A/ Mở đầu: GIỚI THIỆU CHUNG I/ Mục đích- ý nghĩa đề tài - Nghị quyết hội nghị trung ương lần thứ IV khóa 7 về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo đã chỉ rõ: “ Đổi mới phuong p[r]
Trang 1MỤC LỤC
A/ Mở đầu: Giới thiệu chung
I/ Mục đích – ý nghĩa đề tài
II/ Nhiệm vụ đề tài
III/ Lịch sử đề tài
IV/ Giới hạn đề tài
V/ Phương pháp nghiên cứu
B/Nội dung:
I/ Mục đích đề tài
II/ Những thuận lợi – khó khăn
III/Quá trình thực hiện
C/ Kết quả đạt được
D/ Kết luận
Trang 2A/ Mở đầu: GIỚI THIỆU CHUNG
I/ Mục đích- ý nghĩa đề tài
- Nghị quyết hội nghị trung ương lần thứ IV khóa 7 về tiếp tục đổi mới
sự nghiệp giáo dục và đào tạo đã chỉ rõ:
“ Đổi mới phuong pháp dạy học ở tất cả các cấp học, bậc học… áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề ”
“ Phương pháp dạy học ở nước ta cần phải thay đổi theo hướng khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng những phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh…”
( Trích Nghị Quyết Trung Ương 2 khóa III)
Định hướng được được pháp chế hóa trong luật giáo dục điều 24.2 “ phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đemlại niền vui, hướng thú học tập cho học sinh…”
Từ những nghị quyết, định hướng vừa nêu, chúng ta thấy rằng vấn đề dạy văn ở các bậc phổ thông nói chung và các bậc trung học cơ sở nơi riêng theo hướng đổi mới cho phù hợp vói tình hình thực tiễn của đất nước hiện nay
là một vấn đề quan trọng và cấp thiết
Quan niệm dạy văn như một khoa học xã hội dẫn đến chỉ đạo tạo những nhà khoa học về văn hó, hay may mắn lắm là những nhà lý luận phê bình văn học Học sinh chỉ có khả năng viết nghị luận văn học mà nghị luận văn học cũng không hay , không tinh, nếu không nói là khô cứng, thậm trí là thô thiển
Quan niệm dạy văn là dạy tiếng mẹ đẻ dẫn đến biến giờ văn thành giờ minh họa những quy tắc và tư pháp, cú pháp hoặc chẻ nhỏ ngữ nghĩa
Trang 3Quan niệm dạy văn là dạy tư duy dẫn đến biến bài văn thành sơ đồ tư duy của nhà văn qua sơ đồ tư duy của người dạy nhận thức đến sơ đồtư duy của người học
Tất cả những quan niệm và phương pháp gắn với quan niệm trên đã dẫn những lệch lạc khiến cho việc dạy văn không đạt như mong muốn và không gây được hướng thú học tập cho học sinh, điều mà lẽ ra nó đã phải làm được
và làm tốt hơn nhiều môn học khác vì: “ Nghệ thuật là niềm vui lớn nhất mà con người tự tạo cho mình” (Các Mác)
Cho nên dạy văn theo hướng đổi mới hiện nay phải đảm bảo tính khoa học và nghệ thuật cho giờ học ngữ văn, vận dụng các phương pháp dạy học phải thực sự linh hoạt và sáng tạo Đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là người giáo viên phải từ bỏ những phương pháp dạy học truyền thống , hoặc độc tôn, hoặc cải tiến một phương pháp nào đó, hoạc áp dụng triệt để máy móc một vài phương pháp dạy học mà mình đã học ở một nơi nào đó mà mình cho là lạ để áp dụng vào giờ học thực tiền của lớp
Cũng không nên hiểu một cách thô thiển chung chung về đổi mới phương pháp dạy học là thầy giảng một nửa , còn một nửa kia để học sinh tự làm lấy Vấn đề không chỉ là bản thân các phương pháp dạy học mà còn ở cách vận dụng các phương pháp dạy học đó một cách phù hợp, đúng lúc, đúng chỗ nhằm phát huy được tính tích cực, chủ động,sáng tạo trong hoạt động học tập của tất cả các đối tượng học sinh từ giỏ khá đến trung bình và yếu Sự vận dụng các phương pháp dạy học phải đi từ các học sinh đã có tới các học sinh cần có, từ thực tiễn cuộc sống của học sinh tới kiến thức trong sách vở
Như vậy, so với cách dạy học truyền thống, sự vận dụng phương pháp dạy học đã có sự thay đổi rất cơ bản Người giáo viên đã biến giờ dạy với tính chất tĩnh sang giờ dạy có tính chất đông Người giáo viên giảng dạy theo hướng đổi mới phải biết thiết kế và điều hành tốt được giờ dạy của mình
Trang 4Giáo viên cần phải chuyển quá trình thuyết giảng của mình thành những cuộc trao đổi, đàm thoại dài ngắn khác nhau giữa thầy và trò
Với những nhận thức trên, sau những trăn trở, tôi xin mạnh dạn nêu ra đây một số kinh nhỏ mà tôi đã thực nghiệm trong những tiết lên lớp của tôi
Đó là phương pháp gợi mở, phát huy trí lực học sinh và phương pháp dạy học theo cách đối chiếu phân tích nội dung có ý nghĩa đối lập, tương phản
II/ Nhiệm vụ đề tài:
Với mục đích và ý nghĩa trên, tôi xác định nhiệm vụ là khi lên lớp, tôi phải xác định cho được những mặt tích cực, những cái hay, cái sâu sắc thể hiện trong văn bản để từ đó gợi cho các em sự tò mò, thích thú hoặc gợi mở hay kích thích sự ham học hỏi của các em, ngỏ hầu giúp cho tiết dạy đạt được chất lượng cao nhất
III/ Lịch sử đề tài:
Thực ra những vấn đề, phương pháp vừa nêu không phải là mới vì một giáo viên khi đã đứng lớp đều nắm được những ý vừa nêu Nhưng việc vận dụng phương pháp dạy học theo hướng đổi mới tích cực hoàn toàn phụ thuộc vào sự linh hoạt của từng giáo viên Căn cứ theo nội dung bài học, đặc trưng của từng phân môn và trình độ cụ thể của các đối tượng học sinh, người giáo viên phải biết lực chọn những phương pháp dạy học tích cực và thích hợp nhằm giúp học sinh giải quyết tốt nhiệm vụ bài học và bọc lộ cách hiểu, cảm của mình một cách tự tin, chủ động hơn
IV/ Giới hạn đề tài:
Ở đây tôi không có tham vọng đi sâu vào phần lý luận hay nhận xét, đánh giá phương pháp nào là phương pháp thích hợp nhất, tích cực nhất mà ở đây chủ yếu tôi chỉ nêu một số ý kiến chủ quan trong vấn đề gợi mở, tạo hứng thú cho học sinh và phương pháp dạy học theo cách đối chiếu nội dung có ý nghĩa đối lập, tương phản trong văn bản
V/ Phương pháp nghiên cứu:
Trang 5Trong quá trình thực nghiệm đề tài, tôi đã thực tiễn giảng dạy các tiết trên và bản thân nhận thấy các em rất có hứng thú với những vấn đề tôi vừa nêu
Qua đó tôi cũng đã dùng cách phân tích, so sánh, tổng hợp để thấy được mặt tích cực của vấn đề
B/ NỘI DUNG:
I/ Mục tiêu đề tài:
- Học sinh thấy được sự khác nhau cơ bản giữa hai hoàn cảnh đối lập nhau Từ đó các em có thể nhận thức và thể hiện được tình cảm của mình đối với nhân vật như xót thương, thông cảm …
- Cũng qua mục tiêu trên, các em sẽ cảm thấy yêu thích hơn đối với tiếng việt, với sự phong phú, sâu sắc của tiếng mà các em đang dùng
- Với mục tiêu của đề tài này, tôi mạnh dạn trình bày hai văn bản: CÔ
BÉ BÁN DIÊM VÀ THÀNH NGỮ ở lớp 7 và lớp 8 của trương trình ngữ văn Trung học Cơ sở
II/ Những thuận lợi – khó khăn.
1/ Thuận lợi:
- Được sự giúp đỡ nhiệt tình của tổ chuyên môn, Ban giám hiệu sãn sàng góp ý, giúp đỡ tôi thấy được những ưu và khuyết điểm trong quá trình giảng dạy
- Bên cạnh đó là sự hỗ trợ tận tình của thư viện nhà trường trong việc giới thiệu sách tham khảo
- Bản thân tôi cũng đã nhiều năm giảng dạy ở trường cấp II nên dù ít hay nhiều tôi cũng đã có một số kinh nghiệm trong việc uốn nắn các em ; Thấy được sự thích thú học tập muốn tìm hiểu của các em để từ đó xây dựng nên đề tài này
- Qua các tiết dự giờ thao giảng, tôi đã so sánh, đối chiếu và rút ra được những kinh nghiệm cho bản thân
Trang 62/ Khó khăn:
- Trong nhà trường, sách tham khảo tuy nhiều nhưng để uốn nắn những sai sót, kích thích sự tò mò, ham học hỏi của các em thì tài liệu của nhà trường vẫn còn hạn chế Hơn nữa vấn đề đổi mới phương pháp học tập theo hướng tích cực thì vẫn còn mới so với các em nên vẫn gặp một số trường hợp thiếu sót
- Việc phát huy tính chủ động của các em cần phải có thời gian nên việc học tập trên lớp vẫn là chưa đủ nên việc đúc kết thành hệ thống khó khăn thực hiện
III/ Quá trình thực hiện:
PHẦN MỘT
1/ Những ưu điểm và tồn tại khi dạy theo sách giáo khoa và sách giáo viên.
a/ Ưu điểm:
- Học sinh nắm được kiến thức cơ bản qua cách trả lời các câu hỏi gợi ý trong sách giáo khoa
b/ Tồn tại:
- Chưa khắc sâu hơn nữa kiến thức, chưa gợi mở để học sinh thấy được cái hay, cái đẹp trong nghệ thuật của văn bản; chưa thấy được cái đẹp, cái linh diệu của từ ngữ tiếng việt
- Học sinh thiếu sự kích thích tò mò, hứng thú trong học tập, thiếu tính trực quan nên việc tiếp thu bài, phát hiện nội dung, nghệ thuật ý nghĩa của văn bản còn hạn chế
2/ Ưu điểm dạy theo sáng kiến kinh nghiệm.
- Giáo viên ra câu hỏi từ dễ đến khó; gợi mở để học sinh tự tìm nội dung, kiến thức để điền vào bảng đối chiếu theo nội dung yêu cầu của bài học
Từ đó giúp các em phát huy tính chủ động sáng tạo của mình dựa trên cơ sở
Trang 7gợi ý của giáo viên Cũng qua đó các em dễ dàng nắm vững và khắc sâu kiến thức hơn, từ đó các em sẽ khái quát được nội dung, ý nghĩa của bài học
- Với cách dạy này, giáo viên giúp học sinh tránh được phải nhớ một cách tràn lan, không hệ thống, không nắm vững kiến thức trọng tâm Từ đó học sinh thấy được khả năng tư duy, tiếp thu kiến thức của bản thân cũng như tạo được hứng thú đối với môn ngữ văn
PHẦN HAI
VĂN BẢN: THÀNH NGỮ
Bước 1:
Xác định mục tiêu bài học, giúp học sinh nắm được:
- Thế nào là thành ngữ
- Nhận biết thành ngữ trong văn bản, hiểu nghĩa và tác dụng của thành ngữ trong văn bản
- Có ý thức trau dồi vốn thành ngữ
Bước 2:
- Giáo viên cần chuẩn bị sách giáo khoa, đồ dùng dạy học, phiếu học tập
- Học sinh cần soạn bài, đọc kỹ văn bản trước khi đến lớp
Bước 3: Hoạt động 1:
TÌM HIỂU NỘI DUNG
1/ Đọc văn bản và tìm hiểu.
- Thế nào là thành ngữ
+ Nhận xét cấu tạo của thành ngữ
+ Rút ra đặc điểm cấu tạo của thành ngữ
2/ Ý nghĩa của thành ngữ
+ Nghĩa đen
+ Phép chuyển nghĩa
Hoạt động 2:
Trang 8- Cách sử dụng thành ngữ
+ Vai trò ngữ pháp của thành ngữ
+ Cái hay của thành ngữ
- GV cho học sinh đọc ví dụ SGK/143
(2) Em hãy nhận xét cụm từ “Lên thác
xuống ghềnh”?
(2) Em có thể chêm vào cụm từ trên
một vài từ khác được không?
(2) Rút ra kết luận gì về cụm từ này ?
- GV lập 2 cột
1- Các thành ngữ hiểu theo nghĩa đen:
tham … bùn … mưa … mẹ … năm …
châu …
2- Lên thác …ruột …lòng lang …rán
sành … thâm căn …
Hiểu theo nghĩa hàm ẩn
(?) Vai trò ngữ pháp của:
Bảy nổi ba chìm: vị ngữ long đong,
phiêu bạt
Tính biểu cảm cao
I/ Thế nào là thành ngữ:
Ghi nhớ 1: SGK/144 Không thể đổi thành “ Lên thác xuống
sông”
- Các từ trong thành ngữ khó thay đổi, có tính
cố định
- Nghĩa của thành ngữ: ghi nhớ/144
Ví dụ: Bùn lầy nước đọng: lầy lội, ẩm thấp, bẩn thỉu hiểu được trực tiếp từ nghĩa đen.
Ví dụ 2: Lòng lang dạ thú: độc ác, tàn bạo
hiểu theo nghĩa bóng, nghĩa hàm ẩn
II/ Sử dụng thành ngữ:
Ghi nhớ :SGK/144
Ví dụ: Thân bảy nổi ba chìm …thay bằng (long đong, phiêu bạt)
không hay
Tính hình tượng, biểu cảm cao
* Giáo viên cho học sinh luyện tập:
- Chia lớp thành 4 đội cùng thi đua nhau đoán thành ngữ
- Giáo viên chuẩn bị những thành ngữ đã được ghi sẵn trên giấy
Trang 9- Mỗi lần đoán thành ngữ, giáo viên cho học sinh đoán theo nội dung, từ ngữ …
Ví dụ 1:
Nội dung : đối xử thiên vị không công bằng
Từ đầu thành ngữ là từ “ Nhất”
Từ cuối là từ “ khinh”
Thành ngữ: “ Nhất bên trọng, nhất bên khinh”
Ví dụ 2:
Nội dung: chỉ dùng phung phí quá mức
Từ đầu chỉ một động tác của con người
Từ cuối của thành ngữ chỉ một bộ phận bên trên của con người
Thành ngữ : “ Vung tay quá trán”
Ví dụ 3:
Nội dung: Chỉ những người trong một nhà, một nước sát hại nhau
Từ đầu: chỉ dụng cụ để nấu nướng
Từ thứ hai chỉ một bộ phận nhạy cảm của cơ thể người hay vật
Thành ngữ : “ Nồi da xáo thịt”
Ví dụ 4:
Nội dung: nói đai, núi hú họa, không có chứng cớ
Từ đầu: chỉ động tác của con người
Từ thứ hai chỉ một con vật nhỏ thường bò ngoài sông, ruộng
Thành ngữ “ Ăn ốc nói mò”
Ví dụ 5:
Nội dung: không dám nói ra điều sai trái của người khác vì chính mình cũng can dự vào
Từ đầu chỉ một động tác của người hay vật
Từ thứ hai chỉ một bộ phận quan trọng trong cơ thể
Trang 10Thành ngữ “ Há miệng mắc quai”
* Giáo viên cho từng tổ lên đoán thành ngữ.
- Mỗi gợi ý được giữ kín trong băng keo
- Mỗi lần, từ lần 2 băng keo được gỡ ra sẽ trừ 3 điểm
* Giáo viên tổng kết và nhận xét
* Ưu điểm nổi bật của phương pháp này là giúp cho các em hứng thú khi học các văn bản từ ngữ ; các em sẽ nhớ nhiều hơn các thành ngữ, nắm được nội dung và thêm yêu mến từ ngữ Việt
VĂN BẢN : CÔ BÉ BÁN DIÊM ( AN – ĐÉC – XEN ) Bước 1:
- Xác định mục tiêu bài học, giúp học sinh nắm được:
+ Hoàn cảnh, cái chết thương tâm của cô bé bán diêm
+ Những mộng tưởng đan xen với thực tế tạo nên sự kỳ ảo lung linh màu sắc cổ tích của văn bản
+ Giá trị nhân đạo, nhân văn sâu sắc của văn bản
Bước 2:
- Giáo viên cần chuẩn bị sách giáo khoa, bảng phụ, tranh ảnh
- Học sinh soạn bài đọc kỹ văn bản
Bước 3: Tìm hiểu nội dung.
HOẠT ĐỘNG 1:
1/ Đọc văn bản – tìm hiểu chú thích.
- Cho học sinh đọc diễn cảm, nắm được nội dung, tâm trạng
- Phương thức: biểu cảm kết hợp với tự sự và miêu tả
- Tìm hiểu bố cục : 3 phần
HOẠT ĐỘNG 2:
- Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu chi tiết nội dung, ý nghĩa
Trang 11- Đặt câu hỏi gợi mở cho học sinh tìm hiểu
1/ Hoàn cảnh cô bé bán diêm.
- Phần 1: Hoàn cảnh cô bé bán diêm như thế nào ?
- Nghệ thuật của phần này ? suy nghĩ của em về cô bé ?
Hoàn cảnh của cô bé thật tội nghiệp
- Mẹ mất, bà mất, bố thì cay nghiệt phải đi bán diêm trong đêm giao thừa
- Nghệ thuật : đối lập nổi bật lên tình cảnh của cô bé.
-Quần áo rách rưới, đầu trần, chân đất
- bán diêm đêm giao thừa nhưng không
bán được
- Bụng đói ngồi nép bên mái tường lạnh
lẽo
Cô bé tội nghiệp, đói rét
- Mọi người quần áo sạch sẽ, vội về nhà
- Không ai mua cho em bao nào
-Mọi nhà rực sang ánh đèn, sực nức mùi ngỗng quay
Hạnh phúc bên nhau
- Bức tranh đã nói lên tình cảnh đáng thương của cô bé bán diêm
2/ Thực tế và những mộng tưởng của cô bé bán diêm:
- Vì sao cô bé phải quẹt diêm và em quẹt bao nhiêu lần ?
- Mỗi lần quẹt diêm cô bé có những mộng tưởng gì và thực tế ra sao?
- Em mong ước điều gì qua những lần quẹt diêm?
Giáo viên hướng dẫn:
- Em quẹt diêm với hy vọng xua tan nỗi cô đơn và đói rét Em mong ước có những điều tốt đẹp đến với em nhưng thực tế đã trái ngược với mộng ước của em
Trang 12Lần 1 - mơ ngồi trước lò sưởi sáng
ấm
→ mong ước có một mái nhà
ấm cúng
-Quần áo rách rưới, ngồi bên góc tường lạnh lẽo
→ diêm tắt → lò sưởi biến mất
Lần 2 -phòng ăn sang trọng, có
nhiều thức ăn Ngỗng quay tiến về phía em
→ mong ước được ăn no
-bụng em đói cồn cào
→ diêm tắt, phòng ăn biến mất Lần 3 -cây thông noel xuất hiện
cùng hàng ngàn ngọn nến
→ em mong ước được vui chơi vì đây là đêm noel
-em phải đi bán diêm trong đêm giao thừa
→ diêm tắt, em chỉ thấy một ngôi sao cô đơn
Lần 4 -mơ thấy bà mỉm cười với
em
→ mong thấy bà vì em rất nhớ bà
Em chỉ có một mình lẻ loi
→ diêm tắt và bà biến mất
Lần 5 Ánh sáng huy hoàng – hai bà
cháu cùng bay về trời
-sự đói rét, cô đơn đã cướp đi mạng sống của em
→ em đã chết sau một xó tường sau khi đốt hết que diêm
Nhận xét của em sau 5 lần mộng tưởng:
- Các mộng tưởng diễn ra rất hợp lý:
Từ mong ước vật chất → tinh thần → giải thoát
- Các mộng tưởng rất thực tế:
+ Đói → mơ thấy bàn ăn, ngỗng quay
+ Rét → mơ thấy lò sưởi
+ Đêm giao thừa → mơ thấy cây thông noel