luận văn
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học nông nghiệp hà nội
- -đoàn thị dịu
Khảo sát một số chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu trong Hội chứng tiêu chảy của bê nuôi tại Trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ Ba Vì và vùng phụ cận
Một số biện pháp phòng và điều trị
Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
Chuyên ngành: Thú y Mã số : 60.62.50
Người hướng dẫn khoa học : PGS.ts Đỗ đức việt
Hà nội – 2009
Trang 2lời cam đoan
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và ch−a hề đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đ3 đ−ợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đ3 đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc
Học viên
Đoàn Thị Dịu
Trang 3Lời cảm ơn
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và tạo điều kiện của các thầy cô giáo bộ môn Giải phẫu - Tổ chức phôi thai - Khoa Thú y, các thầy cô giáo giảng dạy chương trình sau đại học, Viện sau đại học và Ban giám hiệu Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
Đặc biệt xin chân thành cảm ơn Thầy giáo PGS.TS Đỗ Đức Việt đ3 tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình triển khai đề tài và hoàn thành Luận văn này
Xin chân thành cảm ơn ban l3nh đạo và cán bộ công nhân viên Trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ Ba Vì cùng các gia đình chăn nuôi bò sữa của một số x3 gần trung tâm đ3 tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn tất cả bạn bè, đồng nghiệp và người thân đ3
động viên và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 16 tháng 9 năm 2009
Học viên
Đoàn Thị Dịu
Trang 42.2 Tình hình nhập nội và nghiên cứu, phát triển giống bò sữa HF, jersey
ở Trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ Ba Vì và vùng phụ cận 4
3 Địa điểm, đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu 30
Trang 53.2 Đối t−ợng nghiên cứu 30
3.3.1 Điều tra theo dõi tình hình chăn nuôi và cơ cấu đàn bò sữa nuôi
3.3.2 Kiểm tra một số chỉ tiêu lâm sàng của bê bị viêm ruột ỉa chảy 303.3.3 Kiểm tra một số chỉ tiêu sinh lý máu ở bê viêm ruột 314.3.4 Một số chỉ tiêu sinh hoá máu của bê bị tiêu chảy 31
4.1 Điều tra theo dõi tình hình chăn nuôi và cơ cấu đàn bò sữa nuôi
4.1.1 Cơ cấu đàn bò sữa của Trung tâm và vùng phụ cận từ năm 2005
Trang 64.3.3 Kích thước các loại tế bào máu (àm) 58
4.4.2 Hoạt độ men GOT và GPT, độ dự trữ kiềm và hàm lượng đường
4.5 Phòng và điều trị bệnh viêm ruột ỉa chảy ở bê 67
Trang 74.5 Số lượng hồng cầu, hàm lượng huyết sắc tố và tỷ khối huyết cầu 47
4.7 Thời gian đông máu, tốc độ lắng và sức kháng của hồng cầu 52
4.9 Hướng nhân và thế máu của bê bệnh và bê khoẻ 57
4.11 Kết quả định lượng protein tổng số và các tiểu phần protein huyết
trong máu bê viêm ruột ỉa chảy và bê khỏe 624.12 Hoạt độ men GOT và GPT, độ dự trữ kiềm và hàm lượng đường
4.13 Kết quả điều trị bệnh viêm ruột ỉa chảy ở bê 69
Trang 8
danh mục biểu đồ
4.1 Sự biến đổi nhiệt độ, tần số hô hấp, tần số mạch đập của bê viêm
4.2 Sự biến đổi số l−ợng hồng cầu, hàm l−ợng huyết sắc tố và tỷ khối
huyết cầu của bê viêm ruột ỉa chảy so với bê khoẻ 484.3 Sự biến đổi hàm l−ợng huyết sắc tố trung bình, nồng độ huyết sắc
tố trung bình, thể tích trung bình và diện tích trung bình của
hồng cầu trong máu của bê viêm ruột ỉa chảy so với bê khoẻ 504.4 Sự biến đổi số l−ợng bạch cầu và công thức bạch cầu trong máu
4.5 Sự biến đổi hàm l−ợng Protein tổng số và các tiểu phần Protein
huyết thanh trong máu bê viêm ruột ỉa chảy so với bê bệnh 634.6 Sự biến đổi hàm l−ợng GOT và GPT trong máu bê viêm ruột ỉa
Trang 9Mở đầu
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Nước ta là một nước nông nghiệp với hơn 70% dân số làm nghề nông Vì thế, sự phát triển của nền kinh tế gắn liền với sự phát triển của ngành nông nghiệp và nó luôn là lĩnh vực hàng đầu được Đảng và Nhà nước quan tâm Sản phẩm nông nghiệp không chỉ nuôi sống con người mà còn thoả m3n nhu cầu
về sinh hoạt ngày càng tăng của x3 hội Trong nông nghiệp thì chăn nuôi được coi là ngành sản xuất chủ yếu và quan trọng hơn cả Ngày nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, ngành chăn nuôi không ngừng phát triển cả về số lượng và chất lượng, tạo ra nhiều sản phẩm cung cấp thực phẩm cho đời sống nhân dân và từng bước đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Đặc biệt là chăn nuôi bò sữa cung cấp lượng lớn sữa cho nhu cầu của nhân dân
Theo Quyết định số 10/ 2008/ QĐ - TTg ngày 16/ 1/ 2008 của Thủ tướng Chính Phủ về việc phê duyệt chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm
2020 thì mục tiêu phấn đấu của ngành chăn nuôi là: tỷ trọng trong nông nghiệp đến năm 2010 đạt 32%, năm 2015 đạt 38% và đến năm 2020 đạt 42% Sản lượng đàn bò sữa tăng bình quân 11%/ năm, đạt khoảng 500 nghìn con
đến năm 2020 Sản lượng sữa đến năm 2010 đạt 380 nghìn tấn, năm 2015 đạt
700 nghìn tấn và đến năm 2020 đạt 1000 nghìn tấn
Để phấn đấu đạt được mục tiêu trên thì ngoài việc ưu tiên đầu tư cho lĩnh vực giống, giải quyết vấn đề về thức ăn, tăng sản lượng bò sữa thì việc tăng cường các biện pháp khoa học thú y, phòng chống dịch bệnh là một khâu hết sức quan trọng
Một trong những bệnh gây thiệt hại đáng kể đang được thực tế sản xuất quan tâm trong chăn nuôi bò sữa là hội chứng tiêu chảy đặc biệt ở bê dưới 6 tháng tuổi
Hội chứng tiêu chảy do một số nguyên nhân gây ra đ3 góp phần làm tăng tỷ lệ chết của đàn bò của nước ta trong những năm gần đây Tỷ lệ chết do
Trang 10các bệnh đường tiêu hoá (ngoại trừ các bệnh ký sinh trùng đường tiêu hoá) ở trâu bò nuôi ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam là 1,28%, dao động trong phạm vi 0,29% – 2,83% Hội chứng tiêu chảy trầm trọng ở gia súc non, phổ biến ở hầu khắp các vùng sinh thái nước ta, đặc biệt ở bê nghé 70 – 80 % tổn thất nằm trong thời kỳ nuôi dưỡng bằng sữa và 80 – 90 % trong số đó là hậu quả của bệnh ỉa chảy gây ra (Lê Minh Chí, 1995)[2]
Đ3 có nhiều công trình nghiên cứu về bệnh này song chủ yếu nghiên cứu về nguyên nhân gây bệnh và biện pháp phòng trị Việc nghiên cứu về các chỉ tiêu sinh lý, sinh hoá lâm sàng của máu trong hội chứng tiêu chảy của bê còn rất ít
Xuất phát từ thực tiễn nhằm mục đích tìm hiểu kỹ hơn về một số đặc
điểm của bệnh này cũng như để có cơ sở phòng và trị bệnh, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Khảo sát một số chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu trong Hội chứng tiêu chảy của bê nuôi tại Trung tâm nghiên cứu bò và
đồng cỏ Ba Vì và vùng phụ cận Một số biện pháp phòng và điều trị”
1.2 Mục tiêu của đề tài
- Khảo sát tình hình hội chứng tiêu chảy ở đàn bê
- Nghiên cứu sự biến đổi một số chỉ tiêu lâm sàng, một số chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu của bê viêm ruột ỉa chảy
- Xây dựng và đề xuất phác đồ điều trị trong hội chứng tiêu chảy ở bê
đạt hiệu quả cao, góp phần làm giảm thiệt hại do bệnh gây ra
1.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Việc hoàn thiện đề tài mà chúng tôi đ3 nghiên cứu mang lại ý nghĩa lý luận và thực tiễn sau:
- Góp phần làm sáng tỏ quá trình bệnh lý của bệnh, giúp cho quá trình chẩn đoán bệnh và xây dựng biện pháp phòng trị hợp lý, hạn chế thiệt hại trong chăn nuôi
- Từ kết quả điều trị thử nghiệm có thể rút ra các biện pháp điều trị bệnh có hiệu quả cao
Trang 11Tổng quan tài liệu nghiên cứu
2.1 Tình hình chăn nuôi bò sữa ở Việt nam
Có thể nói ngành chăn nuôi bò sữa ở nước ta còn rất non trẻ, xuất hiện
từ những năm đầu của thế kỷ XX, dưới thời kỳ Pháp thuộc Trong những năm 1920-1923 người Pháp đ3 đưa các giống bò chịu nóng như bò Red Sindghi (thường gọi là bò Sin) và bò Ongole (thường gọi là bò Bô) vào Tân Sơn Nhất, Sài Gòn và Hà Nội để nuôi thử nghiệm lấy sữa phục vụ người Pháp ở Việt Nam Cuối thập kỷ 1950 đến thập kỷ 1970, nhờ sự giúp đỡ của chính phủ Trung Quốc, Cu Ba, ấn Độ chúng ta đ3 xây dựng đựơc một số cơ sở chăn nuôi
bò sữa tập trung như Mộc Châu, Lâm Đồng, Ba Vì Năm 1958, Việt Nam đ3 nhập 383 bò sữa lang đen trắng từ Trung Quốc nuôi ở nông trường Ba Vì, Hà Tây Sau đó, đàn bò được chuyển lên Mộc Châu, nơi có điều kiện khí hậu mát
mẻ và nuôi dưỡng tốt hơn Nhưng do chưa có kinh nghiệm và kỹ thuật chăn nuôi nên đàn bò sữa dần bị suy thoái Những năm 1970 nước ta đ3 nhập 1130 con bò Hostein Friesian (HF) từ Cu Ba và được nhân thuần ở Mộc Châu (Sơn La) Và Đức Trọng (Lâm Đồng) Từ năm 1986, công tác lai tạo bò sữa bắt đầu phát triển mạnh đặc biệt là ở thành phố Hồ Chí Minh và vùng lân cận
Sau khi có quyết định 167/2001/ QĐ - TTg của thủ tướng chính phủ ngày 26/10/2001 về một số giải pháp và chính sách phát triển bò sữa Việt nam thời kỳ 2001 – 2010, phong trào phát triển bò sữa của nước ta bước vào một giai đoạn mới, tổng đàn bò sữa tăng nhanh hàng năm với tốc độ bình quân giai
đoạn 2001 – 2005 đạt 24,93%/năm
Năm 2002 cả nước mới có 41.241 con, đến năm 2003 tăng lên 55.848 con, tăng trưởng so với năm trước đạt 35,42%; năm 2004 có 79.243 con có mức tăng trưởng cao nhất giai đoạn 2001 – 2005 là 43,27%; năm 2005 có 97.794 con có mức tăng trưởng là 25,00% thấp hơn các năm trước nguyên nhân là do trình độ kỹ thuật chăn nuôi thấp, giá mua sữa chưa phù hợp trong
Trang 12khi đó thức ăn tinh và các dịch vụ khác tăng cao nên hiệu quả chăn nuôi bò sữa không cao Năm 2006, đàn bò sữa có 104.120 con tăng trưởng so với năm trước chỉ đạt 9,47% Năm 2007, tổng đàn bò có 113.215 con và năm 2007 có 98.659 con (tính đến tháng 8 năm 2008)
Bảng 2.1: Hiện trạng chăn nuôi bò sữa ở nước ta (từ năm 2003 – 2008)
2.2 Tình hình nhập nội và nghiên cứu, phát triển giống bò sữa HF, jersey ở Trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ Ba Vì và vùng phụ cận
Từ chỗ không có con bò sữa nào và nguồn sữa phải nhập khẩu toàn bộ
Đến tháng 8/2008 thì nước ta đ3 có tổng số đàn bò sữa là 98,659 nghìn con, với sản lượng sữa đạt là 234437,9 tấn, năng suất sữa bình quân đạt 3800kg/con/chu kỳ 305 ngày ( đối với bò lai HF), 4500 kg/con/chu kỳ (đối với
- Bò HF khối lượng sơ sinh đạt khoảng 39,63kg đối với bê đực và 34,7kg đối với bê cái Sau khi nuôi từ 3, 6, 12 tháng thì trọng lượng bê đạt lần
Trang 13Qua các số liệu nghiên cứu và thống kê cho thấy, đàn bò HF nuôi tại Trung tâm cho chất lượng sữa cao: tỷ lệ mỡ sữa 3,59%; đạm sữa 3,38%;
đường sữa 4,5% Với bò Jersey thì tỷ lệ là: mỡ sữa 4,42%; đạm sữa 3,36%;
đường sữa 4,7%
Trong thời gian đầu thì đàn bò mới nhập về khả năng thích nghi còn kém nên tỷ lệ đào thải khá cao Năm 2002 tỷ lệ loại thải ở đàn bò HF là 40%, Jersey là 23,3% Đến năm 2003 tỷ lệ này giảm với bò HF chỉ còn 12%, năm
2004 Jersey là 5,5% Và đến nay do quá trình chăm sóc nuôi dưỡng tốt, cùng với đó là quá trình lai tạo giống đ3 giúp cho đàn bò nhập nội dần thích nghi với điều kiện khí hậu tại nơi đây.( Viện chăn nuôi)
2.3 Tìm hiểu về máu
2.3.l ý nghĩa sinh học và chức năng của máu
Máu là một vật lỏng màu đỏ, hơi nhớt, lưu thông trong hệ thống tim mạch, có tỷ trọng và độ pH ở các loài khác nhau
Tỷ trọng 1,060 1,060 1,043 1,062 1,042 1,01
Độ pH 7,40 7,25-7,45 7,25-7,45 7,49 7,49 7,37-7,40
(Tài liệu của bộ môn SLĐV - ĐHNNHN) Máu là tổ chức liên kết đặc biệt gồm hai phần là huyết tương và các thành phần hữu hình Huyết tương gồm nước và các chất hòa tan, trong đó chủ yếu là các loại protein, ngoài ra còn có các chất điện giải, chất dinh dưỡng, enzyme, hormone, khí và các chất thải Thành phần hữu hình gồm hồng cầu,
Trang 14bạch cầu và tiểu cầu
Máu là nguồn gốc của hầu hết các dịch thể trong cơ thể ở các loài khác nhau thì lượng máu cũng khác nhau, trung bình chiếm từ 5 - 9% trọng lượng cơ thể
* Máu lưu thông trong hệ mạch và có những chức năng chính sau + Chức năng vận chuyển
- Máu vận chuyển O2 từ phổi đến các tế bào của cơ thể và ngược lại vận chuyển khí CO2 từ các tế bào về phổi để được đào thải ra môi trường bên ngoài
- Vận chuyển chất dinh dưỡng từ ống tiêu hóa đến các tế bào và vận chuyển các sản phẩm đào thải từ quá trình chuyển hoá tế bào đến các cơ quan đào thải
- Vận chuyển hormone từ tuyến nội tiết đến tế bào đích
- Ngoài ra máu còn vận chuyển nhiệt ra khỏi tế bào đưa đến hệ thống mạch máu dưới da để thải nhiệt ra ngoài môi trường
+ Chức năng cân bằng nước và muối khoáng
- Máu tham gia điều hòa pH nội môi thông qua hệ thống đệm của nó
- Điều hòa lượng nước trong tế bào thông qua áp suất thẩm thấu máu (chịu ảnh hưởng của các ion và protein hòa tan trong máu)
+ Chức năng điều hòa nhiệt: Máu còn tham gia điều hoà nhiệt nhờ sự
Trang 15vận chuyển nhiệt và khả năng làm nguội của lượng nước trong máu
+ Chức năng thống nhất cơ thể và điều hòa hoạt động cơ thể
- Máu mang các hormone, các loại khí O2 và CO2 các chất điện giải khác
Ca++ , K+, Na+ để điều hòa hoạt động của nhóm tế bào, các cơ quan khác nhau trong cơ thể nhằm bảo đảm sự hoạt động đồng bộ của các cơ quan trong cơ thể
- Bằng sự điều hòa hằng tính nội môi, máu tham gia vào điều hòa toàn
bộ các chức phận cơ thể bằng cơ chế thần kinh và thần kinh - thể dịch
2.3.2 Sự tạo máu
Sự tạo máu là một quá trình phức tạp và được phân ra làm hai thời kỳ theo sự phát triển của cơ thể
* Sự tạo máu ở thời kỳ phôi thai
ở thời kỳ này quá trình tạo máu lại diễn ra qua ba giai đoạn:
(1) Giai đoạn sinh máu trung điệp:
ở bào thai trước hết máu được hình thành ở các tế bào túi rốn, về sau chúng xuất hiện trên bề mặt tổ chức trung điệp bên trong các bào thai Trong khu vực này các đảo máu không bao giờ phát triển đến quy mô lớn
(2) Giai đoạn tạo máu của gan và lách:
Sau khi sinh máu ở trung điệp, gan trở thành trung tâm tạo máu chính Các tế bào này xuất phát từ một trung mô vạn năng chưa tiến hóa Những trung mô này phát triển giữa tế bào gan, đồng thời lúc này cũng xuất hiện các bạch cầu và tiểu cầu Trong lách lúc đầu hồng cầu xuất hiện nhiều hơn bạch cầu nhưng trong thời gian ngắn (vào thời điểm hai tháng trước khi máu hình thành ở gan và mất đi vào tháng thứ năm của bào thai), lách chủ yếu làm chức
Trang 16năng sinh sản ra các tế bào thuộc dòng lympho (Lymphocyte)
(3) Giai đoạn tủy sinh máu:
Lúc đầu gan đảm nhận sinh hồng cầu còn tủy xương đảm nhận sinh bạch cầu, dần dần tủy xương đảm nhận cả hai chức năng vì thế chức năng tạo máu của gan giảm hẳn Khi các tế bào tủy xương tăng lên, thì các tế bào trung mô giảm đi đến mức chỉ còn là một tổ chức đệm liên võng tồn tại suốt đời của cơ thể động vật gọi là hệ võng mạc nội mô và trong trường hợp cần thiết chúng vẫn có khả năng sinh máu
Dòng bạch cầu có hạt được sinh ra trong tủy xương Dòng bạch cầu không hạt được sinh ra từ tổ chức bạch huyết như lách, hạch amidal, mảng payer, nên chúng còn có tên gọi 1à bạch huyết bào
* Sự tạo máu ở thời kỳ sau phôi thai
Khi hết giai đoạn bào thai, trở thành cơ thể sống độc lập, các mô trong cơ thể đ3 được biệt hóa để thực hiện những chức năng chuyên biệt, giúp cho cơ thể họat động nhịp nhàng và thống nhất Lúc này quá trình tạo máu thực hiện do tủy xương đóng vai trò chủ yếu, ngoài ra còn có sự tham gia của hệ thống võng mạc nội mô của cơ thể
2.3.3 Thành phần của máu
Máu gồm hai thành phần : thể hữu hình (huyết cầu) và huyết tương Lấy máu chống đông rồi cho vào ống nghiệm và để lắng tự nhiên, ta thấy máu được chia làm hai phần rõ rệt: phần trên trong, màu vàng nhạt chiếm 55-60% thể tích đó là huyết tương Phần dưới đặc màu đỏ thẫm Chiếm 40-45% thể tích đó là các tế bào máu Trong các tế bào máu thì hồng cầu chiếm
số lượng chủ yếu còn bạch cầu và tiểu cầu chiếm tỷ lệ thấp
Các thể hữu hình chiếm 43-45% tổng số máu gồm hồng cầu, bạch cầu
và tiểu cầu, chỉ số này được gọi là hematocrit
Hồng cầu là thành phần chiếm chủ yếu trong thể hữu hình
Huyết tương chiếm 55 - 57% tổng số máu, bao gồm: nước, protein, các chất điện giải, các hợp chất hữu cơ và vô cơ, các hormone, các vitamin, các
Trang 17chất trung gian hóa học, các sản phẩm chuyển hóa… huyết tương chứa toàn
bộ những chất cần thiết cho cơ thể và toàn bộ các chất cần được thải ra ngoài
Huyết tương bị lấy mất fibrinogen thì được gọi là huyết thanh
2.3.3.1 Huyết tương (dịch thể)
Huyết tương 1à phần lỏng của máu, dịch trong, hơi vàng Trong thành
phần huyết tương nước chiếm 90-92%, vật chất khô chiếm 8-10% Vật chất
khô của huyết tương gồm các protein, lipid, glucid, muôi khoáng, các hợp chất
hữu cơ có chứa N2 không phải protein (đạm cặn), các enzym, hormon,
Trong huyết tương chủ yếu gồm 3 loại protein là albunlin, globulin,
fibrinogen Ngoài ra còn có những men như 1ipaza, amilaza, photphalaza
kiềm
Trong sinh lý học thì tỷ số giữa albumin/globulin (A/G) được coi 1à
một hằng số Tỷ số này phản ánh tình trạng sức khỏe của con vật và là một chỉ
tiêu đánh giá phẩm chất giống, dùng để chẩn đoán bệnh
- A/G tăng có thể do A tăng (sức sản xuất tăng) hoặc G giảm (chức
năng miễn dịch giảm)
- A/G giảm có thể do A giảm (suy dinh dưỡng, bệnh về gan, viêm thận)
hoặc G tăng (nhiễm khuẩn)
- Fibrinogen (yếu tố số một của quá trình đông máu) do gan sản sinh ra
Trang 18chiếm từ 6-8% trọng lượng huyết tương, fibrinogen bị oxy hóa biến thành sợi huyết (fibrin) Hàm lượng fibrinogen trong huyết tương của các loại gia súc là không giống nhau
Bò: 60 mg%; Cừu và ngựa: 300-350 mg%; Lợn: 300 mg%
* Protein huyết tương có các chức năng sau
- Chức năng tạo áp suất keo của máu
Thành phần quan trọng nhất của protein huyết tương là albumin, albumin có chức năng chính 1à tạo nên áp suất thẩm thấu ở màng mao quản (gọi là áp suất keo) nhờ các phân tử protein có khả năng giữ một lớp nước xung quanh phân tử, do đó giữ được nước lại trong mạch máu
Albumin là nguyên 1iệu xây dựng của tế bào Fibrinogen tham gia vào quá trình đông máu Globulin α và β tham gia vận chuyển các chất lipid như acid béo, phosphatid, steroid còn γ globulin có vai trò đặc biệt quan trọng trong cơ chế miễn dịch bảo vệ cơ thể
- Chức năng vận chuyển
Các protein thường là các chất thải cho nhiều chất hữu cơ và vô cơ: ví
dụ như lipoprotein vận chuyển lipid, tiền albumin liên kết thyroxin (thyroxin binding prealbumin), globulin liên kết thyroxin (thyroxin binding )
- Chức năng bảo vệ
Một trong những thành phần quan trọng của huyết tương là các globulin miễn dịch (đó là các γ-globulin) gồm: IgG, IgA, IgM, IgD, IgE (do các tế bào lympho B sản sinh ra) Các globulin miễn dịch có tác dụng chống lại kháng nguyên lạ xâm nhập vào cơ thể Thông qua hệ thống miễn dịch, các globulin miễn dịch đ3 bảo vệ cho cơ thể
- Chức năng cầm máu
- Cung cấp protein cho toàn bộ cơ thể
+ Các hợp chất hữu cơ không phải protein
Trang 19Ngoài thành phần protein, tương huyết tương còn có các hợp chất hữu cơ không phải protein
Các hợp chất hữu cơ không phải protein được chia thành hai loại: loại
+ Các thành phần vô cơ
Các chất vơ cơ thường ở dạng ion và được chia thành hai loại: anion và cation Các chất vô cơ giữ vai trò chủ yếu trong điều hòa áp suất thẩm thấu,
điều hòa pH máu và tham gia vào các chức năng của tế bào
Các thành phần vô cơ còn tham gia vào cân bằng ion Cân bằng ion có vai trò quan trọng với chức phận của tế bào, với cân bằng acid-base máu 2.3.3.2 Thành phần hữu hình (hồng cầu, tiểu cầu và bạch cầu)
(l) Hồng cầu
Hồng cầu chiếm tới 99% trong các thành phần hữu hình của máu Hồng cầu có hình đi3 lõm hai mặt và không có nhân để tăng diện tích tiếp xúc với các chất khí, ở các loại gia cầm hồng cầu hình bầu dục và có nhân
Số lượng hồng cầu ở các loài cũng khác nhau:
Số lượng hồng cầu ở một số loài động vật (tríệu/mm3 máu)
Trang 20Vật nuôi Số lượng hồng cầu Vật nuôi Số lượng hồng cầu
(Tài liệu của bộ môn SLĐV - ĐHNNHN )
Trong hồng cầu chứa sắc tố đỏ là Hemoglobin (huyết sắc tố) Thành phần của hồng cầu: 60 % là nước và 40 % là vật chất khô (chủ yếu 1à Hb), ngoài ra còn có các men
Về cấu tạo, hồng cầu được bao bọc bởi một lớp màng 1ipoprotein có tính thấm chọn lọc, nó chỉ cho O2, CO2, H2O, glucose và các ion âm đi qua Trên màng hồng cầu có một số enzyme giữ vai trò quan trọng trong việc duy trì tính bền vững, tính thẩm thấu của màng và sự trao đổi chất qua màng như Enzym gluco-6-photphataza, dehydrogenaza, glutation-reductaza Do màng hồng cầu có tính đàn hồi, nên hồng cầu có thể biến dạng sau đó trở lại hình dáng bình thường, do đó nó có thể qua các mao mạch nhỏ Khi áp suất thẩm thấu xung quanh thay đổi, hồng cầu cũng thay đổi kích thước Khi áp suất giảm, nước vào trong hồng cầu làm hồng cầu phình to ra Hồng cầu cũng gi3n
nở khi môi trường bên ngoài có tính acid Do vậy hồng cầu trong máu tĩnh mạch hơi to hơn hồng cầu trong máu động mạch
* Huyết sắc tố (Hemoglobin- Hb)
Hemoglobin là thành phần chủ yếu của hồng cầu, chiếm 95% hàm lượng vật chất khô của hồng cầu Hb là loại protein phức tạp- cromoprotein,
dễ tan trong nước, có khối lượng phân tử khoảng 7000 đvC
Cấu tạo của Hb gồm một phân tử globin (chiếm96%) kết hợp với 4 phân
tử Hem (chiếm 4%) Phân tử globin gồm 4 chuỗi polypeptide, trong đó có 2 chuỗi mỗi chuỗi gồm 141 acid amin và 2 chuỗi mỗi chuỗi gồm 146 acid amin
Trang 21Bốn chuỗi này sắp xếp đối xứng nhau, 4 phân tử Hem gắn trên l−ng 4 chuỗi polypeptide Globin có tính chất đặc tr−ng loài, nên phân tử Hb mang tính chất đặc tr−ng cho tính di truyền của giống
Phổi Mô bào Phổi
HHb KHb
Trang 22Chính quá trình đệm này đ3 giữ cho độ pH của máu luôn duy trì ổn
định, chủ yếu là nhờ tác dụng của NaHCO3, do lượng NaHCO3 trong máu nhiều gấp 20 lần so với lượng khí CO2 tạo ra vì thế quá trình đệm với acid mạnh hơn với kiềm Quá trình đệm đ3 giúp cho quá trình trao đổi chất trong máu vào cơ thể không bị rối loạn
Hàm lượng Hb trong máu các loại gia súc thay đổi tuỳ theo giống, tuổi, tính biệt, trạng thái dinh dưỡng
Số lượng hồng cầu trong cơ thể thay đổi phản ánh chất lượng giống, sức sản xuất và sức sống của con vật, do đó việc xác định số lượng hồng cầu của gia súc có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá tình trạng sức khoẻ, chế độ dinh dưỡng và sức chống chịu với điều kiện ngoại cảnh để từ đó đánh giá khả năng thích nghi của chúng với điều kiện khí hậu
Thời gian sống của hồng cầu: Loài nhai lại: 1 - 2 tháng
- Bạch cầu không hạt thì trong bào tương không có các hạt mà có thể thấy được dưới kính hiển vi quang học do kích thước các hạt của chúng nhỏ và bắt màu phẩm nhuộm kém Có hai loại bạch cầu không hạt là bạch cầu lympho (lymphocyte) và bạch cầu đơn nhân (monocyte) Nhân của các bạch cầu không hạt này có hình tròn, hạt đỗ, móng ngựa
Trang 23+ Sự sinh sản và đời sống của bạch cầu
- Bạch cầu có hạt và bạch cầu đơn nhân mono (monocyte)
Toàn bộ quá trình sinh sản và biệt hóa tạo nên các loại bạch cầu hạt và bạch cầu mono diễn ra trong tủy xương Chúng được dự trữ sẵn ở tủy xương, khi nào cơ thể cần đến chúng sẽ được đưa vào máu lưu thông
Bạch cầu hạt sau khi rời khỏi tủy xương thì lưu thông trong máu khoảng
4 - 8 giờ rồi xuyên mạch vào tổ chức, tồn tại thêm khoảng 4 - 5 ngày Khi bạch cầu thực hiện chức năng bảo vệ cơ thể của mình, như khi bị nhiễm trùng, thì nó sẽ chết sớm hơn
Bạch cầu mono cũng có thời gian lưu thông trong máu ngắn, khoảng 10 -20 giờ sau đó sẽ xuyên mạch vào tổ chức Tại tổ chức chúng sẽ tăng kích thước và trở thành đại thực bào tổ chức, ở dạng này chúng có thể sống hàng tháng thậm chí hàng năm
- Bạch cầu lympho (lymphocyte)
Quá trình biệt hóa các tế bào gốc lympho xuất phát từ tế bào gốc tạo máu đa năng trong tủy xương tạo ra tiền tế bào lympho T và tiền tế bào lympho B Các tiền tế bào lympho T đến tuyến ức để được huấn luyện tạo nên các lympho T trưởng thành Các tiền tế bào lympho B tiếp tục được huấn luyện ở tủy xương (các tháng giữa các kỳ thai nó được huấn luyện tại gan) để tạo nên các lympho B trưởng thành Sau khi huấn luyện, các lympho T và lympho B theo dạng tuần hoàn đến các tổ chức bạch huyết khắp cơ thể
Từ các tổ chức bạch huyết, bạch cầu 1ympho vào hệ tuần hoàn liên tục theo dòng bạch huyết Sau vài giờ, chúng xuyên mạch vào tổ chức rồi vào dòng bạch huyết để trở về tổ chức bạch huyết hoặc vào máu lần nữa Các bạch cầu lympho có thời gian sống hàng tuần, hàng tháng thậm chí hàng năm tùy thuộc vào nhu cầu của cơ thể
+ Chức năng của bạch cầu
Chức năng chung của bạch cầu là chống lại các tác nhân lạ xâm nhập vào cơ thể Nhìn chung, chúng có những đặc tính sau:
Trang 24- Xuyên mạch: tự biến đổi hình dạng để chui qua các tế bào nội mô mạch máu vào tổ chức xung quanh
- Vận động: kiểu amíp (bằng chân giả) để đến các tổ chức cần nó
- Hoá ứng động: bạch cầu bị hấp dẫn đến tổ chức bị tổn thương khi có các hóa chất được giải phóng ra bởi tế bào tổn thương hoặc vi khuẩn và khi có các phức hợp miễn dịch
- Thực bào: bắt các vật lạ đưa vào trong bào tương rồi tiêu hóa
Tuy nhiên, không phải loại bạch cầu nào cũng có đầy đủ các đặc tính trên Bạch cầu hạt trung tính và đại thực bào thể hiện đầy đủ và mạnh mẽ các
Chức năng: tiểu cầu giải phóng tromboplastin để gây đông máu Tiểu cầu có đặc tính dễ vỡ khi gặp vật thô ráp, khi tiểu cầu vỡ giải phóng serotonin gây co mạch để cầm máu Nhờ đó mà các vết thương nhanh chóng được cầm máu
Trang 252.4 Hội chứng tiêu chảy ở gia súc
2.4.1 Khái niệm
Hội chứng tiêu chảy là một hiện tượng bệnh lý phức tạp do nhiều nguyên nhân gây ra, hậu quả của nó bao giờ cũng gây ra viêm nhiễm, tổn thương thực thể đường tiêu hoá và cuối cùng là một "Quá trình nhiễm trùng" Hậu quả của rối loạn tiêu hoá là viêm ruột ỉa chảy
Iả chảy, theo định nghi3 của Vũ Triệu An, 1978 [1]; Blackwell T.E.,1989 [47], là đi ỉa nhanh, nhiều lần trong ngày và trong phân có nhiều nước do rối loạn phân tiết hấp thu và nhu động của đường ruột
Iả chảy là biểu hiện lâm sàng của quá trình bệnh lý ở đường tiêu hoá Tuỳ theo đặc điểm, tính chất, diễn biến; tuỳ theo độ tuổi gia súc; tuỳ theo yếu
tố được coi là nguyên nhân chính mà hội chứng ỉa chảy được gọi bằng các tên khác nhau Ví dụ: bệnh xảy ra đối với lợn con đang theo mẹ được gọi là bệnh lợn con ỉa phân trắng, bệnh bê nghé ỉa phân trắng, bệnh ỉa chảy ở gia súc sau cai sữa, chứng khó tiêu, chứng rối loạn tiêu hoá
2.4.2 Nguyên nhân của hội chứng tiêu chảy của gia súc
Nguyên nhân của ỉa chảy rất phức tạp Trong lịch sử nghiên cứu hội chứng tiêu chảy, rất nhiều tác giả đ3 dày công tìm hiểu nguyên nhân gây ra Tuy nhiên, tiêu chảy là một hiện tượng bệnh lý, có liên quan đến rất nhiều các yếu tố, có yếu tố là nguyên nhân nguyên phát, có yếu tố là nguyên nhân thứ phát Vì vậy việc phân loại, xác định rạch ròi nguyên nhân gây tiêu chảy là rất khó, thường được các nhà khoa học quan tâm khi nghiên cứu các biện pháp phòng trị Ngày nay, người ta thống nhất rằng, phân loại chỉ có ý nghĩa tương
đối, chỉ nêu lên yếu tố nào là chính, xuất hiện đầu tiên; yếu tố nào là phụ hoặc xuất hiện sau, từ đó vạch ra phác đồ phòng, trị bệnh cho có hiệu quả mà thôi
Nhìn chung, hội chứng ỉa chảy ở gia súc thường xảy ra do các nguyên nhân chủ yếu sau:
- Nguyên nhân do điều kiện ngoại cảnh
Nói tới ngoại cảnh, một trong những yếu tố thường xuyên tác động đến
Trang 26cơ thể động vật chính là các điều kiện về thời tiết , khí hậu Thời tiết, khí hậu thay đổi đột ngột, quá nóng, quá lạnh, mưa gió, ẩm ướt, kết hợp với chuồng trại không hợp vệ sinh, điều kiện nuôi nhốt, vận chuyển gia súc quá chật chội,
là những yếu tố stress ảnh hưởng trực tiếp tới cơ thể gia súc Khi đó, sức đề kháng của cơ thể giảm sút, khả năng mắc bệnh cao Sử An Ninh, 1993 [24],
Hồ Văn Nam và cộng sự (cs), 1997 [19] cho biết khi gia súc bị lạnh, ẩm kéo dài sẽ làm giảm phản ứng miễn dịch, giảm tác dụng thực bào, do đó gia súc dễ
bị vi khuẩn cường độc gây bệnh
- Nguyên nhân do thức ăn
Theo Wiere G và cs, 1983 [70], các vi sinh vật gây bệnh xâm nhập vào cơ thể gia súc bằng nhiều đường khác nhau song trong hội chứng tiêu chảy thì mầm bệnh xâm nhập vào qua đường tiêu hoá là chủ yếu, có tính chất quyết
định Mầm bệnh nhiễm vào thức ăn, nước uống và trực tiếp vào cơ thể gia súc, khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ nhân lên về số lượng và tăng lên về độc lực để gây bệnh
Aliev A.A, 1963 [44], Russel A và cs, 1991 [67], Hồ Văn Nam và cs,
1997 [19] cho rằng khẩu phần ăn cho vật nuôi không thích hợp, thức ăn kém phẩm chất như bị mốc, thối, nhiễm tạp chất và các vi sinh vật có hại dễ dẫn tới rối loạn tiêu hoá kèm theo viêm ruột ỉa chảy ở gia súc
Thức ăn thiếu các chất khoáng, vitamin cần thiết, đồng thời phương thức cho ăn không phù hợp sẽ làm giảm sứcđề kháng của con vật và tạo cơ hội cho vi khuẩn gây tiêu chảy
- Nguyên nhân do nước uống
Nhu cầu nước uống, nước dùng trong hoạt động chăn nuôi bao gồm nước vệ sinh chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi, máng ăn, máng uống hàng ngày của gia súc là không thể thiếu Tuy nhiên, khi nước bị ô nhiễm trong đó có các
vi sinh vật gây bệnh là nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp gây tiêu chảy cho gia súc
Trang 27Trong thực tế, nước ở nhiều vùng bị ô nhiễm vi sinh vật đường ruột rất nặng, đáng chú ý là nước ở những vùng chăn nuôi tập trung, khu vực giết mổ gia súc, gia cầm, khu vực chế biến súc sản phẩm Đối với những địa phương này nhất thiết trước khi sử dụng, nước cần được xử lý, tiêu độc (Nguyễn Đăng
Đức, 1985 [7]; Gillies J.A, 1989 [55]; Martin Sara N, 1991 [62])
- Nguyên nhân do ký sinh trùng
Phạm Văn Khuê, Phan Lục, 1996 [15] cho rằng, ký sinh trùng đường tiêu hoá là một trong những nguyên nhân gây tiêu chảy ở bê nghé cũng như các loài gia súc khác Tác hại của chúng không chỉ là cướp chất dinh dưỡng của vật chủ mà còn tác động lên vật chủ bằng các nội ngoại độc tố để đầu độc vật chủ, làm giảm sức đề kháng, tạo điều kiện cho các bệnh khác phát sinh Ngoài ra, ký sinh trùng còn làm tổn thương niêm mạc đường tiêu hoá gây viêm ruột ỉa chảy
- Nguyên nhân do vi khuẩn
Hầu hết các tác giả nghiên cứu về hội chứng tiêu chảy của gia súc trong
đó có bê nghé đều kết luận trong bất cứ trường hợp nào cũng có vai trò tác
động của vi khuẩn
Hồ Văn Nam, Trương Quang và cs, 1997 [20] cho biết: "Có những tác nhân đầu tiên gây viêm ruột, gây rối loạn hấp thu và nhu động ruột, hậu quả không tránh khỏi là viêm ruột, các vi khuẩn đường ruột tiếp tục tác động làm cho bệnh nặng thêm" Theo Trịnh Văn Thịnh, 1964 [37]; Vũ Văn Ngữ, 1979 [22]:
Do một tác nhân nào đó, trạng thái cân bằng của khu hệ vi sinh vật đường ruột bị phá vỡ, tất cả hoặc chỉ một loại nào đó sinh sản lên quá nhiều sẽ gây ra hiện tượng loạn khuẩn Sự thay đổi hoặc biến động này có thể xảy ra ở cả nhóm vi khuẩn thuộc họ vi khuẩn đường ruột, cũng như nhóm vi khuẩn v3ng lai, có thể biến động cả về số lượng và chất lượng (bội nhiễm và cường độc) Thường là các
vi khuẩn thừa cơ tăng sinh và cường độc, các vi khuẩn có lợi cho quá trình tiêu hoá không cạnh tranh được bị giảm đi Loạn khuẩn đường ruột là một nguyên nhân chủ yếu gây bệnh ở đường tiêu hoá, đặc biệt là gây ỉa chảy
Trang 28Ngày càng có nhiều tư liệu chứng tỏ rằng trong điều kiện rối loạn tiêu hoá - môi trường thay đổi, những vi khuẩn thường gặp trong đường tiêu hoá sinh sôi, phát triển, tăng cường độc lực, sản sinh độc tố tác động vào niêm mạc ruột gây tình trạng bệnh lý trầm trọng
Trước hết là Escherichia coli - một vi khuẩn xuất hiện rất sớm ở đường ruột người và động vật sơ sinh khoảng 2 giờ sau khi đẻ E coli thường ở ruột già, ít khi ở dạ dày và ruột non Trong đường ruột động vật, E coli chiếm khoảng 80% quần thể các vi khuẩn hiếu khí đồng thời là một tác nhân gây bệnh không thể phủ nhận (Nguyễn Vĩnh Phước, 1974 [26]; Cravel J.A và Barnum D.A., 1974 [50])
Theo Lê Minh Chí, 1995 [2], E.coli đóng vai trò quan trọng trong bệnh viêm ruột ỉa chảy của bò
Năm 1976, Nguyễn Vĩnh Phước [27] đ3 trình bày về bệnh do E.coli colibaccillosis như một bệnh truyền nhiễm cấp tính mà triệu chứng chủ yếu là
ỉa chảy, làm nổi bật vai trò của E coli trong viêm ruột ở gia súc
Ngoài ra, trong hệ vi khuẩn hiếu khí ở đường ruột Salmonella chiếm tỷ
lệ khá cao và vai trò của nó đ3 được nhiều tác giả nói đến
Carter J.D và cs, 1986 [48]; Phan Thị Thanh Phượng, 1988 [29] thông báo kết quả đ3 phân lập là Salmonella thường xuyên có trong đường ruột lợn
và đều cho rằng: Trong những điều kiện chăn nuôi, quản lý kém, sức đề kháng của cơ thể yếu, chính vi khuẩn Salmonella trở lên độc và phát triển mạnh mẽ gây viêm ruột ỉa chảy
Nguyễn Quang Tuyên, 1995 [40] xét nghiệm Salmonella ở trâu bò ỉa chảy thuộc Bắc Thái, Ba Vì, Hà Nội kết quả là tỷ lệ nhiễm Salmonella cao hơn
3 lần so với gia súc khoẻ
Ngoài hai vi khuẩn E coli và Salmonella thường xuyên có trong đường ruột và được coi là những tác nhân gây bệnh quan trọng trong chứng viêm ruột
ỉa chảy, còn có nhiều tài liệu nói về vai trò của virut và vi khuẩn yếm khí (Clostridium perfringens)
Trang 29- Nguyên nhân do virut
Nhiều tác giả chứng minh virut cũng là một trong những nguyên nhân gây tiêu chảy trầm trọng ở bê nghé, đặc biệt là vai trò của Rotavirut, Enterovirut, Adenovirut Sự xuất hiện của virut đ3 làm tổn thương niêm mạc ruột, làm suy giảm sức đề kháng của cơ thể, gây tiêu chảy ở dạng cấp tính, gia súc chết với tỷ lệ rất cao
2.4.3 Cơ chế hình thành và hậu quả của viêm ruột ỉa chảy
2.4.3.1 Cơ chế hình thành
Lê Minh Chí, 1995 [2], khi tác động vào cơ thể, từng nguyên nhân gây bệnh có quá trinh sinh bệnh cụ thể Tuy nhiên, khi hiện tượng tiêu chảy xảy
ra, cơ thể chịu một quá trình sinh bệnh có những nét đặc trưng chung Nắm
được quá trình này rất có lợi cho công tác chẩn đoán và điều trị
Hội chứng tiêu chảy diễn ra theo 2 giai đoạn: Đầu tiên là rối loạn tiêu hoá sau đó là giai đoạn nhiễm trùng
- Giai đoạn đầu khi các yếu tố ngoại cảnh bất lợi (lạnh đột ngột, thức ăn kém phẩm chất) tác động làm chức năng tiêu hoá bị rối loạn, thức ăn không
được tiêu hoá sẽ lên men tạo ra các chất độc như Indol, Scatol Những chất
độc này tác động lên niêm mạc ruột gây xung huyết, tăng tính mẫn cảm, tăng nhu động ruột gây tiêu chảy
- Giai đoạn tiếp theo, trong điều kiện rối loạn tiêu hoá, những vi khuẩn
đường ruột sẽ sinh sôi nảy nở, tăng cường độc lực, sản sinh độc tố tác động vào niêm mạc ruột làm cho quá trình viêm ruột trở lên trầm trọng và tình trạng tiêu chảy nặng nề thêm Đầu tiên, vi khuẩn bám dính vào lông nhung của ruột non, tạo ra biến đổi sinh lý cục bộ tại vị trí bám dính Sau đó, chúng xâm nhập vào thành ruột một cách chắc chắn và tiết độc tố gây bệnh cho gia súc (Vũ Triệu An, 1978 [1]; Blackwell, 1989 [47]
2.4.3.2 Hậu quả của tiêu chảy
Khi tác động vào cơ thể, từng nguyên nhân gây bệnh có quá trình sinh bệnh và gây ra hậu quả cụ thể Tuy nhiên, khi hiện tượng ỉa chảy xảy ra cơ thể
Trang 30chịu một quá trình sinh bệnh và hậu quả có những nét đặc trưng chung, đó là
sự mất nước, mất các chất điện giải, rối loạn cân bằng axit - bazơ (Becht J.L,
1986 [46]; Lê Minh Chí, 1995 [2]) Tuỳ theo viêm ruột cấp hay m3n mà hậu quả có khác nhau
Hậu quả trực tiếp và nặng nề nhất của tiêu chảy là sự mất nước và mất chất điện giải và gây rối loạn cân bằng axit - bazơ của cơ thể, kéo theo hàng loạt các biến đổi bệnh lý Theo Fisher, 1975 [53], lượng nước mất nhiều hay ít tuỳ thuộc vào nguyên nhân và mức độ trầm trọng của bệnh Tất cả các loại dịch này đều bị giảm khi con vật bị tiêu chảy Vì vậy, tuần hoàn bị trở ngại và trao đổi ở mô giảm (Lê Minh Chí, 1995 [2])
- Sự mất nước
Nước là thành phần cơ bản của cơ thể Nó cần cho các phản ứng sinh hoá, quá trình trao đổi chất, hoạt động của các chất điện giải trong cơ thể (Vũ Triệu An, 1978 [1])
Nước cung cấp cho cơ thể qua thức ăn, nước uống và được thải ra theo phân, nước tiểu, hơi thở, mồ hôi Quá trình hấp thu và mất nước trong cơ thể khoẻ mạnh thường ổn định Khi bị viêm ruột, cơ thể không những không hấp thu được nước do thức ăn, nước uống đưa vào mà còn mất nước do tiết dịch Mặt khác, do ruột bị viêm, tính mẫn cảm tăng, nhu động ruột tăng lên nhiều lần Hơn nữa, do tổ chức bị tổn thương niêm mạc tăng tiết cùng với dịch dỉ viêm, dịch tiết có thể tăng đến 80 lần so với bình thường.Gia súc ỉa chảy kéo theo lượng nước và chất điện giải bài xuất ra ngoài, cơ thể mất nước và chất
điện giải với hàng loạt các sự biến đổi khác nhau (Vũ triệu An, 1978 [1]) Vì
lẽ đó, trong điều trị viêm ruột ỉa chảy, việc xác định mức độ mất nước và các biện pháp phòng chống mất nước luôn được chú ý hàng đầu
- Sự mất các chất điện giải
Khi gia súc bị tiêu chảy không những mất một lượng nước lớn làm rối loạn hoạt động của các quá trình trong cơ thể, mà một số chất điện giải quan trọng trong cơ thể như HCO3-, K+, Na+, Cl- cũng bị hao hụt, góp phần gây lên
Trang 31những quá trình bệnh lý làm tổn hại đến sức khoẻ của con vật
- Rối loạn cân bằng nước và điện giải
Trong cơ thể, thăng bằng nước và điện giải hằng định một cách lạ lùng, mặc dù có sự thay đổi lớn do nhập vào, thải ra nhiều yếu tố khác nhau
Sự cân bằng điện giải là do các ion Na+, K+, Cl- và axit cacbonic đảm nhiệm chính
Chu Văn Tường, 1991 [41] cho rằng trong viêm ruột ỉa chảy bao giờ cũng có sự thiếu hụt Na+, K+ và thường gây tình trạng nhiễm toan
- Rối loạn enzim
Theo Lê Minh Chí, 1995 [2] ở bê bình thường, gluxit và protit được tiêu hoá
ở ruột non Gluxit trong khẩu phần gia súc non chủ yếu là lactose Lactose chỉ
được hấp thu khi bị thuỷ phân thành glucose và galactose nhờ men β - galactosidase Khi bê bị tiêu chảy thì hoạt tính của men β - galactosidase bị giảm 2.4.4 Một số biện pháp phòng ngừa và trị hội chứng tiêu chảy ở gia súc 2.4.4.1 Một số biện pháp phòng nguyên nhân tiêu chảy ở gia súc
Phòng bệnh cho gia súc đóng vai trò quan trọng trong chăn nuôi nhằm hạn chế sự xâm nhập của mầm bệnh vào cơ thể vật chủ, đồng thời ngăn chặn những thiệt hại do bệnh gây ra Đó là những tổn thất về số lượng vật nuôi, chất lượng sản phẩm, chi phí điều trị
(1) Phòng bệnh bằng nuôi dưỡng, quản lý
Trong chăn nuôi, một trong những mắt xích có liên quan chặt chẽ tới sự phát sinh bệnh là yếu tố môi trường Môi trường sạch hạn chế nguyên nhân bệnh tác động đến động vật Đặc biệt trong bệnh đường tiêu hoá, một trong các bệnh chiếm tỷ lệ cao ở gia súc non giai đoạn bú sữa ở gia súc non, bệnh
đường tiêu hoá là một quá trình bệnh lý phức tạp do sự tác động và kết hợp của nhiều yếu tố: chăm sóc, quản lý, chế độ dinh dưỡng, ngoại cảnh v.v
ở gia súc non, do hệ tiêu hoá chưa hoàn chỉnh, khả năng đề kháng của cơ thể còn yếu nên chế độ dinh dưỡng cần đảm bảo yêu cầu vệ sinh, phù hợp
Trang 32với sinh lý tiêu hoá của gia súc, hạn chế tình trạng loạn khuẩn đường ruột (Đào Trọng Đạt và cs, 1996 [6]; Trịnh Văn Thịnh và cs, 1978 [37])
Bên cạnh đó, cũng phải loại trừ các yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến cơ thể vật nuôi như sự thay đổi đột ngột của nhiệt độ, độ ẩm môi trường chăn nuôi Sự chệnh lệch quá cao của nhiệt độ và độ ẩm môi trường với cơ thể vật nuôi đều dễ tạo strees, dễ phát sinh bệnh, phổ biến nhất là bệnh về đường tiêu hoá (Phạm Khắc Hiếu và cs, 1993 [10]; Sử An Ninh, 1993 [24])
(2) Một số sinh phẩm dùng trong phòng bệnh tiêu chảy ở gia súc
Việc sử dụng chế phẩm sinh học nhằm thiết lập mối cân bằng và bình
ổn hệ vi sinh vật trong đường tiêu hoá của gia súc có vai trò quan trọng Trên cơ sở sự cân bằng đó tránh được sự loạn khuẩn đường ruột hoặc giúp cho sự hồi phục, làm giàu các vi sinh vật có lợi trong đường tiêu hoá
Ngoài ra, một số tác giả còn nghiên cứu sử dụng kháng thể trong lòng
đỏ trứng gà để phòng bệnh tiêu chảy (Bartz và cs, 1980; Hiraga và cs, 1990; Hideaki YokoYama và cs, 1991 - Phạm Ngọc Thạch,1998 [34]) và cho kết quả tốt Việc sử dụng các sinh phẩm kháng thể từ lòng đỏ trứng gà để phòng
và trị bệnh tiêu chảy được dựa trên cơ sở kháng thể có khả năng ngăn cản sự liên kết của vi khuẩn gây bệnh với màng nhày của biểu mô ruột non, hay trung hoà các độc tố, tạo lớp vỏ vật lý bảo vệ màng nhày của ruột khỏi sự tác
động của độc tố vi khuẩn gây bệnh (Farrelly C.O và cs, 1992 – trích theo
Trang 33Nguyễn Thiên Thu và cs, 2002 [38])
(3) Một số loại vacxin phòng tiêu chảy do vi khuẩn gây ra
Seversova M.K và cs, 1979 [68] nghiên cứu chế tạo vacxin vô hoạt toàn khuẩn bằng axeton Lantier F và cs, 1981 [61]nghiên cứu sản xuất vacxin từ vi khuẩn S.abortus ovis Michael và Mallen, 1981 [64]; Jaczovsky, 1982 [59] chế tạo vacxin vô hoạt cùng giải độc tố bằng nhiệt độ Jackson và Walker, 1983 [58] chế tạo vacxin vô hoạt bằng phenol
Dựa trên khoa học hiện đại, các nhà khoa học đ3 chiết tách đ−ợc các loại kháng nguyên vi khuẩn và chế tạo vacxin có tác dụng phòng hộ tốt cho vật nuôi ở Anh, để phòng tiêu chảy cho bê mới sinh ra, các nhà chuyên môn
đ3 tiến hành tiêm vacxin cho bò mẹ giai đoạn chửa cuối kỳ, kết quả khi bê sinh ra đ3 nhận đ−ợc miễn dịch thụ động qua sữa đầu và có khả năng phòng
đ−ợc tiêu chảy trong 6 tuần Sau đó tiến hành tiêm phòng vacxin trực tiếp cho
bê để phòng tiêu chảy do vi khuẩn gây ra (Blood D.C và cs, 1975; Nagy B và
có tác dụng giúp bê có khả năng miễn dịch
Hori và cs, 1989 sử dụng kháng thể đặc hiệu đơn dòng (MCA) của chủng E.coli có kháng nguyên K99 cho 27 bê sơ sinh Những bê này không cho bú sữa đầu của bò mẹ và đ−ợc gây nhiễm bằng cách cho uống canh khuẩn E.coli gây bệnh Sau 2 giờ, cho uống kháng thể đặc hiệu đơn dòng (MCA) Kết quả cho thấy khả năng chống chịu và phục hồi tốt
Trong phòng trị bệnh tiêu chảy cho gia súc, nhiều sinh phẩm, vacxin
Trang 34phòng bệnh do vi khuẩn yếm khí được đi sâu nghiên cứu Một trong những bệnh được quan tâm hơn cả là viêm ruột hoại tử do vi khuẩn Cl perfringens Taylor D.J và cs, 1986 [69]; Đào Trọng Đạt và cs, 1996 [6] đ3 sử dụng giải
độc tố được chế từ những chủng Cl.perfringens phân lập ở bệnh phẩm gia súc mắc bệnh viêm ruột hoại tử Sau khi tiêm phòng cho gia súc mẹ giai đoạn mang thai kỳ cuối đ3 có tác dụng phòng hộ tốt
2.4.4.2 Điều trị tiêu chảy ở gia súc
(1) Những nguyên tắc chung
Tiêu chảy ở gia súc được xem như một hội chứng, do vậy việc điều trị tiêu chảy là tổng hợp của nhiều biện pháp kết hợp Một nguyên lý chung là phải loại bỏ được yếu tố gây bệnh ra khỏi cơ thể, xử lý nguyên nhân gây bệnh kết hợp với điều trị quá trình sinh bệnh, giúp cho sự tiêu hoá trở lại bình thường
Đối với gia súc non trong giai đoạn vừa sinh ra, vấn đề quan trọng là phải giữ vệ sinh môi trường xung quanh, luôn tuân thủ nguyên tắc cơ bản như chuồng nuôi phải khô ráo, sạch sẽ; chống lạnh, bẩn cho gia súc non Đặc biệt phải cho gia súc bú sữa đầu trong vòng 24 giờ sau sinh Cùng với công việc trên, trong quá trình điều trị tiêu chảy bằng các thuốc, hoá dược cần kết hợp với sinh chế phẩm giúp cho gia súc mau hồi phục, tránh hậu quả xấu sau điều trị
(2) Một số loại thuốc dùng trong điều trị tiêu chảy ở gia súc
Một trong những nguyên nhân chủ yếu có thể coi như mắt xích cơ bản trong hội chứng tiêu chảy của gia súc là do một số vi khuẩn đường ruột gồm cả những vi khuẩn hiếu khí, vi khuẩn yếm khí tuỳ tiện và những vi khuẩn yếm khí bắt buộc Những vi khuẩn thường gặp như E.coli, Salmonella, Shigella sp, Klebsiella sp, Proteus, Streptococcus và vi khuẩn Cl.perfringens (Fairbrother J.M, 1992 [52])
Gia súc bị tiêu chảy do E.coli, khi điều trị ngoài việc dùng kháng sinh sớm từ đầu nên kết hợp với một số thuốc hay hoá dược có tác dụng ức chế sinh sản và ảnh hưởng của độc tố đường ruột Enterotoxin do vi khuẩn phóng
Trang 35thích ra Một số hoá dược thường dùng: Chlopromazin hoặc Berberin sulphate kết hợp sử dụng các dung dịch điện giải: các dung dịch đường glucose, dung dịch muối Natri, Kali Các dung dịch này có vai trò quan trọng trong việc cung cấp, bổ sung lượng nước cùng các chất điện giải bị mất khi tiêu chảy (Nagy B và cs, 1985 [65])
Để điều trị hiện tượng vi khuẩn bội nhiễm, hạn chế sự tăng sinh của các
vi khuẩn đường ruột, Nguyễn Vĩnh Phước, 1978 [28] đ3 sử dụng một số loại kháng sinh như: Cloroxit, Oreomycin, Tetracyclin và một số dẫn xuất của Sulfamid như Sulfaguanidin, Sulfathiazon cho kết quả điều trị tốt, tỷ lệ khỏi bệnh cao
Điều trị bệnh tiêu chảy cho bê, nghé do vi khuẩn Salmonella gây ra, nếu
ở các cơ sở chăn nuôi không có điều kiện làm kháng sinh đồ có thể điều trị qua việc dùng các loại kháng sinh theo thứ tự ưu tiên: Neomycin và Sulfamethyphanazol kết hợp với một số loại thuốc, hoá dược có tác dụng làm
se dịu niêm mạc ruột (Đoàn Thị Băng Tâm, 1978 [33])
Kết hợp nghiên cứu của Nguyễn Quang Tuyên, 1996 [40] cho thấy hầu hết các chủng Salmonella gây bệnh phân lập được từ bê, nghé tiêu chảy đều mẫn cảm mạnh với Neomycin Nguyễn Như Thanh và cs, 1997 [35] trong
điều trị gia súc bị tiêu chảy do E.coli cho thấy một số loại kháng sinh: Biomycin, Tetracyclin, Xitomycin và các hợp chất của Nitrofuran có thể dùng với liều lượng 50mg/kg thể trọng Kết quả điều trị bệnh tốt, lưu ý phải điều trị sớm ngay từ đầu cho hiệu quả cao hơn
(3) Điều trị tình trạng mất nước, chất điện giải trong tiêu chảy ở gia súc
Để bổ sung dung dịch các chất điện giải cho cơ thể, tuỳ thuộc vào mức
độ mất nước cũng như các chất điện giải Nếu mất nước ở độ I hoặc độ II, sự mất nước ở thể nhẹ và trung bình, có thể dùng dung dịch Oresol cho uống Hoặc dung dịch nước muối đẳng trương cho uống hay truyền tĩnh mạch Mất nước cấp tính là tính trạng mất nước ở mức độ III hoặc IV Đó là sự mất nước phức tạp và nguy hiểm cho tính mạng Ngoài các biện pháp trên cần phải
Trang 36truyền tĩnh mạch bằng dung dịch Ringer lactat (Gillies J.A, 1989 [55]; Phạm Khắc Hiếu và cs, 1997 [10]; Phạm Khuê, 1998 [16])
Trong hội chứng viêm ruột tiêu chảy, sự mất nước cùng các chất điện giải là nguyên nhân chính gây ra những rối loạn hoạt động chức năng của các cơ quan trong cơ thể, gây tỷ lệ tử vong cao Vì vậy, trong điều trị ngoài thực hiện tốt chế độ ăn uống, chống nhiễm khuẩn cho gia súc, việc điều trị hiện tượng mất nước cùng các chất điện giải đóng vai trò quan trọng vì có tới 80% gia súc bệnh chết do bệnh lý này (Vũ Triệu An, 1978 [1]; Mc Keown J.M,
- Dung dịch Natribicacbonat đẳng trương, dung dịch chứa chất điện giải
Na Được chỉ định dùng trong trường hợp giảm Natri huyết khi bị tiêu chảy
- Oresol là một trong những thuốc được dùng điều trị rộng r3i trong hội chứng tiêu chảy ở người cũng như ở động vật Dung dịch có tác dụng cung cấp các chất điện giải cho cơ thể bị mất nước Việc sử dụng dễ dàng bằng phương pháp pha thành dung dịch cho gia súc uống
- Dung dịch Ringerlactat: là dung dịch chứa muối natri và canxi Được dùng trong trường hợp mất nước ở thể cấp tính
Ngoài ra còn có một số dung dịch khác được dùng rộng r3i trong điều trị hội chứng tiêu chảy ở gia súc, có tác dụng cung cấp nước cùng chất điện giải cần thiết, giúp khôi phục lại hệ thống dịch thể, đặc biệt là hệ thống máu như dung dịch đường glucose 5,5%, đường Kali, đường Sina, Natrilactat 1,72% và dung dịch Darrow
Trong điều trị hội chứng tiêu chảy ở gia súc, có sử dụng một số loại thuốc bảo vệ niêm mạc ruột dựa trên nguyên lý cơ bản là bao phủ niêm mạc
Trang 37ruột, chống co thắt như tinh bột gạo, ngô, khoai, sắn và một số thực vật khác như hạt lanh, mùng tơi, rau đay , các chất vô cơ tổng hợp như Hydroxyt nhôm, magie trisilicat v.v khi vào đường tiêu hoá tạo ra các dịch keo như chất nhày bảo vệ niêm mạc ruột Để hạn chế sự ảnh hưởng của quá trình viêm lên tế bào liên kết và sự trương nở các thể Collagen trong các mạch quản, hạn chế hiện tượng thẩm xuất của huyết thanh, giảm hiện tượng sưng tấy ở nơi viêm, giảm tụ huyết các nhà chuyên môn đ3 sử dụng thuốc có tác dụng làm săn se niêm mạc ruột
2.5 Hội chứng tiêu chảy ở bê
Nguyên nhân của bệnh là do:
- Đặc điểm của gia súc non: do sự phát dục của bào thai kém, những
đặc điểm sinh lý của bộ máy tiêu hoá, hệ thống thần kinh chưa ổn định nên kém thích nghi với sự thay đổi của điều kiện ngoại cảnh Thời kỳ bú sữa bê có tốc độ phát triển nhanh về cơ thể vì thế đòi hỏi sữa mẹ phải cung cấp đầy đủ
về hàm lượng các chất dinh dưỡng Nếu sữa mẹ không đủ chất gia súc non sẽ còi cọc và dễ nhiễm bệnh
- Do gia súc mẹ: trong thời kỳ mang thai cơ thể mẹ không được nuôi dưỡng đầy đủ dẫn đến sự phát dục của bào thai kém
- Do chăm sóc, nuôi dưỡng: cho bê uống qua nhiều sữa, uống nước quá lạnh hay quá bẩn, bê sau khi đẻ không được bú sữa đầu
Bê thường bị bệnh vào vụ đông xuân lúc thời tiết khô và lạnh Qua thống kê cho thấy ở vụ đông xuân tỷ lệ bê bệnh là 28,57%, vụ hè thu không thấy bê bị bệnh
Trang 383 Địa điểm, đối tượng, nội dung và
phương pháp nghiên cứu
3.1 Địa điểm nghiên cứu
- Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì và vùng phụ cận
- Bộ môn Giải phẫu – Tổ chức phôi thai khoa Thú y - Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội
- Công ty TNHH công nghệ và xét nghiệm y học - MEDLATEC - 42-
44 Nghĩa Dũng - Ba Đình - Hà Nội
3.2 Đối tượng nghiên cứu
- Chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên đàn bê HF Giống bê này một phần thuộc Trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ Ba Vì, một phần là bò tư của các hộ gia đình
Hostein Friesian (HF) - bò cao sản Hà Lan
- Bê nghiên cứu từ sơ sinh đến 12 tháng tuổi
3.3 Nội dung nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên các nội dung sau:
3.3.1 Điều tra theo dõi tình hình chăn nuôi và cơ cấu đàn bò sữa nuôi tại Trung tâm và vùng phụ cận
+ Cơ cấu đàn bò sữa của Trung tâm và vùng phụ cận từ năm 2005 đến tháng 6 năm 2008
+ Dịch bệnh của đàn bò sữa của Trung tâm và vùng phụ cận từ năm
Trang 39+ Tỉ khối huyết cầu (%)
+ Nồng độ huyết sắc tố trung bình của hồng cầu (g%)
+ Lượng huyết sắc tố trung bình của hồng cầu (ηg)
+ Chỉ số tròn của hồng cầu (Is)
+ Thể tích trung bình của hồng cầu (àm3)
+ Bề dày của hồng cầu (àm)
+ Diện tích trung bình của hồng cầu (àm2)
+ Tỉ lệ Albumin trong huyết thanh (%)
+ Tỉ lệ Globulin trong huyết thanh (%)
+ Hoạt độ của các men GOT và GPT trong huyết thanh
+ Độ dự trữ kiềm (mg%) và hàm lượng đường huyết trong máu (mg%) 3.3.5 Một số biện pháp phòng và trị bệnh
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Xác định bê bệnh
Trang 40+ Dựa vào triệu chứng lâm sàng
- Con vật ăn uống thất thường, mệt mỏi, ủ rũ, sốt cao, v3 mồ hôi, mạch nhanh, run rẩy, khát nước
- Con vật ỉa chảy m3nh liệt, phân lỏng như nước, màu đen thối khắm có khi lẫn cả máu tươi, những mảnh thức ăn chưa tiêu hoá, phân dính vào hậu môn, kheo, đuôi và chân Con vật đi ỉa nhiều lần trong ngày
- Gia súc ỉa chảy lâu ngày thì bụng hóp, mắt trũng, lông xù, da khô mất tính đàn hồi
+ Xác định một số loại vi khuẩn gây bệnh chủ yếu
Mẫu phân được lấy trực tiếp từ hậu môn bê hoặc ngay khi bê thải ra, bảo quản trong môi trường 4 - 80C, sau đó, vận chuyển ngay về phòng thí nghiệm trong điều kiện lạnh
Các Phương pháp nuôi cấy và giám định được thực hiện theo quy trình nghiên cứu thường quy của Carter G.R, 1995 [48]; FAO, 1994 [8]
+ Tỷ khối huyết cầu (%)
Các chỉ tiêu này được xác định bằng máy Screen 18
+ Nồng độ huyết sắc tố trung bình của hồng cầu (g%)
Làm theo phương pháp Wintrobe (1929) và Bạch Quốc Tuyên (1978)