1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu sự hấp thu phân bố của enrofloxacin trong huyết tương dê và điều trị thử nghiệm trên dê bị viêm ruột ỉa chảy

112 676 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu sự hấp thu, phân bố của enrofloxacin trong huyết tương dê và điều trị thử nghiệm trên dê bị viêm ruột ỉa chảy
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Thảo
Người hướng dẫn PGS.TS. Lê Thị Ngọc Diệp
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Thú Y
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 7,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo trường đại học nông nghiệp hà nội

-

 -nguyễn thị thanh thảo

Nghiên cứu sự hấp thu, phân bố của Enrofloxacin trong huyết tương dê và điều trị thử nghiệm

trên dê bị viêm ruột ỉa chảy

Trang 2

Lời cam đoan

- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và ch−a đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào

- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn

đ1 đ−ợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thanh Thảo

Trang 3

Lời cảm ơn

Trong suốt thời gian thực hiện đề tài, để hoàn thành bản luận văn này ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều giúp đỡ Nhân dịp này, cho phép tôi gửi lời cảm ơn chân thành tới:

Các thầy giáo, cô giáo Viện đào tạo Sau đại học,

Các thầy giáo, cô giáo, CNV bộ môn Nội Chẩn - Dược - Độc chất, Ban chủ nhiệm Khoa, các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Thú y trường ĐH Nông Nghiệp Hà Nội,

Ban lãnh đạo Công ty thuốc Thú y HANVET, BAYER,

Ban lãnh đạo cùng toàn thể CBCNV Trung tâm nghiên cứu Dê

và Thỏ - Sơn Tây

Cũng nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo PGS.TS Lê Thị Ngọc Diệp, người đã trực tiếp hướng dẫn tận tình và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài

Trang 4

Mục lục

2.4 Một số nghiên cứu về dược động học của kháng sinh

2.5 Một số hiểu biết về bệnh viêm ruột ỉa chảy của dê 29

3 Nội dung, nguyên liệu, địa điểm và phương pháp nghiên cứu 40

A Nghiên cứu sự hấp thu và phân bố của Enrofloxacin trong huyết

Trang 5

4.1 Nghiên cứu, so sánh sự hấp thu và phân bố của Enrofloxacin

trong huyết tương dê cho theo đường uống và theo đường tiêm bắp, liều 7,5 mg/kgTT (dùng chế phẩm Enrotril - 50) 474.1.1 Kết quả nghiên cứu sự hấp thu và phân bố Enrofloxacin trong huyết

tương dê, cho theo đường uống liều 7,5 mg/kgTT (dùng chế phẩm

4.1.2 Kết quả nghiên cứu sự hấp thu và phân bố Enrofloxacin trong huyết

tương dê, cho theo đường tiêm bắp liều 7,5 mg/kgTT (dùng chế

4.1.3 So sánh khả năng hấp thu và phân bố của Enrofloxacin trong huyết

tương dê cho theo đường uống và đường tiêm bắp, với liều 7,5

4.2 Kết quả nghiên cứu sự hấp thu và phân bố của Enrofloxacin

(dùng chế phẩm Enrotril - 50) trong huyết tương dê, cho theo

4.2.1 Tiêm liều lặp theo phác đồ 1 (Tiêm lần 1: 7,5mg/kgTT; tiêm lần 2:

4.2.2 Tiêm liều lặp theo phác đồ 2 (Tiêm lần 1: 7,5 mg/kgTT; tiêm lần 2:

4.3 Nghiên cứu, so sánh sự hấp thu và phân bố của Enrofloxacin

trong huyết tương dê, cho theo đường uống và đường tiêm bắp

4.3.1 Kết quả nghiên cứu sự hấp thu và phân bố của Enrofloxacin trong

huyết tương dê, cho theo đường uống, liều 7,5 mg/kgTT (dùng chế

4.3.2 Kết quả nghiên cứu sự hấp thu và phân bố của Enrofloxacin trong

huyết tương dê, cho theo đường tiêm bắp, liều 7,5 mg/kgTT (dùng

Trang 6

4.3.3 So sánh khả năng hấp thu và phân bố của Enrofloxacin trong huyết

tương dê cho theo đường uống và đường tiêm bắp, với liều 7,5

4.4 Kết quả nghiên cứu sự hấp thu và phân bố của Enrofloxacin

(dùng chế phẩm Baytril 5%) trong huyết tương dê, cho theo

4.4.1 Tiêm liều lặp theo phác đồ 1 (Tiêm lần 1: liều 7,5 mg/kgTT; Tiêm

4.4.2 Tiêm liều lặp theo phác đồ 2 (Tiêm lần 1: liều 7,5 mg/kgTT; Tiêm

4.5 So sánh khả năng hấp thu và phân bố của Enrofloxacin trong

huyết tương dê cho theo đường tiêm bắp, với liều 7,5 mg/kgTT giữa hai dạng chế phẩm Enrotril - 50 và Baytril 5% 83

Trang 7

Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t

Trang 8

Danh mục bảng

2.1 Bảng phân loại quinolon của Vicent T Andriole, 1998 [43] 174.1 Kết quả theo dõi một số chỉ tiêu lâm sàng dê thí nghiệm 484.2 Hàm lượng Enrofloxacin trong huyết tương dê cho theo đường

uống, liều 7,5 mg/kgTT (dùng chế phẩm Enrotril - 50) 504.3 Hàm lượng Enrofloxacin trong huyết tương dê cho theo đường

tiêm bắp, liều 7,5 mg/kgTT (dùng chế phẩm Enrotril 50) 524.4 Hàm lượng Enrofloxacin trong huyết tương dê cho theo đường

tiêm bắp, liều lặp, phác đồ 1 (dùng chế phẩm Enrotril - 50) 594.5 Hàm lượng Enrofloxacin trong huyết tương dê cho theo đường

tiêm bắp, liều lặp, phác đồ 2 (dùng chế phẩm Enrotril - 50) 644.6 Hàm lượng Enrofloxacin trong huyết tương dê cho theo đường

uống, liều 7,5 mg/kgTT (dùng chế phẩm Baytril 5%) 674.7 Hàm lượng Enrofloxacin trong huyết tương dê cho theo đường

tiêm bắp, liều 7,5 mg/kgTT( dùng chế phẩm Baytril 5%) 704.8 Hàm lượng Enrofloxacin trong huyết tương dê cho theo đường

tiêm bắp, liều lặp, phác đồ 1 (dùng chế phẩm Baytril 5%) 774.9 Hàm lượng Enrofloxacin trong huyết tương dê cho theo đường

tiêm bắp, liều lặp, phác đồ 2 (dùng chế phẩm Baytril 5%) 804.10 Kết quả theo dõi một số chỉ tiêu lâm sàng dê thí nghiệm 904.11 So sánh hiệu quả điều trị dê bị viêm ruột ỉa chảy giữa 2 phác đồ

Trang 9

Danh mục biểu đồ

4.1 So sánh khả năng hấp thu và phân bố của Enrofloxacin trong huyết

tương dê cho theo đường uống và đường tiêm bắp, liều 7,5 mg/kgTT

4.2 Hàm lượng Enrofloxacin phân bố trong huyết tương dê, cho theo

đường tiêm bắp, liều lặp, phác đồ 1 (dùng chế phẩm Enrotril - 50) 63 4.3 Hàm lượng Enrofloxacin phân bố trong huyết tương dê, cho theo

đường tiêm bắp, liều lặp, phác đồ 2 (dùng chế phẩm Enrotril - 50) 654.4 So sánh khả năng hấp thu và phân bố của Enrofloxacin trong huyết

tương dê cho theo đường uống và đường tiêm bắp, liều 7,5mg/kgTT

4.5 Hàm lượng Enrofloxacin phân bố trong huyết tương dê, cho theo

đường tiêm bắp, liều lặp, phác đồ 1 (dùng chế phẩm Baytril - 5%) 79 4.6 Hàm lượng Enrofloxacin phân bố trong huyết tương dê, cho theo

đường tiêm bắp, liều lặp, phác đồ 2 (dùng chế phẩm Baytril - 5%) 824.7 So sánh khả năng hấp thu và phân bố của Enrofloxacin có trong chế

phẩm Baytril 5% và chế phẩm Enrotril - 50, cho theo đường tiêm bắp

4.8 So sánh khả năng hấp thu và phân bố của Enrofloxacin có trong chế

phẩm Baytril 5% và chế phẩm Enrotril - 50, cho theo đường tiêm bắp

Trang 10

Danh mục hình

2.1 Khung cấu trúc hoá học chung của các quinolon 15

2.3 Sơ đồ cơ chế và hậu quả của viêm ruột ỉa chảy 34

khi tiêm 2 giờ liều 7,5 mg/kgTT (dùng chế phẩm Baytril - 5%) 75

Trang 11

1 Đặt vấn đề

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngành chăn nuôi nước ta đ1 và đang trở thành thế mạnh trong sản xuất nông nghiệp Sản phẩm chăn nuôi không những đáp ứng đủ nhu cầu trong nước

mà còn phục vụ cho xuất khẩu Bên cạnh những thuận lợi mà khoa học kỹ thuật tiên tiến mang lại, vẫn còn tồn tại không ít khó khăn về thị trường tiêu thụ, dịch bệnh diễn ra thường xuyên vẫn là nỗi lo lớn nhất của người chăn nuôi

Hiện nay, thuốc kháng sinh được sử dụng ngày càng nhiều vào các mục

đích khác nhau: phòng, điều trị bệnh và kích thích tăng trọng cho vật nuôi Tuy nhiên, do thiếu hiểu biết, người chăn nuôi đ1 sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị chưa đúng nguyên tắc, không có cơ sở khoa học dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng như:

+ Giảm hiệu lực của thuốc, tạo sự kháng thuốc của vi khuẩn gây bệnh, gây khó khăn cho công tác phòng và điều trị

+ Ngoài việc có thể gây độc hại cho gia súc, thuốc kháng sinh còn tồn lưu trong thịt, trứng, sữa ảnh hưởng đến chất lượng của sản phẩm chăn nuôi và gây hại cho sức khoẻ người tiêu dùng

Trong số rất nhiều các loại kháng sinh đang lưu hành trên thị trường, Enrofloxacin là loại thuốc kháng sinh thuộc nhóm Fluoroquinolon, có hoạt phổ kháng khuẩn rộng đang được sử dụng rộng r1i trong việc phòng trị bệnh cho vật nuôi, trong đó có dê

Dê là loài gia súc quen thuộc và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển nông nghiệp bền vững Đây là loài tiểu gia súc có khả năng sử dụng tốt các nguồn tài nguyên có sẵn, đặc biệt là các loại thức ăn ít cạnh tranh để cho ra các loại sản phẩm giá trị cao ở nước ta, dê chủ yếu được nuôi ở vùng núi cao dưới hình thức quảng canh tận dụng b1i chăn thả tự nhiên,

Trang 12

nghề chăn nuôi dê với quy mô trang trại chưa được phát triển Năm 1993, Trung tâm nghiên cứu Dê và Thỏ - Sơn Tây (Ba Vì - Hà Tây) trực thuộc Viện Chăn nuôi ra đời Đây là đơn vị chịu trách nhiệm nghiên cứu toàn bộ các vấn

đề về chăn nuôi dê và tổ chức chuyển giao kỹ thuật xây dựng ngành chăn nuôi

dê sữa ở Việt Nam Từ đó đến nay, nghề chăn nuôi dê, đặc biệt là chăn nuôi

dê sữa ở nước ta đ1 bắt đầu khởi sắc

ở dê dịch bệnh cũng thường xảy ra, do đó việc dùng kháng sinh để phòng trị bệnh cho dê là rất cần thiết Tuy nhiên, vấn đề dược động học của thuốc kháng sinh nói chung và Enrofloxacin nói riêng trên dê còn chưa được quan tâm nghiên cứu Có rất nhiều dạng chế phẩm khác nhau chứa hoạt chất này, ENROTRIL - 50 và BAYTRIL 5% là hai chế phẩm đang được sử dụng rộng r1i trong lâm sàng

Vấn đề đặt ra là: dược động học của hai dạng chế phẩm này trên vật nuôi có sự khác nhau như thế nào? Mặt khác, cho đến nay, chưa có nghiên cứu nào về dược động học của Enrofloxacin trên dê Việt Nam Xuất phát từ nhu cầu trên của thực tiễn, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu sự hấp thu, phân bố của Enrofloxacin trong huyết tương dê và điều trị thử nghiệm trên dê bị viêm ruột ỉa chảy”

1.2 Mục đích yêu cầu

- Xác định hàm lượng thuốc trong huyết tương dê sau khi cho uống và tiêm ở một số thời điểm Từ đó tạo cơ sở khoa học cho việc chọn liều dùng,

đường đưa thuốc, khoảng cách giữa các lần dùng thuốc thích hợp trong điều trị; góp phần giúp người chăn nuôi sử dụng kháng sinh Enrofloxacin đúng, hợp lý, an toàn và hiệu quả

- Tiến hành điều trị thử nghiệm trên dê bị viêm ruột ỉa chảy để biết

được hiệu quả điều trị của Enrofloxacin trong thực tế

Trang 13

2 Tổng quan tài liệu

2.1 Một số hiểu biết về thuốc kháng sinh

2.1.1 Định nghĩa kháng sinh

Kháng sinh là thuật ngữ Việt Nam phiên âm từ Hán Việt (kháng sinh tố) Danh pháp quốc tế là antibiotic Trước kia danh từ này được dùng để chỉ một nhóm chất có nguồn gốc vi sinh vật có tác dụng tiêu diệt hoặc kìm h1m vi khuẩn gây bệnh cho người hoặc gia súc, ở liều lượng nhỏ là không hoặc ít có hại cho vật chủ

Như vậy, định nghĩa trên đ1 loại trừ các hợp chất tổng hợp nhân tạo (Sulfamid, Nitrofuran, ) mà người ta thường tập hợp dưới thuật ngữ chất kháng khuẩn tổng hợp (hoặc kháng khuẩn hay chống nhiễm trùng)

Ngày nay, với sự phát triển của khoa học người ta đ1 có thể tổng hợp, bán tổng hợp các kháng sinh tự nhiên (Chloramphenicol), tổng hợp nhân tạo các chất có tính kháng sinh (Sulfamid, Quinolon), chiết xuất từ vi sinh vật những chất diệt được tế bào ung thư (Actinomycin) Vì thế định nghĩa kháng sinh đ1 được thay đổi:

“Kháng sinh là những chất do vi sinh vật (vi khuẩn, vi nấm) tiết ra hoặc những chất hoá học bán tổng hợp, tổng hợp, với hàm lượng rất thấp, có khả năng đặc hiệu kìm h+m sự phát triển hoặc diệt được vi sinh vật” (Lê Thị Ngọc Diệp, 1999 [4]; Hoàng Tích Huyền và cộng sự, 2001 [11])

Theo Hoàng Tích Huyền và cộng sự, 2001 [11], sự khác nhau giữa kháng sinh và thuốc hoá học trị liệu là ở chỗ: Kháng sinh có tác dụng ức chế

sự phát triển hoặc tiêu diệt vi khuẩn ở liều nhỏ hơn rất nhiều so với các thuốc hoá học trị liệu Và khác với các chất sát trùng, tẩy uế, kháng sinh không tàn phá tế bào cơ thể, nó có tác dụng chọn lọc trên những tác nhân gây bệnh là vi sinh vật, do đó ít gây độc hại đối với tế bào vật chủ (động vật và người) Đặc tính chọn lọc cao của kháng sinh là nhờ khả năng ức chế chọn lọc một số khâu

Trang 14

trong quá trình sinh lý, sinh hoá của vi khuẩn gây bệnh Các khâu này có vai trò rất thứ yếu hoặc hoàn toàn không có ở cơ thể và động vật Tuy nhiên, kháng sinh không phải hoàn toàn vô hại đối với cơ thể Tác dụng phụ thường gặp là các phản ứng dị ứng, rối loạn tiêu hoá, có trường hợp gây sốc, quá mẫn Một số kháng sinh có thể gây độc đối với gan, thận và hệ tuần hoàn Vì vậy, kháng sinh là con dao hai lưỡi chỉ dùng nó khi thật cần thiết

2.1.2 Phân loại kháng sinh

Theo sự phát triển của khoa học hiện đại, ngày càng có nhiều loại kháng sinh mới được tổng hợp Để giúp định hướng trong việc sử dụng thuốc kháng sinh điều trị trong nhân y và thú y, các nhà khoa học đ1 phân thuốc kháng sinh thành nhiều nhóm

Phân loại kháng sinh có thể theo nhiều cách: phân loại theo nguồn gốc, hoạt phổ kháng sinh, mức độ tác dụng, cơ chế tác dụng, cấu trúc hoá học Nhưng hiện nay, thuốc kháng sinh thường được sắp xếp theo nhóm có cấu trúc hoá học gần nhau vì hoạt phổ tác dụng, mức độ, cơ chế và cấu trúc hoá học liên quan chặt chẽ với nhau (Đỗ Do1n Đại và cộng sự, 1987 [6])

2.1.2.1 Nhóm β - lactamin

Đây là nhóm thuốc kháng sinh mà trong công thức phân tử của chúng

có một liên kết β - lactamin Liên kết này rất yếu, dễ bị đứt và từ đó hoạt tính kháng sinh cũng giảm theo Nhóm này gồm hai phân nhóm chính là: Penicillin và Cephalosporin (Hoàng Tích Huyền, 1997 [9]; Hoàng Thị Kim Huyền và cộng sự, 2001 [8])

a Phân nhóm Penicillin: gồm các Penicillin tự nhiên và các Penicillin tổng hợp + Các Penicillin tự nhiên: Có nguồn gốc từ nấm Penicillium, có hoạt phổ kháng sinh hẹp, chỉ có tác dụng với vi khuẩn Gram (+) Bao gồm: Pentenylpenicillin, Benzylpenicillin, Phenoxylpenicillin,

+ Các Penicillin tổng hợp: Có hoạt phổ kháng sinh rộng, chúng có tác dụng với cả vi khuẩn Gram (+) và Gram (-), cả những chủng tụ cầu, liên cầu,

Trang 15

Pseudomonas Bao gồm các thuốc: Amoxicillin, Cloxacillin, Oxacillin,

Ampicillin,

b Phân nhóm Cephalosporin: Phân nhóm này được chiết xuất từ nấm

Cephalosporin hoặc bán tổng hợp, chúng ít được sử dụng trong thú y

2.1.2.2 Nhóm aminoglycozit (aminozit)

Gọi là nhóm aminoglycozit vì trong phân tử của chúng có đường đính

theo nhóm amin Các phân tử của nhóm này khá lớn do đó khó được hấp thu

qua đường tiêu hoá Phổ kháng khuẩn rộng, tác dụng cho cả cầu khuẩn Gram (+) và Gram (-), các Mycobacterium, đặc biệt với vi khuẩn lao Được

dùng chủ yếu để chống vi khuẩn hiếu khí Gram (-) Tiêu biểu trong nhóm này

là: Neomycin, Kanamycin, Amikacin, Gentamycin, Tobramycin, Sisomycin,

Netilmycin Tuy nhiên, về độc lực nó độc hơn β - lactamin, đặc biệt độc đối

với thần kinh và thận (Đào Văn Phan, 2005 [16])

2.1.2.3 Nhóm Phenicol

Nhóm này được chiết ra từ môi trường nuôi cấy Streptomycin venezelae

(1947), hiện nay đ1 tổng hợp được Cloramphenicol có tác dụng kìm khuẩn,

phổ kháng khuẩn rộng Có tác dụng tốt với phần lớn các vi khuẩn Gram (+) và

Gram (-), xoắn khuẩn, Rickettsia và Mycoplasma

Thuốc có độc tính là gây suy tuỷ Hiện nay, Cloramphenicol đ1 bị cấm

sử dụng trong thú y

2.1.2.4 Nhóm Tetracyclin

Nhóm Tetracyclin đều là kháng sinh có 4 vòng 6 cạnh, được chiết ra từ

môi trường nuôi cấy Streptomyces aureofaciens hoặc bán tổng hợp Thuốc đầu

tiên được tìm ra của nhóm là Chlotetracyclin (năm 1947) Sau đó là các loại:

+ Tác dụng ngắn: Tetracyclin, Oxytetracylin

+ Tác dụng trung bình: Dimethyl chlotetracyclin, Methacyclin

+ Tác dụng dài: Doxycyclin, Mynocyclin

Trang 16

Nhóm này có tính kìm khuẩn, hoạt phổ kháng sinh rộng nhất trong các nhóm kháng sinh được biết hiện nay, nhưng khá độc với gan - thận và thần kinh

2.1.2.5 Nhóm Polypeptid

Trong phân tử chúng có nhiều liên kết peptid, bao gồm các chất: Bacxitraxin, Subtilin, Tyotrixin, Colistin, Polymixin B Các chất này có tính phân cực, tích điện dương ở pH trung tính, có tác dụng diệt khuẩn, hoạt phổ kháng sinh hẹp Bacxitraxin, Subtilin, Tyotrixin tác dụng chủ yếu với vi khuẩn Gram (+) Polymixin tác dụng với vi khuẩn Gram (-) Chúng có tác dụng với cả vi khuẩn đang phát triển và các dạng ngừng phát triển Baxitraxin và Tyrotryxin có tác dụng gần giống các chất tẩy gột (detergent) đối với các màng tế bào nên không dùng toàn thân Khi sử dụng cần đề phòng độc với thận và suy hô hấp (Hoàng Tích Huyền và Nguyễn Như Cương, 1999 [10])

Khi cho uống, các thuốc thuộc nhóm này dễ bị phá huỷ bởi các men tiêu hoá Bằng cách tiêm, thuốc hấp thu chậm và gây độc đối với thận

2.1.2.6 Nhóm Macrolid

Là những chất đại phân tử, trong cấu trúc có chứa 1 vòng lacto lớn,

được chiết suất từ các chủng Streptomyces khác nhau Spiramycin, Erytheomycin, Tylosin, Oleandomycin có tính kìm khuẩn đối với cầu khuẩn Gram (+) cũng như đối với Mycoplasma Đào thải chủ yếu qua mật Lượng Spiramycin cố định trên các tổ chức lớn hơn từ 10 đến 50 lần hoà tan trong máu, ở hàm lượng đó, trở thành một kháng sinh diệt khuẩn

Nhóm thuốc này đối kháng với nhóm β - lactamin, nhưng lại hiệp

đồng với nhóm Tetracyclin và Rifamycin Nhóm này có tác dụng tốt khi điều trị các bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp

2.1.2.7 Nhóm kháng sinh chống nấm

Các thuốc nhóm này chỉ tác dụng đặc hiệu với các nấm ký sinh (các bệnh do nấm) mà không tác dụng đối với các vi trùng, gồm các loại sau:

Trang 17

Amphotericin B, Nystatin, Griseofulvin, Flucytosine, Ketoconazole, Nystatin

có tác dụng tốt trên các loại nấm men Candida, Histoplasma capsulatum, Cryptococcus, Coccidioides Thuốc gắn vào sterol của màng, làm rối loạn tính thấm và huỷ hoại màng nên có tác dụng kìm và diệt nấm

2.1.2.8 Các nhóm khác

Ngày nay, dưới sự phát triển mạnh mẽ của ngành khoa học phân tử, ngành hóa dược tổng hợp được rất nhiều chất mới có cấu trúc hoá học đa dạng nhưng chúng lại có tác dụng như thuốc kháng sinh Do đó, chúng được sử dụng như các thuốc kháng sinh thông thường hoặc làm bổ trợ cho các thuốc khác (Đỗ Do1n Đại và cộng sự, 1987 [6], Hoàng Tích Huyền và cộng sự, 2001 [11]) Nhóm này gồm các thuốc sau:

a Các quinolon

Quinolon kinh điển (thế hệ I) gồm các thuốc sau: Acid nalidixic, Acid oxolinic, Acid piromidic, Acid pipemidic và Flumequin Trong cấu trúc của các thuốc này có chứa Flo và nhân Piperazin

Quinolon thế hệ mới (Fluoroquinolon) gồm:

+ Quinolon thế hệ II gồm: Norfloxacin, Ofloxacin, Ciprofloxacin, Rosoxacin, Enrofloxacin, Pefloxacin,

+ Quinolon thế hệ III gồm: Grepafloxacin, Sparfloxacin, Tosufloxacin, Gatifloxacin, Pazufloxacin

+ Quinolon thế hệ IV gồm: Trovalfloxacin, Moxifloxacin, Gemifloxacin, Clinafloxacin

b Các dẫn xuất của Sulfanilamide

Các Sulfanilamide được đặc trưng bởi một cấu trúc đơn giản thuộc nhóm Sulfonammide Dựa theo khả năng thải trừ được chia thành:

+ Thải nhanh: Sulfafurazol, Sulfamethizol

+ Thải hơi chậm: Sulfadiazine, Sulfamethoxazol

+ Thải chậm: Sulfamethoxypyridazin (SMP), Sulfamethoixydiazin + Thải rất chậm: Sulfadoxine

Trang 18

+ Khi uống khó hấp thu qua đường tiêu hoá: Sufaguanidin (ganidan), Phtalyl, Sulfathiazol dùng điều trị một số bệnh đường ruột

c Các Nitro - Imidazole

Nhóm này có tác dụng tại chỗ (đường tiêu hoá, da) hoặc toàn thân gồm: Metromidazole, Omidazole, Tinidazole, Niridazol Thuốc thuộc nhóm này thường ít tan trong nước, không ion hoá ở pH sinh lý, khuếch tán rất nhanh qua màng sinh học, được dùng chống đơn bào từ năm 1960 và chống vi khuẩn kị khí từ năm 1970

d Các dẫn xuất Nitrofuran

Thuốc thuộc nhóm này không bị phá huỷ bởi pH của dịch vị, nhưng khi gặp ánh sáng sẽ giải phóng gốc nitrit (- NO2) gây độc Tiêu biểu là các thuốc:

+ Loại I : Nitrofurantoni, Hydroxymethyl - nitrofurantoin, Nifurfolin + Loại II : Furazolidon, Nifuratel,

+ Loại III: Nitrofural, Nifuroxazid

Cơ chế tác dụng là: ức chế chu trình Krebs và quá trình sinh tổng hợp ADN, ARN vi khuẩn

2.1.3 Cơ chế tác dụng của các chất kháng sinh

Mỗi loại thuốc, tuỳ thuộc vào cấu trúc hoá học và tính chất lí, hoá mà chúng có cơ chế tác dụng khác nhau lên các vi khuẩn gây bệnh Bằng các con

đường khác nhau, khi thuốc kháng sinh tác động vào các “điểm tác dụng” trên

tế bào vi khuẩn, chúng sẽ làm cho các quá trình sinh tổng hợp các acid nhân

và protein màng của vi khuẩn bị ngưng trệ hoặc đảo loạn Từ đó, thể hiện tác dụng diệt khuẩn, kháng khuẩn hoặc tác dụng khác theo các cách sau: 2.1.3.1 Kháng sinh ức chế tổng hợp vách tế bào vi khuẩn

Các nhà khoa học đ1 chứng minh rằng: trong vỏ tế bào vi khuẩn Gram (+) có các thành phần chính là murein bao gồm: mucopeptid, glycopeptid và

Trang 19

peptidoglycan Còn ở vi khuẩn Gram (-) là: polysaccarid, lipoprotein và liposaccarid Các thành phần này được liên kết rất chặt chẽ với nhau để tạo nên một lớp vỏ bền vững của tế bào vi khuẩn

Kháng sinh nhóm β - lactamin, tác động vào men transpeptidaza theo cơ chế sau:

Quá trình tổng hợp vách tế bào gồm một chuỗi các phản ứng sinh hoá với sự tham gia của nhiều men khác nhau, để tạo nên peptidoglycan Men transpeptidaza lúc này có nhiệm vụ nối các đơn vị peptidoglycan với nhau bằng phản ứng xuyên mạch peptid, để tạo nên một mạng lưới không gian ba chiều dày đặc, đó là vách của vi khuẩn Penicillin và các dẫn xuất của β - lactamin là một peptid gồm 2 acid - amin là L - cystein và D - valin Mà vòng D - valin có cấu trúc tương tự chuỗi peptid D - Ala4 và D - Ala5 của các đơn vị peptidoglycan

do vi khuẩn tổng hợp để tạo vách tế bào Khi gặp các β - lactamin (Penicillin, Cephalosporin ) thì men transpeptidaza tạo phức “nhầm” rất bền vững với β - lactamin, phức tạo thành không có khả năng hồi phục Do vậy, phản ứng xuyên mạch peptid của vi khuẩn bị cản trở Vỏ vi khuẩn được tạo ra một cách dị thường, làm cho quá trình nhân lên của vi khuẩn bị ức chế Chính vì vậy, các thuốc tác dụng theo cơ chế này chỉ phát huy tác dụng đối với các vi khuẩn đang

ở giai đoạn phát triển, còn lại ở giai đoạn bị ức chế thì chúng gần như không có tác dụng Đặc điểm này là nguyên nhân gây ra tính chất đối kháng của nhóm thuốc này với các thuốc thuộc nhóm kìm khuẩn

Theo Hoàng Tích Huyền, 1997 [9], men transpeptidaza là một enzym

đích có ái lực mạnh với các kháng sinh nhóm β - lactamin, nên nó còn có tên

là PBP (Penicillin - Binding - Protein) Tuỳ từng loại vi khuẩn có từ 3 đến 8 loại PBP đóng một vai trò riêng trong quá trình tổng hợp vách Penicillin và các dẫn xuất β - lactamin hầu như chỉ ức chế việc tổng hợp nuclepeptid của thành tế bào, mà không ảnh hưởng đến các thành phần polysacarid, lipid, protein khác Vì thế, nó chỉ có tác dụng với vi khuẩn Gram (-), do thành tế bào

Trang 20

vi khuẩn Gram (+) chứa từ 11 - 20% murcin, còn của vi khuẩn Gram (-) chỉ có

từ 0,5 - 5% (Đỗ Do1n Đại và cộng sự, 1987 [6])

Một số chất kháng sinh khác lại có tác dụng vào việc vận chuyển mucopeptid, chúng có tác dụng phá hoại chức năng màng nguyên sinh chất của tế bào vi khuẩn Thuộc nhóm này có khoảng 30 chất trong đó có Polymycin, Colistin, Lixatin, Gramidelin, Bacxitiacin, Anbomycin, Vancomycin, Rystomycin

Ngoài các điểm tác dụng kể trên, một số kháng sinh khác lại có khả năng bám vào thành tế bào vi khuẩn ở đó, nó làm vỡ hoặc làm thay đổi tính bán thấm của màng tế bào, kết quả làm mất đi nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển của vi khuẩn, làm chết vi khuẩn

2.1.3.2 Kháng sinh ức chế tổng hợp protein cuả vi khuẩn

Quá trình ức chế tổng hợp protein có thể được xem xét dưới hai góc

độ: chất kháng sinh phong bế quá trình tổng hợp protein hoặc gây tổng hợp nên một protein bất thường Thuộc nhóm này gồm khoảng 70 chất Trong số này có Streptomycin, Chloramphenycol, các Tetracyclin, Erythromycin…

a Kháng sinh phong bế tổng hợp protein

Đại diện của nhóm này là Chloramphenicol, thuốc gắn vào tiểu phần 50S, 70S của ribosom trong tế bào, ngăn cản sự nối dài đuôi amino - acid của aminoacyl - tARN vào vị trí tiếp nhận trong ribosom Rút cục là cơ chất amino

- acid không tương tác với peptydyl - transferaza, không tạo được cầu nối peptid ngăn cản mạch peptid kéo dài Chloramphenicol làm cho quá trình tổng hợp protein của vi khuẩn bị đình chỉ ngay tức khắc nhưng việc tổng hợp protein vẫn tiến hành, tuy có chậm đôi chút Tuy nhiên, tất cả các ARN được tổng hợp hầu hết là ARN vô hoạt

Các thuốc nhóm Tetracyclin, ức chế quá trình tổng hợp protein của vi khuẩn bằng cách ngăn cản cả hai tiểu phần 30S và 50S của ribosom, bao vây

sự liên kết của aminoacyl - tARN vào vị trí tiếp hợp của ribosom mARN

Trang 21

Ngoài ra còn làm giảm quá trình hô hấp và quá trình oxy hoá hydratcacbon của tế bào vi khuẩn ở hàm lượng thấp, có tác dụng ức chế men ureaza và ức chế tổng hợp protein Còn hàm lượng cao, có tác dụng phong bế quá trình tổng hợp nucleotid, do vậy có tác dụng diệt khuẩn

b Kháng sinh làm tổng hợp protein bất thường

Đại diện cho nhóm này là Streptomycin Bằng thực nghiệm tác giả: Hoàng Tích Huyền, 1997 [9] đ1 nêu lên cơ chế tác dụng của Streptomycin như sau: Streptomycin ức chế sự tổng hợp protein của vi khuẩn ở mức ribosom Cụ thể nó gắn vào p (p = protein) của 30S

Quá trình đó làm đọc sai m1 di truyền dẫn tới việc tổng hợp và tích luỹ những polipeptid sai lạc có tác dụng kìm h1m sự phát triển của vi khuẩn Streptomycin p10 làm rối loạn tất cả các quá trình tổng hợp protein (từ khởi

đầu, kéo dài và kết thúc) Do bị rối loạn quá trình tổng hợp protein, nên có thể những protein khác của 30S (p8, p11) cũng bị gắn vào Streptomycin Ngoài ra, còn có các cơ chế khác như ảnh hưởng đến tính thấm của màng vi khuẩn, đến

sự hô hấp và cả ADN của vi khuẩn nữa

2.1.3.3 Kháng sinh ức chế quá trình tổng hợp nucleotide

Hiện nay, có khoảng 30 chất có tác dụng phá huỷ sự trao đổi ARN và

20 chất phá huỷ sự trao đổi ADN như Actinomycin, Mitomycin, Ovobiocin… Các chất kháng sinh này tạo phức không hoà tan với acidnucleic mà acidnucleic là thành phần chung của mọi tế bào vi khuẩn, người và động vật Kháng sinh thuộc nhóm này rất độc, chỉ dùng khi thấy thật cần thiết (thuốc ức chế sự miễn dịch, dùng để ức chế sự phát triển của tế bào ung thư, hay trong quá trình ghép mảnh tế bào…)

2.1.4 Nguyên tắc sử dụng thuốc kháng sinh

Không có thuốc kháng sinh nào là vô hại đối với cơ thể Do đó, việc sử dụng thuốc kháng sinh phải đảm bảo đúng liều lượng, liệu trình và đúng cách

Trang 22

mới cho hiệu quả cao

Nếu sử dụng thuốc này tuỳ tiện, không đảm bảo liều lượng thuốc sẽ rất nguy hiểm, liều cao quá sẽ làm tăng tác dụng phụ của thuốc, ngược lại liều quá thấp sẽ không đủ hiệu lực tác dụng đối với mầm bệnh Do đó, để hạn chế đến mức tối thiểu các tác hại có thể có do dùng thuốc kháng sinh gây ra, khi dùng thuốc cần tuân thủ các nguyên tắc sau: (Lê Thị Ngọc Diệp, 1999 [4]; Hoàng Tích Huyền, 1997 [9]; Bùi Thị Tho, 2003 [22]; Phạm Sỹ Lăng, Lê Thị Tài, 2001 [12])

+ Chỉ sử dụng kháng sinh khi đ1 chẩn đoán đúng bệnh có sự nhiễm khuẩn hoặc khi có kết quả làm kháng sinh đồ

+ Lựa chọn đúng thuốc, đúng bệnh, đủ liệu trình, dùng liều công kích ngay từ đầu

+ Dùng thuốc càng sớm càng tốt

+ Nên dùng phối hợp thuốc khi điều trị để làm tăng khả năng diệt khuẩn, hạn chế hiện tượng nhờn thuốc kháng sinh của vi khuẩn

+ Trong thời gian dùng thuốc nên kết hợp bổ sung các loại vitamin và

điều tiết khẩu phần ăn hợp lý nhằm nâng cao sức đề kháng của cơ thể

2.2 Một số hiểu biết cơ bản về nhóm quinolon

2.2.1 Lịch sử phát triển của nhóm quinolon

2.2.1.1 Định nghĩa quinolon

Quinolon là nhóm thuốc kháng khuẩn thế hệ mới có cơ chế tác dụng kiểu kháng sinh (gần đây, nhiều người xếp nó vào thuốc kháng sinh) Quinolon có hoạt phổ kháng khuẩn rộng, có tác dụng tiêu diệt rất tốt với nhiều loại vi khuẩn, đặc biệt là các vi khuẩn Gram (-)

Các thuốc loại quinolon có cấu trúc chung là dẫn chất của acid 1,4 - dihydro - 4 - oxo - 3 - quinolein carboxylic (Hoàng Tích Huyền, Nguyễn Như Cương, 1999 [10])

2.2.1.2 Lịch sử phát triển

Kháng sinh đầu tiên của nhóm quinolon là Acid nalidixic (negram)

Trang 23

được đưa vào điều trị năm 1965 Acid này được tìm ra một cách tình cờ vào năm 1962, như một sản phẩm phụ trong quá trình điều chế thuốc chống sốt rét cloroquin (Nivaquin) (Đỗ Trung Phấn, Nguyễn Đăng Thụ, 2000 [17])

Hiện nay, nhiều quinolon thế hệ mới được tổng hợp, một số có ưu điểm

so với các chất trước Những quinolon mới hiện nay có bán và được duyệt để

sử dụng trong lâm sàng Mỹ gồm: Norfloxacin (1986), Ciprofloxacin (1987), Ofloxacin (1991), Tenafloxacin (1992)

Một số thuốc bị thu hồi trong năm 1992 vì có độc tính cao: Clinaxacin (1992), Sperfloxacin (1996), Grepafloxacin (1997) và Trovafloxacin (1997)

Các quinolon dưới đây không được duyệt sử dụng trong lâm sàng ở Mỹ nhưng lại có bán ở những nước khác là: Pefloxacin, Fleroxacin và Tosufloxacin

Ngoài ra, có một số quinolon mới đang trong giai đoạn nghiên cứu lâm sàng là: Rufloxacin, Panefloxacin, Gatifloxacin, Sitafloxacin và Oxyfloxacin Cũng có một số quinolon mới đang trong giai đoạn phát triển ban đầu như: Pralifloxacin (PD - 140288), Nadifloxacin, Nalofloxacin, CFC - 222, CS -

940, HSR - 903, CG - 5501 và DW - 116

Một phân nhóm mới của quinolon cũng đang được khảo sát bao gồm: BMS - 284756 (T - 3811) và một số chất khác bị khử fluo, ở đó flo ở C - 6 bị thay bằng một gốc amino để tạo nên một nhóm aminoquinolon

Hiện nay, đ1 có nhiều tiến bộ đáng kể trong việc triển khai nghiên cứu những thuốc quinolon mới, về cơ chế tác động ở mức phân tử của quinolon và những yếu tố dẫn tới kháng quinolon Cơ sở cho việc ra đời và đổi mới liên tục các thuốc của nhóm này là dựa trên hai phát hiện chủ chốt sau:

+ Phát hiện chủ chốt đầu tiên được Gillertert và cộng sự, 1995 [31] tìm

ra Đó là sự ức chế của quinolon đối với enzym ADN - gyrase (Toprisomerase II) - là enzym tham gia vào quá trình tổng hợp các acid nhân của vi khuẩn Phát hiện này giúp ta hiểu được cơ chế tác dụng kháng khuẩn của kháng sinh

Trang 24

thuộc nhóm quinolon cũng như cơ chế kháng lại kháng sinh của các vi khuẩn + Phát hiện chủ chốt thứ hai góp phần phát triển nhanh chóng các quinolon mới là khả năng xử lý hoá học nhân 4 quinolon Phân tử cơ bản đ1

được biến đổi với các nhóm thế khác nhau ở các vị trí nhất định trong nhân Phân tử cơ bản được biến đổi ở vị trí N - 1, có thêm nhiều nhóm thế khác nhau

ở vị trí C - 6, C - 7, C - 8 Những sự thay đổi về cấu trúc này, dẫn đến nhiều thay đổi về hoạt tính kháng khuẩn, về dược động học và tính chất chuyển hoá của quinolon Có thể kể ra một số thay đổi đặc biệt sau: Thêm phân tử fluo vào vị trí C - 6 làm tăng tác dụng ức chế ADN - gyrase và hoạt tính chống tụ cầu Thêm fluo thứ hai vào vị trí C - 8 làm tưng sự hấp thu và kéo dài thời gian bán thải.Thêm nhóm piperazin ở vị trí C - 7 cho tác dụng chống vi khuẩn Gram (-) tốt nhất Alkyl hoá vòng, tăng tác dụng chống vi khuẩn Gram (+) và kéo dài thời gian bán huỷ Thay thế nhóm piperazin bằng một nhóm metyl làm tăng hấp thu và kéo dài thời gian bán huỷ Thêm một nhóm cyclopropyl ở vị trí N - 1, một nhóm amin ở vị trí C - 5 và một nhóm fluo ở vị trí C - 8 làm tăng tác dụng chống Mycoplasma và Chlamydia Tương tự, thêm một fluo hoặc một chlo ở vị trí C - 8 phối hợp với cyclopropyl nữa ở N - 1 làm tăng hoạt tính kháng khuẩn (Vicent T Anadriole, 1998 [43])

Ngày càng nhiều quinolon mới được tổng hợp trong thập kỷ qua Các quinolon mới có nhiều ưu điểm hơn so với những thuốc trước và được lưu hành rộng r1i trên thị trường Một số khác đang được nghiên cứu thử nghiệm

Điều này góp phần khẳng định vai trò và vị thế trong tương lai của nhóm quinolon trong việc phòng chống các bệnh truyền nhiễm

2.2.2 Vài hiểu biết về hóa lý của nhóm quinolon

Các quinolon đều có khung cấu trúc hoá học chung là: acid 1,4 - dihydro -

4 - oxo - 3 quinolein carboxylic Khung này gồm một nhân chung A (acid 1 - alkyl

- 1,4 dihydro - 4 - oxo - 3 piridin carboxylic) ngưng tụ ở ortho với vòng B có nhân thơm (Trương Công Quyền, Hoàng Tích Huyền và cộng sự, 1994 [19])

Trang 25

Hình 2.1: Khung cấu trúc hoá học chung của các quinolon

Các dẫn xuất của quinolon thế hệ I được gọi là các acid để nhấn mạnh tính acid của các quinolon đầu tiên (pKa = 5,6 - 6,4) Ví dụ: Acid nalidixic, Acid piromedic, Acid pipemedic…

Các dẫn xuất thế hệ mới đó là các 6 fluoro - 7 - piperazinyl quinolon

Do sự có mặt của vòng piperazin (có 2N, tính kiềm mạnh), có tính chất lưỡng tính nên các thuốc thuộc nhóm này người ta không gọi là các acid mà dùng vĩ ngữ “oxacin” Ví dụ: Enrofloxacin, Norfloxacin và một số chế phẩm thường

được bán ở thị trường dưới dạng như muối hydrochlorid

ảnh hưởng của các nhóm chức trên khung quinolon, quyết định đến tác dụng của các dẫn xuất

+ Vòng A:

Có thể thay thế ở N bằng gốc alkyl, cycloalkyl, aryl… đó là vị trí duy nhất có thể biến đổi về dược lý mà không làm biến chất một cách căn bản các thuộc tính của mô hình

Ví dụ: Khi khảo sát hoạt tính kháng khuẩn invivo đối với Klebsiella Pneumoniae của Acid nalidixic Khi thay thế N1 bằng các gốc thế khác nhau, người ta thấy hoạt lực tối đa đạt được là nhóm C2H5 và C3H7 Vì vậy, trong các dẫn xuất quinolon, người ta thường chọn nhóm etyl (C2H5) Trường hợp các hợp chất Flumequin (apurone) và Ofloxacin (oflocet) nhóm etyl gắn vào hệ thống đ1 bổ sung và mang lại cho các phân tử này sự bền vững lớn về chuyển

Trang 26

hoá Việc thay thế đẳng tích của nhóm metyl (- CH2 -) bằng nhóm amifloxacin (- NH -) hoặc miloxacin (- O -) làm cho các dẫn xuất mới được tạo ra có độ khả dụng sinh học tốt hơn Quan niệm này cũng được áp dụng cho đỉnh - CH - (đẳng tích của N) tại vòng A tạo ra Cynoxacin Thay thế ở C2 thì chỉ có sự thay thế của - CN bởi N làm tăng cường tính diệt khuẩn Còn mọi sự thay thế khác ở vị trí này đều làm cho các dẫn xuất không có tác dụng Thay thế nhóm carboxyl 3 bằng các chức ete, nitrit, alcol, aldehyd đều làm giảm hoặc mất khả năng kháng khuẩn của mô hình Nếu thay thế nhóm carboxyl 3 bởi một phần [5 (1- metyl - 3 - tetrazol)] có tính acid ngang với carboxyl, dị vòng này

sẽ làm mất hết hoạt tính kháng khuẩn của các quinolon mà nó gắn vào Đồng thời cũng thu được những kết quả tương tự khi thay thế nhóm carboxyl bằng nhóm sulfolic (SO3H) Còn mọi biến đổi ở nhóm 4 - oxo đều tạo ra những chế phẩm không có hoạt tính

+ Vòng B:

Bản thân vòng B là vòng có tính thơm, có thể là: nhân benzen (Rosoxacin urotate), nhân pyridin (Acid nalidixic), nhân pyrimidin (Acid pipemidic, Norfloxacin…)

Các nhân này liên quan với nhau bởi hệ đẳng tích Đối với quinolon thế hệ mới, thay thế hai lần ở vòng B sẽ làm tăng khả năng diệt khuẩn một cách đáng kể của hợp chất này Cụ thể: ở vị trí 6: 1 nguyên tử Flo; ở vị trí 7: nhân piperazin làm cho chế phẩm có tác dụng cả với trực khuẩn mủ xanh 2.2.3 Phân loại

Có nhiều cách để phân loại quinolon: theo cấu trúc hoá học; mối liên quan giữa cấu trúc - tác dụng; phổ kháng khuẩn invitro; hoặc theo hiệu quả lâm sàng

Nhưng hiện nay, để thuận tiện cho việc sử dụng, người ta đ1 phân loại quinolon thành các thế hệ khác nhau dựa vào độ mạnh và hoạt phổ kháng khuẩn (Huỳnh Thị Kim Thoa, 1996 [23]; Vicent T Andriole, 1998 [43])

Trang 27

Bảng 2.1: Bảng phân loại quinolon của Vicent T Andriole, 1998 [43]

Sparfloxacin Tosufloxacin Gatifloxacin Pazufloxacin Grepafloxacin

Trovafloxacin Clinafloxacin Sitafloxacin Moxifloxacin Gemifloxacin

2.2.4 Cơ chế tác dụng

Khi xem xét cơ chế tác dụng của nhóm quinolon, người ta thường đề cập đến hai cơ chế tác dụng sau:

2.2.4.1 Tác dụng ức chế enzym ADN - gyrase

Đây là enzym quan trọng tham gia vào quá trình tổng hợp acid nhân của tế bào vi khuẩn Bình thường, tuỳ thuộc vào từng giai đoạn, các ADN của

vi khuẩn tồn tại dưới 2 dạng: dạng thả lỏng và dạng xoắn Khi tiến hành sao chép chúng sẽ tồn tại ở dạng thả lỏng nhờ ADN - gyrase Đây là enzym có nhiệm vụ duỗi xoắn tạm thời ADN để thực hiện quá trình tổng hợp ADN mắc mới và sau đó đóng lại Enzym là một đích tác dụng của quinolon, khi bị các quinolon gắn vào chúng sẽ vô hoạt Do đó, quá trình tổng hợp ADN vi khuẩn

ức chế làm cho vi khuẩn bị tiêu diệt

2.2.4.2 Tạo chelat

Do trong cấu trúc có chứa axid β - cetonic nên các quinolon có thể tạo chelat với các cation hoá trị II (Mg++, Cu++, nhất là Fe++) Vì vậy, các metal -protein có thể là những mục tiêu tiềm tàng thu hút các quinolon

Người ta cho rằng: Các chelat tương ứng với những phức hợp đẳng phân

Trang 28

tử điện dương (những phức hợp mà số phân tử quinolon/ số cation bằng 1/1 thì

sẽ thể hiện tác dụng diệt khuẩn, nếu tỷ số đó là 2/1 thì không có tác dụng Do

đó, với hàm lượng quinolon tăng dần (trên 100 àg/ml), thì tác dụng diệt khuẩn lại chuyển thành kìm khuẩn, có lẽ do ức chế tổng hợp ARN (Huỳnh Thị Kim Thoa, 1996 [23])

Tuỳ theo loại thuốc, tuỳ thuộc lượng thức ăn có trong đường tiêu hoá

mà thuốc được hấp thu hoàn toàn hay một phần trong đường tiêu hoá Khi tiêm tĩnh mạch thuốc được hấp thu hoàn toàn

2.2.5.2 Sự chuyển hoá

Một số quinolon không bị biến đổi trong cơ thể như Ofloxacin

+ Các quinolon thế I như: Acid nalidixic, Acid oxolonic, Acid piromedic, Acid pipemedic không dễ biến đổi trong quá trình chuyển hoá của cơ thể Thường chỉ có sự kết hợp với các axid mật như Axid glucuronic (với nhóm - COOH) còn gốc R3 không bao giờ bị cắt

+ Các quinolon có chứa nhóm 1 - metyl đều dễ bị oxy hoá thành hydroxy

Trang 29

- metyl rồi lại chuyển thành carboxyl Với Rosoxacin có nhân piridin bị oxy hoá

ở vị trí N Các thuốc có nhân piperazin rất hay bị biến đổi, do khi vòng piperazin

bị metyl hoá ở vị trí N sẽ tạo thành N - oxyd, cũng như lacton sẽ tạo thành các dẫn chất của nó (R1 = H) Các dẫn chất này lại tiếp tục chuyển hoá

Các thuốc được chuyển hoá chủ yếu ở các tế bào gan, tại các riboxom, bằng các phản ứng oxy hoá kết hợp với Acid glucuronic hay sulfuric thành dạng không còn hoạt lực, thải ra ngoài qua mật (theo phân) và thận (theo nước tiểu) 2.2.5.3 Sự phân bố

Thuốc được gắn chặt vào protein của huyết thanh, tuần hoàn theo máu, phân bố vào các tổ chức Quinolon có khả năng thâm nhập hầu hết các mô rất nhanh Đặc biệt, hàm lượng rất cao ở thận, gan, mật, cũng như hệ thần kinh trung ương, tuyến prostate, nội tâm mạc Hàm lượng bị kết hợp với protein cũng rất khác nhau: 10% với Norfloxacin và lớn hơn 90% với Acid nalidixic 2.2.5.4 Sự đào thải

Phần lớn các quinolon được đào thải qua thận trừ Pefloxacin và một vài chất có khả năng đào thải qua dịch mật theo đường phân (như: Cipro floxacin) Do vậy, với gia súc bị bệnh gan, bệnh thận, khi dùng các quinolon cần thận trọng

Thuốc cũng được đào thải qua nhau thai và sữa, nên cần chú ý khi điều trị cho gia súc có chửa và cho con bú

2.2.6 Hoạt phổ kháng khuẩn và ứng dụng điều trị

Trang 30

Các quinolon thế hệ II có hoạt phổ kháng khuẩn rộng hơn và mạnh hơn

từ 30 - 1250 lần so với quinolon thế hệ I Thuốc hấp thu tốt qua ống tiêu hoá, phân bố tốt trong cơ thể, dùng uống để chữa các bệnh toàn thân Các quinolon thế hệ II có tác dụng diệt khuẩn tới 95%

+ Dùng sau phẫu thuật đường niệu Các Acid nalidixic và Piromedic

được dùng nhiều trong phòng chống nhiễm khuẩn đường tiết niệu

Với các quinolon thế hệ mới:

+ Có một số thuốc chuyên dùng dành riêng điều trị chứng nhiễm khuẩn

đường tiết niệu Trị bệnh viêm đường sinh dục, tiết niệu có kèm theo viêm tuyến sinh dục phụ như Norfloxacin Số khác có hoạt phổ rộng và khả năng phân bố tốt trong các mô bào nên được dùng trong điều trị bệnh nhiễm khuẩn toàn thân cấp tính như: Pefloxacin, Offloxacin và Ciprofloxacin

+ Các quinolon được phân bố tốt trong mô phổi, trong lâm sàng được dùng để điểu trị chứng viêm phế quản phổi do trực khuẩn Gram (+) gây ra kể cả các chủng đ1 kháng Cephalosporin (thế hệ III)

+ Trị các chứng nhiễm khuẩn trong xương, khớp cấp tính do thuốc phân

bố tốt trong xương và có hoạt phổ rộng

+ Trị nhiễm khuẩn máu và viêm màng tim do Enrobacterium, Staphyloccocus và Pseudomonas Khi đó, lúc đầu tiêm tĩnh mạch sau đó cho uống

+ Trị một số nhiễm khuẩn thần kinh - màng n1o do trực khuẩn Gram (-)

Trang 31

gây ra như Escherichia coli gây viêm màng n1o

+ Các chứng viêm nhiễm mạn tính gây bội nhiễm, được chỉ định ưu tiên

sử dụng quinolon (như các bệnh viêm phổi, viêm phế quản phổi, các bệnh về xương có mủ và viêm tuyến sinh dục phụ mạn tính)

+ Với các gia súc có bệnh về gan, thận khi dùng thuốc cần thận trọng + Không nên dùng đồng thời với các thuốc lợi tiểu, trường hợp cần thiết phải giảm liều

2.2.7 Tác dụng phụ

Độc tính của những quinolon đầu tiên rất thấp So với các tác nhân kháng khuẩn thông dụng khác, các fluoroquinolon có thể được coi là dung nạp tương

đối tốt Tác dụng phụ thường gặp nhất là các dấu hiệu xấu ở đường tiêu hoá và

hệ thần kinh trung ương Rối loạn tiêu hoá (biếng ăn, buồn nôn, ỉa chảy, khó tiêu, đầy bụng) là những tác dụng phụ được thông báo nhiều nhất (từ 2 - 11%) Các phản ứng ở hệ thống thần kinh (1 - 7%) có thể xảy ra như choáng váng, mệt nhọc, chóng mặt, ngất, mất ngủ, và thay đổi cảm giác Những phản ứng

độc thần kinh nặng hiếm gặp (< 0,5%) gồm phản ứng tâm thần, ảo giác, trầm cảm, động kinh, đều hồi phục khi ngừng uống thuốc Các tác dụng trên hệ thần kinh trực tiếp liên quan đến sự gắn quinolon vào các thụ thể GABA dẫn đến kích thích hệ thần kinh trung ương Phản ứng tăng cảm giác chiếm (0,4 - 2%) bao gồm ban đỏ ngứa, mề đay, cũng hiếm gặp các đợt hạ huyết áp, tim đập nhanh, phản ứng độc với thận (tinh thể niệu), tăng Creatinin huyến thanh, giảm tiểu cầu, giảm bạch cầu, thiếu máu

Trang 32

2.2.8 Tương tác thuốc

Khi sử dụng kết hợp các quinolon với các thuốc khác cần chú ý:

+ Thuốc có tác dụng hiệp đồng với nhóm Aminoglycozid, Pilimycin, Trimethoprim, Sulfamid, Metronidazal để chống Bacterroides fragillis Hiệp

đồng với β - lactamin, Rifampicin

+ Các phối hợp có tính đối kháng, cần tránh dùng tránh không dùng chung với các thuốc Tetracyclin, Chloramphenicol, Nitrofuramtoin

+ Khi dùng chung các quinolon với các thuốc kháng vitamin K sẽ làm tăng tác dụng của thuốc do đó cần phải điều chỉnh liều lượng cho thích hợp và thường xuyên theo dõi hàm lượng prothrombin trong huyết tương

+ Với các thuốc lợi tiểu: Khi dùng chung với Theophylin, Aminophylin

và Oxytriphylin, các quinolon sẽ làm giảm sự chuyển hoá của thuốc lợi tiểu ở

tế bào gan Kết quả các thuốc lợi tiểu sẽ tăng thời gian bán thải, hàm lượng của chúng trong huyết tương tăng cao dễ gây ngộ độc

Ví dụ: Dùng Enrofloxacin cùng với Theophylin Thuốc Enrofloxacin làm tăng hoạt động của Theophylin Do đó, chỉ nên dùng nửa liều Theophylin chỉ định

+ Với cafein: Nhìn chung khi phối hợp cùng quinolon (trừ Offloxacin

và Lomefloxacin) sẽ làm giảm sự chuyển hoá của cafein trong tế bào gan, tăng thời gian bán thải của thuốc Dó đó, sẽ làm tăng khả năng kích thích hệ thần kinh trung ương Thuốc Enrofloxacin có thể làm tăng thời gian bán thải của thuốc lên 5 lần

+ Với các thuốc kháng acid và các thuốc có chứa kim loại Al3+, Mg2+,

Fe2+, chúng ta không nên dùng với các thuốc quinolon, vì các ion này sẽ tạo chelat với quinolon Kết quả hàm lượng quinolon trong huyết tương giảm (trong số các quinolon, Enrofloxacin bị giảm nhiều nhất) Vì vậy, nên cho gia súc uống Enrofloxacin trước khi ăn 2 giờ hoặc 8 giờ sau khi ăn

+ Với các thuốc có chứa bismuth: nếu uống các thuốc bismuth kiềm natri hay uống Salicynat đồng thời hay sau uống quinolon (Enrofloxacin 1 giờ) thì các chất này giảm khả năng hấp thu và cũng làm giảm hiệu lực của

Trang 33

thuốc khoảng 25%.

+ Uống thuốc chống toan NaHCO3, Al(OH)3 làm chậm sự hấp thu thuốc ở đường tiêu hoá

2.3 Một số hiểu biết về thuốc Enrofloxacin

Nhóm quinolon là một nhóm kháng sinh thế hệ mới và trong thập kỷ vừa qua đ1 tổng hợp được rất nhiều quinolon (quinolon thế hệ I, thế hệ II, thế

hệ III, thế hệ IV) nhưng trong giới hạn của đề tài chúng tôi chỉ đi sâu vào thuốc Enrofloxacin

2.3.1 Tính chất và cấu trúc hoá học của Enrofloxacin

Hình 2.2: Cấu tạo hoá học của Enrofloxacin

Trang 34

2.3.2 Cơ chế tác dụng của Enrofloxacin

Cũng giống các quinolon, Enrofloxacin phát huy tác dụng diệt khuẩn bằng cách ức chế men ADN - gyrase Từ đó ngăn cản quá trình sinh tổng hợp acid nhân của vi khuẩn, làm vi khuẩn mất khả năng sinh sản và nhanh chóng

1 àg/ml) Thuốc duy trì đ−ợc hàm l−ợng hữu hiệu trong máu khoảng 1 - 6 giờ tuỳ theo trạng thái bệnh lý

Trang 35

Enterobacter, Pasteurella, Hemophylus, Pseudomonas, Brucella, Corynebacterium, Chlamydia, Steptoccocus faecalis, Salmonella, Pyogenes, Pneumoniae và Mycoplasma

2.3.4.2 ứng dụng điều trị của Enrofloxacin

Theo Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ, 2003 [13]: dùng Enrofloxacin

để điều trị trong các trường hợp sau:

+ Các bệnh nhiễm khuẩn đơn hay nhiễm khuẩn kép do vi khuẩn hay Mycoplasma

+ Những bệnh truyền nhiễm đường hô hấp, đường tiêu hoá hay hô hấp tiêu hoá kết hợp ở gia súc gia cầm như: CRD, CCRD, phân trắng, nhiễm E coli huyết, bệnh phân xanh, bệnh thương hàn, bệnh phó thương hàn (Salmonellosis),

tụ huyết trùng (Pasteurelosis), viêm mũi ở gia cầm (Avian coryza)

+ Bệnh viêm phổi, khó thở truyền nhiễm mạn tính (suyễn), viêm teo mũi truyền nhiễm (Rhinitis atrophia); các bệnh ỉa chảy không rõ nguyên nhân, nhiễm khuẩn huyết, hậu phẫu hay các bệnh nhiễm khuẩn kết hợp

2.3.5 Tác dụng phụ

Enrofloxacin thường có rất ít tác dụng phụ, tuy nhiên dùng thuốc với liều cao có thể xảy ra các tác dụng phụ không mong muốn sau:

+ Rối loạn tiêu hoá: nôn mửa, biếng ăn, ỉa chảy

+ Dị ứng da: nổi mề đay

+ Các tai biến về thần kinh: chóng mặt, rối loạn thị giác, co giật

Khi giảm liều hay ngừng dùng thuốc thì các tác dụng phụ cũng giảm hay ngừng theo

2.3.6 Tương tác thuốc

Không dùng chung với các thuốc có chứa Aluminium hydroxyde và Magienium hydroxyde do chúng làm giảm hấp thụ Enrofloxacin

Trang 36

Enrofloxacin làm tăng hàm lượng của Theophylin trong máu, do đó làm tăng tác dụng của Theophylin

2.4 Một số nghiên cứu về dược động học của kháng sinh Enrofloxacin 2.4.1 Vài nét về tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Theo tác giả Vicent T.Andriole, 1998 [43], cũng như các fluoroquinolon khác, Enrofloxacin được dung nạp và hấp thu tốt qua đường tiêu hoá và các đường sinh học khác Thuốc sinh khả dụng đến 80,11% khi cho theo đường uống Tỷ lệ gắn với protein huyết tương là 20,7% Hàm lượng thuốc trong các mô và trong huyết tương đạt tối đa sau 1 - 2 giờ Hàm lượng này giảm xuống từ từ nhưng vẫn duy trì hiệu lực trong vòng 24 giờ

Các tác giả Tây Ban Nha: Fraile, Martinez và cộng sự, 1997 [32] đ1 nghiên cứu dược động học của Enrofloxacin trên thỏ ở các độ tuổi khác nhau cho biết các chỉ tiêu dược động học của Enrofloxacin trên thỏ ở các độ tuổi khác nhau là khác nhau

Các tác giả Trung Quốc: HU, Gongzheyry và cộng sự, 2000 [34], đ1 nghiên cứu dược động học của Enrofloxacin trên gà thịt mắc bệnh Coryza Kết quả cho thấy, khi dùng thuốc theo đường tiêm bắp thời gian hấp thu 1/2 là 0,25 giờ; thời gian phân bố 1/2 là 5,46 giờ Khi dùng thuốc theo đường uống thời gian hấp thu 1/2 là 1,17 giờ; thời gian phân bố 1/2 là 9,72 giờ; hàm lượng cực đại trong huyết tương là 1,43 mg/l ở thời điểm 1,5 giờ Các tác giả kết luận: Enrofloxacin ở cơ thể gà mắc bệnh, thuốc hấp thu nhanh, phân bố rộng, thải trừ chậm

Trang 37

Nghiên cứu của Bugei, Kawasi, Black, Mc.Even, 1999 [26] về Enrofloxacin trên gà cho theo đường uống và tiêm, cho thấy sau khi tiêm thuốc dưới da với liều 5 mg/kgTT, hàm lượng thuốc trong huyết tương cao nhất là 2,01 mg/l ở thời điểm 1 giờ sau khi tiêm, khi cho uống hàm lượng thuốc đạt cực đại trong huyêt tương là 0,99 mg/l ở thời điểm 2 giờ sau khi dùng thuốc

Theo Booth DM, 2002 [24] Enrofloxacin thí nghiệm trên chó, cho theo

đường uống, kết quả cho thấy hàm lượng Enrofloxacin đạt tối đa trong huyết tương tương ứng với các liều 7,5; 10 và 20 àg/ml là 2,12; 2,1 và 4,74 àg/ml Thời gian bán thải của thuốc từ 4,6 đến 5,2 giờ

Theo Ramesh S và cộng sự, 2002 [39], hàm lượng Enrofloxacin trong huyết tương đạt 0,3 ± 0,13 àg/ml tại thời điểm 5 phút và đạt hàm lượng tối đa 2,91 ± 0,39 àg/ml tại 2,9 ± 0,51 giờ sau khi tiêm dưới da dê với liều 7,5 mg/kgTT Thời gian bán thải của thuốc là 2,84 ± 0,57 giờ Các tác giả kết luận,

có thể dùng Enrofloxacin tiêm dưới da để điều trị bệnh nhiễm khuẩn ở dê Nhóm tác giả H A Elsheikh, A A W Taha, A I Khalafallah, I A M Osman, 2002 [33], nghiên cứu dược động học của Enrofloxacin sau khi tiêm tĩnh mạch và tiêm bắp cho dê và cừu chế phẩm Baytril 5% với liều 5 mg/kgTT cho thấy: Dược động học của Enrofloxacin không có sự khác biệt đáng kể giữa cừu và dê (P<0,05) cả trong 2 trường hợp tiêm bắp và tiêm tĩnh mạch Vì vậy, các tác giả kết luận: có thể dùng cả 2 đường cho thuốc là tiêm bắp và tiêm tĩnh mạch trong điều trị lâm sàng ở cả 2 loài đều cho hiệu quả điều trị cao như nhau

Theo G della Rocca, A Di Salvo, J Malvisi, M Sello, 2004 [30], sau khi tiêm tĩnh mạch liều 2,5 mg/kgTT, thuốc được phân bố nhanh, hàm lượng thuốc trong huyết thanh cao ở tất cả các mẫu huyết thanh, hàm lượng thuốc đều nằm trong khoảng 2,605 - 3,810 àg/ml trong 4 giờ đầu tiên Sau đó, hàm lượng thuốc trong các mẫu đều giảm dần, tại thời điểm 120 giờ sau khi tiêm vẫn còn có sự có

Trang 38

mặt của Enrofloxacin với hàm lượng thuốc nằm trong khoảng 0,040 - 0,087 àg/ml Sau khi cho ăn liều 10 mg/kgTT, ở tất cả các mẫu huyết thanh, hàm lượng thuốc đều nằm trong khoảng 0,335 - 1,138 àg/ml tại thời điểm 1 giờ sau khi cho

ăn Đạt cực đại tại thời điểm 8 giờ sau khi cho thuốc với hàm lượng tương ứng ở tất cả các mẫu đều nằm trong khoảng 1,709 - 2,846 àg/ml Sau đó, hàm lượng thuốc giảm dần, tại thời điểm 120 giờ đo được là 0,048 - 0,149 àg/ml Trong khi

đó, ở các mẫu mô, hàm lượng thuốc được xác định luôn thấp hơn: 0,156 - 0,398 àg/g sau 1 giờ, 0,102 - 2,002 àg/g tại 8 giờ và 0,015 - 0,031 àg/g ở 120 giờ

Nghiên cứu dược động học của Enrofloxacin Muammer Elmas, Kamil šney, Enver Yazar, Ayse Karabacak and Bšnyamin Traş, 2006 [38], kết luận: Dược động học của Enrofloxacin sau khi tiêm bắp, tiêm tĩnh mạch cho thỏ Angora là tương tự như ở các giống thỏ khác Có thể tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch Enrofloxacin cho thỏ với liều 5 mg/kgTT để điều trị các bệnh truyền nhiễm, tuỳ mức độ bệnh mà có thể tiêm 1 - 2 lần/ngày

Nhóm tác giả: José Julio de Lucas, Sonia Rubio, Fernando González và Casilda Rodríguez (Tây Ban Nha); Joaquín Luis Navarro và Pablo Emilio Vignolo, Vilma Carina Asis (Argentina), 2006 [35] đ1 tiến hành xác định hàm lượng Enrofloxacin trong huyết tương đà điểu sau khi tiêm bắp liều 15 mg/kgTT bằng phương pháp sắc ký lỏng cao áp Các tác cho thấy, hàm lượng thuốc tối đa là 3,30 ± 0,90 àg/ml tại thời điểm 24,17 ± 9,17 phút Thời gian bán thải của thuốc là 2,85 ± 0,54 giờ

2.4.2 Vài nét về tình hình nghiên cứu trong nước

ở Việt Nam trong lĩnh vực thú y có các nghiên cứu sau:

Nghiên cứu của Lê Thị Ngọc Diệp và cộng sự về dược động học của Norfloxacin và Enrofloxacin trên thỏ, 2001 [5] Kết quả cho thấy:

+ Kháng sinh Enrofloxacin khi cho theo đường tiêm, thuốc đạt hàm lượng tối đa trong huyết tương lúc 2 giờ, còn cho theo đường uống là 6 giờ

Trang 39

+ Norfloxacin cho theo đường tiêm, thuốc đạt hàm lượng tối đa trong huyết tương lúc 2 giờ, còn cho theo đường uống đạt hàm lượng tối đa trong huyết tương lúc 4 giờ

Lê Thị Ngọc Diệp và cộng sự, 2001 [5] nghiên cứu chỉ tiêu dược động học của Enrofloxacin trên gà cho biết: Gà uống Enrofloxacin liều 10 mg/kgTT, hàm lượng thuốc đạt cao nhất trong huyết tương sau 4 giờ (4,4 àg/ml) và giải phóng khỏi cơ thể sau 96 giờ Nếu tiêm cho gà liều 5 mg/kgTT, hàm lượng thuốc đạt cao nhất trong huyết tương sau 2 giờ (4,55 àg/ml) và

được thải trừ ra ngoài sau 72 giờ

Như vậy, ở Việt Nam do thuốc Enrofloxacin mới được sử dụng trong thú y trong những năm gần đây nên các nghiên cứu về thuốc này trên các đối tượng vật nuôi chưa nhiều Vì vậy, nghiên cứu của chúng tôi về một số chỉ tiêu dược động học của Enrofloxacin trên dê là một trong những đóng góp đầu tiên cho việc sử dụng thuốc hợp lý, an toàn đạt hiệu quả cao trong việc phòng

và điều trị bệnh cho dê

2.5 Một số hiểu biết về bệnh viêm ruột ỉa chảy của dê

Bệnh viêm ruột ỉa chảy là một trong những bệnh thường gặp ở dê đ1 và

đang gây ra những hậu quả đáng kể dẫn đến tình trạng giảm số lượng đàn dê

và làm giảm hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi dê

2.5.1 Khái niệm về ỉa chảy

Theo Vũ Triệu An, 1978 [1], ỉa chảy là ỉa nhanh, ỉa nhiều lần trong ngày, trong phân có nhiều nước do rối loạn phân tiết hấp thu và nhu động ruột

ở gia súc, triệu chứng ỉa chảy có thể do nhiều bệnh gây tổn thương ở đường tiêu hoá gây nên như: bệnh dịch tả lợn, dịch tả trâu bò, bệnh phó lao, bệnh do

ký sinh trùng (giun đũa, sán lá gan), bệnh do ký sinh trùng đường máu (tiên mao trùng) Nhiều trường hợp viêm ruột ỉa chảy do những tác nhân khác nhau gây rối loạn tiêu hoá, sau đó là quá trình bội nhiễm vi khuẩn, virus sẵn

Trang 40

có trong đường ruột, làm cho bệnh thêm trầm trọng

Bệnh viêm ruột ỉa chảy ở gia súc là một quá trình viêm ở ruột, thường

ở thể cata và triệu chứng chủ yếu là ỉa chảy với nhiều dịch viêm (Roussel A, William R, Monlux S, Monlux A, 1991 [40]) Nghiên cứu về bệnh viêm ruột

ỉa chảy, nhiều tác giả cho thấy: Dù do bất cứ nguyên nhân nào đều gây hậu quả là làm cơ thể bị mất nước và chất điện giải, rối loạn enzym, gây tổn thương thực thể và viêm nhiễm đường tiêu hoá (Lê Minh Chí, 1995 [3])

2.5.2 Nguyên nhân gây ỉa chảy

Nguyên nhân gây ỉa chảy ở gia súc rất phức tạp Nhiều công trình nghiên cứu đ1 chỉ ra rằng ỉa chảy có thể do những nguyên nhân sau:

2.5.2.1 Điều kiện bất lợi của ngoại cảnh: quá nóng, quá lạnh hoặc mưa gió,

ẩm ướt; kết hợp với chuồng trại không hợp vệ sinh, điều kiện nuôi nhốt, vận chuyển gia súc quá trật trội là yếu tố Stress ảnh hưởng trực tiếp tới cơ thể vật nuôi Khi gia súc bị Stress sẽ làm giảm khả năng phản ứng miễn dịch, sức đề kháng giảm, vật nuôi dễ nhiễm khuẩn và sinh bệnh

ra những nhận xét tương tự về nguyên nhân gây rối loạn tiêu hoá và viêm ruột

ỉa chảy ở vật nuôi của nước ta

Theo Roussel A, William R, Monlux S, Monlux A, 1991 [40], thức ăn kém phẩm chất kích thích màng nhày của ruột gây viêm ruột ỉa chảy

Những sai sót trong công tác quản lý, bảo quản chế biến thức ăn dẫn

đến hậu quả thức ăn bị lên men, các chất hữu cơ bị phân giải sinh ra các chất

Ngày đăng: 23/11/2013, 10:06

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2.1  Bảng phân loại quinolon của Vicent T. Andriole, 1998 [43]  17 4.1  Kết quả theo dõi một số chỉ tiêu lâm sàng dê thí nghiệm  48 4.2  Hàm  l−ợng  Enrofloxacin  trong  huyết  t−ơng  dê  cho  theo  đ−ờng - Nghiên cứu sự hấp thu phân bố của enrofloxacin trong huyết tương dê và điều trị thử nghiệm trên dê bị viêm ruột ỉa chảy
2.1 Bảng phân loại quinolon của Vicent T. Andriole, 1998 [43] 17 4.1 Kết quả theo dõi một số chỉ tiêu lâm sàng dê thí nghiệm 48 4.2 Hàm l−ợng Enrofloxacin trong huyết t−ơng dê cho theo đ−ờng (Trang 8)
Hình 2.1: Khung cấu trúc hoá học chung của các quinolon - Nghiên cứu sự hấp thu phân bố của enrofloxacin trong huyết tương dê và điều trị thử nghiệm trên dê bị viêm ruột ỉa chảy
Hình 2.1 Khung cấu trúc hoá học chung của các quinolon (Trang 25)
Bảng 2.1: Bảng phân loại quinolon của Vicent T. Andriole, 1998 [43] - Nghiên cứu sự hấp thu phân bố của enrofloxacin trong huyết tương dê và điều trị thử nghiệm trên dê bị viêm ruột ỉa chảy
Bảng 2.1 Bảng phân loại quinolon của Vicent T. Andriole, 1998 [43] (Trang 27)
Hình 2.2: Cấu tạo hoá học của Enrofloxacin N - Nghiên cứu sự hấp thu phân bố của enrofloxacin trong huyết tương dê và điều trị thử nghiệm trên dê bị viêm ruột ỉa chảy
Hình 2.2 Cấu tạo hoá học của Enrofloxacin N (Trang 33)
Hình 2.3: Sơ đồ cơ chế và hậu quả của viêm ruột ỉa chảy - Nghiên cứu sự hấp thu phân bố của enrofloxacin trong huyết tương dê và điều trị thử nghiệm trên dê bị viêm ruột ỉa chảy
Hình 2.3 Sơ đồ cơ chế và hậu quả của viêm ruột ỉa chảy (Trang 44)
Bảng 4.1: Kết quả theo dõi một số chỉ tiêu lâm sàng dê thí nghiệm  Chỉ tiêu lâm sàng - Nghiên cứu sự hấp thu phân bố của enrofloxacin trong huyết tương dê và điều trị thử nghiệm trên dê bị viêm ruột ỉa chảy
Bảng 4.1 Kết quả theo dõi một số chỉ tiêu lâm sàng dê thí nghiệm Chỉ tiêu lâm sàng (Trang 58)
Bảng 4.2: Hàm l−ợng Enrofloxacin trong huyết t−ơng dê cho theo đ−ờng uống,  liều 7,5 mg/kgTT (dùng chế phẩm Enrotril - 50) - Nghiên cứu sự hấp thu phân bố của enrofloxacin trong huyết tương dê và điều trị thử nghiệm trên dê bị viêm ruột ỉa chảy
Bảng 4.2 Hàm l−ợng Enrofloxacin trong huyết t−ơng dê cho theo đ−ờng uống, liều 7,5 mg/kgTT (dùng chế phẩm Enrotril - 50) (Trang 60)
Bảng 4.3: Hàm l−ợng Enrofloxacin trong huyết t−ơng dê cho theo đ−ờng tiêm  bắp, liều 7,5 mg/kgTT (dùng chế phẩm Enrotril 50) - Nghiên cứu sự hấp thu phân bố của enrofloxacin trong huyết tương dê và điều trị thử nghiệm trên dê bị viêm ruột ỉa chảy
Bảng 4.3 Hàm l−ợng Enrofloxacin trong huyết t−ơng dê cho theo đ−ờng tiêm bắp, liều 7,5 mg/kgTT (dùng chế phẩm Enrotril 50) (Trang 62)
Bảng 4.4: Hàm l−ợng Enrofloxacin trong huyết t−ơng dê cho theo đ−ờng tiêm  bắp, liều lặp, phác đồ 1 (dùng chế phẩm Enrotril - 50) - Nghiên cứu sự hấp thu phân bố của enrofloxacin trong huyết tương dê và điều trị thử nghiệm trên dê bị viêm ruột ỉa chảy
Bảng 4.4 Hàm l−ợng Enrofloxacin trong huyết t−ơng dê cho theo đ−ờng tiêm bắp, liều lặp, phác đồ 1 (dùng chế phẩm Enrotril - 50) (Trang 69)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w