta bị giày xéo, mà phần mộ cha mẹ các
* cũng bị quật lên, chẳng những thân ta kiếp này chịu nhục, rồi đến trăm năm sau, tiếng dơ khôn rửa, tên xấu còn mà đến gia thanh các
* cũng không khỏi mang tiếng là ) bại trận Lúc bấy giờ dẫu các
* muốn vui vẻ phỏng có $3 không?"
Viễn cảnh đen tối mà tác giả dựng lên, tuy diễn đạt ngắn gọn, đầy
đủ, bao gồm các mặt từ hiện tại, và 3 lên dĩ vãng, suốt đến * lai:
việc hiện tại là việc của bản thân từng đang sống, chủ soái thì có thái ấp, ) sĩ thì có bổng lộc, và ai cũng có gia đình, vợ con, việc dĩ vãng là việc xã tắc tổ tông, phần mộ cha mẹ, còn việc tương lai là tiền đồ
con em ta cùng với lời bình luận của họ đối với việc làm hay hoặc dở của
ta, v.v
Nguyên nhân $" đến viễn cảnh đen tối đó chính là những việc làm không hợp thời ) mắt của ) sĩ đã nói ở trên, chọi gà, đánh
bạc, làm giàu, săn bắn, 3 chè, hát E) Tác giả vận dụng rất thích
đáng lối điệp ngữ, điệp ý để làm nổi bật lối sóng đôi trong quan hệ tương phản giữa ta và giặc, hoặc lối sóng đôi trong quan hệ hoà đồng giữa bản thân Trần L Đạo và ) sĩ Lối sóng đôi trong quan hệ tương phản
giữa ta và giặc $3 diễn tả bằng những hình ảnh trào lộng có tính chất hài ) làm sao mà dùng cựa gà chọi để thay kiếm sắc, chọc thủng
áo giáp của giặc, hay làm sao mà áp dụng mẹo vặt trong đánh bạc để thay cơ ! đánh giặc, v.v Thật là khôi hài! Bao nhiêu tâm trí của ) sĩ
Trang 6đáng lẽ phải tập trung vào việc chuẩn bị chống giặc, thì lại phung phí vào việc ăn chơi! Hiện tợng đó trớc mắt có vẻ nh không đáng quan ngại gì, nhng hậu quả của nó dẫn đến sẽ bi đát không lờng trớc đợc, vì nếu giặc tấn công, mà phía ta không phòng bị, thì tất cả sẽ tan nát Tác giả
chuyển sang sử dụng lối sóng đôi phức tạp, dùng lối sóng đôi trong quan
hệ hoà đồng giữa tác giả và tớng sĩ, xen vào lối sóng đôi trong quan hệ tương phản giữa ta và giặc, nh về phía Trần Hng Đạo: "Thái ấp của ta",
"gia quyến của ta", "xã tắc tổ tông ta", "thân ta kiếp này", còn về ) sĩ:
"bổng lộc các *z "gia thanh các *z Tất cả sẽ tan nát trong một tiếp đoạn văn có tính chất trào phúng kế cận ở trên.
Tuy nhiên, nếu tự ta mà giác ngộ, biết lo lắng về tai hoạ sắp xảy
ra, ngày đêm nằm trên đống củi có lửa ngấm ngầm, hay biết cẩn thận
khi ăn canh nóng, để tâm trí vào việc luyện tập quân sự, bắn cung giỏi Bàng Mông, Hậu Nghệ dám bắn cả mặt trời, ngày đêm quyết chí phục thù cho nhà cho ) thề chặt cho $3 đầu Hốt Tất Liệt, hay phanh cho $3 thây Vân Nam * nếu chúng và phe lũ dám dẫn xác
đến đây, thì ta sẽ có một viễn cảnh trái ngược, không đen tối mà lại sáng chói: viễn cảnh của độc lập, tự do.
Nếu đoạn văn trên kia nhằm phê phán thói tệ cầu nhàn và T lạc của ) sĩ đậm tính chất châm biếm, thì đoạn văn khích lệ ) sĩ chăm lo luyện tập quân sự này hết sức nghiêm chỉnh và tha thiết, khơi dậy lòng căm thù giặc một cách mãnh liệt, chỉ bằng một vài động từ thôi &
bêu đầu Hốt Tất Liệt (kiêu Hốt Tất Liệt chi đầu), làm rữa thịt Vân Nam
* (hủ Vân Nam * chi nhục)
Và viễn cảnh thứ hai trái 3 với viễn cảnh thứ nhất sẽ hiện ra sau: z@ vậy, chẳng những thái ấp của ta mãi mãi vững bền, mà bổng lộc các * cũng đời đời T thụ; chẳng những gia quyến của ta $3
êm ấm gối chăn, mà vợ con các * cũng $3 bách niên giai lão; chẳng những tông miếu của ta sẽ $3 muôn đời tế lễ, mà tổ tông các
* cũng $3 thờ cúng quanh năm; chẳng những thân ta kiếp này đắc chí, mà đến các * trăm năm về sau tiếng vẫn truyền; chẳng những danh hiệu của ta không bị mai một, mà tên họ các * cũng sử sách thơm Lúc bấy giờ, dẫu các * không muốn vui vẻ, phỏng có $3 không?"
Trong đoạn văn này, tác giả vẫn áp dụng nghệ thuật hình ảnh sóng
đôi, có khác với lối sóng đôi có tính chất phức hợp trong đoạn văn tả viễn cảnh thứ nhất trên kia, vì rằng nghệ thuật hình ảnh sóng đôi ở đây chỉ đơn thuần trong quan hệ hoà đồng giữa bản thân Trần L Đạo và
) sĩ, trong khung cảnh đất ) thanh bình, hoàn toàn sạch bóng quân thù Một hạnh phúc hoà đồng sẽ diễn ra, về phía chủ soái, thì: thái ấp vững bền, vợ con sum họp, tông miếu nghi ngút khói * bản
Trang 7thân đắc chí, danh hiệu lu truyền; còn về phía tớng sĩ cũng vậy; bổng lộc
đầy đủ, vợ con đề huề, tổ tông đợc thờ cúng, bản thân đợc ca ngợi, tên họ lu truyền, v.v
Nếu ý văn trong đoạn tả viễn cảnh thứ nhất có đậm tính chất đau
* của cảnh ) mất nhà tan, thì ý văn trong đoạn tả viễn cảnh thứ hai này lại chan chứa nỗi niềm sảng khoái, chan chứa tinh thần lạc quan yêu đời trong khung cảnh đất ) thanh bình, khiến ) sĩ có thể reo lên Câu văn kết thúc đoạn này thật là đắc thể: "Lúc bấy giờ, dẫu các
* không muốn vui vẻ phỏng có $3 không?"
Bùi Văn Nguyên (Giảng văn, tập I, NXB Đại học
và Trung học chuyên nghiệp,
H., 1982)