luận văn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
- -
LÊ HÀ GIANG
KHẢO SÁT MỘT SỐ CHỈ TIÊU LÂM SÀNG, HUYẾT HỌC VÀ KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA ðÀN NÁI SINH SẢN SAU KHI MẮC HỘI
CHỨNG RỐI LOẠN HÔ HẤP VÀ SINH SẢN
(Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome)
TẠI MỘT SỐ TRANG TRẠI VÙNG PHỤ CẬN HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành : THÚ Y
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHẠM NGỌC THẠCH
HÀ NỘI - 2010
Trang 2LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực, chưa từng ñược công bố cũng như bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam ñoan rằng, mọi sự giúp ñỡ cho việc hoàn thành luận văn này ñã ñược cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn ñã ñược chỉ rõ nguồn gốc
Hà N ội, tháng 12 năm 2009
Tác giả luận văn
Lê Hà Giang
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Nhân dịp hồn thành luận văn này, cho phép tơi được bày tỏ lịng biết
ơn sâu sắc nhất đến PGS.TS Phạm Ngọc Thạch, người hướng dẫn khoa học
đã giúp đỡ nhiệt tình và cĩ trách nhiệm đối với tơi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hồn thành luận văn tốt nghiệp
Tơi xin chân thành cảm ơn các thầy cơ trong Bộ mơn Nội – Chẩn – Dược ðộc chất, khoa Thú y, Viện đào tạo Sau đại học, Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội, các kỹ thuật viên phịng xét nghiệm huyết học bệnh viện Bạch Mai Hà Nội, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ Tơi hồn thành luận văn này
Tơi xin chân thành cảm ơn Trung tâm chẩn đốn Thú y Trung ương, Chi cục Thú y các tỉnh Hải Dương, Hưng Yên, Hà Tây(cũ), Bắc Ninh, các chủ trang trại chăn nuơi lợn, phịng kỹ thuật Cơng ty C.P Việt nam và các tập thể
cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tơi trong quá trình thực hiện đề tài
Nhân dịp hồn thành luận văn, tơi cũng xin được bày tỏ lịng biết ơn sâu sắc tới gia đình và bạn bè đã giúp đỡ, động viên tơi trong suốt thời gian qua
Hà N ội, ngày 16 tháng 12 năm 2009
Tác giả luận văn
Lê Hà Giang
Trang 42.1 Một số hiểu biết cơ bản về Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản
2.4 Các chỉ tiêu năng suất sinh sản và khả năng sinh sản ở lợn nái 24 2.5 Các yếu tố ảnh hưởng ñến năng suất sinh sản của lợn nái 26
4.1 Sự biến ñộng số lượng ñàn nái sinh sản trước, trong và sau ñợt
dịch bệnh Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản trên 4 trại bố trí
Trang 54.2 Kết quả theo dõi các biểu hiện lâm sàng trên ñàn lợn nái sinh sản
mắc Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ñược giữ lại nuôi 40 4.3 Thân nhiệt, tần số hô hấp và tần số tim mạch của nhóm lợn nái
sinh sản mắc Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ñược giữ lại
4.3.1 Thân nhiệt, tần số hô hấp và tần sô tim mạch ở nhóm lợn nái
mang thai mắc Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ñược giữ
4.3.2 Thân nhiệt, tần số hô hấp và tần sô tim mạch ở nhóm lợn nái nuôi
con mắc Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản năm ñược giữ lại
4.4 Một số chỉ tiêu sinh lý máu ở lợn nái sinh sản mắc Hội chứng rối
4.4.1 Số lượng hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu ở nhóm lợn nái sinh sản
mắc Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ñược giữ lại nuôi 46
4.4.2 Một số chỉ tiêu ñánh giá chất lượng hồng cầu ở lợn nái nuôi con
mắc Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ñược giữ lại nuôi 50
4.4.3 Công thức bạch cầu của nhóm lợn nái sinh sản mắc Hội chứng rối
4.5 Một số chỉ tiêu sinh hóa máu ở lợn nái nuôi con mắc Hội chứng
rối loạn hô hấp và sinh sản ñược giữ lại nuôi tại các trang trại
4.6 Khả năng sinh sản của ñàn nái sinh sản sau khi mắc Hội chứng
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
PRRS : Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome
PRRSV : Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome Vi rút RT-PCR : Real tinme - polycine chain reaction
IPMA : Inmmunoperoxidase monolayer assay
OIE : Office International des Epizoooties
H.E : Hematoxylin eosin
sGOT : Serum glutamic oxaloacetic transaminase
AST : Aspartate transaminase
sGPT : Serum glutamic pyruvic transaminase
ALAT : Alanine aminotransferase
Trang 7TCS :Tuổi cai sữa
Trang 8DANH MỤC BẢNG
4.1 Biến ñộng số lượng ñàn nái sinh sản trước, trong và sau ñượt dịch
4.2 Các biểu hiện lâm sàng trên ñàn nái sinh sản ñã mắc hội chứng rối
4.3 Thân nhiệt, tần số hô hấp và tần số tim mạch ở lợn nái mang thai khỏe (ñiều tra trước dịch) và sau ñợt dịch Hội chứng rối loạn hô
4.4 Kết quả theo dõi thân nhiệt, tần số hô hấp và tần số tim mạch của lợn nái nuôi con khỏe trước dịch, trong dịch và sau ñợt dịch Hội
4.5 Kết qủa nghiên cứu số lượng hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu của nhóm lợn nái sinh sản giữ lại nuôi sau ñợt dịch Hội chứng rối loạn
4.6 Một số chỉ tiêu ñánh giá chất lượng hồng cầu của lợn nái sinh sản mắc Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ñược giữ lại nuôi 52 4.7 Kết quả nghiên cứu về công thức bạch cầu ở lợn nái nuôi con mắc Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ñược giữ lại nuôi 56 4.8 Một số chỉ tiêu sinh hóa máu lợn nái nuôi con mắc Hội chứng rối
4.9 Kết quả nghiên cứu sức sinh sản bình quân của ñàn nái sinh sản mắc Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ñược giữ lại nuôi 66
Trang 91 MỞ ðẦU
1.1 Tính cấp thiết của ñề tài
Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn (Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome – PRRS) hay còn gọi là bệnh “Tai xanh”, là bệnh truyền nhiễm cấp tính nguy hiểm ở lợn Bệnh có tốc ñộ lan nhanh trên ñàn lợn mọi lứa tuổi với tỷ lệ ốm và tỷ lệ loại thải cao ñã gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi nhiều quốc gia trên thế giới
Về lịch sử, bệnh ñược phát hiện lần ñầu tiên trên thế giới tại Mỹ vào năm 1987, sau ñó nhanh chóng xuất hiện ở các nước có nền chăn nuôi lợn phát triển như Canada năm 1987, Nhật Bản năm 1989 và ðức năm 1990 Cho ñến nay, bệnh ñã xảy ra thành các ổ dịch lớn ở nhiều nước thuộc châu Mỹ, châu Âu và châu Á, gây thiệt hại lớn về kinh tế cho các quốc gia này
Ở Việt Nam, lần ñầu tiên phát hiện ñược huyết thanh dương tính với Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản trên ñàn lợn nhật khẩu từ Mỹ năm 1997 (Tô Long Thành, 2007)[24] Sau nhiều năm không có dịch, ñến ñầu tháng 3 năm 2007, lần ñầu tiên dịch bệnh ñã bùng phát dữ dội tại tỉnh Hải Dương, sau
ñó lan nhanh sang các tỉnh lân cận như Hải Phòng, Thái Bình, Hưng Yên, Bắc Ninh, Bắc Giang và Quảng Ninh Cho ñến nay dịch bệnh ñã bùng phát rộng khắp trên cả ba miền của cả nước, gây thiệt hại nặng nề về kinh tế cũng như các vấn ñề an sinh xã hội cho các ñịa phương này Theo Cục Thú y (2008) [9], kể từ ngày 12/3/2007 ñến ngày 22/8/2008, trên cả nước ñã có 1.273 xã có dịch với số lợn ốm lên tới 379.263 con, trong ñó số lợn bị chết và tiêu huỷ là 320.139 con, tổng thiệt hại lên tới hàng trăm tỷ ñồng
Nhằm khống chế và kiểm soát sự bùng nổ của dịch bệnh, ngày 15/7/2008, Bộ trường Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ñã ra quyết ñịnh số 80/2008/Qð-BNN về việc phòng chống Hội chứng rối loạn hô hấp và
Trang 10sinh sản Theo quyết định này, những lợn trong ổ dịch sẽ bị tiêu huỷ hồn tồn, đồng thời thực hiện nghiêm ngặt các biện pháp vệ sinh tiêu độc, kiểm sốt vận chuyển và giết mổ, Tuy nhiên, cũng như tình trạng chung của nhiều quốc gia khác trên thế giới, cho đến nay các biện pháp đã được áp dụng vẫn chưa đem lại hiệu quả như mong đợi (Bùi Quang Anh và cs, 2008) [4] Dịch bệnh vẫn cịn xảy ra và diễn biến phức tạp gây thiệt hại khơng nhỏ cho ngành chăn nuơi lợn của các quốc gia này
Trước thực trạng đĩ, nhằm hiểu rõ hơn về các chỉ tiêu lâm sàng, huyết học và khả năng sinh sản của những đàn lợn nái sinh sản nuơi trong các trang trại vùng phụ cận Hà Nội mắc Hội chứng rối loạn hơ hấp và sinh sản được giữ lại nuơi, để cĩ thêm cơ sở khoa học cho việc xây dựng các biện pháp xử lý, giảm bớt thiệt hại do dịch bệnh PRRS gây ra trên đàn lợn nái ở Việt Nam,
chúng tơi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Khảo sát một số chỉ tiêu lâm sàng, huyết học và khả năng sinh sản của đàn nái sinh sản sau khi mắc Hội chứng rối loạn hơ hấp và sinh sản (Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome) tại một số trang trại vùng phụ cận Hà Nội”
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài
- Khảo sát một số chỉ tiêu lâm sàng trên các nhĩm lợn nái sinh sản sau khi mắc Hội chứng rối loạn hơ hấp và sinh sản được giữ lại nuơi Từ đĩ cung cấp thêm cơ sở khoa học cho việc chẩn đốn bệnh
- Xác định các chỉ tiêu sinh hố máu ở lợn nái sinh sản sau khi mắc Hội chứng rối loạn hơ hấp và sinh sản được giữ lại nuơi Cung cấp thêm cơ sở khoa học cho việc xây dựng các biện pháp khống chế bệnh hiệu quả, phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam
- Khảo sát khả năng sinh sản của đàn nái sinh sản sau khi mắc Hội chứng rối loạn hơ hấp và sinh sản được giữ lại nuơi
Trang 112 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Trước những diễn biến phức tạp và thiệt hại lớn mà Hội chứng rối loạn
hơ hấp và sinh sản đã gây ra trên đàn lợn của nhiều quốc gia trên thế giới, cho đến nay nhiều vấn đề liên quan đến dịch bệnh này đã được nghiên cứu và dần sáng tỏ ðặc biệt là các vấn đề về nguyên nhân, cơ chế gây bệnh, triệu chứng, bệnh tích và các phương pháp chẩn đốn, phịng ngừa dịch bệnh
2.1 Một số hiểu biết cơ bản về Hội chứng rối loạn hơ hấp và sinh sản ở lợn
Cho đến nay, trải qua 22 năm kể từ lần đầu tiên phát hiện ra Hội chứng rối loạn hơ hấp và sinh sản trên đàn lợn tại Mỹ, dịch bệnh này đã lan tràn và lưu hành ở nhiều quốc gia và để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng về kinh tế cho ngành chăn nuơi lợn thế giới
Hội chứng rối loạn hơ hấp và sinh sản ở lợn (Porcine reproductive and respiratory syndrome - PRRS) được ghi nhận lần đầu tiên trên thế giới vào năm 1987 ở Mỹ tại vùng bắc của bang California, bang Iowa và Minnesota Năm 1988 bệnh lan sang Canada Sau đĩ bệnh xuất hiện ở ðức năm 1990, Hà Lan, Tây Ban Nha, Bỉ và Anh năm 1991 và ở Pháp năm 1992
Bệnh bùng phát và gây rối loạn hơ hấp, sinh sản ở lợn ở mọi lứa tuổi với các triệu chứng chủ yếu là bỏ ăn hàng loạt, hắt hơi, sổ mũi, tăng tần số hơ hấp, thở khĩ, há mồm ra để thở Lợn con thường cĩ tỷ lệ chết cao, lợn lớn tỷ
lệ chết thấp hơn nhưng thường bị bội nhiễm thêm các loại vi khuẩn gây bệnh khác, đặc biệt là vi khuẩn gây bệnh ở hệ hơ hấp (Phạm Gia Ninh biên dịch, 2000) [16]
Kể từ khi xuất hiện cho đến nay, bệnh đã được gọi với nhiều tên khác nhau Thời gian đầu do chưa xác định được nguyên nhân nên người ta đặt tên gọi cho dịch bệnh này là Bệnh bí hiểm ở lợn (Mystery swine disease – MDS); một số tác giả khác căn cứ vào bệnh tích ở tai thì gọi là bệnh Tai xanh (Blue
Trang 12Ear disease – BED); hoặc căn cứ vào các hậu quả dịch bệnh gây ra thì gọi là Hội chứng hô hấp và sảy thai ở lợn (Porcine endemic abortion and respiratory syndrome – PEARS)
ðến năm 1992, tại Hội nghị Quốc tế về hội chứng này tổ chức tại Minesota (Mỹ), tổ chức Thú y thế giới (OIE) ñã thống nhất tên gọi là Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn (Porcine reproductive and respiratory syndrome - PRRS) Kể từ ñó cho ñến nay, tên này ñã trở thành tên gọi chính thức của bệnh
Về tình hình diễn biến dịch trên thế giới cho thấy, từ năm 2005 trở lại ñây, ñã có 25 nước và vùng lãnh thổ thuộc tất cả các châu lục trên thế giới ñều có dịch Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản lưu hành (trừ châu Úc và Newzeland) Do vậy, có thể khẳng ñịnh rằng Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản là một nguyên nhân gây tổn thất lớn về kinh tế cho ngành chăn nuôi lợn của nhiều quốc gia trên thế giới (Nguyễn Bá Hiên, Huỳnh Thị Mỹ Lệ 2007) [11]
Tại Việt Nam, Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ñược phát hiện trên ñàn lợn nhập từ Mỹ vào các tỉnh phía Nam năm 1997, kết quả kiểm tra huyết thanh học cho thấy 10/51 lợn giống nhập khẩu ñó có huyết thanh dương tính với Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản Theo báo cáo của Cục Thú y quốc gia, kể từ tháng 3/2007 ñến nay, trên cả nước dịch tai xanh ñã bùng phát thành 4 ñợt lớn:
* ðợt dịch thứ nhất diễn ra từ ngày 12/3/2007 ñến 15/5/2007
ðây là lần ñầu tiên dịch Tai xanh bùng phát trên ñàn lợn nước ta Bắt ñầu tại Hải Dương sau ñó ñã lây lan nhanh và phát triển mạnh trên 146 xã, phường thuộc 25 huyện, thị xã của 7 tỉnh ðồng bằng sông Hồng, ñó là Hải Dương, Hưng Yên, Quảng Ninh, Thái Bình, Bắc Ninh, Bắc Giang và Hải Phòng Số lợn mắc bệnh là 31.750 con, số lợn chết và xử lý là 7.296 con
Trang 13* đợt dịch thứ hai diễn ra từ ngày 25/06/2007
Dịch bắt ựầu xuất hiện tại tỉnh Quảng Nam, từ ựây dịch lây lan ra 178
xã, phường của 40 huyện, thị xã thuộc 14 tỉnh, thành phố là Cà Mau, Long
An, Bà Rịa Ờ Vũng Tàu, Khánh Hoà, Bình định, Quảng Ngãi, Quảng Nam,
đà Nẵng, Thừa Thiên Huế, Quảng Trị, Lạng Sơn, Hà Nội, Thái Bình, Hải Dương, Tổng số lợn ốm là 38.827 con, số ựã chết và xử lý là 13070 con
Như vậy, trong năm 2007, dịch Tai Xanh ựã xuất hiện tại 324 xã, thuộc
65 huyện của 19 tỉnh, thành phố Tổng số lợn mắc bệnh là 70.577 con, số chết
và phải tiêu huỷ là 20.366 con
* đợt dịch thứ ba diễn ra từ ngày 28/03/2008 ựến 20/05/ 2008
Dịch xuất hiện ở nhiều xã thuộc 10 tỉnh Miền bắc trung bộ như Hà Tĩnh, Lâm đồng, Quảng Nam, Thừa Thiên Huế, Nghệ An, Thanh Hoá, Ninh Bình, Nam định, Thái Bình và Thái Nguyên Số xã, phường có dịch là 821
xã, 59 phường và huyện, thị với tổng số lợn mắc bệnh là 271.439 con, số chết
và phải tiêu huỷ là 270.393 con
* đợt dịch thứ tư diễn ra từ ngày 04/6/2008 ựến ngày 22/8/2008
Trong ựợt này, dịch bệnh xảy ra lẻ tẻ ở 128 xã trên 38 huyện thị của 17 tỉnh thành thuộc cả ba miền Bắc, Trung, Nam nhưng với quy mô nhỏ hơn so với các ựợt trước ựó Số lợn ốm là 37.247 con, trong ựó số lợn chết và tiêu huỷ là 29.383 con
Năm 2009, dịch PRRS ựã xảy ra lẻ tẻ nhiều nơi Theo thống kê của Cục Thú y, dịch bệnh ựã xảy ra tại 14 tỉnh, thành phố trong cả nước Dù tình hình dịch bệnh có giảm hơn so với năm 2008, tuy nhiên, dịch vẩn xảy ra làm 7030 con bị mắc bệnh và phải tiêu hủy là 5847 con
Như vậy, qua những thông tin nêu trên có thể thấy rằng, những thiệt hại
mà Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn gây ra là vô cùng to lớn Nó không chỉ gây thiệt hại nặng nề về kinh tế mà qua thực tiễn ở Việt Nam cho
Trang 14thấy nó còn ñể lại nhiều hậu quả nghiêm trọng khác về môi trường và an sinh
xã hội, nhất là ñối với các vùng nông thôn, nơi người dân phải sống chủ yếu dựa vào chăn nuội lợn
Trong khoa học Thú y, việc nghiên cứu về nguyên nhân gây bệnh và các ñặc tính sinh học của nguyên nhân gây bệnh luôn là những công việc ñầu tiên, ñặt tiền ñề cho mọi nghiên cứu khác về bệnh và các biện pháp phòng chống dịch bệnh Nhằm ñáp ứng yêu cầu ñó, cho ñến nay ñã có nhiều công trình nghiên cứu công bố về nguyên nhân và các ñặc tính sinh học của nguyên nhân gây ra Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn
Năm 1990, các nhà khoa học của Viện Thú Y Lelystad – Hà Lan ñã tìm
ra nguyên nhân gây Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn là một loại vi
rút có cấu trúc vỏ bọc dạng chuỗi ñơn ARN, thuộc giống Arterivi rút, họ
Arteriviridae , bộ Nidovirales Do ñó ñể ghi nhận công lao này của các nhà
khoa học Viện Thú y Lelystad, người ta ñã ñặt tên cho vi rút gây Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản là vi rút Lelystad
Dựa vào phân tích cấu trúc gen, người ta ñã xác ñịnh ñược vi rút gây Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản có 2 nhóm Nhóm I gồm các vi rút thuộc chủng châu Âu (tên gọi phổ thông là vi rút Lelystad) gồm nhiều (4) phân nhóm (subtyope) ñã ñược xác ñịnh Nhóm II gồm các vi rút thuộc dòng Bắc Mỹ (với tên gọi là VR – 2332) Sự khác nhau về cấu trúc chuỗi nucleotide của vi rút thuộc hai chủng là khoảng 40%, do ñó ảnh hưởng ñến ñáp ứng miễn dịch bảo hộ chéo giữa hai chủng (Bùi Quang Anh và cs, 2008) [4]
Qua nghiên cứu giải mã gen của vi rút tại Mỹ và Trung Quốc cho thấy, các mẫu vi rút gây bệnh tai xanh tại Việt Nam có mức tương ñồng về aminoaxít từ 99 – 97,7% so với chủng vi rút gây bệnh Tai xanh thể ñộc lực cao của Trung Quốc và ñều bị mất 30 axit amin ðiều này cho thấy chủng vi rút gây bệnh Tai xanh ở nước ta hiện nay thuộc dòng Bắc mỹ, có ñộc lực cao
Trang 15giống ở Trung Quốc
Nghiên cứu về chất chứa vi rút, các nhà khoa học đã xác định, vi rút Hội chứng rối loạn hơ hấp và sinh sản cĩ trong dịch mũi, nước bọt, phân, nước tiểu của lợn mắc bệnh hoặc mang trùng và phát tán ra mơi trường Ở các loại lợn mẫn cảm, vi rút cĩ thời gian tồn tại và được bài thải ra ngồi mơi trường tương đối dài: ở lợn mang trùng và khơng cĩ triệu chứng lâm sàng, vi rút cĩ thể được phát hiện ở nước tiểu trong 14 ngày, ở phân khoảng 28 – 35 ngày, ở huyết thanh khoảng 21 – 23 ngày ở dịch hầu họng khoảng 56 – 157 ngày, ở tinh dịch sau 92 ngày; đặc biệt ở lợn mắc bệnh sau khi hồi phục 210 ngày vẫn cĩ thể phát hiện vi rút trong máu
Ở lợn bệnh hoặc lợn mang trùng vi rút chủ yếu tập trung ở phổi, hạch amidan, hạch Lympho, lách, tuyến ức và huyết thanh đây là những bệnh phẩm cần được lấy để gửi đi chẩn đốn, xét nghiệm trong phịng thí nghiệm
Các nghiên cứu về cấu trúc vi rút cho thấy, vi rút Hội chứng rối loạn hơ hấp và sinh sản cĩ hình cầu, cĩ vỏ bọc ngồi với đường kính Virion 45 – 55
nm, Nucleocapsid cĩ đường kính từ 30 – 35 nm, là một ARN vi rút, với bộ gen là một phân tử ARN sợi đơn dương, cĩ những đặc điểm chung của nhĩm Arterivi rút Sợi ARN này cĩ kích thước khoảng 15 kilobase, cĩ 9 ORF (Open Reading Frame) mã hố cho 9 Protein cấu trúc Tuy nhiên cĩ 6 phân tử Protein chính cĩ khả năng trung hồ kháng thể bao gồm 4 phân tử Glycoprotein, 1 phân tử Protein màng (M) và 1 Protein vỏ nhân vi rút (N) , nhưng hoạt động trung hịa xảy ra mạnh với các protein cĩ khối lượng phân tử 45,31 và 25 KD (Tơ Long Thành, 2007) [24]
Ngồi sự khác biệt giữa các phân nhĩm Lelystad và VR- 2332, người ta
đã chứng minh rằng cĩ sự biến dị di truyền mạnh trong cả 2 type phân lập, được khẳng định qua phân tích trình tự nucleotid và amino axít của các khung đọc mở (ORFs) Trình tự amino axit của VR 2332 so với LV là 76% (ORF2),
Trang 1672% (ORF3), 80% (ORF4 và 5), 91% (ORF6) và 74% (ORF7), phân tích trình tự cho thấy các vi rút ñang tiến hoá do ñột biến ngẫu nhiên và tái tổ hợp trong gen (Jun Han và cs, 2006) [33]
Nghiên cứu về sức ñề kháng của vi rút Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản, nhiều nhà khoa học ñã khẳng ñịnh Vi rút Hội chứng rối loạn hô hấp
và sinh sản có thể tồn tại 1 năm trong nhiệt ñộ lạnh từ – 200C ñến -700C; trong ñiều kiện 40C vi rút có thể sống một tháng Cũng giống như các loại vi rút khác vi rút Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ñề kháng kém với nhiệt
ñộ cao: ở 370C chịu ñược 48 giờ, 560C bị giết sau 1 giờ (Nguyễn Bá Hiên, Huỳnh Thị Mỹ Lệ, 2007) [11], (Tô Long Thành, 2007) [24]
Với các hoá chất sát trùng thông thường và môi trường có pH axít, vi rút
dễ dàng bị tiêu diệt Ánh sáng mặt trời, tia tử ngoại vô hoạt vi rút nhanh chóng
Với pH của môi trường: Vi rút gây bệnh Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản vẫn bền vững ở pH từ 6,5 – 7,5; tuy nhiên tính gây nhiễm giảm ở pH
< 6,0 hoặc > 7,65 (Bùi Quang Anh và cs, 2008) [4]
Khả năng gây bệnh là một ñặc tính sinh học quan trọng của mầm bệnh,
nó phụ thuộc nhiều vào ñộc lực càng cao thì khả năng gây bệnh càng lớn và ngược lại Các kết quả nghiên cứu về khả năng gây bệnh của Vi rút Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản cho thấy:
Vi rút gây bệnh Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản chỉ gây bệnh cho lợn, lợn ở tất cả các lứa tuổi ñều cảm nhiễm, nhưng lợn con và lợn nái mang thai thường mẫn cảm hơn cả Loài lợn rừng cũng mắc bệnh, ñây có thể coi là nguồn dịch thiên nhiên (Tô Long Thành, 2007)[24]
Về mặt ñộc lực, người ta thấy Vi rút gây Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản tồn tại dưới 2 dạng:
Dạng cổ ñiển: có ñộc lực thấp, ở dạng này khi lợn mắc bệnh thì có tỷ lệ chết thấp, chỉ từ 1 – 5% trong tổng ñàn
Trang 17Dạng biến thể ñộc lực cao: gây nhiễm và chết nhiều lợn Người và các ñộng vật khác không mắc bệnh, tuy nhiên trong các loài thuỷ cầm chân màng, vịt trời (Mallard duck) lại mẫn cảm với vi rút Vi rút gây Hội chứng rối loạn
hô hấp và sinh sản có thể nhân lên ở loài ñộng vật này và chính ñây là nguồn reo rắc mầm bệnh trên diện rộng rất khó khống chế (Albina, 1997)[27]
ðối với bệnh truyền nhiễm, ñường truyền lây là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng ñến tốc ñộ lây lan và quy mô dịch bệnh Các kết quả nghiên cứu về con ñường truyền lây bệnh này cho thấy, Vi rút gây Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản chủ yếu truyền lây qua hai ñường chính ñó là truyền lây trực tiếp và truyền lây gián tiếp
Các ñường truyền lây trực tiếp của vi rút gây Hội chứng rối loạn hô hấp
và sinh sản trong và giữa các quần thể lợn bao gồm các lợn nhiễm bệnh và tinh dịch bị nhiễm Vi rút Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ñược phát hiện từ nhiều loại chất tiết và các chất thải của lợn bệnh bao gồm: máu, tinh dịch, nước bọt, phân, hơi thở ra, sữa và sữa ñầu Sự truyền lây theo chiều dọc xảy ra trong suốt giai ñoạn giữa ñến giai cuối của thời kỳ mang thai cũng ñược báo cáo Truyền lây theo chiều ngang cũng ñã ñược báo cáo qua tiếp xúc trực tiếp giữa thú nhiễm bệnh và thú mẫn cảm cũng như sự truyền lây qua tinh dịch từ những lợn ñực nhiễm bệnh
Truyền lây gián tiếp chủ yếu qua các dụng cụ, thiết bị chăn nuôi như: thức ăn, nước uống, ủng, giầy dép, quần áo bảo hộ, thùng bảo quản lạnh, kim tiêm,… và các phương tiện vận chuyển có mang vi rút Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản là một ñường lây lan cơ học tiềm năng Vi rút có thể theo gió
ñi xa tới 3 km, do vậy vi rút có khả năng phát tán rất rộng thông qua việc vận chuyển lợn ốm, lợn mang trùng
Trong các con ñường lây nhiễm kể trên thì con ñường lây nhiễm qua thụ tinh nhân tạo là nguy hiểm hơn cả vì trong chăn nuôi lợn, công tác thụ tinh nhân
Trang 18tạo là phổ biến hiện nay, trong khi ñó công tác kiểm dịch tinh dịch, vận chuyển tinh dịch có nhiều bất cập Vận chuyển, mua bán lợn bệnh ra ngoài vùng có dịch Nếu một con ñực giống bị nhiễm bệnh thì chỉ tính trong một lần khai thác tinh nhân tạo ñã lây bệnh cho 40 – 50 lợn nái (Nguyễn Văn Thanh, 2007) [29]
Nhằm làm sáng tỏ cơ chế hình thành các tổn thương trên cơ thể lợn bệnh, nhiều nghiên cứu về cơ chế gây bệnh cho thấy
Sau khi xâm nhập vào cơ thể lợn, ñích tấn công của Vi rút Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản là các ñại thực bào ðây là tế bào duy nhất có receptor phù hơp với cấu trúc hạt vi rút, vì thế vi rút hấp thụ và thực hiện quá trình nhân lên chỉ trong tế bào này và phá huỷ nó Một tỷ lệ lớn tế bào ñại thực bào trong phế nang phổi bị vi rút xâm nhiễm rất sớm (Nguyễn Bá Hiên, Huỳnh Thị Mỹ Lệ 2007) [11]
Lúc ñầu, vi rút gây Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản có thể kích thích các tế bào này, nhưng sau 2 hoặc 3 ngày vi rút sẽ giết chết chúng, các virion ñược giải phóng và ồ ạt xâm nhiễm sang các tế bào khác Ở giai ñoạn ñầu của quá trình xâm nhiễm của vi rút gây Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản, hiệu giá kháng thể chống lại các loại vi rút và vi khuẩn không liên quan khác trong cơ thể của lợn tăng cao do sự kích hoạt của ñại thực bào trong hệ thống miễn dịch ðiều này rất dễ gây ra sự nhầm lẫn trong việc ñánh giá mức
ñộ miễn dịch ñối với các bệnh truyền nhiễm ở cơ thể lợn
Có thể nói rằng cơ thể gây bệnh Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản tương tự như cơ chế gây bệnh AIDS ở người và Gumboro ở gà Nếu chỉ có vi rút Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản xâm nhập vào cơ thể lợn thì lợn không có biểu hiện triệu chứng nhưng do có hàng loạt các loại
vi khuẩn khác sẵn có trong các cơ quan hoặc xâm nhập từ bên ngoài vào sau khi hệ thống miễn dịch của cơ thể bị suy giảm, hoạt ñộng gây bệnh làm cho cơ thể lợn bệnh xuất hiện hàng loạt triệu chứng của bệnh kế phát
Trang 19Theo ghi nhận của nhiều nghiên cứu về các triệu chứng lâm sàng ở lợn mắc Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản cho thấy, lợn bệnh thường có các triệu chứng ñầu tiên là sốt cao, bỏ ăn, mẩn ñỏ da, thở khó, táo bón hoặc ỉa chảy và một số triệu chứng khác tuỳ thuộc vào bệnh kế phát và từng loại lợn:
* L ợn nái:
Các triệu chứng chủ yếu là tím âm hộ, sảy thai, thai chết lưu, thai gỗ hàng loạt, ñẻ non, lợn con ñẻ ra yếu ớt, tỷ lệ tử vong cao Tỷ lệ thai chết tăng lên theo ñộ tuổi của thai: Thai dưới 2,5 tháng tuổi tỷ lệ chết 20%, thai trên 2,5 tháng tỷ lệ chết là 93,75% (Phạm Ngọc Thạch và cs, 2007)[23]
Lợn nái trong giai ñoạn nuôi con thường lười uống nước, viêm vú, mất sữa, viêm tử cung âm ñạo, mí mắt sưng, có thể táo bón hoặc tiêu chảy, viêm phổi
* L ợn ñực giống:
Triệu chứng chủ yếu là viêm dịch hoàn, bìu dài nóng ñỏ (chiếm 95%), dịch hoàn sưng ñau, lệch vị trí (85%), giảm tính hưng phấn giao phối.(Lê Văn Năm, 2007) [25]
Lợn ñực giống giảm hưng phấn hoặc mất tính dục, lượng tinh dịch ít, chất lượng tinh dịch kém, thể hiện: nồng ñộ tinh trùng (C) thường dưới 80.106; hoạt lực của tinh trùng (A) dưới 0,6; sức kháng của tinh trùng (R) dưới 3000; tỷ lệ kỳ hình (K) tăng trên 10%; tỷ lệ sống của tinh trùng giảm xuống còn dưới 70% và ñộ nhiễm khuẩn tăng cao trên 20.103 Lợn ñực giống rất lâu mới hồi phục ñược khả năng sinh sản của mình (Nguyễn Văn Thanh, 2007) [29]
* L ợn con theo mẹ:
Thể trạng gầy yếu, triệu chứng phát ra ñột ngột, ñường huyết hạ thấp
do không bú mẹ, mí mắt sưng, có dử màu nâu, trên da xuất hiện những ñám phồng rộp (Phạm Ngọc Thạch và cs, 2007) [23]
Trang 20Lợn con thường tiêu chảy hàng loạt và rất nặng, phân dính ñầy xung quanh hậu môn ðây là triệu chứng ñặc trưng của Hội chứng rối loạn hô hấp
và sinh sản ở lợn con chưa cai sữa, biểu hiện này không phổ biến ở lợn lớn Phát ban ñỏ là biểu hiện phổ biến thứ 2 và xảy ra ngay sau khi bệnh bắt ñầu xuất hiện Chảy nước mắt, mắt có rỉ và mí mắt sưng húp là biểu hiện phổ biến thứ 3, kết hợp với triệu chứng lạc giọng, khàn tiếng, thở khó, thở thể bụng, chảy nước mũi, khớp ñau, sưng nên chân thường choãi ra, ñi lại khó khăn, tỷ
lệ tử vong cao (Archie Hunter, 1996) [35]; (Lê Văn Năm, 2007) [25]
* Ở lợn con sau cai sữa và lợn thịt:
Ở lợn thịt, các triệu chứng tập trung chủ yếu ở ñường hô hấp Lợn bị viêm phổi nặng, ho nhiều, thở rất khó khăn, thở dốc, thở thể bụng, có con ngồi thở như chó ngồi, có con tựa vào tường ñể lấy sức thở, hắt hơi, chảy nước mắt Do phổi bị viêm nặng nên hiện tượng da xanh (ñặc biệt là ở tai xuất hiện sớm), ñiển hình và chiếm tỷ lệ lớn ở loại lợn này
Ở lợn con sau cai sữa, mí mắt thường sưng húp, có màu ñỏ thâm, làm cho mắt lõm sâu tạo nên một quầng thâm xung quanh mắt nên nhìn lợn giống như ñược “ñeo kính râm” Tỷ lệ táo bón ở lợn loại này rất cao nhưng tỷ lệ tiêu chảy thấp hơn lợn con theo mẹ (Lê Văn Năm, 2007) [24]
Nghiên cứu bệnh tích là một trong những khâu quan trọng ñể xác ñịnh các tổn thương do bệnh nguyên gây ra Kết quả nghiên cứu về bệnh tích ñại thể và bệnh tích vi thể ở các nhóm lợn bệnh của nhiều tác giả cho thấy:
* L ợn nái chửa: ðặc biệt là lợn nái chửa kỳ 2 thường bị ñẻ non hoặc ñẻ
chậm Trường hợp ñẻ non (sảy thai) thì nhiều thai chết, trên cơ thể thai chết lưu thường có nhiều ñám thối rữa Trường hợp ñẻ muộn thì số thai chết lưu ít hơn nhiều so với ñẻ non Song số lợn con sinh ra rất yếu, nhiều con chết trong lúc ñẻ do thời gian ñẻ kéo dài Mổ khám thấy bệnh tích tập trung ở phổi, phổi
bị phù nề, viêm hoại tử và tích nước, cắt miếng phổi bỏ vào khay nước thấy phổi chìm
Trang 21* L ợn nái nuơi con, lợn choai và lợn vỗ béo: Bệnh tích tập trung ở phổi
Các ổ viêm thường gặp ở thuỳ đỉnh, song cũng thấy ở các thuỳ khác nhưng hội chứng rối loạn hơ hấp hầu như các ổ viêm áp xe đĩ khơng xuất hiện đối xứng Các ổ viêm, áp xe thường cĩ màu xám đỏ, rắn, chắc Khi cắt đơi đám phổi cĩ biến đổi thấy cĩ mủ chảy ra, mơ phổi cũng lồi ra và cĩ màu đỏ xám loang lổ Trong một thuỳ phổi cĩ nhiều đám biến đổi như mơ tả Cắt miếng phổi biến đổi bỏ vào nước thấy miếng phổi chìm, chứng tỏ phổi đã bị phù nề tích nước nặng
Những lợn bị táo bĩn thì ruột chứa nhiều phân cục rắn chắc, niêm mạc ruột bị viêm nhưng ở những lợn bị tiêu chảy thì thành ruột mỏng trên bề mặt
cĩ phủ một lớp màu nâu
* L ợn con theo mẹ: Xác gầy, da trũng, ruột chứa nhiều nước, đơi khi thấy cĩ một số cục sữa vĩn khơng tiêu, thành ruột mỏng, loét van hồi manh tràng Hạch màng treo ruột xuất huyết, gan sưng và tụ huyết
Thận xuất huyết lấm tấm đầu đinh ghim, não xung huyết, hạch hầu, họng, amidan sưng, sung huyết (Phạm Sỹ Lăng, Văn ðăng Kỳ, 2007) [14]
Khi quan sát bệnh tích vi thể ở phổi, nhiều tác giả kết luận Thường thấy dịch thẩm xuất và hiện tượng thâm nhiễm, trong phế nang chứa đầy dịch viêm và đại thực bào, một số trường hợp hình thành tế bào khổng lồ nhiều nhân Một bệnh tích đặc trưng nữa là sự thâm nhiễm của tế bào phế nang loại
II (pneumocyse) làm cho phế nang bị nhăn lại, thường gặp đại thực bào bị phân hỷ trong phế nang (Nguyễn Văn Thanh, 2007) [29]
Nghiên cứu phương pháp chẩn đốn Hội chứng rối loạn hơ hấp và sinh sản ở lợn nhiều tác giả cho rằng Hội chứng rối loạn hơ hấp và sinh sản cĩ thể chẩn đốn được bằng hai phương pháp cơ bản đĩ là chẩn đốn lâm sàng và chẩn đốn trong phịng thí nghiệm (đặc biệt là chẩn đốn huyết thanh học) Tuy nhiên, trên thực tế để đảm bảo độ chính xác cao, việc phối hợp cả hai phương pháp là cần thiết
Trang 22Về chẩn đốn lâm sàng thường dựa vào hai nhĩm triệu chứng đĩ là các triệu chứng về rối loạn hơ hấp và rối loạn sinh sản
- Ở lợn nái tăng đột biến tỷ lệ sảy thai, đẻ non, thai chết lưu, tỷ lệ lợn con sơ sinh chết cao,… các hiện tượng này xảy ra trong khoảng từ 8 – 20% tổng số lợn nái của cơ sở chăn nuơi
- Ở các nhĩm lợn khác cĩ hiện tượng đồng loạt bỏ ăn hoặc ăn ít, sốt cao
40 – 410C, khĩ thở, ban đỏ da, táo bĩn hoặc ỉa chảy, tốc độ lây lan nhanh, đặc biệt ở một số con lợn bệnh chĩp tai bị ứ huyết cĩ màu xanh tím
Khi thấy lợn cĩ các triệu chứng nêu trên, bước đầu cĩ thể chẩn đốn là Hội chứng rối loạn hơ hấp và sinh sản Tuy nhiên, để đảm bảo độ chính xác cần phải lấy mẫu bệnh phẩm (máu lợn bệnh cịn sống hoặc các tổ chức bệnh phẩm phổi, hạch,… của lợn chết) để làm các xét nghiệm chẩn đốn trong phịng thí nghiệm:
- Dựa vào phương pháp miễn dịch đánh dấu bằng enzyme (ELISA) hoặc phương pháp gián tiếp huỳnh quang kháng thể (IFAT) theo quy trình của OIE
- Phương pháp nhân gen RT- PCR để phát hiện vi rút hoặc phương pháp phân lập vi rút gây bệnh trên các mơi trường phơi gà hoặc các mơi trường tế bào đặc biệt
Các phương pháp này cho độ chính xác cao (từ 92 – 95%) trong chẩn đốn xác định Hội chứng rối loạn hơ hấp và sinh sản ở lợn (Bùi Quang Anh
và cs, 2008)[4]
ðối với Hội chứng rối loạn hơ hấp và sinh sản ở lợn, hiện nay chưa cĩ thuốc điều trị đặc hiệu, do vậy việc phịng bệnh bằng vác xin và vệ sinh phịng bệnh hiện đang là hai phương pháp hữu hiệu ở nhiều cơ sở chăn nuơi
* Phịng b ệnh bằng vác xin
Cũng như nhiều bệnh truyền nhiễm khác, đối với Hội chứng rối loạn hơ
Trang 23hấp và sinh sản, việc phòng bệnh bằng vác xin là một trong những biện pháp quan trọng nhằm hạn chế dịch bệnh xảy ra Tuy nhiên, ñể ñạt ñược mục tiêu này, việc lựa chọn loại vác xin phù hợp và sử dụng ñúng quy trình kỹ thuật là mấu chốt hàng ñầu quyết ñịnh ñến hiệu quả biện pháp phòng ngừa
Hiện nay, trong danh mục thuốc Thú y ñược phép lưu hành của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có ba loại vác xin nhập khẩu gồm có: vác xin Porcilis PRRS của Intervet – Hà Lan; vác xin Amervac PRRS của Hipra – Tây Ban Nha; vác xin BSL – PS 100 của Besta – Singapore Hai loại vác xin ñầu ñược sản xuất từ chủng vi rút Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản thuộc dòng Châu
Âu Vác xin BSL – PS 100 của Besta – Singapore là loại vác xin sống nhược ñộc, ñược sản xuất từ vi rút dòng JKL – 100 thuộc dòng Bắc Mỹ
Hiện nay, Cục Thú y quốc gia Việt Nam ñang tiến hành sử dụng thí ñiểm vác xin chết phòng bệnh thể ñộc lực cao của Trung Quốc tại một số trại
và một số ñịa phương Nếu có kết quả tốt, vác xin này sẽ ñược nhập khẩu và
sử dụng ñại trà cho ñàn lợn cả nước
Trong tình hình dịch bệnh như hiện nay, việc sử dụng vác xin phòng Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản nhằm tạo miễn dịch chủ ñộng cho lợn chống lại dịch bệnh này là một việc làm cần thiết và cấp bách Tuy nhiên, bên cạnh ñó cần chú ý thực hiện tốt công tác vệ sinh phòng bệnh và tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức phòng bệnh cho người chăn nuôi cũng như các biện pháp kiểm dịch nhằm kiểm soát môi trường và ngăn ngừa dịch bệnh bùng phát môi trường, lây lan, nhất là trong ñiều kiện hội nhập mạnh mẽ như hiện nay
Chuồng trại phải ñảm bảo vệ sinh thú y, ấm áp vào mùa ñông, thoáng mát vào mùa hè, thường xuyên quét dọn, tiêu ñộc chuồng trại bằng một số hoá chất như vôi bột, Iodine, chloramin B,(Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2007)[6]
Trang 24Chăm sóc, nuôi dưỡng tốt cho lợn ñể nâng cao sức ñề kháng cho lợn ðối với lợn mới mua về cần cách ly ít nhất 3 tuần ñể theo dõi
Tổ chức tuyên truyền thường xuyên trên các phương tiện thông tin ñại chúng của Trung ương và ñịa phương ñể người dân hiểu ñúng, hiểu ñầy ñủ về mức ñộ nguy hiểm của dịch bệnh PRRS và các biện pháp phòng chống dịch ñặc biệt cần phải khai báo khi lợn có biểu hiện của bệnh PRRS
Tăng cường công tác giám sát từ Trung ương ñến cơ sở và từng hộ chăn nuôi ñể có thể sớm phát hiện dịch bệnh và có biện pháp ngăn chặn kịp thời
Thiết lập các trạm, chốt kiểm dịch tại các ñầu mối giao thông quan trọng
và cần có sự hợp tác phối hợp hành ñộng ñồng bộ giữa nhiều ngành như: công
an, tài chính, quản lý thị trường, ñặc biệt là lực lượng Thú y ñể kiểm soát môi trường việc vận chuyển lợn các sản phẩm từ lợn ra vào giữa các tỉnh
Giao trách nhiệm giám sát phát hiện dịch và báo cáo dịch cho chính quyền cấp xã, khi có dịch xảy ra thì phải bao vây, lấy mẫu xét nghiệm và tiêu huỷ toàn bộ số lợn bệnh
Tiêm ñầy ñủ các loại vác xin phòng các bệnh sau: Dịch tả, Tụ huyết trùng, Thương hàn, Suyễn heo, Viêm teo mũi, Liên cầu khuẩn,…Lý do là vi rút Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản làm suy giảm hệ thống miễn dịch của lợn bệnh dẫn ñến lợn bị mắc bệnh kế phát trên nếu lợn không ñược tiêm ñầy ñủ các loại vác xin trên
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn
Những thiệt hại lớn về kinh tế do Hội chứng rối loạn sinh sản gây ra ñã thu hút nhiều nhà khoa học trên thế giới và trong nước quan tâm nghiên cứu Nhiều thành quả ñã ñược ứng dụng và mang lại hiệu quả thiết thực trong công tác phòng chống và kiểm soát dịch bệnh này
Trang 252.2.1 Tình hình nghiên cứu ngồi nước
Nhiều nhà khoa học trên thế giới đã đi sâu nghiên cứu về nguyên nhân,
cơ chế truyền lây, các phương pháp chẩn đốn và phịng chống Hội chứng rối loạn sinh sản ở lợn
Riera Pujadas Pere và cs, (1997)[36] đã nghiên cứu về chủng vi rút suy yếu mới gây ra Hội chứng rối loạn hơ hấp và sinh sản (PRRS) trên lợn, cùng với việc điều chế vác xin phịng ngừa và bộ kít chẩn đốn
Joo Han Soo, (1997) [31] đã đưa ra phương pháp điều chế vác xin sử dụng ngay chính vi rút Hội chứng rối loạn hơ hấp và sinh sản được làm yếu đi
Eichhorn – G, Frost – JM, (1997)[30] nghiên cứu sử dụng sữa non của lợn nái vào giai đoạn thích hợp để chẩn đốn huyết thanh phát hiện Hội chứng rối loạn hơ hấp và sinh sản (PRRS)
Segales.J và cs (1998)[37] nghiên cứu siêu cấu trúc đại thực bào ở túi phổi lợn bị nhiễm in – vitro với vi rút gây Hội chứng rối loạn sinh sản đối với trường hợp cĩ hoặc khơng cĩ Haemophilus – Parasuis
Burch Reina Alemany và cs, (1997)[28] tìm hiểu về chủng vi rút suy yếu gây ra Hội chứng rối loạn sinh sản (PRRS) trên lợn, cùng với việc chế vác xin
Van Niewstadt và cs, (2002)[38] nêu ra loại kháng nguyên Hội chứng rối loạn hơ hấp và sinh sản dùng để phát hiện ra chuỗi peptide đồng đẳng của
vi rút Hội chứng rối loạn hơ hấp và sinh sản dùng trong điều chế vác xin hoặc xét nghiệm chẩn đốn
Calvert Jay G và cs, (2007)[29] thuộc khoa Thú y trường ðại học Minesota của Mỹ đã nghiên cứu về những đặc điểm phân loại, cấu tạo, khả năng gây bệnh của vi rút cũng như những triệu chứng lâm sàng thường gặp khi lợn bị bệnh ở Mỹ và một số nước Châu Âu thấy rằng các chủng vi rút ở
Mỹ và châu Âu cĩ sự khác biệt nhau về bộ gen, tức là vi rút ở 2 nơi này đã cĩ
sự biến đổi về cấu trúc
Trang 26Joo Han - Soo và cs (2007)[32], [31] ñi sâu vào tìm hiểu về phương pháp chuẩn bị vi rút Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản, Protein lây nhiễm
và bộ kít ñể kiểm tra và phát hiện nó
Lunney Joan K và cs (2007)[34], X.J.Meng (2000)[61] chỉ ra các thông
số miễn dịch giúp giải thích ñược nguyên nhân tại sao một số lợn trên cùng một ñàn lại không bị nhiễm vi rút Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản
Calvert Jay G và cs, (2007)[29] nghiên cứu về trình tự gen của chủng vi rút cường ñộc gây Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở Bắc Mỹ cho biết:
ở một số ổ dịch bộ gen của vi rút Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản tương ñồng 93,2 – 94,2% với bộ gen của chủng VR2332 (Bắc Mỹ) nhưng ở một số ổ dịch khác thì bộ gen của vi rút Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản tương ñồng 63,4 – 64,5% với chủng gây bệnh Lelystad (châu Âu) và các vi rút phân lập ñược ñã có sự ñột biến ở một số axit amin
Pensaert Maurice và cs, (2008)[54] ñã nghiên cứu chuỗi Polypeptit mã hoá axit nucleic bên trong các tế bào nhiễm vi rút Hội chứng rối loạn hô hấp
và sinh sản
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Mặc dù ở Việt Nam, Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản là một bệnh mới song với sự quan tâm và nỗ lực của nhiều nhà nghiên cứu trong nước, hiện nay nhiều vấn ñề liên quan ñến dịch tễ và nguyên nhân gây bệnh tại Việt Nam ñã từng bước ñược sáng tỏ, mang lại những giá trị khoa học kinh tế trong việc phòng chống dịch bệnh
Tô Long Thành (2007)[24] ñã nhận xét, PRRSV chỉ gây bệnh cho lợn ở tất cả các lứa tuổi ñều cảm nhiễm, nhưng lợn con và lợn nái mang thai thường mẫn cảm hơn cả Người và ñộng vật khác không mắc bệnh, tuy nhiên trong các loại thuỷ cầm chân màng, vịt trời lại mẫm cảm với vi rút PRRSV có thể nhân lên ở loài ñộng vật này và chính ñây là nguồn reo rắc mầm bệnh trên diện rộng rất khó khống chế
Trang 27Theo Nguyễn Hữu Nam và cs (2007)[19]; Bùi Quang Anh và cs, (2008)[4] những loại vi khuẩn gây bệnh kế phát ở phổi khi lợn mắc Hội chứng
rối loạn hô hấp và sinh sản thường gặp là: Mycoplasma hyopneumoniae (Suyễn lợn); Pasteurella multocida (Tụ huyết trùng); Bordetella bronchiseptica (Viêm teo mũi); Streptococcus Suis type 2 (Liên cầu khuẩn) và Haemophilus parasuis
(Viêm ñường hô hấp)
Phạm Ngọc Thạch và cs (2007)[23] nghiên cứu một số chỉ tiêu lâm sàng, chỉ tiêu máu ở lợn mắc Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản tại Hải Dương và Hưng Yên ñã thấy rằng: Thời gian nung bệnh là 3 – 7 ngày, tần số
hô hấp, tim mạch, thân nhiệt ñều tăng cao so với sinh lý bình thường, chỉ tiêu sinh lý, sinh hoá máu ñều thay ñổi, ñặc biệt là số lượng bạch cầu, ñộ dự trữ kiềm trong máu tăng rất cao trong khi ñó hàm lượng ñường huyết, protein tổng số của lợn bệnh lại giảm nhiều so với sinh lý bình thường
Lê Văn Năm (2007)[20] bước ñầu khảo sát các biểu hiện lâm sàng và bệnh tích ñại thể ở lợn mắc Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản tại một số ñịa phương thuộc ðồng bằng Bắc Bộ – Việt Nam ñã nhận thấy, các biểu hiện lâm sàng, bệnh tích ñại thể ở lợn mắc Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản trong các ñợt dịch năm 2007 là trùng với các tài liệu ñã ñược công bố Tuy nhiên các
tỷ lệ: tiêu chảy (chiếm 83,25%), lạc giọng (60,50%) ở lợn con theo mẹ và táo bón ở lợn lớn chiếm (50,50%) là cao hơn so với các tài liệu ñã công bố
Bùi Quang Anh và cs (2007)[3] nghiên cứu về một số ñặc ñiểm dịch tễ của Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản tại một số trại lợn ở Việt Nam ñã ñi ñến kết luận: Lợn nái và lợn con theo mẹ bị mắc Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản cao hơn so với những nghiên cứu, ñánh giá của Quốc tế về Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản
Theo Phạm Sỹ Lăng và Văn ðăng Kì (2007)[14], một số bệnh tích thường gặp của lợn bị Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản là phổi viêm tụ
Trang 28huyết hoặc xuất huyết, khí quản, phế quản chứa nhiều bọt và dịch nhầy Thận xuất huyết như đầu đinh ghim, não sung huyết; hạch hầu họng, amidan sưng, sung huyết; gan sưng, tụ huyết; lách sưng và nhồi huyết Hạch màng treo ruột xuất huyết và loét van hồi manh tràng
Trần Thị Bích Liên, Nguyễn Thị Kiều Anh và cs (2007)[18] khi nghiên cứu về sự biến động của kháng thể mẹ truyền trên lợn con của lợn nái nhiễm vi rút Hội chứng rối loạn hơ hấp và sinh sản cho biết: ở con của những lợn nái dương tính với Hội chứng rối loạn hơ hấp và sinh sản, hiệu giá kháng thể giảm nhiều từ ngày tuổi 19 và tất cả lợn nái dương tính với Hội chứng rối loạn hơ hấp và sinh sản, hiệu giá kháng thể giảm nhiều từ ngày tuổi 19 và tất cả lợn con đều âm tính ở 60 ngày tuổi Ngồi ra lợn con của nái dương tính cĩ hiệu giá kháng thể cao hơn lợn con từ nái âm tính trong vịng 35 ngày sau khi sinh
Nguyễn Ngọc Hải, Trần Thị Bích Liên và cs (2007)[10] nghiên cứu về phương pháp chẩn đốn vi rút gây Hội chứng rối loạn hơ hấp và sinh sản ở lợn bằng kỹ thuật RT – PCR đưa ra kết luận: Quy trình RT – PCR sử dụng trong nghiên cứu cĩ tính ổn định và độ tin cậy cao, hồn tồn cho phép phát hiện được ARN của vi rút Hội chứng rối loạn hơ hấp và sinh sản trong mẫu
Thái Quốc Hiếu, Nguyễn Việt Nga và cs (2006) [12] khảo sát sức sinh sản của lợn nái dương tính với Hội chứng rối loạn hơ hấp và sinh sản và dịch
tả lợn tại các hộ chăn nuơi gia đình huyện chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang, kết quả cho thấy: tỷ lệ mẫu dương tính với vi rút Hội chứng rối loạn hơ hấp và sinh sản là 35% và dương tính dịch tả lợn là 11,7%, khơng cĩ mẫu nhiễm ghép hai bệnh này Tỷ lệ mẫu dương tính với vi rút Hội chứng rối loạn hơ hấp và sinh sản ở nhĩm lợn nái bị rối loạn sinh sản chiếm 42,22%, cao hơn so với lợn nái khơng rối loạn sinh sản (13,13%) Tương tự, tỷ lệ mẫu dương tính với vi rút dịch tả lợn ở nhĩm lợn nái rối loạn sinh sản chiếm 13,33%, cao hơn nhĩm lợn nái khơng rối loạn sinh sản (6,76%)
Trang 29Thái Quốc Hiếu và Lê Minh khánh và cs (2007) [12] nghiên cứu ảnh hưởng của Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ñến khả năng bảo hộ bệnh dịch tả trên lợn thấy rằng, ñáp ứng kháng thể với vác xin dịch tả lợn giảm rõ rệt trên ñàn lợn bị nhiễm Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản
Hồ Thị Nga, Trần Thị Dân (2008)[21] ñã khảo sát sinh hoá máu trên lợn nuôi thịt nhiễm vi rút gây rối loạn hô hấp và sinh sản ñược bổ sung β - glucan trong khẩu phần ñưa ra kết quả như sau: Lợn ñược bổ sung β- glucan có số lượng hồng cầu, bạch cầu và hàm lượng Hemoglobin ổn ñịnh hơn
2.3 Một số hiểu biết cơ bản về huyết học
Máu là một thành phần tổ chức của cơ thể rất quan trọng vì máu liên lạc mật thiết với mọi cơ quan, bộ phận trong cơ thể Do ñó về mặt bệnh lý, máu không những chịu ảnh hưởng của những bệnh ở riêng các cơ quan tạo máu mà còn bị ảnh hưởng của tất cả các bệnh ở mọi cơ quan, tổ chức khác trong cơ thể
Về phương diện vật lý, máu là một tổ chức lỏng lưu ñộng trong hệ tuần hoàn nhưng luôn luôn có sự trao ñổi mật thiết với các chất dịch gian bào, qua
ñó làm nhiệm vụ vận chuyển các chất dinh dưỡng và các sản phẩm chuyển hoá cho các tổ chức và cơ quan trong cơ thể Máu gồm 2 thành phần chính là thành phần vô hình và hữu hình:
Thành phần vô hình: hay còn gọi là huyết tương, chiếm 60% thể tích của máu Huyết tương có màu vàng nhạt, có 90 – 92% là nước, 8 – 10% vật chất khô, trong ñó:
Protein huyết tương gồm các thành phần cơ bản là: albumin, globulin
và fibrinogen (chiếm 6 – 8%) Protein huyết tương luôn ở thể cân bằng ñộng, tức là luôn có quá trình phân giải và tổng hợp nhờ sự ñiều khiển của hệ thần kinh Protein ñóng vai trò rất quan trọng:
Albumin tham gia cấu tạo lên các mô bào, là tiểu phần chính tạo nên áp suất thẩm thấu thể kéo của máu, tham gia vận chuyển các chất như axít béo, axít mật,…
Trang 30Globulin gồm cĩ 3 loại α, β và γ- globulin Trong đĩ αvàβ- globulin tham gia vận chuyển các hooc mơn steroid, phosphate và axít béo Cịn γ- globulin tham gia vào chức năng miễn dịch của cơ thể (Vũ Triệu An
và cs, (1997)[2] ðể đánh giá mối tương quan giữa Albumin và Globulin người ta thường tính tỷ lệ A/ G và gọi đây là chỉ số protein huyết thanh Mối tương quan này phản ánh tình trạng sức khoẻ của con vật, phẩm chất con giống và là một chỉ tiêu sinh hố để chẩn đốn bệnh
Ngồi các thành phần kể trên, trong huyết tương cịn cĩ các chất hồ tan như: các loại hooc mơn, vitamin, enzyme, các hạt mỡ, các muối khống
đa lượng, vi lượng,…
Thành phần hữu hình của máu bao gồm các tế bào hồng cầu, bạch cầu
và tiểu cầu ðây là các thành phần quan trọng quyết định các chức năng cơ bản của máu đĩ là vận chuyển, dinh dưỡng và bảo vệ,…
Hồng cầu là loại tế bào máu được biến hố cao độ, các tế bào hồng cầu của gia súc cĩ dạng hình đĩa, lõm hai mặt và khơng cĩ nhân Vai trị chủ yếu của chúng là vận chuyển O2 từ phổi tới tổ chức, mơ bào và chuyển khí CO2 từ các tổ chức, mơ bào tới phổi để thải ra ngồi Tính chất này do huyết sắc tố (hemoglobin) quy định
Hồng cầu là quần thể tế bào đồng nhất ở máu ngoại vi Thành phần cấu tạo của hồng cầu gồm cĩ 60% là nước và 40% là vật chất khơ, trong đĩ Hemoglobin chiếm 90 – 95%, cịn 3 – 8% các protein khác: Leucoxitin chiếm 0,5%, Cholesterol chiếm 0,3%, các muối kim loại (chủ yếu là muối kali) Trong hồng cầu cịn cĩ một số enzyme quan trọng đĩ là anhydraza, cacbonicatalaza Trên màng hồng cầu cịn cĩ enzyme glucose – 6 photphatdehydrogenaza, glutationreductaza cĩ vai trị quan trọng trong việc đảm bảo tính bền vững, thẩm thấu của màng và sự trao đổi chất qua màng hồng cầu
ðể tồn tại và đảm bảo chức năng, hồng cầu phải tiêu thụ năng lượng
Trang 31Nguồn năng lượng này lấy từ glucose sinh ra trong quá trình ñường phân của
tế bào Quá trình này gồm 2 con ñường: ñường phân yếm khí (90%) và ñường phân hiếu khí (10%)
Bạch cầu là những tế bào máu có khả năng di ñộng theo kiểu amip, kích thước thay ñổi từ 5 - 20µm (tuỳ theo từng loại) Chúng có chức năng chính là thực bào và tham gia vào các ñáp ứng miễn dịch bảo vệ cơ thể
Hình thái chung của bạch cầu thường có dạng hình cầu, tuy nhiên khi tham gia vào các quá trình xuyên mạch và thực bào bạch cầu thường thay ñổi hình dạng rất linh hoạt
Căn cứ vào thành phần cấu trúc ñặc biệt trong bào tương, người có chia bạch cầu ra thành hai nhóm lớn ñó là bạch cầu có hạt và bạch cầu không hạt
Vũ Triệu An [1], Trần Cừ và cs [8], Nguyễn Xuân Tịnh và cs [25]:
Bạch cầu có hạt: là loại bạch cầu bên trong bào tương có các hạt sinh chất có ái lực cao với các loại thuốc nhuộm Căn cứ vào tính chất này, bạch cầu có hạt ñược chia thành ba loại ñó là bạch cầu ái toan, bạch cầu ái kiềm và bạch cầu ña nhân trung tính:
Bạch cầu ái toan (eosinophil): là loại bạch cầu mà trong tế bào tương có nhiều hạt bắt máu thuốc nhuộm toan tính (màu ñỏ của eosin), ñường kính bạch cầu là 8 - 20µm Tỷ lệ bạch cầu ái toan là khác nhau giữa các loại: Ngựa chiếm 3% tổng số bạch cầu, Bò là 6%, lợn là 4 – 8%
Bạch cầu ái toan (bazophil): Là loại bạch cầu bên trong bào tương có các hạt bắt màu thuốc nhuộm kiềm tính (màu xanh của xanh methylen) Bên trong các hạt ái kiềm có chứa nhiều enzyme ñể hình thành histamine và heparin
Bạch cầu trung tính (neutrophil): Là loại bạch cầu bên trong bào tương
có nhiều hạt bắt màu cả thuốc nhuộm toan tính và thuốc nhuộm kiềm tính, nhân bắt màu tím hoặc tím sẫm ðây là loại bạch cầu có khả năng thực bào mạnh nhất vì trong các tế bào bạch cầu trung tính có chứa nhiều enzyme phân
Trang 32giải protein như leuco proteaza đây là các chất phá huỷ vi khuẩn và trung hoà ựộc tố Tuỳ theo sự thành thục của nhân, người ta chia bạch cầu trung tắnh thành tuỷ cầu, ấu cầu, bạch cầu nhân ựốt và bạch cầu nhân gậy
Bạch cầu không hạt: là loại bạch cầu bên trong bào tương không có các hạt bắt màu thuốc nhuộm như ở bạch cầu có hạt Bạch cầu không hạt bao gồm bạch cầu ựơn nhân lớn và lympho bào
Bạch cầu ựơn nhân lớn (Monocyte): Là loại bạch cầu có kắch thước to nhất, nguyên sinh chất bắt màu xám nhạt, nhân bắt màu tắm ựen có hình bầu dục, hình hạt ựậu, hình móng ngựa,Ầ nằm lệnh về một bên của tế bào Bào tương nhiều hơn lâm ba cầu, bắt màu xanh nhạt, ựôi khi có những hạt trong suốt Nhân tế bào này ựóng vai trò rất quan trọng trong quá trình thực bào và thông tin miễn dịch nằm trong hệ thống lympho lưới
Tế bào Lympho (lymphocyte): Tế bào Lympho có nguyên sinh chất bắt màu xanh ựậm, nhân tròn, hình hạt ựậu, màu tắm sẫm, chiếm gần hết tế bào Lympho bào bao gồm Lympho B và Lympho T
Tiểu cầu là những tế bào máu có kắch thước nhỏ nhất, hình tròn hay bầu dục, có ựường kắnh 2 Ờ 4 ộm, khi mới ựược phóng thắch từ tuỷ xương thì tiểu cầu lớn, theo thời gian chúng giảm dần kắch thước và số lượng Tiểu cầu dắnh vào collagen và những vi sợi trong màng nền thành mạch, một diễn biến phụ thuộc vào sự trùng phân của collagen và những nhóm II; amin tự do trên collagen để tiểu cầu ngưng tập hữu hiệu chúng phải có canxi, fibrinogen và những yếu tố ựông máu khác
2.4 Các chỉ tiêu năng suất sinh sản và khả năng sinh sản ở lợn nái
Có nhiều chỉ tiêu sinh học ựánh giá năng suất sinh sản ở lợn nái Theo
Vũ đình Tôn (2008) [26], năng suất sinh sản của lợn nái ựược xét trên các chỉ tiêu: chu kì ựộng dục, tuổi thành thục về tắnh dục, tuổi có khả năng sinh sản, thời gian chửa và số con ựẻ ra/lứa
Trang 33Nhiều tác giả cho rằng: ñể ñánh giá khả năng sinh sản lợn nái dựa vào năng suất sinh sản và do 2 yếu tố cấu thành là: số con cai sữa/lứa và số lứa ñẻ/năm 2 yếu tố này do nhiều yếu tố khác cấu thành, ñược tóm tắt theo sơ ñồ sau:
Sơ ñồ năng suất sinh sản của lợn nái
Theo Mabry và cộng sự, 1997[35], các tính trạng năng suất sinh sản của lợn nái bao gồm: số con ñẻ ra, số con cai sữa, khối lượng cả ổ 21 ngày tuổi và số lứa ñẻ/nái/năm, các tính trạng này có tầm quan trọng về kinh tế và ảnh hưởng ñến lợi nhuận của người sản xuất lợn giống cũng như người nuôi lợn thương phẩm
Mục ñích của người chăn nuôi là thu ñược lợi nhuận Năng suất càng cao thì lợi nhuận càng cao Ở các trang trại chăn nuôi lợn nái, ngoài những diễn biến ñột xuất của giá cả thị trường, năng suất sinh sản là yếu tố quyết ñịnh giá thành sản phẩm và lợi nhuận Trong ñó tiêu tốn thức ăn/kg sản phẩm chiếm từ 60 - 70% chi phí sản xuất là yếu tố quan trọng nhất phản ánh ñầy ñủ nhất năng suất
T.G nuôi con
T.G chờ phối
Tỷ lệ thụ
thai
K.C từ CS-ð.D
Số trứng rụng
Số trứng ñược T.T
Tỷ lệ thai chết
Số con cai sữa/lứa
Số lứa ñẻ/năm
Số con CS/nái/năm
Trang 34sinh sản ở lợn nái Vì tiêu tốn thức ăn phản ánh bệnh tật, tỷ lệ tử vong, sự lãng phắ thức ăn, tỷ lệ thụ thai, số con/ổ, đó là chỉ số tốt hơn cả ựể ựo năng suất sinh sản và hiệu quả của trang trại
2.5 Các yếu tố ảnh hưởng ựến năng suất sinh sản của lợn nái
- Các yếu tố di truyền:
Yếu tố di truyền biểu hiện cụ thể bằng giống, là yếu tố ựầu tiên ảnh hưởng ựến năng suất sinh sản ở lợn nái Các giống lợn khác nhau cho năng suất sinh sản khác nhau Theo đặng Vũ Bình (2002) [5], giống là yếu tố quan trọng ảnh hưởng ựến năng suất sinh sản của lợn nái Trong cùng một giống, năng suất từng cá thể cũng khác nhau Vì vậy, chọn lọc nhân tạo ựạt ựược sự tiến bộ di truyền nhanh hơn chọn lọc tự nhiên
Bên cạnh ựó, công tác lai giống ựã tạo ra sự tiến bộ di truyền nhanh chóng, do có ưu thế lai mà nái lai có số con ựẻ ra sống tăng 8% so với bố
mẹ chúng
Nhờ có những tiến bộ vượt bậc trong công tác giống, ngày nay các giống lợn ựã ựược chuyên hoá cao Theo đặng Vũ Bình (2002) [5] căn cứ vào khả năng sinh sản và sức sản xuất thịt, ựã chia các giống lợn làm 4 nhóm chắnh:
+ Các giống ựa dụng: Yorkshire, Landrace và một số dòng nguyên chủng ựược xếp vào loại có khả năng sản suất thịt và khả năng sinh sản khá
+ Các giống chuyên dụng Ộdòng bốỢ: Piétrain, Landrace (Bỉ), Duroc (Mỹ) có khả năng sinh sản trung bình nhưng khả năng sản xuất thịt cao
+ Các giống chuyên dụng Ộdòng mẹỢ: Yorkshire, Landrace cải tiến ựặc biệt một số giống chuyên sản của Trung quốc như Taihu (ựiển hình là Meishan) có khả năng sinh sản ựặc biệt cao nhưng khả năng sản xuất thịt kém
+ Các giống ựịa phương có ựặc tắnh chung là khả năng sinh sản và sức sản xuất thịt kém nhưng có khả năng thắch nghi tốt với môi trường
Trang 35- Các yếu tố môi trường:
Hầu hết các chỉ tiêu sinh sản của lợn nái có hệ số di truyền thấp, vì vậy
nó chịu tác ựộng chủ yếu bởi các yếu tố môi trường Phương thức nuôi, chế
ựộ dinh dưỡng, công tác quản lý phối giống, lứa ựẻ, mùa vụ, bệnh tật, ựều
có ảnh hưởng ựến năng suất sinh sản của lợn nái
+ Chế ựộ dinh dưỡng là yếu tố ngoại cảnh hàng ựầu ảnh hưởng ựến năng suất sinh sản của lợn nái Trong ựó, năng lượng trao ựổi (ME), protein, các axit amin không thay thế, khoáng, vitamin là những thành phần quan trọng nhất
Yamada và cộng sự (1998)[40] cho biết, nuôi dưỡng hạn chế lợn cái trong giai ựoạn hậu bị sẽ làm tăng tuổi ựộng dục lần ựầu, tăng tỷ lệ loại thải
so với nuôi dưỡng ựầy ựủ Các nhà chăn nuôi Hoa Kỳ khuyến cáo nên cho lợn hậu bị ăn tự do ựến 90 kg khối lượng (200 lb), sau ựó cho ăn hạn chế trước khi phối giống (ựộng dục lần 3) 5- 7 ngày lại cho ăn tự do Lợn nái ăn gấp ựôi lượng thức ăn ở giai ựoạn trước phối giống và ở ngày phối giống so với bình thường có tác dụng làm tăng số trứng rụng và số con ựẻ ra/ổ
Trong giai ựoạn chửa, khẩu phần chắnh xác của lợn nái chửa phụ thuộc vào khối lượng lợn, ngày tuổi, tắnh trạng béo hay gầy, kiểu chuồng, tuổi cai sữa lợn con, khắ hậu hoặc nhiệt ựộ môi trường Lợn nái chửa lứa 1 phải tăng trọng từ 32- 45,4 kg, lợn nái chửa từ lứa thứ 2 trở ựi phải tăng khối lượng từ 22,5- 32 kg trong thời gian chửa (Wood (1988)[39] Tuy nhiên 2/3 khối lượng thai ựược hình thành ở 1/3 giai ựoạn cuối kì có thai Vì vậy, ở giai ựoạn ựầu (2/3 thời gian ựầu kì có thai) phải cho ăn hạn chế Những nghiên cứu của Wood (1988)[39] cho biết: Nuôi dưỡng lợn nái với mức dinh dưỡng cao ở thời kì chửa ựầu sẽ làm tăng tỷ lệ chết phôi Vũ đình Tôn (2008) [26] cũng cho biết: Lợn nái mang thai nếu ăn dưới 2 kg thức ăn thì lợn mẹ phải huy ựộng dự trữ của cơ thể ựể hỗ trợ cho tăng trọng của thai, dẫn ựến số lượng lợn con/ổ giảm, khối lượng sơ sinh lợn con cũng giảm
Trang 36Trong giai ñoạn nuôi con, ở vài ngày ñầu cho ăn hạn chế, sau ñó tăng dần ñến khi cho ăn tự do sau khi ñẻ 5 - 7 ngày
+ Mùa vụ và nhiệt ñộ môi trường:
Mùa vụ và nhiệt ñộ có ảnh hưởng ñến khả năng sinh sản của lợn nái Lợn nái phối giống vào các tháng nóng có tỷ lệ thụ thai thấp, số con ñẻ ra ít, mức ñộ ñồng ñều trong một lứa ñẻ không cao Thời tiết nóng thường không ñến mức gây chết lợn nhưng có thể ảnh hưởng ñến tỷ lệ thụ thai, làm giảm một phần lượng tiêu thụ thức ăn và dẫn ñến năng suất tụt xuống, nhiệt ñộ cao trên 850F (29,50C) sẽ làm chậm hoặc ngăn cản sự xuất hiện ñộng dục, giảm mức ñộ rụng trứng và làm tăng hiện tượng chết thai sớm Kết quả nghiên cứu
ở Michigan cho thấy, lợn hậu bị mỗi ngày chịu ñựng 1040F (400C) trong 2 giờ, trong vòng 1 - 13 ngày sau phối giống, tỷ lệ phôi sống giảm 35 - 40%[7]
+ Tuổi và lứa ñẻ ñều là yếu tố quan trọng ảnh hưởng ñến năng suất sinh sản của lợn nái Lợn nái kiểm ñịnh có tỷ lệ ñẻ và năng suất thấp hơn so với nái cơ bản (Koketsu và cộng sự, 1998)[42] Khả năng sinh sản của lợn nái thường thấp ở lứa ñẻ thứ nhất, ñạt cao nhất ở lứa ñẻ thứ 3 sau ñó ổn ñịnh hoặc hơi giảm ñến lứa ñẻ thứ 6, sau ñó giảm rõ rệt khi lứa ñẻ tăng lên Số con/ổ có quan hệ chặt chẽ ñến tuổi của lợn nái và giảm nhanh sau 4 - 5 tuổi (Colin, 1998)[40]
+ Quản lý phối giống bao hàm cả việc phát hiện ñộng dục, phương thức phối giống và kỹ thuật phối giống ðây là những yếu tố trực tiếp ảnh hưởng ñến tỷ lệ thụ thai, số con ñẻ ra/ổ, thời gian chờ phối hay thời gian phi sản xuất ở lợn nái
Số lần phối giống trong một lần ñộng dục ở lợn nái có ảnh hưởng ñến
số con ñẻ ra/ổ Phối ñơn trong một chu kì ñộng dục ở lúc chịu ñực cao nhất
có thể ñạt ñược số con ñẻ /ổ cao, nhưng phối hai lần trong một chu kỳ ñộng dục làm tăng số con ñẻ ra/ổ (Colin, 1998)[40]
Trang 37Phối giống kết hợp giữa nhảy trực tiếp và thụ tinh nhân tạo làm tăng 0,5 lợn con so với phối giống riêng rẽ Phối giống bằng thụ tinh nhân tạo làm
tỷ lệ thụ thai và số con ñẻ ra /ổ ñều thấp hơn từ 0 - 10% so với phối giống trực tiếp (Colin, 1998)[40]
Chất lượng tinh dịch và kỹ thuật phối giống là một yếu tố rất quan trọng ðối với lợn nái ngoại, lượng tinh dịch phải ñạt từ 80- 100 ml và 2,5 - 3
tỷ tinh trùng tiến thẳng cho một lần phối
Tổng kết các công trình nghiên cứu ở Mỹ[7] ñã ñưa ra biểu ñồ sau:
Ảnh hưởng của thời ñiểm dẫn tinh ñến tỷ lệ thụ thai của lợn
+ Thời gian cai sữa:
Thời gian bú sữa của lợn con dài, lợn nái có số con ñẻ ra còn sống/ổ cao, thời gian ñộng dục trở lại ngắn Lợn nái cai sữa ở 28 -35 ngày, thời gian ñộng dục trở lại là 4 - 5 ngày, có thể phối giống và thành tích sinh sản tốt (Colin, 1998) [40] Nếu giảm thời gian cai sữa từ 15 xuống còn 10 ngày sẽ làm giảm trên 0,2 con/ổ
+ Bệnh tật và môi trường sống:
Trang 38Sẩy thai, thai gỗ, chết lưu và chu kỳ ñộng dục không bình thường là biểu hiện của bệnh lý Bệnh leptospirosis, sảy thai truyền nhiễm, rối loạn sinh sản do parvo vi rút, bệnh Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản, trực tiếp gây sảy thai, thai gỗ và thai chết lưu ở lợn Các bệnh khác như viêm vú, viêm
tử cung, suyễn, ỉa chảy, không những làm suy giảm sức khoẻ của lợn nái
mà còn có thể gây nhiễm khuẩn ở lợn con, tăng tỷ lệ chết và tỷ lệ còi cọc ở lợn con
Sức khoẻ nói chung và bệnh tật nói riêng có liên quan chặt chẽ với môi trường Các hoạt ñộng sống của lợn luôn phát nhiệt làm bay hơi nước, ñồng thời lợn còn thải ra phân, nước tiểu và các vi sinh vật gây bệnh Các tác nhân gây bệnh như vi khuẩn, vi rút, bào tử, noãn bào, trứng giun,… sống trong môi trường khi chúng truyền từ con lợn này sang con lợn khác ðiều kiện tự nhiên của môi trường sẽ quyết ñịnh chúng sẽ ñe doạ con lợn khác trong bao lâu
Sự thông thoáng của môi trường chuồng lợn, nhiệt ñộ và ñộ ẩm quá cao hoặc quá thấp ñều ảnh hưởng ñến năng suất sinh sản của lợn nái và sức khoẻ của lợn con Theo Cẩm nang chăn nuôi lợn công nghiệp (1996)[7]: làm giảm tối thiểu các tác ñộng xấu của môi trường là một chìa khoá cho việc chăn nuôi lợn có hiệu quả
+ Sức sống của lợn con:
Năng suất sinh sản của nái không chỉ phụ thuộc vào sức sản xuất của chúng mà còn phụ thuộc vào lợn con Vì kết quả cuối cùng của năng suất sinh sản là số con ñẻ ra sống, số con sống ñến cai sữa, khối lượng cai sữa và số lứa ñẻ/năm có liên quan trực tiếp ñến lợn con
Lợn con mới sinh có những ñặc ñiểm chính là: Hệ thống tiêu hoá chưa phát triển, pH dạ dày trên 3,5; trong dạ dày chưa có HCl tự do nên chưa có khả năng ngăn cản các loại vi khuẩn xâm nhập theo ñường tiêu hoá cũng như tiêu hoá những loại thức ăn khó tiêu Khả năng ñiều tiết thân nhiệt kém, các
Trang 39phản xạ có ñiều kiện mới ñược thiết lập, hệ thống miễn dịch chưa phát triển nên khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh hoàn toàn phụ thuộc vào lượng kháng thể lợn con tiếp nhận ñược từ sữa ñầu của lợn mẹ
Cẩm nang chăn nuôi lợn công nghiệp (1996)[7] cho biết: Hệ thống miễn dịch bắt ñầu phát triển ở thai lợn 50 ngày tuổi, ở 70 ngày tuổi thai lợn
ñã có thể phản ứng với những kháng nguyên lạ Tuy nhiên do môi trường tử cung là vô sinh nên khi vừa ñẻ ra trong cơ thể lợn con hoàn toàn chưa có một lượng kháng thể nào Lợn con phụ thuộc vào kháng thể có trong sữa ñầu Sữa ñầu rất giàu dinh dưỡng và kháng thể Theo Trần Cừ và cs (1976) [8] lượng protein trong sữa ñầu gấp 3 lần sữa thường, trong ñó một nửa là kháng thể γglobulin Nhưng lượng protein trong sữa ñầu cũng giảm nhanh chóng, sau
14 - 16 giờ tiết sữa, lượng protein sữa ñầu ñã giảm bằng sữa thường Mặt khác lượng sữa của lợn mẹ sau khi sinh, tăng cao nhất ở ngày thứ 19 - 20 rồi giảm ñi nhanh chóng ở ngày 21, kéo theo lượng kháng thể cung cấp cho lợn con cũng giảm ñi ñột ngột
Trần Cừ và cs (1976) [8] cũng cho biết: Lợn là loài gia súc có nhau thai biểu mô dây chằng nên kháng thể ở lợn mẹ không thể thấm qua ñược nhau thai Bù lại, niêm mạc ở lợn con mới sinh có cấu tạo ñặc biệt, các tế bào còn liên kết lỏng lẻo, vì vậy nó có thể hấp thu kháng thể IgG là loại globulin
có khối lượng phân tử thấp trong vòng 36 - 48 giờ sau khi sinh Kháng thể IgG lưu thông trong máu, tạo nên khả năng miễn dịch toàn thân ở lợn con trong vòng 4 - 6 tuần rồi bị ñào thải dần theo thời gian
Kháng thể IgA trong sữa ñầu và sữa thường ñược gắn vào cơ chất “ s” trên nhung mao của tế bào biểu mô niêm mạc ruột non, chúng có tác dụng ngăn cản không cho kháng nguyên, vi khuẩn bám dính gây bệnh Vì vậy, IgA chỉ có tác dụng cục bộ, ngăn cản vi khuẩn gây bệnh trên ñường tiêu hoá
Khả năng kháng bệnh của kháng thể ñược cung cấp từ sữa mẹ phụ thuộc
Trang 40vào kháng nguyên và mầm bệnh mà lợn mẹ tiếp xúc trong thời gian mang thai đặc biệt phụ thuộc vào lượng sữa ựầu mà lợn con bú ựược, trong ựó rất nhiều kháng thể, nhiều ựến mức có thể ngăn cản hệ thống miễn dịch của lợn con tiếp xúc với kháng nguyên Vì vậy, ựến 10 ngày tuổi lợn con mới bắt ựầu sản xuất ựược một ắt kháng thể IgG, IgA và tăng dần theo thời gian ựến khoảng 4 - 5 tuần tuổi lượng kháng thể này mới ựủ khả năng bảo hộ cho lợn con
Ở 21 ngày tuổi là ựiểm giao cắt giữa lượng kháng thể ựược cung cấp
từ sữa mẹ giảm xuống và lượng kháng thể lợn con sản xuất ựược tăng lên
đó là thời ựiểm khủng khoảng về dinh dưỡng do lượng sữa mẹ giảm xuống ựột ngột và khủng khoảng về lượng kháng thể thấp trong cơ thể
Nói chung khả năng phản ứng của lợn con theo mẹ với môi trường là rất yếu ớt Tỷ lệ nuôi sống và thể trạng lợn con lúc cai sữa phụ thuộc vào công tác quản lý ựàn và kĩ thuật chăm sóc nuôi dưỡng chúng