luận văn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-*** -
ðỖ THÀNH NHÂN
ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ ðỘ TƯỚI NƯỚC
VÀ PHÂN BÓN ðẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT LẠC TRÊN ðẤT CÁT TỈNH BÌNH ðỊNH
Chuyên ngành: Trồng trọt
Mã s ố: 60.62.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học:
TS Hoàng Minh Tâm
HÀ NỘI – 2010
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Xin chân thành bày tỏ lòng kắnh trọng và biết ơn sâu sắc tới thầy TS Hoàng Minh Tâm tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp ựỡ và tạo mọi ựiều kiện thuận lợi ựể tôi hoàn thành luận văn này
Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô giáo và tập thể cán
bộ Ban đào tạo sau ựại học Ờ Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam ựã giúp
ựỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn tới Ban lãnh ựạo Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Duyên hải Nam Trung bộ, lãnh ựạo Bộ môn Khoa học ựất
và Môi trường cùng toàn thể ựồng nghiệp luôn luôn giúp ựỡ, ựộng viên khắch
lệ tôi vượt qua mọi khó khăn ựể hoàn thành nhiệm vụ
để hoàn thành luận văn này, tôi cũng ựã nhận ựược sự ựộng viên, ựóng góp tận tình của giai ựình, người thân và bạn bè
Một lần nữa cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc ựến tất cả những
sự giúp ựỡ quý báu này
Tác giả luận văn
đỗ Thành Nhân
Trang 3LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan ñây là công trình nghiên cứu khoa học do tôi trực tiếp thực hiện, dưới sự hướng dẫn của TS Hoàng Minh Tâm
Mọi sự giúp ñỡ cho việc thực hiện luận văn này ñã ñược cảm ơn và các tin trích dẫn trong luận án ñã ñược ghi rõ nguồn gốc
Các số liệu, kết quả nghiên cứu trình bày trong luận án là trung thực và chưa từng ñược công bố và bảo vệ một học vị nào khác ở trong và ngoài nước
Tác giả luận văn
ðỗ Thành Nhân
Trang 41.1.2.2 Vị trí của cây lạc trong hệ thống cây trồng 8 1.1.3 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới và Việt Nam 10 1.1.3.1 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới 10 1.1.3.2 Tình hình sản xuất lạc của Việt Nam 12 1.1.3.3 Tình hình xuất khẩu lạc của Việt Nam 14 1.1.3.4 ðiều kiện tự nhiên và hiện trạng sản xuất lạc tại Bình ðịnh 15 1.1.4 Ảnh hưởng của ñiều kiện khí hậu, ñất ñai và dinh dưỡng ñến
quá trình sinh trưởng và phát triển của cây lạc 19
Trang 51.2 Một số kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan ñến ñề
tài
26
1.2.1 Một số kết quả nghiên cứu ngoài nước liên quan ñến ñề tài 26 1.2.1.1 Kết quả nghiên cứu về nước tưới 26 1.2.1.2 Kết quả nghiên cứu về dinh dưỡng cho cây lạc 29 1.2.2 Một số kết quả nghiên cứu trong nước liên quan ñến ñề tài 34 1.2.2.1 Kết quả nghiên cứu về ñất cát biển Việt Nam 34 1.2.2.2 Kết quả nghiên cứu về tưới nước cho cây lạc 35 1.2.2.3 Kết quả nghiên cứu về dinh dưỡng cho cây lạc 37 CHƯƠNG II VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.2.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của thời kỳ và liều lượng tưới nước ñến
sinh trưởng, phát triển và năng suất lạc trên ñất cát tỉnh Bình ðịnh 45 2.2.2 Nghiên cứu vai trò của một số nguyên tố ña, trung, vi lượng (ô
thiếu hụt) ñến sinh trưởng, phát triển và năng suất lạc trên ñất cát tỉnh
2.3.1 Bố trí thí nghiệm và xử lý số liệu 48 2.3.3 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp theo dõi 48 2.3.3.1 ðối với các chỉ tiêu sinh trưởng phát triển và năng suất lạc 48 2.3.3.2 Phương pháp tính hiệu quả kinh tế 49
2.3.3.3 Phương pháp phân tích mẫu ñất và mẫu cây 50 CHƯƠNG III.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 52 3.1 Kết quả nghiên cứu về chế ñộ nước tưới cho cây lạc 52
Trang 63.1.1 Ảnh hưởng của chế ựộ nước tưới ựến sinh trưởng của giống
3.1.5 Ảnh hưởng của chế ựộ nước tưới ựến năng suất và các yếu tố
3.1.6 đánh giá hiệu quả kinh tế của các chế ựộ nước tưới khác nhau 65 3.2 Kết quả nghiên cứu vai trò của một số nguyên tố ựa, trung và vi
lượng ựến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống lạc L23 trên ựất
3.2.1 Ảnh hưởng của một số nguyên tố ựa, trung và vi lượng ựến
3.2.2 Ảnh hưởng của dinh dưỡng khoáng ựến sự tăng trưởng chiều
cao cây và số cành cấp 1 của giống lạc L23 trên ựất cát 68 3.2.3 Ảnh hưởng của một số nguyên tố ựa, trung và vi lượng ựến
3.2.4 Ảnh hưởng của các nguyên tố ựa, trung và vi lượng ựến hàm
3.2.5 Ảnh hưởng của các nguyên tố dinh dưỡng khoáng ựến năng
3.2.6 Hiệu suất phân bón ựối với giống Lạc L23 trên ựất cát tỉnh
3.2.7 Ảnh hưởng của nguyên tố dinh dưỡng khoáng ựến tình hình
Trang 7sâu bệnh hại 82
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
Sai khác có ý nghĩa LSD
Viện nghiên cứu cây trồng cho vùng bán khô hạn Quốc tế ICRISAT
Trang 93.8 Ảnh hưởng của chế ựộ nước tưới ựến các yếu tố cấu thành
3.9 Ảnh hưởng của chế ựộ tưới ựến năng suất giống lạc L23 64 3.10 đánh giá hiệu quả kinh tế của các chế ựộ tưới nước khác
nhau
66
3.11 Tắnh chất ựất trước khi triển khai thắ nghiệm 67 3.12 Ảnh hưởng của dinh dưỡng khoáng ựến thời gian sinh
3.13 Ảnh hưởng của dinh dưỡng khoáng ựến chiều cao cây và số
3.14 Ảnh hưởng của dinh dưỡng khoáng ựến khối lượng thân lá
Trang 103.15 Ảnh hưởng của dinh dưỡng khoáng ñến hàm lượng các chất
trong thân lá lạc giai ñoạn phân cành 73 3.16 Ảnh hưởng của dinh dưỡng khoáng ñến hàm lượng các chất
trong thân lá lạc giai ñoạn ra hoa rộ 74 3.17 Ảnh hưởng của dinh dưỡng khoáng ñến hàm lượng các chất
trong thân lá lạc giai ñoạn thu hoạch 75 3.18 Ảnh hưởng của dinh dưỡng khoáng ñến các yếu tố cấu
3.19 Ảnh hưởng của dinh dưỡng khoáng ñến năng suất giống lạc
3.20 Hiệu suất phân bón ñối với giống lạc L23 trên ñất cát tỉnh
3.21 Ảnh hưởng của dinh dưỡng khoáng ñến tình hình sâu bệnh
Trang 113.4 Ảnh hưởng của sự thiếu hụt dinh dưỡng ñến tích lũy các
chất khoáng trong thân lá giai ñoạn ra hoa rộ
74
3.5 Ảnh hưởng của sự thiếu hụt dinh dưỡng ñến tích lũy các
chất khoáng trong thân lá giai ñoạn ra hoa rộ
76
3.6 Ảnh hưởng của sự thiếu hụt dinh dưỡng ñến năng suất
lạc
80
Trang 12MỞ ðẦU
TÍNH CẤP THIẾT CỦA ðỀ TÀI
Theo số liệu của hội khoa học ñất Việt Nam năm 2000 diện tích ñất cát ven biển của nước ta khoảng hơn 500 nghìn ha, phân bố chủ yếu ở vùng duyên hải miền Trung (Bắc Trung bộ và Nam Trung bộ) ðất cát ven biển nói chung và ở Bình ðịnh nói riêng cơ bản là cát, có thành phần cơ giới nhẹ, hàm lượng cát mịn cao, hàm lượng sét vật lý thấp, sức chứa ẩm ñồng ruộng chỉ khoảng từ 2,5 ñến 12,5%, hàm lượng các chất tổng số thấp, các chất rễ tiêu nghèo Do ñó, khả năng giữ nước và giữ dinh dưỡng của ñất cát ven biển là rất kém
Do vậy, ñể tăng hiệu quả kinh tế và sản xuất lâu dài trên ñất cát ven biển cần lựa chọn một cây họ ñậu trong cơ cấu cây trồng hàng năm là cần thiết
Lạc (Arachis hypogaea.L) là cây công nghiệp ngắn ngày, cây lấy dầu
có giá trị kinh tế cao, hạt lạc từ lâu ñã ñược sử dụng làm thực phẩm cho con người và là nguyên liệu quan trọng trong công nghiệp chế biến Hạt lạc có hàm lượng dầu cao (dầu thô từ 40 - 60%), trong thành phần sinh hóa của hạt lạc còn có Protein thô (26 - 34%), Gluxit (6 - 22%), Xellulo (2 - 4,5%)
Trong số các loại cây lấy hạt có dầu trên thế giới thì lạc ñứng thứ 2 sau ñậu tương về diện tích và sản lượng Hiện nay, Ấn ðộ là nước ñứng ñầu thế giới về diện tích (8 triệu ha), Trung Quốc ñứng ñầu thế giới về sản lượng (12,64 triệu tấn) nhưng Mỹ lại là nước có năng suất lạc bình quân cao nhất (2,99 tấn/ha) (số liệu niên vụ 1999/2000) [11]
Ở Việt Nam, trong số các loại cây công nghiệp hàng năm thì lạc chiếm 34,2% trong tổng số diện tích cây công nghiệp hàng năm và sản lượng lạc ñứng thứ 2 sau cây mía (theo số liệu thống kê năm 2009)
Trang 13Bên cạnh việc cho hiệu quả kinh tế cao, lạc còn là cây trồng có vai trò cải tạo ñất nhờ các vi khuẩn nốt sần sống cộng sinh ở rễ ðồng thời thân lá lạc cũng là loại phân xanh rất tốt vì thành phần dinh dưỡng trong thân lá lạc cao hơn nhiều một số loại phân hữu cơ khác, ñặc biệt là ñạm (trong thành phần của thân lá lạc có 4,45% N, thân lá cây phân xanh có 3,30%N, phân chuồng
có 1,80%N) (theo ðường Hồng Dật, 2007) [13]
Ngoài ra, lạc cũng là cây có khả năng tạo tính ña dạng hóa cho sản xuất nông nghiệp bằng các hình thức trồng thuần, trồng xen canh, trồng gối vụ nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp và che phủ bảo vệ ñất chống xói mòn rửa trôi ðồng thời, các sản phẩm phụ (thân lá, vỏ quả, …) của cây lạc ñều có thể làm thức ăn cho chăn nuôi rất tốt
Tuy nhiên, ñể sản xuất lạc trên ñất cát tỉnh Bình ðịnh có hiệu quả còn gặp rất nhiều khó khăn như tưới nước (theo số liệu thời tiết ñược tổng hợp từ năm 2001 ñến 2009 thì tại Bình ðịnh có 8/12 tháng trong năm có tổng lượng nước bốc hơi bề mặt cao hơn lượng mưa), phân bón (loại phân bón, liều lượng phân bón, phương pháp bón phân), giống, mật ñộ, khoảng cách gieo trồng, che phủ, chất giữ ẩm, …
Trong khuôn khổ của một công trình nghiên cứu ở cấp ñộ thạc sĩ, ñể tài tập trung vào một số trọng tâm chính sau:
- Nước tưới, mặc dù lạc là cây trồng cạn và chịu hạn tương ñối khá nhưng trong một số giai ñoạn sinh trưởng, phát triển rất cần phải có một lượng nước tưới nhất ñịnh ñặc biệt là trên ñất cát và ñiều kiện khí hậu ở tỉnh Bình ðịnh
- Trên ñất cát hàm lượng dinh dưỡng khoáng (ña lượng, trung lượng và
vi lượng) gần như là nghèo kiệt, do ñó việc bổ sung dinh dưỡng và bước ñầu ñánh giá vai trò (có lược hóa) của từng nguyên tố dinh dưỡng khoáng ñến
Trang 14sinh trưởng, phát triển và năng suất lạc là mục tiêu trước mắt cần ñược quan tâm và cũng là cơ sở cho các nghiên cứu chi tiết hơn về sau
Do ñó, ñể mở rộng diện tích và tăng hiệu quả sản xuất lạc trên ñất cát
bước ñầu nghiên cứu “ảnh hưởng của chế ñộ tưới nước và phân bón ñến
sinh trưởng, phát triển và năng suất lạc trên ñất cát tỉnh Bình ðịnh” là hết
sức cần thiết
MỤC TIÊU CỦA ðỀ TÀI
- Xác ñịnh ñược chế ñộ tưới nước hợp lý cho cây lạc trên ñất cát tỉnh Bình ðịnh
- Nghiên cứu khả năng sinh trưởng phát triển và năng suất của cây lạc (giống L23) dưới ảnh hưởng của một số nguyên tố dinh dưỡng ña, trung và vi lượng trên ñất cát tỉnh Bình ðịnh
Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ðỀ TÀI
ðỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ðỀ TÀI
ðối tượng nghiên cứu
ðối tượng nghiên cứu là cây lạc trên ñất cát ñồng bằng tỉnh Bình ðịnh
Phạm vi nghiên cứu
Trang 15Các thí nghiệm ñược tiến hành tại xã Cát Hanh, huyện Phù Cát, tỉnh Bình ðịnh
Thời gian thực hiện: vụ xuân 2010 (từ tháng 01/2010 ñến 4/2010)
Trang 16CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA đỀ TÀI
1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA đỀ TÀI
1.1.1 Nguồn gốc và phân bố cây lạc
Lạc (Arichis hypogeae L.) hay còn gọi là Ộựậu phộngỢ thuộc chi Arachis, họ ựậu Fabaceae, bộ Poales có nguồn gốc ở Nam Mỹ Nhờ khảo cổ
học và ựịa thực vật học người ta ựã xác ựịnh ựược nguồn gốc cây lạc
Năm 1977, Skiê (E.G.Squier) tìm thấy những quả lạc ựược chôn trong ngôi mộ cổ Ancon gần Lima, thủ ựô Pêru Lạc ựược ựựng trong cái vại cùng một số thực phẩm khác Niên ựại của ngôi mộ cổ này có từ năm 1500 - 1200 trước Công nguyên (Dẫn theo đoàn Thị Thanh Nhàn và cs, 1996) [26]
Krapovickas (1986) cho rằng vùng Bolovian (Nam Bolovia - Tây Bắc Achentina là vùng nguyên sản của loài lạc trồng Theo Ông, vùng này có 5 trung tâm phát nguyên của lạc trồng và ựến năm 1976 Gregory bổ sung thêm trung tâm thứ 6 đó là các vùng:
1- Vùng Guarani (Paragoay, Parana);
2- Vùng Goias và Minas Gerais (Tocactin, San Franxisco);
3- Vùng Rondonia và Tây Bắc Mato (Nam Amazon);
4- Vùng Bolovian (Tây Nam Amazon);
5- Vùng Peruvian (trên Amazon và ven biển miền Tây);
6- đông Bắc Braxin (bổ sung của Gregory)
Ở châu Âu, tài liệu ghi chép về cây lạc sớm nhất vào năm 1587 là của nhà tự nhiên học người Bồ đào Nha Gabriel Soares de Sauza ựã mô tả về cây lạc và Jean de Lery (1578) mô tả kỹ về quả lạc (Dẫn theo đoàn Thị Thanh Nhàn và cs, 1996) [26]
Trang 17Như vậy, từ vùng nguyên sản ở Nam Mỹ và bằng nhiều con ñường khác nhau cây lạc ñã ñược ñưa ñi nhiều nước trên thế giới (châu Âu vào năm 1574) và cây lạc ñã thích ứng phát triển thuận lợi ở châu Phi và các vùng nhiệt ñới châu Á Cho ñến nay, cây lạc ñã ñược trồng ở hơn 100 quốc gia trên thế giới từ vĩ tuyến 360 Bắc ñến 360 Nam và ở Trung Quốc lạc còn ñược trồng
ở vĩ tuyến 500 Bắc
1.1.2 Vai trò và vị trí của cây lạc
1.1.2.1 Vai trò của cây lạc
Vai trò của lạc ñối với dinh dưỡng con người
ðối với cây lạc, bộ phận con người sử dụng là hạt Giá trị dinh dưỡng chủ yếu của hạt lạc mà con người sử dụng ñó là lipit và protein So với một số loại cây thực phẩm ñược trổng phổ biến ở Việt Nam (ñậu tương, vừng, ñậu xanh) thì hàm lượng lipit có trong hạt lạc là (40 - 60%) cao hơn vừng (45 - 54%), cao hơn nhiều so với ñậu tương (12 - 24%) và ñậu xanh (1,5 - 4%); hàm lượng protein trong lạc (26 - 34%) chỉ ñứng sau ñậu tương (40 - 50%), cao hơn ñậu xanh (22 - 25%) và vừng (16 - 18%)
Trong thành phần của dầu lạc axit béo chưa no chiếm khoảng 80% (axit oleic từ 39 - 65,7%, axit linoleic từ 17 - 38%) và 20% còn lại là axit béo no Trong dầu lạc, tỷ lệ axit oleic/axit linoleic biến ñộng trong khoảng 1,2 ñến 2,
tỷ lệ này càng cao thì dầu càng dễ bảo quản Với thành phần dinh dưỡng và tính chất ñó, dầu lạc là loại dầu thực phẩm ñược cơ thể người hấp thu tốt Ngoài ra trong thành phần của dầu lạc còn chứa cacbua hydro thơm, mặc dù
có hàm lượng không ñáng kể (1,8mg/tấn dầu) nhưng nó làm cho các sản phẩm chế biến từ dầu lạc có hương vị ñặc biệt, rất hấp dẫn
Trong thành phần protein của lạc, 2 loại Arachin và conarachin chiếm khoảng 90 - 95%, trong protein của lạc có ñầy ñủ 8 loại axit amin không thể thay thế
Trang 18Về mặt năng lượng, trong 100gam hạt lạc cung cấp cho con người 590Cal, lượng Cal này cao hơn rất nhiều một số thực phẩm thông dụng khác (ñậu tương là 411, gạo tẻ là 353, thịt lợn lạc là 286, trứng vịt là 189, cá chép
là 99)
Do có giá trị dinh dưỡng cao, nên hạt lạc từ lâu ñã ñược con người sử dụng như một nguồn thực phẩm quan trọng Hạt lạc có thể ăn trực tiếp (luộc quả, rang, nấu canh …) hoặc có thể chế biến ra nhiều món ăn khác nhau như kẹo lạc, bơ lạc, pho mát lạc, sữa lạc …., hoặc ép dầu ñể làm dầu ăn và khô dầu ñể làm nước chấm và các mặt hàng thực phẩm khác
Vai trò của lạc trong chăn nuôi
Giá trị sử dụng làm thức ăn cho gia súc của cây lạc ñược ñánh giá thông qua hàm lượng khô dầu lạc, thân lá làm thức ăn xanh và việc tận dụng phế liệu từ lạc làm thức ăn cho gia súc
Trong thành phần dinh dưỡng của một số khô dầu thực vật thường ñược dùng trong chăn nuôi (khô lạc, khô ñậu tương, khô dầu bông, khô cải dầu, khô dầu lanh) thì khô lạc có hàm lượng protein cao nhất (50,8%) và cao gấp 2,07 lần khô dầu bông (24,5%)
Ngoài ra, với năng suất chất xanh sau khi thu hoạch quả khoảng 5 - 15 tấn/ha, thân lá lạc cũng là nguồn thức ăn quan trọng trong chăn nuôi ñại gia súc Bởi vì, thành phần dinh dưỡng trong thân lá lạc cũng không kém các loại
cỏ thông dụng thường dùng trong chăn nuôi trâu, bò và gia súc khác
Trang 19Bảng 1.1 Thành phần dinh dưỡng của thân lá lạc và một số loại cỏ chăn nuôi khác
ðơn vị tính: % trọng lượng khô
(Nguồn: Chiêm Anh Hiền, 1961)
Trong chế biến và quả lạc con người sử dụng thường tách hạt ra khỏi
vỏ quả, tuy là sản phẩm phụ nhưng vỏ quả cũng chiếm khoảng 25 - 35% trọng lượng quả Vỏ quả lạc nghiền thành cám sử dụng trong chăn nuôi rất tốt, vì
trong thành phần dinh dưỡng của vỏ quả lạc tương ñương với cám gạo
Bảng 1.2 Thành phần dinh dưỡng cám gạo và cám vỏ quả lạc
ðơn vị tính: % trọng lượng khô
Loại cám
Tổng số Dễ tiêu Tổng số Dễ tiêu Tổng số Dễ tiêu
Cám vỏ quả lạc 4,2 2,9 2,6 1,8 18,5 7,2
(Nguồn: Chiêm Anh Hiền 1951)
1.1.2.2 Vị trí của cây lạc trong hệ thống cây trồng
Lạc là cây trồng có nhiều ý nghĩa, nhất là ñối với các nước nghèo vùng nhiệt ñới Có thời gian sinh trưởng khoảng 4 tháng, giá trị kinh tế tương ñối cao, yêu cầu ñiều kiện khí hậu và ñất ñai không khắt khe Cây lạc rất có ý nghĩa trong chuyển dịch cơ cấu cây trồng, ngoài hệ thống luân canh cây lạc cón có thể trồng xen với một số cây trồng khác (mía, sắn, cây lâu năm…)
Cũng như các cây họ ñậu khác, rễ lạc có thể tạo ra các nốt sần do vi sinh vật cộng sinh cố ñịnh N hình thành và trong ñiều kiện thuận lợi vi khuẩn
Trang 20nốt sần này có thể cố ựịnh ựược từ 200 - 260kg N/ha/vụ Do ựó, ngoài việc mang lại hiệu quả kinh tế, nâng cao thu nhập trên ựơn vị diện tắch, cây lạc còn
là cây trồng cải tạo ựất rất tốt Các cây trồng ựược trồng trên chân ựất ựã trồng lạc vụ trước ựều cho năng suất cao hơn nhiều so với trồng cây trồng khác và hiệu quả này còn cao hơn rất nhiều nếu ta vùi thân lá lạc
Fu Hsiung Lin (1990) [42] nghiên cứu công thức luân canh các cây trồng cạn với lúa tại Trung Quốc và đài Loan cho thấy: Khi ựưa các cây họ ựậu vào luân canh với lúa ựã giúp cho cải thiện tắnh chất lý, hoá của ựất một cách rõ rệt, làm thay ựổi pH của ựất, tăng hàm lượng chất hữu cơ, cải tạo thành phần
cơ giới, tăng lượng lân, kali dễ tiêu trong ựất
Trên ựất cát ven biển vùng Duyên hải Nam Trung bộ, Hoàng Minh Tâm và CS (2010) [28] ựã xác ựịnh ựược cơ cấu cây trồng cho hiệu quả kinh
tế cao nhất là lạc (ựông xuân) - vừng (hè thu) - khoai lang (thu ựông); cơ cấu trồng lạc xen sắn mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn trồng sắn thuần Với kết quả này, ngoài nâng cao ựáng kể hiệu quả kinh tế cho người dân, còn có hiệu quả tắch cực trong việc giảm thoái hóa ựất do người dân thường trồng ựộc canh cây sắn
Nhiều tác giả cũng ghi nhận ở ựồng bằng Bắc Bộ việc trồng lạc trong
vụ xuân cho thu nhập thuần cao hơn so với trồng các cây trồng khác, ựặc biệt trồng xen lạc với ngô lạc sẽ cho hiệu quả kinh tế cao nhất, cao hơn trồng thuần ngô hoặc thuần lạc từ 26,3 ựến 29,8% [20]
Trên ựất cát ven biển trong vụ xuân có thể trồng lạc, lúa, ngô, khoai lang thì sản xuất lạc cho hiệu quả kinh tế cao nhất và cải tạo ựất tốt nhất Theo Nguyễn Thị Chinh và cs (2002) [10] trên ựất 2 lúa, vụ thu ựông trồng lạc cho hiệu quả kinh tế cao hơn rất nhiều so với trồng ựậu tương, ngô và khoai lang
Như vậy, lạc thực sự là một cây trồng quan trọng của loài người, ựặc
biệt là ở các vùng sinh thái khó khăn Lạc vừa mang lại nguồn dinh dưỡng
Trang 21cao, hiệu quả kinh tế cao và lạc còn là cây trồng cải tạo ñất rất tốt ðặc biệt,
do thời gian sinh trưởng ngắn nên lạc rất thích hợp với các công thức luân canh và xen canh tăng vụ
1.1.3 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới và Việt Nam
1.1.3.1 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới
Mặc dù cây lạc ñã ñược gieo trồng cách ñây khoảng 500 năm, nhưng giá trị kinh tế thực của cây lạc chỉ ñược xác ñịnh khi công nghiệp ép dầu ñược phát triển ở Pháp (những năm 70 của thế kỷ XIX) Trong những năm cuối thể kỷ XIX, ñầu thế kỷ XX lạc là cây họ ñậu có diện tích lớn nhất, nhưng những năm gần ñây thì diện tích và sản lượng lạc chỉ ñứng thứ 2 trong
số các loại cây lấy dầu sau ñậu tương
Theo thống kê của FAO: Từ năm 1932 - 1984, diện tích trồng lạc trên thế giới tăng 3,64 lần (từ 5,073 triệu ha lên 18,478 triệu ha), sản lượng lạc tăng 4,15 lần (từ 4,653 triệu tấn lên 19,328 triệu tấn), trong khi ñó năng suất lạc chỉ tăng 1,14 lần (từ 9,17 tạ/ha lên 10,46 tạ/ha) Từ năm 1984 ñến năm 2005, mặc dù diện tích trồng lạc trên thế giới tăng 16,9% (từ 18,478 triệu
ha lên 21,6 triệu ha), nhưng do năng suất lạc giai ñoạn này tăng nhanh (45,32%, từ 10,46 tạ/ha lên 15,2 tạ/ha) nên sản lượng giai ñoạn này ñã tăng 88,85% (từ 19,328 triệu tấn lên 36,5 triệu tấn)
Như vậy, trong khoảng hơn 50 năm giữa thế kỷ XX tổng sản lượng
lạc của thế giới tăng 4,15 lần chủ yếu là do diện tích gieo trồng tăng, trong khi
ñó chỉ cần 20 năm của cuối thế kỷ XX và ñầu thế kỷ XXI nhờ áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới nên mặc dù diện tích lạc chỉ tăng 19,6% nhưng sản lượng lạc toàn thế giới ñã tăng gần gấp 2 lần
Hiện nay, năng suất lạc trung bình toàn thế giới mới ñạt 16,2 tạ/ha Tuy nhiên, mặc dù có diện tích trồng lạc không lớn (3700 ha) nhờ áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật ñồng bộ (giống và biện pháp canh tác) hiện
Trang 22Israel ựang dẫn ựầu thế giới về năng suất lạc (67 tạ/ha) Mặc dù là quốc gia có diện tắch gieo trồng lạc nhiều nhất thế giới (khoảng 8 triệu ha), nhưng Ấn độ chỉ ựứng thứ 2 thế giới về sản lượng do năng suất ở ựây chỉ ựạt dưới 1 tấn/ha Bên cạnh ựó nhờ áp dụng các tiến bộ kỹ thuật mới trong sản xuất lạc mà với diện tắch khoảng 4,7 triệu ha Trung Quốc lại là quốc gia có sản lượng cao nhất thế giới (14,39 triệu tấn) Có diện tắch gieo trồng lạc hàng năm không lớn (khoảng 0,5 triệu ha) nhưng do năng suất lạc ựạt khá cao và ổn ựịnh (35,5 tạ/ha) nên sản lượng lạc của Mỹ ựược xếp thứ 3 thế giới sau Trung Quốc và
Ấn độ
Mặc dù, nguyên sản của cây lạc thuộc vùng Nam Mỹ nhưng năng suất lạc bình quân ựứng ựầu lại thuộc về các nước khu vực Bắc Mỹ và diện tắch lạc lớn nhất lại thuộc về Châu Á
So sánh về năng suất lạc giữa các châu lục và các nước trên thế giới, các nhà khoa học nhận ựịnh, tiềm năng năng suất lạc còn rất lớn cần phải tận dụng khai thác Trong khi năng suất lạc bình quân trên thế giới hiện nay mới chỉ ựạt 16,2 tạ/ha thì vào những năm cuối thế kỷ XX tại tỉnh Sơn đông của Trung Quốc thử nghiệm mô hình trồng lạc với quy mô hẹp ựã ựạt ựược năng suất 12 tấn/ha Trên diện tắch 14 ha, năng suất lạc ựạt 9,8 tấn/ha và với quy
mô hàng trăm ha thì năng suất vẫn ựạt 6,0 - 7,5 tấn/ha
để ựạt ựược những thành tựu về năng suất lạc như hiện nay, các nhà khoa học trên thế giới ựều khẳng ựịnh cần có chiến lược nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ lỹ thuật mới trong thâm canh lạc nhằm khai thác tối ựa tiềm năng năng suất của cây lạc Nhờ áp dụng phương thức nghiên cứu và thử nghiệm các tiến bộ kỹ thuật trồng lạc trên ựồng ruộng có sự tham gia trực tiếp của nông dân, tại Ấn độ mặc dù diện tắch trồng lạc chủ yếu phụ thuộc vào nước trời nhưng năng suất lạc cũng tăng lên ựáng kể Từ ựó, phương thức này
Trang 23ñã ñược nhiều nước khu vực Châu Á áp dụng và mang lại những thành công nhất ñịnh
Tóm lại, ñể nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế trong sản xuất
lạc tùy ñiều kiện cụ thể của mỗi quốc gia cần có chiến lược nghiên cứu và ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất Tiềm năng năng suất cây lạc chỉ có thể phát huy thông qua việc ứng dụng rộng rãi những tiến
bộ khoa học kỹ thuật trên ñồng ruộng
1.1.3.2 Tình hình sản xuất lạc của Việt Nam
Thuận lợi:
Hiện nay, cây lạc ñược trồng phổ biến ở tất cả các tỉnh trong cả nước Theo số liệu thống kê năm 2009, diện tích trồng lạc chiếm 32,96% tổng diện tích cây công nghiệp hàng năm, chiếm 2,23% tổng diện tích cây hàng năm và chiếm 1,79 tổng diện tích ñất nông nghiệp Tình hình diễn biến diện tích, năng suất và sản lượng lạc của Việt Nam từ năm 1939 ñến nay ñược thể hiện qua bảng dưới ñây:
Số liệu thống kê bảng 1.3 cho thấy, từ năm 1939 ñến năm 1985 sản lượng lạc nước ta tăng (59,53 lần) chủ yếu là do diện tích tăng Trong khoảng
50 năm, từ 1939 ñến 1990 năng suất lạc nước ta chỉ tăng ñược 3,2 tạ/ha, từ
1990 ñến 2000 năng suất lạc trung bình tăng 3,91 tạ/ha
Những năm gần ñây, tốc ñộ công nghiệp hóa và ñô thị hóa của nước ta diễn ra rất nhanh, các khu ñô thị, khu công nghiệp, khu chế xuất mới hình thành ngày càng nhiều và mở rộng về quy mô diện tích, nhưng diện tích trồng lạc của nước ta từ năm 1995 ñến nay tương ñối ổn ñịnh khoảng 250 nghìn ha
Do năng suất lạc liên tục ñược tăng lên (từ năm 1995 ñến năm 2005 năng suất lạc nước ta ñã tăng 41,03% và ñến năm 2008 năng suất lạc bình quân toàn quốc ñã vượt ngưỡng 20 tạ/ha), vì vậy sản lượng lạc của nước ta từ năm 1995 ñến nay luôn tăng Trong 10 năm, từ 1995 ñến 2005 sản lượng lạc nước ta ñã
Trang 24tăng 46,28% và ñến năm 2007 sản lượng lạc nước ta ñã vượt ngưỡng 500 nghìn tấn/năm
Bảng 1.3 Diện tích, năng suất và sản lượng lạc của Việt Nam Năm Diện tích (1000 ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (1000 tấn)
(Nguồn: Giáo trình cây công nghiệp- NXB Nông nghiệp Hà Nội, 1996,
Số liệu thống kê, Bộ NN và PTNT-http://fsiu.mard.gov.vn/data/trongtrot.htm)
Có ñược những tiến bộ về năng suất lạc như hiện nay là nhờ vào sự quan tâm ñầu tư nghiên cứu của Nhà nước nói chung và của từng ñịa phương nói riêng ðặc biệt thông qua chương trình hợp tác với ICRISAT và CLAN (mạng lưới cây ñậu ñỗ và cây cốc châu Á) Việt Nam ñã có cơ hội tiếp cận ñược với nhiều thành tựu về tiến bộ khoa học kỹ thuật mới, trao ñổi kinh nghiệm nghiên cứu và phát triển sản xuất lạc trên thế giới và trong khu vực
Trang 25Khó khăn:
Tuy nhiên, do ñiều kiện khí hậu, ñất ñai và trình ñộ canh tác lạc không ñồng ñều nên có sự chênh lệch về diện tích và năng suất lạc giữa các vùng và ñịa phương còn khá lớn
Theo số liệu thống kê năm 2009, diện tích lạc lớn nhất thuộc về Nghệ
An là 23,8 nghìn ha, sau ñó ñến Tây Ninh 21,7 nghìn ha, trong khi ñó một số tỉnh diện tích lạc chỉ có 100 ha như Hải Phòng, Kon Tum, ðồng Tháp
Mặc dù năng suất lạc bình quân chung của cả nước từ năm 2007 ñã vượt ngưỡng 20 tạ/ha, nhưng ñến năm 2009 năng suất lạc bình quân của vùng Tây Bắc mới ñạt 14,3 tạ/ha và cá biệt một số tỉnh năng suất lạc vẫn còn dưới
10 tạ/ha (Ninh Thuận - 7,5 tạ/ha, Bình Phước - 8,6 tạ/ha, Lai Châu - 8,7 tạ/ha, Gia Lai - 9,4 tạ/ha) Bên cạnh ñó một số vùng và ñịa phương năng suất lạc ñã
có những bước tiến vượt bậc, năng suất lạc bình quân toàn vùng ðồng bằng Sông Cửu Long ñã ñạt trên 33,1 tạ/ha ðến nay, toàn quốc ñã có 8 tỉnh có năng suất lạc ñạt trên 30 tạ/ha và cá biệt có 2 tỉnh ñạt năng suất lạc trên 40 tạ/ha (Hải Phòng - 40 tạ/ha, Trà Vinh - 41,2 tạ/ha)
1.1.3.3 Tình hình xuất khẩu lạc của Việt Nam
Theo số liệu báo cáo tổng hợp xuất nhập khẩu ngành Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, mặc dù sản lượng lạc của nước ta trong những năm gần ñây liên tục tăng, nhưng do nhu cầu sử dụng làm thực phẩm và chế biến trong những năm qua biến ñộng lớn nên lượng hạt nhân xuất khẩu của nước ta qua các năm biến ñộng rất lớn ñặc biệt những năm gần ñây có xu hướng giảm mạnh ñến năm 2006 lượng lạc nhân xuất khẩu chỉ còn 14,24 nghìn tấn và kim ngạch xuất khẩu chỉ ñạt 10,471 triệu ñô la, thấp nhất kể từ năm 1996 trở lại ñây
Trang 26Bảng 1.4 Tình hình xuất khẩu lạc nhân của Việt Nam
Năm Số lượng (1000 tấn) Giá trị (triệu USD)
* ðặc ñiểm thời tiết và việc bố trí thời vụ cho lạc tại tỉnh Bình ðịnh
Kết quả tổng hợp số liệu thời tiết tại Bình ðịnh từ năm 2001 ñến 2009 cho thấy: Sự biến ñộng của nhiệt ñộ trung bình tháng từ 23,37 ñến 30,75 là phù rất hợp với sinh thái cây lạc (25 - 300C) Tuy nhiên, tổng lượng mưa hàng năm ñạt 2030,22mm nhưng phân bố không ñều, ñây là một trong những yếu
Trang 27tố quan trọng trong việc bố trí mùa vụ của cây trồng ngắn ngày nói chung và cây lạc nói riêng, ñặc biệt là ñối với ñất cát Từ tháng 1 ñến tháng 8, lượng mưa thấp biến ñộng không nhiều, từ tháng 9 ñến tháng 12 lượng mưa tăng ñột biến và ñạt cao nhất là tháng 10 và 11 (lượng mưa từ 423,67 - 517,78 mm/tháng)
ðộ ẩm trung bình (%)
Lượng bốc hơi (mm)
Số giờ nắng (h)
Số ngày
có gió Lào (ngày)
(Nguồn: http://fsiu.mard.gov.vn/data/khituong.htm năm 2010)
Do ñặc ñiểm của các vùng ñất cát biển là có mực nước ngầm cao, vào mùa mưa mực nước ngầm càng dâng cao hơn cộng với lượng nước mưa trên mặt ñất thì các vùng ñất cát hay bị sình lầy, ñây là một khó khăn rất lớn ñối với cây trồng lấy củ Do ñó, xét về chỉ tiêu lượng mưa thì vùng ñất cát tại
Trang 28Bình ðịnh nếu có nước tưới bổ sung có thể bố trí thời vụ trồng lạc từ tháng 1 ñến tháng 7 là phù hợp
Số liệu bảng 1.5 cũng cho thấy, do có số giờ nắng tăng, lượng mưa ít cộng với sự ảnh hưởng của gió Lào nên ñộ ẩm không khí từ tháng 5 ñến tháng
9 xuống rất thấp (dưới 80%, tháng 6 và tháng 7 chỉ từ 62 - 69%), nên lượng bốc hơi ở các tháng này cũng tăng cao (trên 100mm) và lượng nước bốc hơi nhiều nhất là vào tháng 6 (294,71 mm) Do vậy, khi bố trí thời vụ trồng lạc
vào các tháng này cần phải có hệ thống nước tưới luôn luôn chủ ñộng
Như vậy, trên ñất cát tỉnh Bình ðịnh, nếu có hệ thống tưới nước hoàn
toàn chủ ñộng ta có thể bố trí thời vụ trồng lạc từ tháng 12 ñến tháng 9 năm sau (lượng mưa ñầu vụ tạo ñiều kiện thuận lợi cho làm ñất và cây lạc sinh trưởng sinh dưỡng) Tuy nhiên, xét về mặt hiệu quả kinh tế thì trong ñiều kiện nước tưới hoàn toàn chủ ñộng tại Bình ðịnh thì cây lạc ñem lại giá trị thấp hơn nhiều so với một số loại cây rau, hoa quả khác Do vậy, ñể tận dụng lượng nước mưa cuối mùa, ñộ ẩm không khí cao và lượng bốc thoát hơi nước thấp, ñối với ñất cát trong ñiều kiện thời tiết tại Bình ðịnh thời vụ trồng lạc thích hợp và mang lại hiệu quả kinh tế cao là trong khoảng từ tháng 12 ñến tháng 4 năm năm sau
* ðiều kiện ñất ñai
Bình ðịnh, với tổng diện tích ñất tự nhiên là 603.956ha, trong ñó diện tích ñất nông nghiệp chiếm 64,4% tổng diện tích ñất tự nhiên Trong 389.155ha ñất nông nghiệp, ñất sản xuất nông nghiệp chỉ chiếm 35,04% (136.353ha), còn lại là ñất lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản và làm muối Như vậy, bình quân ñất sản xuất nông nghiệp theo ñầu người tại Bình ðịnh chỉ có 0,09ha/người thấp hơn nhiều so với bình quân chung của cả nước (0,29 ha/người) Trong ñó, diện tích cây hàng năm là 97.964ha (chiếm 16,2% tổng diện tích ñất tự nhiên và 71,85% ñất sản xuất nông nghiệp) và hàng năm khai
Trang 29thác tổng diện tích các cây trồng hàng năm mới chỉ ñạt khoảng 1,7 lần (bình
quân chưa ñược 2 vụ/năm)
* Hiện trạng sản xuất lạc
Bình ðịnh là một tỉnh vùng Duyên hải Nam Trung Bộ có ñiều kiện khí hậu tương ñối thuận lợi và phù hợp với yêu cầu sinh thái cây lạc nếu ta chọn thời vụ trồng thích hợp
Bảng 1.6 Diện tích, năng suất và sản lượng lạc tại Bình ðịnh
Năm Diện tích (1000 ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (1000 tấn)
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bình ðịnh năm 2009)
Theo số liệu thống kê của Cục Thống kê tỉnh Bình ðịnh, từ năm 1995 ñến nay chỉ biến ñộng từ 7,4 ñến 9,2 nghìn ha Tại Bình ðịnh, cây lạc cũng ñược trồng tại tất cả các huyện trong tỉnh, diện tích trồng lạc chiếm 61,81% tổng diện tích cây công nghiệp hàng năm, chiếm 5,33% tổng diện tích cây trồng hàng năm và chiếm 4,44% tổng diện tích ñất nông nghiệp Nhưng ñược
sự quan tâm của các cấp chính quyền trong nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ
kỹ thuật nên năng suất lạc từ chỗ thấp hơn bình quân chung của cả nước (năm 1995) ñến năm 2000 năng suất lạc tại Bình ðịnh ñã cao hơn năng suất trung bình toàn quốc, ñến năm 2005 năng suất lạc Bình ðịnh ñã ñạt trên 20 tạ/ha và tăng 1,92 lần so với năm 1995, ñến năm 2009 năng suất lạc tại Bình ðịnh ñã tăng thêm 31,79% so với năm 2005
Trang 30Tuy năng suất lạc tại Bình ðịnh trong những năm qua ñã có những bước tiến rõ rệt và ñạt cao nhất trong vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, nhưng
so với một số vùng và ñịa phương khác trong cả nước thì năng suất lạc tại Bình ðịnh vẫn còn nhiều hạn chế Do vậy, ñể tăng sản lượng lạc một mặt cần
có các kế hoạch nghiên cứu tìm ra các yếu tố hạn chế năng suất lạc, một mặt tỉnh cần có chính sách hỗ trợ nhằm tăng diện tích lạc
Bên cạnh ñó, với chiều dài 134 km bờ biển có một diện tích ñất cát rất lớn một phần ñang sử dụng trồng cây ăn quả, cây lâm nghiệp có giá trị kinh tế rất thấp và một phần ñang bỏ trống có nguy cơ bị hoang mạc hóa Nếu khai thác có hiệu quả diện tích ñất cát biển này sẽ tăng nguồn thu khá lớn cho ngân sách của tỉnh nói chung và tăng thu nhập cho người dân nói riêng
1.1.4 Ảnh hưởng của ñiều kiện khí hậu, ñất ñai và dinh dưỡng ñến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây lạc
1.1.4.1 Khí hậu
Trong các yếu tố khí hậu, nhiệt ñộ và chế ñộ nước ảnh trực tiếp ñến sinh trưởng phát triển và khả năng cho năng suất của lạc Sự phân bố các
vùng trồng lạc trên thế giới là do yếu tố khí hậu quyết ñịnh
Yêu cầu về nhiệt ñộ
Nhiệt ñộ là yếu tố ngoại cảnh chủ yếu quyết ñịnh thời gian sinh trưởng của cây lạc Tùy theo giống khác nhau, lạc yêu cầu tổng tích ôn từ 2.600 - 4.8000C Nhiệt ñộ trung bình thích hợp cho suốt ñời sống của cây lạc là khoảng 25 - 300C, yêu cầu nhiệt ñộ tối thích có thể thay ñổi tùy thuộc vào giống và giai ñoạn sinh trưởng của cây
Thời kỳ nảy mầm, cây cần tổng tích ôn từ 250 - 3200C và nhiệt ñộ trung bình thích hơp từ 25 - 300C Tốc ñộ nảy mầm nhanh nhất ở nhiệt ñộ 32 -
340C, hạt lạc sẽ mất sức nảy mầm ở nhiệt ñộ 540C Trong ñiều kiện ñồng ruộng, nhiệt ñộ thích hợp nhất ñối với quá trình nảy mầm của hạt là từ 28 -
Trang 31300C, nếu nhiệt ñộ ñất dưới 180C sẽ làm cho cây mọc chậm (Mixon và cs, 1969) [43]
Thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng, tổng tích ôn yêu cầu từ 700 - 10000C, nhiệt ñộ trung bình từ 20 - 300C Theo nhiều tác giả, ở vùng nhiệt ñới nhiệt ñộ
từ 28 - 300C, thời gian sinh trưởng sinh dưỡng 30 ngày là thích hợp nhất
Thời kỳ ra hoa và kết quả của cây lạc chỉ chiếm 1/3 chu kỳ sinh trưởng nhưng ñòi hỏi tổng tích ôn bằng 2/3 tổng tích ôn của cả ñời sống cây lạc Theo Gillier (1968) (dẫn theo ðoàn Thị Thanh Nhàn) [26] nhiệt ñộ thuận lợi cho sự ra hoa của lạc là 24 - 330C, hệ số hoa có ích cao nhất (21%) ñạt ñược ở nhiệt ñộ ban ngày 290C và ban ñêm là 230C
Trong thời kỳ chín, nhiệt ñộ trung bình thích hợp nhất là từ 25 - 280C ðiều kiện nhiệt ñộ có lợi cho quá trình tích lũy chất khô vào hạt nhất là nhiệt
ñộ ban ngày 280C và ban ñêm 190C
Yêu cầu về ñộ ẩm
Tuy lạc là cây trồng cạn và ñược coi là cây trồng chịu hạn khá, nhưng nước lại là yếu tố ngoại cảnh có ảnh hưởng rất lớn ñến năng suất lạc Trong thời kỳ sinh trưởng cây lạc yêu cầu ñộ ẩm ñất khoảng 70 - 80% ñộ ẩm giới hạn ñồng ruộng, thời kỳ ra hoa kết quả yêu cầu ñộ ẩm ñất khoảng 80 - 85% và yêu cầu ñộ ẩm ñất giảm vào thời kỹ chín của hạt
Theo Gillier, 1968 (dẫn theo ðoàn Thị Thanh Nhàn) [26] tổng nhu cầu
về nước trong suốt thời gian sinh trưởng của lạc từ mọc ñến thu hoạch là 450
- 700mm và nhu cầu này thay ñổi tùy thuộc vào giống, mùa vụ, khả năng giữ nước và thoát nước của ñất, thời kỳ sinh trưởng khác nhau
Kết quả trên cho thấy, khí hậu nước ta nhìn chung phù hợp với yêu cầu sinh trưởng và phát triển của cây lạc Ở các tỉnh phía Bắc, vụ Xuân là vụ trồng lạc chính, chủ yếu từ thang 2 ñến tháng 6, thời vụ sớm có thể gieo vào tháng 1 và thời vụ muộn có thể thu hoạch vào tháng 7 Ở các tỉnh phía Nam,
Trang 32thời vụ trồng lạc chắnh chủ yếu vào cuối mùa mưa của từng khu vực (khu vực Nam bộ - vụ hè thu, khu vực Tây Nguyên - vụ thu ựông, khu vực Duyên hải Nam Trung bộ - vụ ựông xuân)
Hiện nay, ở phắa Bắc và vùng Duyên hải Nam Trung bộ vụ lạc Thu đông ựang ựược chú ý phát triển với mục ựắch ựáp ứng nhu cầu giống cho vụ Xuân và đông Xuân Mặc dù, vụ lạc Thu đông chịu ảnh hưởng nhiều của yếu
tố khắ hậu bất thuận nên diện tắch và năng suất thường thấp hơn nhưng với mục tiêu cung cấp giống nên vụ Thu đông cho hiệu quả kinh tế cao hơn đây
là một hướng mới trong chuyển ựổi cơ cấu cây trồng, thay thế một số cây trồng có hiệu quả kinh tế thấp
1.1.4.2 đất ựai
Do ựặc ựiểm sinh lý, cây lạc không yêu cầu khắt khe về ựộ phì của ựất
mà chỉ yêu cầu chặt chẽ về lý tắnh của ựất Và ựất trồng lạc phải ựảm bảo tơi xốp ựể thỏa mãn các yêu cầu rễ phát triển mạnh cả về chiều sâu và chiều ngang, ựủ ôxy cho vi sinh vật nốt sần phát triển và hoạt ựộng cố ựịnh N, tia quả ựâm xuống ựất dễ dàng, dễ thu hoạch Theo York và Codwell (1951) [51] ựất trồng lạc lý tưởng phải là ựất thoát nước nhanh, có màu sáng, tơi xốp, phù
sa pha cát, có ựầy ựủ canxi và một lượng chất hữu cơ vừa phải
Về mặt hóa tắnh ựất, cây lạc có thể chịu ựược pH từ 4,5 - 9,0 nhưng pH ựất thắch hợp nhất cho cây lạc là ựất hơi chua và gần trung tắnh (pH = 5,5 - 7) Trên ựất có ựộ chua cao, không thắch hợp với lạc quả to và việc cải tại ựất theo hướng nâng cao pH thắch hợp là biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất lạc quan trọng
Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy, lạc rất mẫn cảm với ựất mặn Shalhevet và cs (1968) [48] ựã nghiên cứu khả năng chịu mặn của cây lạc trong ựiều kiện gây mặn nhân tạo cho thấy: ảnh hưởng của ựộ mặn ựến năng
suất là do giảm khối lượng quả và số quả/cây
Trang 331.1.4.3 Dinh dưỡng
Vai trò và sự hấp thu ñạm
N là thành phần quan trọng cấu tạo nên tất cả các axit amin và từ axit amin ñó tổng hợp nên tất cả các loại protein, ngoài ra N còn có mặt trong Axit nucleic, chlorophyl, phytohormon, phytocrom, vitamin và các enzim quan trọng trong các hoạt ñộng sống của cây Do ñó, thiếu ñạm cây lạc sinh trưởng kém, lá vàng, thân có màu ñỏ, chất khô tích luỹ bị giảm, số quả và khối lượng quả ñều giảm, trầm trọng nhất là khi thiếu ñạm ở giai ñoạn cuối, có thể dẫn ñến ngừng phát triển quả và hạt
Ở thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng của cây lạc N tập chung ở các bộ phận non của cây, khi hạt chín phần lớn N trong cây tập chung ở hạt Do có hàm lượng protein trong hạt cao (26 - 34%) nên nhu cầu ñạm của cây lạc cao hơn rất nhiều so với các loại cây ngũ cốc, ñể ñạt ñược 1 tấn quả lạc khô, cần
Tuy nhiên, trong thâm canh lạc ñể tạo ñiều kiện thúc ñẩy sớm quá trình
cố ñịnh nitơ phân tử thì cần phải bón một lượng phân ñạm thích hợp vào giai ñoạn ñầu ñể thúc ñể quá trình sinh trưởng của cây ðồng thời việc bổ sung N qua lá cũng rất có ý nghĩa khi vào thời kỳ sinh trưởng cuối khả năng hấp thu của rễ và khả năng cố ñịnh N của vi khuẩn nốt sần giảm sút
Vai trò và sự hấp thu lân
Trong cây, Phospho tham gia vào thành phần của nhiều hợp chất hữu
cơ phức tạp, mà quan trọng nhất là tham gia cấu tạo nên nucleoproteit, nucleoproteit là thành phần tất yếu của nhân tế bào
Trang 34Bón lân ñầy ñủ cho lạc thì thân lá phát triển tốt, cân ñối, ra hoa sớm và tập trung, tăng tỷ lệ hoa hữu hiệu Cây lạc thiếu lân bộ rễ phát triển kém, hoạt ñộng cố ñịnh N giảm, vì ATP cung cấp năng lượng cho hoạt ñộng của vi sinh vật cố ñịnh N giảm
Tuy nhiên, nhu cầu về lân ñối với cây lạc không nhiều, ñể cho 1 tấn quả khô cây lạc sử dụng 14 - 16kg P2O5 Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng, P là yếu tố cơ bản hạn chế năng suất lạc, bón lân là mấu chốt tăng năng suất ở nhiều vùng trồng lạc (không lân, không vôi thì thôi trồng lạc)
Cây lạc hút lân trong suốt quá trình sinh trưởng, nhưng lượng lân mà cây lạc hút nhiều nhất (45% tổng nhu cầu lân của cây) là vào giai ñoạn từ ra hoa ñến hình thành hạt và sự hút lân giảm rõ rệt ở thời kỳ chín
Vai trò và sự hấp thu Kali
Trong cây, kali tồn tại dưới dạng muối vô cơ hòa tan và muối của axit hữu cơ trong tế bào Kali không trực tiếp ñóng vai trò là thành phần cấu tạo của cây, nhưng kali có tác dụng ñiều chỉnh cực kỳ quan trọng mọi quá trình trao ñổi chất và các hoạt ñộng sinh lý của cây
Kali có vai trò xúc tiến quá trình quang hợp và sự phát triển của quả Ngoài ra Kali còn tăng cường mô cơ giới, tăng tính chống ñổ cho cây, tăng tính chịu hạn và chống chịu sâu bệnh cho cây lạc
Thiếu kali, thân cây lạc chuyển màu ñỏ sẫm và lá chuyển màu xanh nhạt Tác hại lớn nhất của thiếu kali là cây bị lùn, khả năng quang hợp và hấp thu N giảm, tỷ lệ quả 1 hạt tăng, trọng lượng hạt giảm và năng suất giảm rõ rệt (ðoàn Thị Thanh Nhàn và cs, 1996) [26]
Cây lạc hấp thu kali tương ñối sớm, 60% nhu cầu kali của cây ñược hấp thu trong thời ra hoa - làm quả, 80 - 90 lượng K tập trung ở lá ðể tạo 1 tấn quả, lượng kali cây lạc lấy ñi từ ñất khoảng 27 - 41kg K2O
Vai trò và sự hấp thu canxi
Trang 35Vai trò hàng ñầu của canxi là tham gia vào sự hình thành tế bào, canxi kết hợp với axit pectinic tạo pectan canxi Ngoài ra, canxi còn có vai trò quan trọng trong việc hình thành membran tế bào, hoạt hóa nhiều enzim, trung hòa các axit trong cây Do vậy, thiếu canxi sự nảy mầm và sinh trưởng của hạt phấn bị ức chế, mô phân sinh và nhất là mô phân sinh ñỉnh rễ bị hại
Trong cây, canxi chủ tập trung ở lá (80 - 90% lượng canxi hấp thu), hàm lượng canxi trong lá lạc ở mức tới hạn là 2% Trước khi ñâm tia vào ñất, canxi hấp thu từ rễ ñược vận chuyển tới các bộ phận của cây, kể cả hoa và tia ñang phát triển
Ngoài ra, bón canxi còn có tác dụng tạo ñiều kiện thuận lợi cho vi khuẩn nốt sần hoạt ñộng do làm tăng pH ñất, các dạng canxi có ảnh hưởng rất lớn ñến khả năng hấp thu canxi của lạc, nếu bón 60kg CaSO4 có tác dụng tương ñương với bón 1000kg vôi bột
Vai trò và sự hấp thu lưu huỳnh
Chức năng chính của lưu huỳnh là tham gia vào thành phần của nhiều axit amin quan trọng (xystin, xystein, methionin), các axit amin này tham gia vào sự tổng hợp lên protein Do vậy, thiếu lưu huỳnh sự sinh trưởng của lạc bị cản trở, lá có biểu hiện vàng nhạt Khi ñầy ñủ lưu huỳnh quả lạc bám chắc vào thân hơn, ñây cũng là một yếu tố góp phần làm tăng năng suất lạc
Lượng S lạc hấp thu tương ñương P Reich ñã xác ñịnh hàm lượng S trong lá trong chu kỳ sinh trưởng của lạc khoảng 0,2% (dẫn theo ðoàn Thị Thanh Nhàn) [26]
Vai trò và sự hấp thu ñồng
ðồng tham gia vào thành phần của các loại enzym như polyphenol oxydaza, ascocbin oxydaza, syperoxit dismutaza, xytocrom oxidaza, phenolaza, lacaza Những emzym này tham gia tích cực vào các phản ứng oxi hóa khử mà ñặc biệt là các phản ứng tối trong quá trình quang hợp Ngoài ra,
Trang 36ñồng còn là thành phần của Plastoxyamin, một thành viên của chuỗi vận chuyển ñiện tử trong pha sáng của quang hợp
Trong cây, dinh dưỡng N càng cao bao nhiêu thì biểu hiện thiếu ñồng càng rõ bấy nhiêu, thiếu ñồng sự tổng hợp protein bị hạn chế rõ rệt Hàm lượng Cu trong cây chiếm từ 1,5 - 8,1 mg/kg chất khô, lượng Cu do cây lấy ñi
từ 7,3 - 52,5g/ha (Vũ Hữu Yêm, 1996) [35]
ðối với sản xuất, bón kẽm cho cây sẽ làm tăng cường sự hút K, Si, Mn,
Mo và tăng tính chống chịu bệnh phytopthora Trong cây, hàm lượng kẽm dao ñộng từ 1,5 - 22mg/kg chất khô
Vai trò và sự hấp thu Molipden
Molipden có trong thành phần của men Nitrogenaza nên có vai trò rất quan trọng trong sự cố ñịnh nitơ và ñồng hóa nitrat Trong ñiều kiện cây hút
ñủ Mo, số lượng và trọng lượng nốt sần ñều tăng, cường ñộ cố ñịnh nitơ của
vi khuẩn nốt sần tăng rõ rệt Trong ñiều kiện thiếu N, vai trò cố ñịnh N ñược nâng cao thì vai trò của Mo lại càng quan trọng
Trong cây, Molipden có vai trò rất quan trọng nhưng cây cần một lượng Mo rất ít, hàm lượng Mo trong cây khoảng từ 0,1 - 0,93 mg/kg chất khô
Vai trò và sự hấp thu Bo
Trang 37Bo có vai trò quan trọng trong sự vận chuyển gluxit trong cây, ñường khi tạo phức với borat sẽ vận chuyển thuận lợi hơn qua các membran và trong mạch rây Khi thiếu Bo sự trao ñổi hydratcacbon và protein bị giảm, ngưỡng thiếu Bo là 25ppm
ðối với cây lạc, Bo có vai trò rất quan trọng trong quá trình thụ phấn, thụ tinh, do ñó thiếu B số lượng hoa giảm, tỷ lệ hoa có ích giảm rõ rệt và dẫn ñến giảm số quả/cây Nếu thừa Bo, cây lạc không hấp thu ñược sắt, kết quả là cháy rìa lá ñiển hình (Vũ Hữu Yêm, 1996) [35]
Tóm lại: Hiện nay, ñể thâm canh tăng năng suất lạc, ngoài sự quan tâm
ñến các nguyên tố dinh dưỡng ña lượng như trước ñây thì vai trò của các nguyên tố trung và vi lượng cũng rất cần thiết ñể ñảm bảo cân bằng dinh dưỡng cho cây Trong thâm canh, việc thiếu bất kỳ một nguyên tố nào cũng ảnh hưởng lớn ñến năng suất và chất lượng nông sản Do vậy, sử dụng cân ñối
và hợp lý các loại phân ña, trung và vi lượng sẽ ñem lại hiệu quả kinh tế cao Ngoài ra, bón phân cân ñối còn có tác dụng làm ổn ñịnh và tăng ñộ phì nhiêu của ñất trồng, phục hồi và tăng ñộ phì nhiêu ñất thoái hóa và giảm thiểu ô nhiễm môi trường
1.2 MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC LIÊN QUAN ðẾN ðỀ TÀI
1.2.1 Một số kết quả nghiên cứu ngoài nước liên quan ñến ñề tài
1.2.1.1 Kết quả nghiên cứu về nước tưới
Trong sản xuất nông nghiệp nói chung, yếu tố thời tiết khí hậu có ảnh hưởng rất lớn tới năng suất và chất lượng nông sản phẩm Do ñó, ñể khắc phục ñiều kiện thời tiết bất thuận (ñặc biệt là nước) cho cây trồng thì việc tưới nước là rất cần thiết
Trang 38Theo John (1949) [41], lượng mưa lý tưởng ñể trồng lạc ñạt kết quả tốt
là trong khoảng 80 - 120mm trước khi gieo ñể dễ dàng làm ñất, khoảng 100 - 120mm khi gieo ñể cho lạc mọc tốt và ñảm bảo mật ñộ
Theo Reddy, 1980 và Goldberg, 1967 (Dẫn theo Vũ Công Hậu) [17], ñất cát pha giữ nước kém nếu tưới nhiều lần, lượng nước tưới bằng lượng nước bốc và thoát hơi có thể ñạt ñược năng suất lạc cao hơn
Tuy lạc là một trong những loại cây trồng có khả năng chịu hạn ñược trong thời gian ngắn, nhưng ñể ñạt ñược năng suất cao thì việc tưới nước là rất quan trọng và việc tưới nước càng quan trọng hơn khi lạc ñược trồng trên ñất cát
Cây trồng nói chung và cây lạc nói riêng, các giai ñoạn khác nhau thì sẽ mẫn cảm với sự thiếu hụt nước khác nhau, nhưng không có giai ñoạn nào cây phát triển bình thường dưới một lượng nước tối thiểu Vấn ñề ñược nhiều nhà khoa học quan tâm là sự thiếu nước ở giai ñoạn nào sẽ ñóng vai trò chính trong năng suất cuối cùng của cây
Theo Sankara Redi, 1982 [49] lạc chịu hạn tốt nhất là thời kỳ trước ra hoa vì vậy nếu có một thời gian khô hạn hợp lý kéo dài 15 - 30 ngày sau khi mọc sẽ kích thích cho lạc ra hoa nhiều
Giai ñoạn ra hoa và hình thành quả rất cần nước do ñó tưới nước cả hai giai ñoạn này sẽ tăng năng suất (Singh Arora, 1968 và Reddy, 1968) Su và
Lu (1963) thấy rằng thiếu nước trong thời kỳ ra hoa sẽ làm giảm số quả, ở thời kỳ phình to của quả sẽ làm giảm kích thước và trọng lượng hạt, dẫn ñến giảm năng suất Theo Matlock, những thời kỳ sinh trưởng mạnh, ra hoa, hình thành quả cây lạc cần nước nhất Theo Billaz, Gehos (1961) cho rằng ở giai ñoạn 50 - 80 ngày sau khi gieo nếu thiếu nước năng suất lạc sẽ giảm 46%; ở giai ñoạn 80 - 120 ngày, giảm 27%; từ 10 - 30 ngày sau gieo, giảm 21,6%; từ
30 - 50 ngày giảm 18% Fuorrier, Prevot (1958) cũng quan sát thấy hạn xảy ra
Trang 39ở giai ñoạn 35 - 60, 60 - 65 và 85 - 110 ngày ñã dẫn ñến giảm năng suất Stansell Pallas (1979) cho biết rằng trong 35 ngày xảy ra ở khoảng 71 - 105 ngày sau khi gieo ñã gây thiệt hại lớn hơn ở thời kỳ 36 - 70 hoặc 106 - 140 ngày sau khi gieo Hạn kéo dài 70 ngày bắt ñầu từ ngày thứ 36 sau khi gieo làm giảm tỷ lệ hạt 35% và ở giai ñoạn 71 ngày tuổi giảm 69% (Dẫn theo Vũ Công Hậu và cs, 1995) [17]
Như vậy, năng suất lạc ít bị ảnh hưởng nếu trong giai ñoạn sinh trưởng
sinh dưỡng bị hạn và hoa lạc sẽ ra nhiều hơn nếu trong giai ñoạn sinh trưởng sinh dưỡng có thời gian hạn hợp lý Tùy theo mức ñộ hạn khác nhau trong giai ñoạn sinh trưởng sinh thực năng suất lạc có thể giảm từ 18 ñến 69% Tuy nhiên, các tác giả vẫn chưa hoàn toàn nhất về ñiểm khủng hoảng nước nhất của cây lạc
Billaz và Ochos 1961 Ra hoa rộ (50 - 80 ngày sau gieo)
Furrier và Prevot 1958 Ngày thứ 35 - 60 sau gieo
Holford 1971 Pha thứ 2 trong 4 pha sinh trưởng
Joshi và Kabaria 1972 ðâm tia rộ - phát triển quả (51 - 80 ngày sau gieo) Metelerkamp 1975 Sau 10 tuần sinh trưởng
Prevot và Ollagnier 1957 Ngày thứ 30 - 50 ngày sau gieo
Subramanyam 1974 Hình thành quả
Su và Lu 1963 Ra hoa rộ - ñầu thời kỳ quả (30 - 60 ngày sau gieo)
Su và cs 1964 Ra hoa rộ - hình thành quả (50 - 69 ngày sau gieo) William và cs 1978 ðầu thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng và cuối thời kỳ
hình thành quả Wormer và Ochos 1959 Ngày 30 - 60 sau gieo
(Nguồn: ðoàn Thị Thanh Nhàn tổng hợp) [26]
Trang 40Tóm lại, các thời kỳ khủng hoảng nước của lạc ñược nhiều tác giả công
nhận là thời kỳ hoa rộ, ñâm tia, hình thành quả và hạt Trong ñó thời kỳ hoa
rộ mẫn cảm nhất với thiếu nước
1.2.1.2 Kết quả nghiên cứu về dinh dưỡng cho cây lạc
Cây trồng nói chung và cây lạc nói riêng, vai trò của các nguyên tố dinh dưỡng là tham gia vào thành phần tế bào chất, ñiều hòa áp suất thẩm thấu, ảnh hưởng ñến ñộ pH của dịch bào và hệ thống ñệm Do ñó, thiếu dinh dưỡng là một trong những nguyên nhân giảm năng suất
Kết quả nghiên cứu về bón ñạm cho lạc
Lạc thuộc cây họ ñậu, có vi khuẩn nốt sần sống cộng sinh cố ñịnh N trong khí quyển, N ñược cố ñịnh ñã cung cấp một lượng ñáng kể cho cây Tuy nhiên, ñể ñạt năng suất lạc cao lượng N sinh học cố ñịnh ñược chỉ ñáp ứng khoảng 60 - 70% nhu cầu của cây Lượng N còn lại cây lạc phải lấy từ ñất thông qua con ñường phân bón
Theo Duan Shufen (1999) cho rằng, tại Trung Quốc lạc trồng trên ñất xấu năng suất tăng có ý nghĩa khi bón lượng N kết hợp với các loại phân hữu
cơ ở cả giai ñoạn bón lót và bón thúc Bón lót 187,5kg phân ñạm/ha (phân ñạm chứa 20% N) thì năng suất lạc tăng lên từ 4,8 - 20% ðất xấu (hàm lượng
N < 0,045%), bón 94kg phân ñạm/ha làm tăng năng suất lạc ðất trung bình (hàm lượng N = 0,045 ÷ 0,065%), bón 56 kg phân ñạm/ha làm tăng năng suất lạc ðất màu mỡ (hàm lượng N > 0,065%) bón phân ñạm năng suất lạc không tăng
Theo Choudary (1975) với lượng bón 20kg N/ha trong mùa khô ñạt năng suất 25,5 tạ/ha, năng suất trong mùa mưa ñạt 20,33 tạ/ha với lượng ñạm bón 40kg N/ha và trong ñiều kiện có tưới năng suất ñạt 43,59 tạ/ha nếu bón
45 - 60 kg N/ha (Dẫn theo Vũ Công Hậu, 1995) [17]