luận văn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NễNG NGHIỆP HÀ NỘI
-
Phùng trung hiếu
Nghiên cứu các cây nguồn mật và thực trạng
nuôI ong nội Apis cerana F tại x sa pả thuộc vùng đệm vườn quốc gia Hoàng Liên
luận văn thạc sĩ NôNG NGHIệP
Chuyên ngành: Trồng trọt Mã số : 60.62.01 Người hướng dẫn khoa học: TS Phùng Hữu Chính
Hà Nội, 2009
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan rằng các kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và ch−a hề đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Hà nội, ngày 01 tháng 12 năm 2009
Tác giả
Phùng Trung Hiếu
Trang 3Lời cảm ơn !
Để hoàn thành bản luận văn này, ngoài sự hỗ trợ của bản thân, tôi còn nhận được sự giúp đỡ quý báu của các thầy giáo, đồng nghiệp, bạn bè và gia
đình
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Phùng Hữu Chính
đH dành nhiều thời gian chỉ dẫn tận tình, tỷ mỷ trong quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn Trung tâm nghiên cứu và phát triển ong, Sự giúp đỡ nhiệt tình của UBND xH Sa Pả, Sở Lâm nghiệp tỉnh Lào cai, Viện Sinh thái học thuộc trường ĐH Lâm nghiệp, cảm ơn các đồng nghiệp đH đóng góp cho tôi nhiều ý kiến và giúp đỡ tôi trong quá trình thu mẫu
Tôi xin chân thành cảm ơn tới các đồng nghiệp ở Vườn quốc gia Hoàng Liên và các gia đình nuôi ong
Xin chân thành cảm ơn tới các bạn bè, gia đình đH động viên và tạo điều kiện cho tôi để hoàn thành bản luận văn
Hà nội, Tháng 10/2009 Tác giả
Phùng Trung Hiếu
Trang 4mục lục
1.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3
1.4 Giới hạn của đề tài 3
2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu 4 2.1 Sơ lược về lịch sử nghề nuôi ong trên thế giới và ở Việt nam 4 2.1.2 Sơ lược về lịch sử nuôi ong ở Việt nam 4
2.1.2 Sơ lược về lịch sử nuôi ong ở Việt nam 5
2.2 Tình hình nghiên cứu ong Apis cerana 6
2.2.1 Phân bố của ong Apis cerana 6
2.2.2 Nghiên cứu về chọn lọc giống ong Apis cerana 8
2.2.3 Nghiên cứu về tạo chúa ong Apis cerana 8
2.2.4 Nghiên cứu về bệnh ong Apis cerana 9
2.3 Một số đặc điểm về sinh học ong mật Apis cerana 10
2.4.1 Quá trình phát triển cá thể của ong mật 14
2.4.2 Cơ chế điều hoà hoạt động của đàn ong 18
2.5 Tình hình nghiên cứu cây nguồn mật phấn trên thế giới và Việt Nam 18
2.5.1 Tình hình nghiên cứu cây nguồn mật, phấn trên Thế giới 18
2.5.1.1 ảnh hưởng của mật và phấn hoa đến sự phát triển cá thể 18
2.5.1.2 Sự dự trữ phấn hoa trong đàn ong 20
2.5.1.3 Sự lựa chọn nguồn phấn hoa của ong 20
2.5.2 Tình hình nghiên cứu cây nguồn mật, phấn ở Việt Nam 21
Trang 52.5.2.2 Sự tiết mật hoa của thực vật 22
2.5.2.3 Các cây nguồn mật chính ở Việt Nam 23
3 Địa điểm, đối tượng và phương pháp nghiên cứu 26 3.1 Địa điểm nghiên cứu 26 3.2 Vật liệu nghiên cứu 26 3.3 Phương pháp nghiên cứu 26 3.4 Phương pháp khảo sát 29 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 30 4.1 Cây nguồn mật phấn làm thức ăn cho ong mật ở Sa Pả 31
4.1.1 Danh sách các cây nguồn mật phấn ở Sa Pả 31
4.1.2 Thời gian nở hoa của các cây nguồn mật, phấn ở Sa Pa 42
4.2 Thành phần phấn hoa trong các giỏ phấn ong 44
4.3 ảnh hưởng của thời vụ nở hoa của cây nguồn mật, phấn ở
Sa Pả lên tình hình phát triển ong 48
4.3.1 ảnh hưởng của thời vụ có nhiều hoa nở đến việc phát triển đàn ong 48 4.3.1.1 ảnh hưởng đến hoạt động của đàn 49
4.3.1.2 ảnh hưởng đến số lượng cá thể và khả năng phân đàn 49
4.3.1.3 ảnh hưởng đến năng suất mật 50
4.3.2 ảnh hưởng của thời vụ khan hiếm thức ăn đến phát triển đàn ong 51
4.3.2.1 ảnh hưởng đến hoạt động của đàn ong 52
4.3.2.2 ảnh hưởng đến số lượng cá thể và khả năng phân đàn 53
4.3.2.3 ảnh hưởng đến năng suất mật 53
4.4 Vài nét về điều kiện tự nhiên, xH hội và nghề nuôi ong cổ truyền tại khu vực nghiên cứu 54
4.4.1 Điều kiện tự nhiên 54
4.4.2 Điều kiện kinh tế xH hội: 56
4.5 Các loài ong mật tại Sa Pa 57
4.5.1 Ong nội Apis cerana 57
4.5.1.2 Ong ruồi Apis florea 58
Trang 64.5.1.3 Ong không ngòi đốt Melipona sp 58
4.5.1.4 Ong khoái Apis dorsata 59
4.6 Các hình thức nuôi ong ở Việt Nam và ở Sa Pả 60
4.6.1 Hình thức nuôi ong ở Việt Nam 60
4.6.2 Hình thức nuôi ong ở xH Sa Pả 62
4.7 Đánh giá mô hình nuôi ong hiện tại, thành công, thất bại và nguyên nhân 63
4.7.1 Tình hình nuôi ong tại xH Sa Pả 63
4.7.2 Đánh giá các mô hình nuôi ong thành công và không
thành công,nguyên nhân 64
4 7.2.1 Các mô hình nuôi ong thành công 64
4.7.2.2 Các mô hình nuôi ong không thành công 66
4.8 ảnh hưởng của các loại bệnh ấu trùng đến sự phát triển
của đàn ong ở xH Sa Pả 66
4.8.1 Bệnh ấu trùng túi (Sacbrood) 67
4.8.2 Bệnh thối ấu trùng châu âu (European Foulbrood) 69
4.9 Đề xuất một số giải pháp phát triển đàn ong ở vùng đệm VQGHL 71
Trang 74.4: Thành phần các hạt phấn hoa có trong giỏ phấn của đàn ong
ở điều kiện các tháng thiếu thức ăn cho ong năm 2008 – 2009 45
4.4: Thành phần các hạt phấn hoa có trong giỏ phấn của đàn ong
ở điều kiện các tháng thiếu thức ăn cho ong năm 2008 – 2009 45
4.5: Thành phần các hạt phấn hoa có trong giỏ phấn của đàn ong ở điều
kiện các tháng có nhiều thức ăn cho ongnăm 2008 - 2009 46
4.6: ảnh hưởng của thời vụ có nhiều thức ăn đến phát triển đàn ong ở
Sa Pả năm 2008 – 2009 48
4.7: ảnh hưởng của thời vụ khan hiếm thức ăn đến phát triển đàn
ong ở Sa Pả năm 2008 – 2009 53
4.8: Đặc điểm tự nhiên của các thôn xH Sa Pả 55
4.9: Một số đặc điểm xH hội của xH Sa Pả 56
4.10: Các hình thức nuôi ong Apis cerana tại các thôn xH
Trang 8danh mục hình
1: Hoa cỏ lào 37
2: Hoa nhHn 37
3: Cây keo tai t−ợng 37
4: Hoa Chân chim 37
5: Hoa sòi đất 37
6: Hoa cỏ 3 lá 37
7: Hoa nhân rừng 37
8: Hoa hu đay 37
9 : Ong nội Apis cerana 60
10: Ong ruồi Apis florea 61
11: Ong không ngòi đốt Melipona sp 60
12: Ong khoái (Apis dorsata) 60
13 : Nuôi ong Apis cerana trong hốc đá 62
14: Nuôi ong Apis cerana trong thùng có bánh tổ cố định 62
15: Nuôi ong Apis cerana trong thùng có thanh ngang 62
16: Nuôi ong Apis cerana trong đõ cổ truyền 62
danh mục các từ viết tắt
Trang 91 mở đầu 1.1 Đặt vấn đề
Ong mật cho con người nhiều sản phẩm sản phẩm quý như mật ong, phấn hoa, sáp ong… là những sản phẩm dùng để bồi dưỡng sức khoẻ, những vị thuốc chữa bệnh và còn là nguyên liệu để sản xuất nhiều mặt hàng có giá trị khác
Ong mật đóng vai trò quan trọng trong việc thụ phấn, làm tăng năng suất của nhiều loại cây trồng, bảo vệ sự đa dạng sinh học của cây trồng và các cây tự nhiên Nhờ có ong mật, nhiều hoa được thụ phấn và nhiều quả, hạt được hình thành đH làm cho số lượng lớn cây trồng được mọc lên, phủ xanh đất trống đồi trọc, góp phần bảo vệ môi trường hạn chế sói mòn đất Nuôi ong là một nghề giá trị kinh tế, xH hội, nhằm tận dụng nguồn lao động dư thừa, nguồn tài nguyên thiên nhiên ưu đHi ở địa phương Nuôi ong nhằm tạo thêm việc làm, thêm thu nhập cho người dân, giảm các vụ việc tiêu cực, góp phần bảo vệ rừng
Lào Cai là một trong những tỉnh nghèo ở Việt Nam, bình quân GDP đầu người hàng năm chỉ bằng một nửa so với mức bình quân cả nước Đói nghèo là một hiện tượng phổ biến và tỷ lệ đói nghèo đặc biệt cao trong cộng đồng người dân tộc Sa Pa là một huyện miền núi thuộc tỉnh Lào Cai có diện tích 678,6 km2 dân số 41.700 người, gồm bảy dân tộc: H’Mông, Dao, Tày, Giáy, Xá Phó, Kinh
và Hoa, trong đó người dân tộc thiểu số chiếm trên 60%
XH Sa Pả thuộc huyện Sa Pa là nơi sinh sống của đa phần người dân tộc H’Mông, người Dao, không chỉ là những xH nghèo nhất của tỉnh Lào Cai mà còn
là những xH nghèo nhất trong cả nước Tại những xH này, tỷ lệ nghèo đói (năm 2007) vẫn ở mức trên 40%, cá biệt có một số hộ tỷ lệ nghèo đói ở mức trên 70% Một tỷ lệ lớn các hộ gia đình ở xH vẫn còn bị thiếu ăn từ 1 – 3 tháng trong 1 năm
Có nhiều nguyên nhân dẫn tới đói nghèo nhưng có một số nguyên nhân chủ yếu sau: 1) Người nông dân dân tộc thiểu số chủ yếu sinh sống ở khu vực núi cao, việc
đi lại và giao lưu với bên ngoài rất khó khăn Mặt khác nhiều người trong số họ chưa học hết cấp 1, đặc biệt là phụ nữ nên việc giao tiếp và tiếp thu các kiến thức
từ bên ngoài bị hạn chế rất nhiều; 2) Năng lực tiếp cận và chất lượng dịch vụ của các cơ quan cung cấp dịch vụ công đến người dân còn nghèo nàn, chưa thực sự
Trang 10Hiện trạng, người dân còn phải đối mặt với cái đói, nguồn thu nhập chủ yếu dựa vào rừng và sản xuất nông nghiệp ở quy mô nhỏ và rải rác, một số các hoạt động tạo thu nhập từ du lịch cũng đang được triển khai, tuy nhiên còn rất khiêm tốn và chỉ ở những đối tượng thanh niên Nguồn lao động nhàn rỗi dư thừa lớn
Sa Pả là một xH có tiềm năng nuôi ong vì thuộc vùng đệm vườn quốc gia Hoàng Liên, có diện tích rừng phòng hộ khá lớn và đặc biệt là sẵn có nghề nuôi ong cổ truyền nên có thể phát triển nghề nuôi ong Nuôi ong là một hoạt động có thu nhập ngắn ngày, dễ làm, mật ong có thể bảo quản lâu, bán được giá cao nên
có thu nhập tốt Hoạt động nuôi ong khá phù hợp với người dân tộc H’Mông và Dao vì đây là nghề cổ truyền Để giúp người nghèo, người dân tộc tận dụng tối
đa cơ hội trên, việc khảo sát nghiên cứu khả năng nuôi ong lấy mật và xác định lịch nở hoa của các cây nguồn mật của xH Sa Pả thuộc huyện Sa Pa Từ đó cung cấp số lượng cây nguồn mật, phấn nở hoa trong các tháng và đưa ra các giải pháp thực tế phù hợp với trình độ và điều kiện kinh tế địa phương, giúp nhân dân ở
đây phát triển nghề nuôi ong góp phần tăng thu nhập và cải thiện đời sống và cung cấp nguồn dinh dưỡng cho gia đình, đặc biệt là chị em phụ nữ
Xuất phát từ yêu cầu thực tế trên, từ điều kiện tự nhiên, xH hội của xH Sa Pả đặc biệt là điều kiện tự nhiên cho ong phát triển, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu các cây nguồn mật và thực trạng nuôi ong nội Apis cerana F tại x# Sa Pả thuộc vùng đệm vườn quốc gia Hoàng Liện”
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục đích
Khảo sát điều kiện tự nhiên, xH hội và xác định cây nguồn mật, phấn chủ yếu làm thức ăn cho ong và thời vụ nở hoa của chúng Trên cơ sở đó đề ra các biện pháp kỹ thuật quản lý ong phù hợp với điều kiện thực tế tại xH Sa Pả thuộc vùng đệm vườn Quốc gia Hoàng liên
1.2.2 Yêu cầu của đề tài
- Khảo sát điều kiện tự nhiên, xH hội và tiềm năng nuôi ong mật xH Sa Pả huyện Sa Pa Các hình thức nuôi ong tại địa phương và đánh giá mô hình nuôi ong, nuôi ong hiện tại, thành công thất bại, nguyên nhân
Trang 11- Xác định cây nguồn mật, phấn chủ yếu làm thức ăn cho ong và thời vụ
nở hoa của chúng, sự lựa chọn nguồn phấn của ong Tìm hiểu ảnh hưởng của các cây nguồn mật, phấn, các loại bệnh ấu trùng đến phát triển đàn ong đến tình hình phát triển của đàn ong
1.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn
1.3.1 ý nghĩa khoa học
- Xác định tên các cây nguồn mật, phấn và thời vụ lấy mật phấn của ong
- Xác định thực trạng nuôi ong và điều kiện ảnh hưởng ngoại cảnh ảnh hưởng đến đàn ong ở xH sa pả
- Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ góp phần bổ xung thêm các thông tin, dữ liệu khoa học về các cây nguồn mật làm tài liệu khoa học phục vụ cho công tác nghiên cứu và giảng dạy
1.3.2 ý nghĩa thực tiễn
- Xác định các tháng có nhiều nguồn hoa và các tháng không có nguồn hoa Trên cơ sở đó giúp bà con nông dân biết cách quản lý đàn ong và nhân rộng quy mô nuôi ong tại các hộ
- Xác định các loại bệnh ấu trùng gây hại cho ong và nguyên nhân gây bệnh giúp bà con biết cách phòng chống có hiệu quả cao
- Đánh giá thực trạng các loài ong hiện có, tình hình nuôi ong tại địa phương
Từ đó làm cơ sở giúp cho người dân quản lý đàn ong được hiệu quả cao nhất
- Hướng cho người nông dân tại địa phương có thêm một nghề mới, đem lại hiệu quả kinh tế cao Dần đen lại cho địa phương một thương hiệu “ Mật ong rừng Sa pả” để cung cấp cho thị trường
1.4 Giới hạn của đề tài
- Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu các cây nguồn mật, phấn trong một năm tại xH Sa pả
- Đề tài giới hạn nghiên cứu ảnh hưởng thời vụ có nhiều nguồn hoa, ít nguồn hoa và một số bệnh đến phát triển của đàn ong
Trang 122 Tổng quan về tình hình nghiên cứu 2.1 Sơ lược về lịch sử nghề nuôi ong trên thế giới và ở Việt nam
2.1.1.Sơ lược về lịch sử nghề nuôi ong trên thế giới
Từ “mật ong” đH xuất hiện rất sớm trong ngôn ngữ loài người, rất nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu khảo cổ, ngôn ngữ đH nói lên rằng con người đH biết sử dụng mật ong từ lâu đời nhưng không nói đó là mật ong do săn ong hay nuôi ong Trong suất quá trình lịch sử, con người đH săn ong lấy mật Việc sử dụng đõ để nuôi ong lấy mật bắt đầu ít nhất đH 4500 năm nay (Crane, 1990) [3].Vào khoảng 2500 năm trước công nguyên, ở Ai Cập cổ đại đH thực sự hình thành một nghề nuôi ong thịnh vượng Những đõ ong ra đời rất sớm nhất vào năm 2450 trước công nguyên được thể hiện trong cảnh lấy mật ong, một phần của bức hội hoạ tại một ngôi đền thờ mặt trời Ai Cập, gần vùng hạ lưu sông Nil
Có 4 bức tranh tương tự đH được phát hiện, mô tả mật ong được cất giữ trong những bình chứa, những trang trại ong cổ truyền có hàng trăm đõ ong với cảnh lấy mật y như ngày nay còn phổ biến ở Ai Cập (Crane, 1990) [3,22]
Những tư liệu sớm nhất ghi chép về nuôi ong trong đõ được ra đời khoảng 1500 trước công nguyên Đó là một phần của bộ luật Hittle quy mô
định hình phạt đối với những kẻ lấy trộm đõ ong, ghi trên những phiến đá sét,
được tìm thấy ở cao nguyên Anatoli cách Ai Cập 100km về phía Bắc
Rải rác cũng có những tư liệu tiếp theo ra đời ở những thiên niên kỷ sau
đó phản ánh tình hình nuôi ong ở miền Trung Đông Thuật ngữ “ chuyển ong”
ra đời vào 250 năm trước công nguyên do người nuôi ong di chuyển các đõ ong của mình tới địa điểm khác để tránh bHo lụt Người nuôi ong cũng đH biết sử dụng những đõ ong bằng sành từ 400 năm trước công nguyên Những đõ ong cổ xưa nhất có chiều dài 40 - 50 cm, đường kính miệng khoảng 40 cm Aristote (384 – 3220 trước công nguyên) (Theo Crane, E 1990) [22], một trong những tác giả quan trọng nhất viết về ong mật, cho biết trung bình một đõ ong cho 5- 7
kg mật, mỗi đõ ong có một con ong cai trị lớn hơn những con ong khác
Trang 13Có rất nhiều tư liệu từ thời cổ La MH còn tồn tại đến ngày nay, mô tả rất
rõ về đõ ong làm bằng các chất liệu khác nhau Tới năm 1800, người ta biết những điều cơ bản về tập tính, giải phẫu cơ thể và sinh lý của ong Apis mellifera biết những thứ do ong đi lấy ở bên ngoài về và những thứ chúng làm
đõ ong có cầu di động rồi kiểu thùng nuôi ong cải tiến ra đời
Năm 1853, giáo sư L.L Langstroth (Philadelphia, Mỹ) để ong xây bánh
tổ vào và cầu có thể lấy ra đặt vào tuỳ theo ý muốn người nuôi ong Kiểu thùng này cho phép người nuôi ong kiểm tra tình hình đàn ong, tác động các biện pháp kỹ thuật một cách dễ dàng và cho phép giao lưu giữa các đàn ong với nhau và với người nuôi ong khác Ngày nay kiểu thùng này được áp dụng phổ biến ở khắp nơi và được cải tiến tuỳ theo yêu cầu sử dụng
Năm 1980 Borchert [1] đH xuất bản về việc áp dụng và cải tiến của ông Theo đó, nhiều sáng kiến cải tiến khác được sản sinh ra từ nước Mỹ trong đó quan trọng nhất là sáng kiến làm những tấm sáp in hình lỗ tổ và các khung cầu
có gắn tầng chân, có thể chịu được sức văng khi quay mật ở thùng ly tâm 2.1.2 Sơ lược về lịch sử nghề nuôi ong ở Việt nam
ở Việt Nam, nghề nuôi ong đH khai thác và nuôi từ lâu đời Ngay từ thế
kỷ thứ 8, thượng thư phụ trách về nông nghiệp Phạm Lê đH viết tài liệu bằng chữ Hán về kỹ thuật nuôi ong (Faraut, A 1909) (Theo Phùng Hữu Chính, Vũ Văn Luyện, 1996) [13] Trải qua quá trình tích luỹ kinh nghiệm, cải tiến kỹ thuật, nghề nuôi ong Việt Nam đH được cải tiến từ đơn giản đến hoàn thiện dần như ngày nay
Trang 14Từ lâu người Việt Nam đH có thói quen đi tìm tổ ong lấy mật Nhiều khi
đi rừng vô tình họ trông thấy các tổ ong rừng được làm ở trong các hốc cây, hốc đất, hang đá hoặc trên cành cây Họ dùng lửa hoặc khói đuổi ong đi và cắt lấy các bánh tổ ong để lấy mật Nhiều người có kinh nghiệm có thể tìm tổ ong qua việc quan sát ong đi làm Trải qua một thời gian con người tự quy định với nhau rằng hễ ai phát hiện ra tổ ong lần đầu tiên và đánh dấu vào thì lỗ tổ đó thuộc quyền sở hữu của người đó và các kiểu nuôi ong dần được hình thành và không ngừng được cải tiến từ chỗ phá bánh tổ đến cắt phần mật giữ nguyên phần nhộng và ấu trùng buộc lên xà cầu để đàn ong tiếp tục phát triển Đến khi áp dụng nuôi ong trong thung cải tiến có khung cầu di động cho phép sử dụng máy quay ly tâm và dùng tầng chân nhân tạo Việc áp dụng các tiến bộ
kỹ thuật đH làm cho năng suất mật trung bình/đàn ong/năm được tăng lên, từ chỗ chỉ đạt 2- 5 kg/đàn/năm đến nay đH đạt 15kg/đàn/năm (Vũ Văn Luyện, Ngô Đắc Thắng, 1990) [16] Các biện pháp kỹ thuật như tạo chúa chủ động, chia đàn nhân tạo đH được áp dụng rộng rHi Tuy nhiên, vào những năm 1974 –
1980, đàn ong bị bệnh thối ấu trùng bị giảm sút nghiêm trọng Từ năm 1981
đến nay, đàn ong được khôi phục dần dần trở lại (Vũ Văn Luyện, Ngô Đắc Thắng, 1990) [16] Việt Nam đH hình thành những vùng nuôi ong nội Apis cerana phát triển thích hợp với điều kiện nguồn hoa tập trung và rải rác Miền Nam phù hợp với nuôi ong ý Apis mellifera quy mô lớn tại các vùng có nguồn hoa tập trung Riêng ở khu vực U minh thuộc các tỉnh Minh Hải và Kiên Giang
có nghề khai thác mật ong gác kèo Apis dorsata (Phạm Hồng Thái, 1994) [06] 2.2 Tình hình nghiên cứu ong Apis cerana
2.2.1 Phân bố của ong Apis cerana
Ong mật Phương đông, Apis cerana Fabricius 1793 được tìm thấy ở
Đông Nam, từ Sri Lanka và ấn Độ tới Trung Quốc, Nhật Bản và theo hướng
Đông Nam tới vùng Moluccar ( Theo Y S Peng (1988) và cộng sự ) [29]
Trang 15Ong Apis cerana ở Châu á có vị trí như ong Apis mellifera ở Châu Âu
và Châu Phi Ong Apis cerana sống ở độ cao bằng mặt biển cho tới độ cao
2500 m so với mặt biển Vùng phân bố tự nhiên của hai giống ong Apis cerana và Apis mellifera cách nhau bởi một dải sa mạc nằm giữa Iran ở phía Tây và Afghanistan, Pakistan ở phía Đông Lên phía Bắc, ong Apis cerana phát triển tới dHy Himalaya và ở miền Đông châu á, tới vùng ôn đới thuộc phía Bắc Trung Quốc, Triều Tiên, Liên Xô (cũ) (ven Thái Bình Dương), Nhật Bản Sang phía Đông, ong A cerana phát triển ở toàn bộ miền nhiệt đới châu
á, tới phía đông Philippin, Borneo, Indonesia, năm 1987 đH phát triển tới Papua New Guinea (Crane, 1990) [3]
Nói chung càng lên vĩ tuyến và độ cao so với mặt nước biển cao hơn thì cơ thể ong Apis cerana càng lớn hơn: ở vùng Kashmir và một số vùng thuộc Himachal Pradesh, ong Apis cerana có nhiều đặc điểm gần giống ong A mellifera Theo Ruttner, F (1988) [30], có thể tổng hợp sự phân bố các phân loài ong Apis cerana như sau:
A c indica; Phân bố ở Bali, Java, Sumata, Malaysia, Thailand, Srilanca, miền Nam ấn Độ
A c japonica: Nhật Bản (kể cả vùng Tsushima ở giữa Honshuu và Triều Tiên)
A c cerana: ở miền Bắc ấn độ, Bắc Pakistan, Afghanistan, Trung Quốc, Viễn Đông Liên Xô, Việt Nam
A c himalaya: Phân bố ở phía đông dHy núi Himalaya từ Nepal đến bác Thailand và có thể cả Tây Nam Trung Quốc
2.2.2 Nghiên cứu về chọn lọc giống ong Apis cerana
Với ong A cerana, việc chọn lọc giống được tiến hành từ những năm
1950 và chỉ giới hạn ở Trung Quốc và ấn Độ Vào cuối những năm 1950 ở
Trang 16tỉnh Quảng Đông Trung Quốc người ta thí nghiệm so sánh giữa hai loài ong A cerana và A mellifera Sau vài năm theo dõi người ta kết luận ong A mellifera không thích hợp với điều kiện tự nhiên ở tỉnh Quảng Đông Từ đó về sau những người nuôi ong đH tập trung vào việc chọn lọc giống ong nội A cerana theo hướng năm suất cao Năm 1963 ở Chonghus đH nuôi được 6000
đàn ong với năng suất mật trung bình là 50 kg/đàn/năm (Peng, U 1988) [26]
Từ năm 1991 – 1995, các nhà khoa học Trung Quốc đH tiến hành chọn lọc và nhân giống ong Apis cerana và đH đạt được một số kết quả bước đầu như: Tỷ
lệ bệnh ấu trùng túi giảm từ 7% xuống 3% Năng suất bình quân tăng 10% so với đàn ong địa phương G.H Yang (1996) [35]
Gần đây ở ấn Độ đH có nghiên cứu về đánh giá và chọn lọc quần thể ong Apis cerana để tăng hiệu quả nuôi ấu trùng Nghiên cứu được tiến hành trên 3 quần thể ong Apis cerana khác nhau ở khu vực vùng núi Himalaya với
độ cao 2700 m về đặc điểm sinh học của chúng Ong chúa dòng Kashmir là mắn đẻ nhất với tỷ lệ đẻ trứng là 312,6 ± 38,6 trứng/ngày/đêm Đàn ong duy trì được cầu con và ong trưởng thành ở tất cả các mùa Ong chúa dòng Himachal đẻ trứng tốt với tỷ lệ 245,6 ± 33,2 trứng/ngày/đêm và 1458,3 ± 191,5 cm2 diện tích lỗ tổ chứa ấu trùng, nhộng trong một năm Tương tự dòng Garhwal đạt tỷ lệ đẻ trứng 169,3 ± 22,7 trứng/ngày/đêm và có diện tích lỗ tổ chứa trùng nhộng là 1142,8 ± 179,2 cm2 (Tan K, Zhang (1998) [33]
2.2.3 Nghiên cứu về tạo chúa ong Apis cerana
Ong chúa là cá thể quan trọng nhất trong đàn ong, nó quyết định sự tồn tại và phát triển cũng như năng suất mật của đàn ong Vì thế việc tạo ong chúa tốt được nhiều người quan tâm và đH có nghiên cứu về kỹ thuật tạo chúa
Năm 1973, Johansson đH giới thiệu phương pháp tạo chúa đơn giản là dùng
mũ chúa đH vít nắp trong đàn ong sắp chia đàn hoặc chuẩn bị thay thế vì ong chúa
có khuyết tật Lensky (1971) và Forster (1972) và nhiều tác giả khác nêu lên nhiều phương pháp có hệ thống hơn về tạo chúa để thay thế chúa cho đàn ong Năm
Trang 171980 Woyke đH khái quát việc tạo chúa rằng mỗi ong chúa cần phải trải qua một
số hoặc cả 5 môi trường sau trong quá trình tạo ra chúng: đàn ong cung cấp trứng thụ tinh, đàn tiếp thu, đH nuôi dưỡng, tủ ấp, đàn giao phối (Crane, 1990) [3]
ấn độ đH có nhiều nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến kỹ thuật tạo chúa ong Apis cerana như kích cỡ chén sáp, vật liệu làm chén sáp, tuổi ấu trùng, số ấu trùng di trùng/lượt và mùa vụ làm chúa Kết quả cho thấy chén sáp có đường kính 6,4 mm đáy và 8,8 mm miệng và chiều sâu là 8,9 mm là phù hợp hơn cả (tỷ lệ tiếp thu 62,5%) Về chất liệu, chén sáp được làm từ sáp ong nguyên chất có tỷ lệ tiếp thu cao hơn cả (80,95%) so với làm bằng Parafin ấu trùng di trùng ở tuổi 12 – 24 gìơ là phù hợp so với nước có tỷ lệ tiếp thu cao hơn
di khô Nghiên cứu về số lượng ấu trùng di trùng cho thấy di trùng một lượt 6 –
12 chén sáp thì có hiệu quả hơn di trùng 18 – 24 chén sáp Về mùa vụ làm chúa tốt nhất là vào mùa xuân (tháng 3- 4), mùa hè và mùa thu phù hợp tạo chúa nhân tạo tại khu vực Shimla (Partap,U 1998) [28]
2.2.4 Nghiên cứu về bệnh ong Apis cerana
Ong Apis cerana thường bị một số dịch bệnh thối ấu trùng trong đó nguy hiểm nhất là bệnh thối ấu trùng châu Âu (Faurbrood) và bệnh thối ấu trùng túi (Sacbrood), ngoài ra còn bị một số kẻ thù gây hại như sâu ăn sáp, ong rừng, kiến, cóc, thằn lằn Các loại sâu bệnh ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của đàn ong, làm năng suất mật giảm xuống Do vậy con người đH nghiên cứu các loại bệnh nhằm tìm ra các biện pháp phòng trị có hiệu quả
Bệnh thối ấu trùng Châu Âu (TATCA): Bệnh thối ấu trùng Châu Âu do Cheshire và Cheyne công bố lần đầu tiên vào năm 1885 Hiện nay bệnh có mặt ở khắp nơi nuôi ong Apis mellifera và một số nơi nuôi ong Apis cerana Bailey(1981) tác nhân chính gây bệnh TATCA là liên cầu khuẩn Melissococcus pluton và một số vi khuẩn thứ phát như: alvei, Streptococcus apis (Phùng Hữu Chính, 1990) [10]
Trang 18Bệnh thối ấu trùng túi: Bệnh thối ấu trùng túi được White mô tả lần
đầu tiên vào năm 1917 do virus gây lên ở ong châu Âu Apis mellifera, bệnh có mặt ở khắp nơi nhưng gây thiệt hại không đáng kể Các đàn ong có thể tự khỏi bệnh và không được coi là bệnh nguy hiểm (Aemprapa S Wongsiri (1988) [18]
Với ong châu á Apis cerana, bệnh xuất hiện thành dịch lần đầu tiên ở Trung Quốc năm 1972 và đH diệt rất nhiều đàn ong (Huang, SHuang Xiu, 1989)
ở Thái Lan bệnh xuất hiện năm 1976 (Aemprapa S Wongsiri (1988) [18] Năm
1981 Bailey [19] đH phân lập được chủng Virus gây bệnh trên ong Apis cerana ở Thái Lan có đặc tính sinh lý sinh hoá khác với chủng virus sacbood gây bệnh trên ong Apis mellifera và ông đặt tên là Virus Thai (Thai – sacbrood)
Các nghiên cứu về tỷ lệ nhiễm bệnh của các tuổi ấu trùng khác nhau trên ong Apis cerana indica và ở ấn Độ đH chỉ ra rằng tất cả các ấu trùng từ 1
đến 4 ngày tuổi đều nhạy cảm với bệnh Thai - sacbrood ấu trùng 1 ngày tuổi
có tỷ lệ nhiễm bệnh cao nhất dẫn tới 100% tỷ lệ chết, tương tự ấu trùng 2 và 3 ngày tuổi có tỷ lệ chết 84 – 92 % và 82 – 96%, 4 ngày tuổi là 70 – 74 % (Devanesan, S; Jacob, A 1999) [24]
Về phòng trị sâu phá bánh tổ, Tan K và X W Zhang (1998) [33] đH nghiên cứu tìm ra tháng 3 và tháng 10 là thời gian phù hợp nhất để diệt sâu phá bánh tổ bằng cách dọn vệ sinh thùng ong, thay cầu cũ bằng cầu mới và nấu sáp Kết quả cho thấy tỷ lệ sâu phá bánh tổ giảm 84%
2.3 Tình hình nghiên cứu ong Apis cerana ở Việt Nam
Từ những năm 1960 phòng ong thuộc Bộ Nông nghịêp (cũ) nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đH tập trung nghiên cứu thành công phương pháp chuyển giống ong Apis cerana nuôi ở dạng đõ cổ truyền ở vùng rừng núi sang thùng cải tiến nuôi ở Đồng Bằng, xác định được nhiều vùng giống ong nội
địa ở miền Bắc như Bắc Giang, Hoà Bình, Tuyên Quang trong đó qua theo dõi
Trang 19đH nhận thấy giống ong Tuyên Quang có nhiều ưu điểm hơn các vùng khác Năm 1970 đH tiến hành thu thập các giống ong nội từ các tỉnh rừng núi để bổ xung nguồn gen cho ong ở khu vực đồng bằng (Phạm Xuân Dũng, 1994) [08]
Theo F Ruttner 1988 [30], ở Việt Nam có hai phân loài ong Apis cerana cerana ở Miền Bắc và Apis cerana indica ở Miền Nam Ong nội Apis cerana ở Miền Nam có kích thước nhỏ hơn ở Miền Bắc, các chỉ tiêu tương ứng là; Chiều dài vòi 4,75 và 5,02 mm, chiều dài cánh 7,85 và 8,39 mm, chiều rộng cánh là 2,80 và 2,94 mm, ngang tấm lưng 3 là 7,84 và 8,53 mm dọc tấm lưng 3 là 1,73 và 1,87 mm (Phạm Xuân Dũng, 1996) [09]
Trung tâm nghiên cứu ong đH tiến hành nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của ong nội Một số kết quả như: Khối lượng ong chúa tơ 140 – 153
mg, khối lượng ong chúa đẻ trung bình 190 – 210 mg, số lượng ống trứng trong một buồng trứng 85 – 98 ống, sức đẻ trứng trung bình của ong chúa 400 – 600 trứng/ngày đêm Tỷ lệ trứng chết trung bình 8,28% Ong thợ có chiều dài vòi trung bình 4,81 – 4,88 mm, khối lượng cơ thể 81mg, tích tụ đàn của ong nội đạt được từ 4 – 8 cầu quân, có thể cho 10 – 15 kg mật/đàn/năm hoặc cao hơn (Phạm Xuân Dũng) [08]
Đề tài “Chọn lọc giống ong nội” theo phương pháp quần thể khép kín của Page & Laidlaw (1982) [27] đH thực hiện tại trung tâm nghiên cứu ong từ
1990 – 1993 và đH thu được một số kết quả: Năng suất mật tăng 22%, tỷ lệ nhiễm bệnh Sacbrood 7,67% (so với đối chứng 11,02%), tỷ lệ bệnh thối ấu trùng châu Âu 17,59% (đối chứng 23,05%), tỷ lệ ong bốc bay 3,35% (đối chứng 6,25%), tỷ lệ chia đàn tự nhiên 6,50% (đối chứng 10,95%) Kết quả cụ thể được trình bày qua bảng 2.1
Trang 20Bảng 2 1 Giá trị trung bình một số chỉ tiêu chính của quần thể chọn lọc khép kín qua các năm 1990 – 1993 (Phùng Hữu Chính, 1996) [12]
Năm Chỉ tiêu
Năng suất mật (kg/đàn) (5,4–16,8) 10,2 (6,1–20,8) 11,23 (6,6–21,75) 13,73 (7,4–24,9) 15,54 Sức đẻ trứng
của ong chúa ngày đêm) (số trứng/
406 (218–713)
425 (154–1290)
382,3 (152–945)
403,05 (172–945)
Tỷ lệ bệnh
23,1 (0,0–85,7)
11,79 (0,0–26,7)
4,8 (0,0–16,7)
2,3 (0,0–13,3)
Tỷ lệ bệnh thối
ấu trùng châu âu % (0,0–85,7) 45,4
41,9 (0,0–66,7)
18,0 (0,0–40,0)
17,2 (0,0–40,0)
Các nghiên cứu về bệnh ong:
Bệnh thối ấu trùng châu Âu có mặt ở Việt Nam từ tháng 12/1967 do nhập nội một số đàn ong Apis cerana ở Trung Quốc vào Việt Nam Trên nhiều mẫu bệnh phẩm của ong nội, Phùng Hữu Chính, Vũ Văn Luyện (1999) [13]
đH phân lập được các vi khuẩn Melissococcus pluton, Bacillus alvei, Streptococcus apis gây bệnh nhưng thuộc chủng khác với chủng gây bệnh trên ong Apis mellifera
Năm 1974, dịch bệnh sacbrood đH bùng nổ ở nước ta do thu nhập một số
đàn ong cao sản của viện ong Bắc Kinh Qua triệu chứng lâm sàng, các chuyên gia ong trong nước và quốc tế đH cho rằng trong tập hợp bệnh thối ấu trùng ong nội có mặt bệnh thối ấu trùng ong nội có mặt bệnh ấu trùng túi Năm 1989, Trung tâm nghiên cứu ong đH gửi mẫu bệnh sacbrood phân tích tại Anh và đH xác định sự có mặt của virus Thai - sacbrood phân tích tại Anh và đH xác định
sự có mặt của virus Thai – sacbrood trên các đàn ong nội nước ta Phùng Hữu Chính (1996) [12] đH nghiên cứu điều tra bệnh thối ấu trùng túi bằng biện pháp sinh học; Cả hai phương pháp nhốt chúa và thay thế chúa đẻ đàn bệnh bằng mũ chúa hoặc chúa tơ đều cho kết quả tốt, hiệu quả điều trị cao 80 – 90 %
Trang 21* Bệnh ấu trùng túi (Sacbrood)
Bệnh ấu trùng túi (bệnh nhọn đầu, ấu trùng tuổi lớn) do virus gây nên,
ở Việt Nam virus gây bệnh ấu trùng túi đH được xác định thuộc chủng Thai sacbrood (Bren Ball, 1989) (Theo Phùng Hữu Chính và cộng sự, 1996)[10]
-Đây là bệnh nguy hiểm nhất đối với ong Apis cerana, gây thiệt hại đáng kể cho các nhà nuôi ong Khả năng lây nhiễm của bệnh Thai - sacbrood rất lớn, theo Bailey, Gibbs & Woods, 1964 [20], một ấu trùng chết bởi bệnh này có chứa đủ virus để giết khoảng 1 triệu ấu trùng khác, nếu lấy lượng chất lỏng này trong 1 xác ấu trùng chết rồi pha vào mật thì có thể lây nhiễm 3000 ấu trùng lành, ấu trùng càng nhiều tuổi thì động lực của chất lỏng này càng giảm, xác khô không còn độc lực sau 7 tuần
Trong đàn ong, bệnh lan truyền là do ong thợ khi dọn vệ sinh tổ, chúng ăn hay gắp bỏ các ấu trùng bị bệnh ra khỏi tổ, sau đó lại nuôi dưỡng các ấu trùng khoẻ và mầm bệnh được truyền từ đó Bệnh truyền từ đàn này sang đàn khác do ong ăn cướp mật, nhầm tổ, lây truyền qua sử dụng các dụng cụ nuôi ong
Khi bị bệnh, bánh tổ vít nắp nhộng không đều, xen kẽ giữa những lỗ tổ vít nắp là những lỗ tổ bị mở nắp, ấu trùng chết ở giai đoạn nhọn đầu, quan sát
kỹ thấy nhiều lỗ tổ khác đang bị ong thợ mở nắp ở các mức độ khác nhau ở
đàn ong bị bệnh nặng cả ấu trùng ong đực cũng bị chết Màu sắc ấu trùng bệnh chuyển từ trắng ngà sang trắng bệch, vạch phân đốt không rõ Triệu chứng điển hình nhất của bệnh ấu trùng túi là khi gắp ấu trùng lên phía đuôi
ấu trùng hình thành túi nhỏ có dịch trong suốt hoặc vàng nhạt Thân ấu trùng chuyển sang vàng nhạt rồi nâu nhạt hay xám nâu, chóp đầu nghiêng về phía bụng ấu trùng chết không mùi, khi khô thành vẩy cứng dễ lấy ra khỏi lỗ tổ
* Bệnh thối ấu trùng châu âu (European Foulbrood)
Bệnh thối ấu trùng châu Âu còn đựơc gọi là bệnh thối ấu trùng mở nắp hay thối ấu trùng tuổi nhỏ vì bệnh thường gây chết ở các ấu trùng chưa vít nắp
Trang 22ở tuổi 3 – 4 ngày Bệnh này cũng được gọi là bệnh thối ấu trùng chua vì khi chết ấu trùng có mùi chua
Bệnh thối ấu trùng châu Âu do vi khuẩn Melliosococus plus gây ra còn các loài vi khuẩn khác chỉ là những tác nhân thứ phát (Alfred Borchert, 1980) [1] Melliosococus pluton được ấu trùng tuổi nhỏ ăn vào cùng thức ăn và cố
định trong ruột giữa Vài ngày sau khi nhiễm bệnh, ấu trùng bị chết nhHo ra và màu sắc chuyển từ trắng bang sang vàng ệch rồi nâu đậm Nếu không được ong thợ dọn đi, xác ấu trùng khô lại nằm ở dưới đáy lỗ tổ thành vẩy có thể gắp
ra một cách dễ dàng ở những đàn bị bệnh nhẹ thì nhộng vít nắp lỗ chỗ, còn những đàn bị bệnh nặng thì thậm chí không có nhộng vít nắp
2.4 Một số đặc điểm về sinh học ong mật Apis cerana
2.4.1 Quá trình phát triển cá thể của ong mật
Ong mật Apis cerana thuộc loại biến thái hoàn toàn, vòng đời trải qua 4 giai đoạn: Trứng, ấu trùng, nhộng và trưởng thành Ong mật là côn trùng sống
xH hội, giữa các cá thể có cấu tạo cơ thể phức tạp và có sự phân công về chức năng nhất định liên quan tới việc duy trì và bảo vệ cuộc sống của cả đàn Mỗi
đàn ong là gia đình bao gồm từ vài nghìn đến vài chục nghìn cá thể trong đó
có ong chúa, ong thợ, ong đực
- Ong chúa
Đặc điểm cơ thể: Trong mỗi đàn ong bình thường chỉ có một ong chúa
Đôi khi trong đàn xuất hiện 2 ong chúa, thường là một ong chúa già, một ong chúa trẻ hoặc trong trường hợp đàn ong bị chia đàn Ong chúa phát triển từ trứng thụ tinh và là cá thể cái duy nhất có khả năng đẻ trứng để duy trì phát triển nòi giống Ngoài ra ong chúa còn tiết ra các pheromone để điều hoà hoạt
động của đàn ong Bình thường ong chúa đẻ trứng được thụ tinh và các trứng này nở ra ong thợ nhưng khi già thì nó đẻ ít và đẻ nhiều trứng không thụ tinh, các trứng này nở ra ong đực
Trang 23Trong đàn ong, ong chúa dễ được phát hiện và phân biệt với đàn ong
đực và ong thợ bởi kích thước cở thể và trọng lượng nó lớn hơn đàn Theo Phùng Hữu Chính (1996) [12], trọng lượng cơ thể ong chúa đẻ trung bình là
200 mg, ong thợ là 75 – 80 mg, ong đực là 115 – 130 mg Ngoài kích thước và trọng lượng, ong chúa còn dễ được phân biệt bởi nó có mầu đen và đi đến đâu
nó cũng được ong thợ bao quanh cho ăn liến mình Người nuôi ong có thể phát hiện sự có mặt của ong chúa trong đàn ong qua quan sát cách thức đẻ trứng của ong chúa và vị trí đẻ của ong chúa và vị trí của trứng lỗ tổ Nếu đàn ong mới bị mất chúa, người nuôi ong cũng có thể biết được chúa đH bị mất vào hôm nào qua việc quan sát vị trí của trứng trong lỗ tổ Khi mất chúa ong thợ lập tức xây mũ chúa cấp tạo, số lượng từ vài cái tới 20 cái Nếu đàn ong bị mất chúa và trong đàn không có trứng, không có ấu trùng tuổi nhỏ (ấu trùng có khả năng phát triển thành ong chúa) thì buồng trứng của một số ong thợ sẽ phát triển và chúng sẽ để trứng Ong thợ đẻ trứng vào lỗ tổ ong thợ nhưng không đều đặn mỗi quả một lỗ tổ và xuôi theo hướng như trứng do ong chúa
đẻ mà có tới mấy con cùng đẻ vào lỗ tổ
Quá trình phát triển: Ong chúa được ra đời từ các lỗ tổ đặc biệt gọi là
mũ chúa Mũ chúa được ong xây bằng sáp nằm ở rìa bên hoặc mép dưới bánh
tổ Từ các nền mũ chúa theo sự lớn lên của ấu trùng, ong thợ xây thành lỗ tổ chúa có hình hạt dẻ
Trứng ong có hình dạng hơi cong, mặt lồi của trứng tương ứng với mặt lưng của phôi Chiều dài và rộng của trứng tương ứng với mặt lưng của phôi Chiều dài và rộng của trứng ong Apis cerana là 1,71 mm và 0,406 mm Giai
đoạn trứng kéo dài gần 3 ngày đêm đối với cá thể ong chúa, ong thợ và ong
đực Trong thời gian đó trong trứng xảy ra sự phân chia tế bào mạnh mẽ và có
sự phát triển của phôi thai Trong 3 ngày đó vị trí của trứng thay đổi theo hướng nghiêng dần rồi nằm xuống đáy lỗ tổ và sau đó ấu trùng chui ra
Trong suất giai đoạn ấu trùng, ong thợ có ấu trùng chúa ăn bằng thức ăn bằng sữa chúa một cách dư thừa, khác với ong thợ (ong thợ chỉ ăn lượng sữa
Trang 24vừa đủ từ khi nở đến 2,5 – 3 ngày tuổi) Điều này được chứng minh bằng một lớp sữa khô lại ở đáy tổ sau khi ong chúa nở ra Thành phần của sữa ong chúa cũng khác so với ong thợ Hàm lượng đường trong sữa chúa là 34%, ở sữa ong thợ là 12% Chính hàm lượng đường cao này kích thích ấu trùng ong chúa ăn nhiều thức ăn hơn và nó ảnh hưởng đến hạch Corpora allata ở đầu ấu trùng Hạch này tiết ra hoóc môn trẻ là neotenin Đến ngày thứ 3 của giai đoạn ấu trùng hàm lượng neotenin thấp sẽ dẫn đến thành ong thợ (Beetsma, 1979) Qua 5 ngày ong thợ vít nắp mũ chúa lại Lúc đó trong mũ chúa vẫn còn lượng thức ăn dư thừa, ấu trùng sẽ vừa kéo kén vừa ăn sau đó lột xác hoá nhộng Nhộng của ong chúa sản sinh ra lượng phermon khá nhiều đủ để hấp dẫn ong thợ đến ủ ấm Giai đoạn nhộng kéo dài 8 ngày, sau đó ong chúa tự cắn nắp mũ chúa chui ra (Các giai đoạn phát triển của ong chúa Apis cerana ở Việt Nam chưa được nghiên cứu tỷ mỷ, các số liệu trên dựa vào kết quả nghiên cứu trên ong Apis mellifera
- Ong thợ:
Đặc điểm cơ thể: Ong thợ có chiều dài cơ thể 10 - 11 mm, khối lượng
75 – 80 mg Ong thợ được nở ra từ chứng được thụ tinh, là cá thể cái nhưng cơ quan sinh dục không phát triển đầy đủ nên không giao phối với ong đực được Bình thường ong thợ không có khả năng đẻ trứng Số lượng ong thợ trong đàn thường từ 5000 – 25000 con Ong thợ có cấu tạo thích nghi với việc hoàn thành tất cả các chức năng của đàn như dọn vệ sinh, nuôi dưỡng ấu trùng, tiết sữa nuôi chúa, tiết sáp xây tổ, thu hoạch mật, phấn hoa, lấy nước, điều hoà nhiệt độ trong tổ, bảo vệ đàn, Tuổi thọ trung bình của ong thợ là 2 tháng phụ thuộc vào cường độ làm việc; Mùa đông ong thợ ít đi làm và sống lâu hơn, vào vụ mật ong thợ phải đi làm việc nhiều, tuổi thọ giảm có khi chỉ sống
được 2 – 3 tuần
Quá trình phát triển: ấu trùng ong thợ mới nở có màu trắng xanh, cơ thở bao gồm phần đầu và 13 đốt phân biệt rõ Trong quá trình lớn lên ấu trùng
Trang 25có lột xác khoảng ngày một lần Trong 2,5 – 3 ngày đầu ấu trùng được ong nuôi dưỡng cho ăn rất nhiều lần bằng thức ăn ấu trùng (sữa ong thợ) giàu protein, vitamin Sau 2,5 - 3 ngày ấu trùng được ăn bằng thức ăn có thêm mật ong và phấn hoa (Crane, 1990) [3] Vào ngày thứ 3 – 4 chúng được nuôi bằng thức ăn có 47% đường Giai đoạn ấu trùng kéo dài gần 5 ngày, lột xác 4 lần, sau đó ong nuôi dưỡng ngừng cho ăn và vít nắp lỗ tổ lại ấu trùng lúc này đH tăng 1600 lần về trọng lượng so với khi mới nở Trong lỗ tổ vít nắp ấu trùng thải phân và kéo kén Khi kéo kén ấu trùng phải xoay đầu tới trên 30 lần Giai
đoạn nhộng ong thợ kéo dài 11 ngày trong đó giai đoạn tiền nhộng là 2 ngày,
ấu trùng biến đổi thành nhộng một cách chậm chạp Nhìn bề ngoài tiền nhộng giống như ấu trùng nhưng bên trong lớp da các phần của nhộng phát triển
đang hình thành rõ dần (chân và phần phụ của đầu) Mầu sắc cũng dần dần
được phủ ở mắt và các phần khác của cơ thể Các biến đổi bổ xung cũng xuất hiện để biến nhộng thành con trưởng thành Thời gian phát triển từ trứng đến con trưởng thành là 18,5 ngày
ăn khan hiếm chúng bị ong thợ dồn lại một chỗ, thậm chí bị đuổi khỏi tổ Nhiệm vụ quan trọng duy nhất của ong đực là giao phối với ong chúa tơ (ong chúa mới nở vài ngày) Chỉ sau khi giao phối với ong đực ong chúa mới có khả năng đẻ trứng đH thụ tinh và các trứng này nở ra ong thợ và chúa thế hệ sau Tuổi thọ trung bình của ong đực là 57 ngày
Trang 26Quá trình phát triển: ấu trùng ong đực trong 2,5 – 3 ngày đầu được ăn bằng thức ăn ấu trùng (sữa ong đực) gồm 7,5% đường, khi ấu trùng đạt 3 – 5 ngày tuổi thì thức ăn gồm 24,9% đường, lúc này thức ăn được bổ xung thêm phấn hoa và mật ong Giai đoạn ấu trùng ong đực kéo dài 6 ngày, sau đó ong nuôi dưỡng ngừng cho ăn và vít nắp lỗ tổ lại Giai đoạn nhộng ong đực kéo dài khoảng 14 ngày Thời gian phát triển từ trứng đến trưởng thành là 23 ngày 2.4.2 Cơ chế điều hoà hoạt động của đàn ong
Ong có khả năng tiết ra các pheromon để duy trì và điều hoà tất cả các hoạt
động sống trong đàn Pheromon là chất lỏng và chất bay hơi Các chất lỏng được truyền qua sự tiếp xúc của các con ong còn các chất bay hơi được truyền qua không khí ở mỗi cấp ong đều có khả năng tiết ra các pheromon điều tiết tập tính các cá thể khac và ảnh hưởng đến trạng thái sinh lý của chúng Ong chúa tiết ra
“chất chúa” hay chất dẫn dụ sinh dục Ong thợ tiết ra pheromon báo động và pheromon đánh dấu Ong đực tiết ra pheromon hấp dẫn ong đực khác đến tạo vùng hội tụ ong đực và hấp dẫn ong chúa đến giao phối ấu trùng và nhộng ong cũng tiết pheromon để hấp dẫn ong thợ đên cho ăn và ủ ấm Nhộng ong chúa tiết pheromon để hấp dẫn ong thợ đến cho ăn và ủ ấm Nhộng ong chúa tiết ra 30 mg, nhộng ong đực tiết 10mg, nhộng ong thợ tiết 2,5 mg (Koeniger, Weith, 1984) 2.5 Tình hình nghiên cứu cây nguồn mật phấn trên thế giới và Việt Nam 2.5.1 Tình hình nghiên cứu cây nguồn mật, phấn trên Thế giới
2.5.1.1 ảnh hưởng của mật và phấn hoa đến sự phát triển cá thể
Ong là côn trùng hẹp thực, thức ăn của ong là mật hoa và phấn hoa Mật hoa được tiết ra từ các tuyến mật ở các cây cho mật Thông thường các tuyến mật nằm ở trong hoa, phía gốc bao hoa, một số cây lại tiết mật ở lá như cây cao su, đay cách, keo tại tượng Mật hoa chứa nhiều loại đường, chủ yếu là glucoza, fructoza, là nguồn năng lượng chủ yếu để ong nuôi ấu trùng và nuôi sống bản thân, duy trì mọi hoạt động của đàn ong Ong thu lượm và chế biến mật hoa thành mật ong và dự trữ trong bánh tổ
Trang 27Phấn hoa là nguồn cung cấp protein, chất béo, vitamin, muối khoáng,… cho ấu trùng và ong non Khi mới nở cơ thể ong non mềm yếu, đậu chưa vững trên bánh tổ Nó phải ăn phấn hoa do các con ong khác chuyển cho để phát triển các tuyến trong cở thể và tiết ra được những chất cần thiết Trong vòng một giờ, hai giờ sau khi ra khỏi lỗ tổ, ong thợ bắt đầu ăn phấn hoa và phần lớn chúng ăn lên tiếp trong khoảng 10 tiếng đồng hồ liền Sau một, hai ngày nó có thể bắt đầu cho ấu trùng tuổi lớn (3, 4, 5 ngày) ăn thức ăn hỗn hợp là phấn hoa
và mật ong Đây là thức ăn bổ sung vì các ấu trùng trên vẫn được ong nuôi dưỡng khác cho ăn “sữa ong thợ” Việc tiêu thụ phấn hoa ở ong thợ tăng tối đa vào ngày thứ 5 và giảm vào các ngày thứ 8, 10 Phấn được tiêu hoá bởi những enzim trong diều mật của ong Khi được 5 ngày tuổi tuyến hạ hầu ở đầu con ong tiết ra chất dinh dưỡng “ sữa ong” và đến 10 ngày tuổi thì khả năng tiết “ sữa ong” giảm dần Nếu ong thợ không phải nuôi ấu trùng và vẫn được cung cấp phấn thì những tuyến đó có thể tiếp tục phát triển cho tới khi ong thợ được
27 ngày tuổi (Ricciardell d’ Albore và đồng nghiệp, 1987) (Crane, 1990) [3] Maurizio (1950) cho rằng phần lớn tuổi thọ ong thợ do số lượng phấn hoa mà
nó ăn trong thời kỳ ong non và tổng hợp số ấu trùng mà nó phải nuôi quyết
định Phấn hoa kéo dài giai đoạn đầu cuộc đời con ong thợ (ở trong tổ), công việc nuôi ấu trùng thì ngược lại – làm giảm tuổi thọ ong và giai đoạn tiếp theo (đi kiến thức ăn) thì rất ít thay đổi
Phấn hoa cũng ảnh hưởng đến lượng protein dự trữ trong quá trình ong tiết sáp xây tổ, sáp ong được ong tiết ra trong khoảng thời gian từ 10 đến 15 ngày tuổi Trong sáp ong không có protein Sau 15 ngày tập trung sản xuất ra nhiều sáp, ong non không được ăn phấn hoa sẽ bị giảm 20 % lượng protein dự trữ trong cơ thể (Taranov, 1959 ) (theo Crane, 1990) [3]
Ngược lại, khi ăn một số loại phấn hoa, ong có khuynh hướng phát triển kém đi và dễ bị mắc một số bệnh (Kiew & Muid (1991) [37] Số lượng và chất lượng hạt phấn ong lấy về ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng làm việc của đàn ong ĐH ước tính lượng protein thô lý tưởng trong phấn hoa là 20 % và nếu ít hơn
Trang 28thì không thể đáp ứng nhu cầu của đàn ong đòi hỏi để tạo ra năng suất tối ưu Xia D (1996) [34] đH công bố lượng ấu trùng tạo ra tối đa khi đàn ong được nuôi dưỡng bởi phấn hoa có hàm lượng protein là 20 – 25% De Groot (1953) cho rằng cần phải có tối thiểu 10 axit amin – glycine và serine không phải là chủ yếu, nhưng ảnh hưởng đến sự phát triển ( DC Somerville, W Peasley, 1997) [32]
2.5.1.2 Sự dự trữ phấn hoa trong đàn ong
Phấn hoa trong đàn ong cất giữ ở những lỗ tổ xung quanh vùng trứng và
ấu trùng để tiện cho ong nuôi dưỡng lấy và sử dụng N.L Burenin và G.N Kotova (1985) [2] Cho rằng việc chế biến phấn hoa thành lương ong rồi đặt vào lỗ tổ, nén và bảo quản bằng cách tẩm ướt mật hoa và nước bọt Trong phấn nén chặt xẩy ra quá trình lên men lactic Axit lactic do vi khuẩn tạo nên giữ cho lương ong khỏi bị hỏng Eva Crane 1990) [3] mô tả những con ong đi lấy phấn về tự cất phấn vào lỗ tổ và việc chế biến tiếp theo sẽ do những con ong nội trợ đảm nhiệm Nó lèn chặt phấn hoa vào lỗ tổ để đẩy không khí ra ngoài Tác giả cho rằng phía ngoài lỗ tổ phấn hoa, trước khi vít nắp, ong thường phủ một lớp mỏng mật ong nhằm ngăn chặn sự lên men axit lactic 2.5.1.3 Sự lựa chọn nguồn phấn hoa của ong
Ong lấy phấn từ nhiều loại cây, từ những cây tiết cả mật hoa và phấn Khi rất nhiều phấn, ong lấy cả từ cây họ lúa mặc dù phấn hoa này nghèo Protein Thông thường ong lấy phấn từ một loại cây, nhưng khi không đủ cây nguồn phấn chúng lấy về tổ giỏ phấn hỗn hợp (N.L.Burenin, G.N Kotova, 1985) [2] Vào thời gian trong đàn có nhiều ấu trùng có khoảng 50% ong thu hoạch trở về tổ với các viên phấn có mầu khác nhau Quan sát màu của viên phấn do ong mang về người nuôi ong có thể biết sự
nở hoa của cây nguồn mật, phấn khác nhau và bán kính bay của ong (Phùng Hữu Chính, Vũ Văn Luyện, 1999) [13]
2.5.2 Tình hình nghiên cứu cây nguồn mật, phấn ở Việt Nam
ở Việt Nam, việc nghiên cứu nguồn thức ăn nuôi ong chỉ tập trung vào nghiên cứu các cây nguồn mật nên kết quả thu được cũng còn hạn chế Từ
Trang 29năm 1978 – 1980, bộ môn cây nguồn mật của trại nghiên cứu ong trung ương
đH bắt đầu nghiên cứu cây nguồn mật tập trung vào một vài cây như nhHn, cây vải thiều Năm 1986 – 1987 Trung tâm nghiên cứu ong tiếp tục nghiên cứu khả năng cung cấp mật của một số cây nguồn mật vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ, (Lê Triệu Thảo, Phạm Đức Hạnh, Phạm Xuân Dũng, 1991) [4]
Các chỉ tiêu nghiên cứu nguồn mật của một cây tập trung vào: Lượng mật tiết ra từ hoa hoặc lá trong một ngày đêm và địa điểm xác định, lượng
đường tổng số, thời gian nở hoa tiết mật, tuổi thọ tuyến mật, lượng mật có thể khai thác được trên một đơn vị diện tích
Các cây nguồn mật đH nghiên cứu ở miền Bắc như: Cây nhHn, vải thiều, bạch đàn, sú vẹt, táo, cỏ lào Cho đến nay ở Việt Nam chưa nghiên cứu nào về cây nguồn phấn cho ong Người nuôi ong chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của mình để đặt ong ở các vùng có cây nguồn mật, phấn vừa giữ cho đàn ong phát triển, vừa khai thác mật
2.5.2.1 Vai trò của cây nguồn mật và phấn đối với ong
Ong đi lấy thức ăn từ nguồn tự nhiên là mật và phấn hoa Mật hoa và phấn hoa có thể cung cấp tất cả các năng lượng cần thiết cho ong Trong thành phần của mật hoa của hoa có nhiều loại đường sacaro, gluco, fructo là nguồn năng lượng cơ bản cần thiết cho ấu trùng, cho các cá thể ong và cho cả đàn ong Ong thường sử dụng và nuôi ấu trùng bằng mật hoa mới lấy về, đồng thời chế biến một phần còn lại thành mật ong Phấn hoa là nguồn cung cấp protein, chất béo, vitamin, muối khoáng, cho ấu trùng và ong non Khi thiếu phấn đàn ong không nuôi ấu trùng và ngừng xây tổ, vì thế nơi nào có nguồn phấn dồi dào quanh năm thì ong phát triển mạnh và cho năng suất cao Tuy nhiên không phải tất cả các loài thực vật có hoa đều cho mật và phấn hoa đều có giá trị đối với ong như nhau Những thực vật cung cấp cho ong mật hoa và phấn hoa được gọi
là cây nguồn mật, những thực vật cho mật nhưng ít hoặc không cho phấn cũng
được xếp vào nhóm này Còn những thực vật mà trên các bông hoa của nó con ong chỉ lấy được phấn gọi là cây nguồn phấn (ngô, lúa, trinh nữ ) Các cây
Trang 30nguồn phấn này có vai trò rất quan trọng đối với nghề nuôi ong, đặc biệt là khi
đàn ong nuôi dưỡng nhiều ấu trùng, chuẩn bị quân cho vụ mật Mặt khác khi con ong đi lấy phấn trên những bông hoa nó lại đem phấn hoa thụ phấn cho nhụy hoa tạo khả năng hình thành quả và hạt Vì vậy năng suất các loài thực vật trên lại phụ thuộc đáng kể vào hoạt động của các con ong Mối liên quan hữu cơ này là cơ sở kinh tế để sử dụng ong trong thụ phấn cây trồng nông nghiệp
Cũng như các nước nhiệt đới khác, nước ta có thảm thực vật rất đa dạng, có nhiều loại cây nở hoa nhưng số lượng không nhiều và diện tích của vùng trồng có một vài loại cây trồng trên diện rộng lớn như cao su, táo, nhHn, là những vùng nuôi ong rất lớn Vì thế ở những nơi nuôi ong cố
định người nuôi ong cần phải trồng thêm một số cây nguồn mật phấn bổ sung Tuy nhiên nếu chỉ trồng cây phục vụ cho ong thì sẽ không kinh tế mà việc trồng trọt này cần kết hợp với việc trồng các cây ăn quả, cây lâm nghiệp, cây công viên bóng mát
Do tầm bay của ong không xa nên việc tìm ra vùng có nguồn mật phấn phong phú là yếu tố quan trọng nhất để nuôi ong thành công
2.5.2.2 Sự tiết mật hoa của thực vật
Mật hoa là chất lỏng có đường tiết ra từ tuyến mật hoa của thực vật nhằm hấp dẫn côn trùng đến thụ phấn
Tuyến mật hoa thường thấy trên đài hoa, cánh hoa, nhị hoa đực và nhụy, đa số nằm ở gốc bầu và ở nhuỵ Tuyến mật của bông hoa nông, sâu có
ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng lấy mật của ong Những chủng ong có chiều dài vòi hút lớn có khả năng thu mật tốt ở các loài cây có tuyến mật sâu như cỏ lào, cúc quỳ, họ cánh bướm Vì thế ong nội thu mật cỏ lào kém hơn ong ý
Tuyến mật ngoài hoa thường nằm trên các cơ quan dinh dưỡng của cây như ở cuống lá, thân lá, lá kèm và lá bắc gọi lá mật Mật lá thường ở cây cao
su, keo tai tượng, bông ở cây cao su mật lá xuất hiện vào thời kỳ cây thay lá, các lá non có khả năng tiết mật Cây đay tiết mật trong thời kỳ sinh trưởng mạnh khi đạt độ cao 80 - 200 cm Khi không có mật hoa ong mới lấy mật lá
Trang 31Mật ong được lấy từ mật lá có hương vị kém hơn là mật ong lấy từ mật hoa, nên ở nước ta bán rẻ hơn
Trong mật hoa có chứa hỗn hợn axit hưu cơ, các muối khoáng và các este này làm cho hoa có mùi thơm Hàm lượng đường trong mật hoa biến
động rất lớn từ 25 – 60% tuỳ thuộc vào loài cây và các yếu tố ngoại cảnh khác
mà lúc đặc lúc loHng Độ đặc của mật hoa có ảnh hưởng lớn đến sự thu hoạch của ong Nếu mật đặc quá > 70% ong khó hút vào diều mật, nếu loHng quá thì ong không thích lấy vì phải tốn nhiều năng lượng vận chuyển mật hoa về tổ và chế biến nó thành mật ong Ong thích lấy mật hoa nhất khi nồng độ đường là 50%, dưới 5% ong không thích lấy Khi có nhiều loài cây cùng nở hoa một lúc thì ong sẽ đến lấy ở những bông hoa nào có mật hoa nhiều, nồng độ đường
đặc lại tiêu tốn năng lượng ít nhất cho một chuyến đi lấy, để có hiệu quả kinh
tế cao nhất Ví dụ hoa nhHn và hoa vải cùng một lúc, tuy nhiên nhHn có lượng mật hoa ít hơn hoa vải một chút (2,5 mg so với 3,3 mg) nhưng tỷ lệ đường lại cao hơn nhiều (50% so với 23%) nên ong thường bỏ vải để lấy nhHn
2.5.2.3 Các cây nguồn mật chính ở Việt Nam
Nước ta có rất nhiều loại cây cung cấp mật và phấn hoa cho ong mà chúng ta vẫn gọi là cây nguồn mật Tuy nhiên không phải bất cứ có sự nở hoa của cây nguồn mật nào đàn ong cũng có thể tích luỹ được lượng mật dư thừa cho con người khai thác Những cây nguồn mật chỉ cung cấp đủ lượng mật phấn cho đàn ong phát triển gọi là cây nguồn mật duy trì hỗ trợ, chè, cam, chanh Các nguồn mật duy trì có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển đàn, chuẩn bị cho vụ khai thác Còn các cây nguồn mật chính là những cây tiết nhiều mật, số cây nhiều, tập trung và khi các cây đó nở hoa ong có thể thu hoạch và dự trữ
được trong bánh tổ của chúng Các cây nguồn mật chính quyết định sản lượng mật thu được trong năm Tuỳ theo vùng địa lý, khí hậu và điều kiện canh tác mà
có các cây nguồn mật chính khác nhau ở các tỉnh phía Bắc các cây nguồn mật chính bao gồm: Vải thiều, nhHn, đay, bạch đàn, vẹt táo, bặc hà dại, cỏ lào, chân chim, keo tai tượng, Phần lớn mật ong lấy từ các cây nguồn mật chính trên có
Trang 32chất lượng tốt trong và thơm ngon Nhưng diện tích các cây trên là không nhiều, thời tiết không ổn định nên có năm thu đựơc nhiều, có năm thu được ít chỉ phù hợp với việc nuôi ong gia đình và giống ong A Cerana
ở Phía Nam cao su là nguồn mật quan trọng nhất, mật cao su chiếm tới 3/4 tổng sản lượng mật ong ở nước ta Sau cao su là chôm chôm, nhHn, cỏ lào, cúc quỳ và hoa dừa
* Lịch nở hoa của các cây nguồn mật
Lịch nở hoa của các cây nguồn mật cho người nuôi ong biết địa phương mình có những cây nguồn mật gì, thời gian nở hoa gần đúng, độ dài nở hoa, thứ tự nở hoa ra sao? Để có biện pháp kỹ thuật quản lý đàn ong thích hợp nhất, cho hiệu quả kinh tế cao nhất
Để lập lịch nở hoa ở mỗi địa phương người nuôi ong cần căn cứ vào lịch
nở hoa của cây nguồn mật, phấn, thời kỳ nở hoa trong các sách hướng dẫn nuôi ong làm cơ sở Ghi chép tỉ mỉ các cây ong đến lấy mật và phấn chủ yếu
là các cây có diện tích lớn, số lượng nhiều, mật độ cao trong phạm vi ong bay
có hiệu quả (ong nội dưới 1,2 km)
Ghi chép ngày bắt đầu nở hoa khi 5 – 10% số hoa nở, thời kỳ nở rộ 10 –
25 % (là lúc bắt đầu quay mật lần đầu), kết thúc nở rộ 75% và kết thúc nở hoa (sự nở của những bông hoa cuối cùng) Qua số liệu ghi chép nhiều năm có thể
dự đoán gần đúng thời kỳ nở hoa của mỗi loại cây
Đặt các đàn ong mạnh lên cân, theo dõi sự gia tăng giảm trọng lượng của đàn, ghi chép việc cho ăn, các vòng quay mật Qua số liệu trên biết được ở
địa phương mình có những vụ mật chính vào thời gian nào, năng suất mật của mỗi đàn là bao nhiêu Từ đó chuẩn bị ong quá muộn, khi đàn ong phát triển cực đại thì vụ mật đH kết thúc, số ong này ăn hết nhiều thức ăn dự trữ mà không có tác dụng gì
Trừ một số nơi như vùng dừa Bến Tre, và một số vùng rừng núi còn rừng nguyên sinh như ở Lai Châu, Sơn La hoa nở bốn mùa gối với nhau không phải cho ong ăn lại quay mật quanh năm Còn các vùng khác chỉ có từ
Trang 332 đến 3 vụ mật chính, ngoài thời gian vụ mật chính là thời gian có mật duy trì
và thời kỳ thiếu thức ăn dài ngắn khác nhau ở các tỉnh phía Nam vụ thiếu thức ăn thường xẩy ra vào mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 9 Còn ở các tỉnh phía Bắc thì có 2 vụ thiếu thức ăn là vụ hè thu vào khoảng tháng 7 – 8 và vụ
đông xuân tháng 1 – tháng 2
Trang 343 Địa điểm, đối tượng và phương pháp nghiên cứu 3.1 Vật liệu địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.1.1 Vật liệu nghiên cứu
- Nguồn hoa: Các loài thực vật chủ yếu cho nguồn mật phấn hoa ở khu
hệ thực vật vùng đệm Vườn quốc gia Hoàng Liên
- Các đàn ong nội Apis cerana tại xH
* Địa điểm - XH Sa Pả huyện Sa Pa tỉnh Lào Cai
- Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển ong
*Thời gian: Tháng 7/2008 đên tháng 6/2009
3.2 Nội dung nghiên cứu
- Xác định cây nguồn mật, phấn chủ yếu làm thức ăn cho ong và thời vụ
nở hoa của chúng, sự lựa chọn nguồn phấn của ong
- Tìm hiểu ảnh hưởng của các cây nguồn mật, phấn đến tình hình phát triển của đàn ong
- Khảo sát điều kiện tự nhiên, xH hội và tiềm năng nuôi ong mật xH Sa Pả huyện Sa Pa
- Các hình thức nuôi ong tại địa phương
- Đánh giá mô hình nuôi ong, nuôi ong hiện tại, thành công thất bại, nguyên nhân
- ảnh hưởng của các loại bệnh ấu trùng đến phát triển đàn ong
- Đề xuất các giải pháp phát triển ong vùng đệm
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Xác định cây nguồn mật, phấn chủ yếu làm thức ăn cho ong và thời
vụ nở hoa của chúng, xác định thành phần phấn hoa trong giỏ phấn ong
Các cây nguồn mật, phấn trong khu vực nghiên cứu xác định
được bằng cách quan sát trực tiếp qua việc ong đi lấy mật, phấn trên các bông hoa
Trang 353.3.1.1 Quan sát trực tiếp
Các cây nguồn mật, phấn được xác định bằng cách quan sát ong mật đi tìm thức ăn trên các cây đang nở hoa Quan sát hoạt động của con ong trên bông hoa để xác định đó là cây nguồn mật hay nguồn phấn Nếu con ong thò vòi vào bên trong của bông hoa thì cây đó là cây nguồn mật Còn ở cây nguồn phấn thì ong đậu vào bông hoa dính chân trước bới bao phấn làm cho các hạt phấn dính vào chân và lông cơ thể rồi chuyển các hạt phấn vào giỏ phấn ở chân sau hoặc dùng vòi và hàm trên để cắn rách bao phấn rồi lăn mình làm cho phấn hoa dính vào lông cơ thể Sau đó nó dùng chân trước và chân giữa để chải phấn ở đầu và cơ thể, rồi chuyển đến chân sau Việc đánh giá cây nguồn mật, phấn chính hay phụ dựa vào cường độ ong đến thăm cây đó, còn mức độ xuất hiện của các cây được dựa vào độ dày đặc của cây đó (số lượng cây/m2
đối với cây thân thảo và số lượng cây/ha đối với cây gỗ và câu bụi) (Dewan 1980; 1984, Kafle 1984) {36} Trong một số trường hợp có cây vừa cho mật, vừa cho phấn, tuỳ thuộc vào cây đó cho mật nhiều hoặc cho phấn nhiều mà
được gọi là cây nguồn mật hoặc nguồn phấn
Xác định tên cây: Việc xác định tên của các cây nguồn mật, phấn dựa vào các khả năng sau:
- Ghi chép lại tên cây: nhiều cây ở Sa Pa được gắn kèm với tên khoa học, tên họ ngay trên thân cây hoặc bên cạnh cây đó Với những trường hợp này chỉ việc ghi lại tên cây đó
- Tham khảo ý kiến của các nhà chuyên môn: Nhờ các chuyên gia thực vật học ở Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật trường đại học Lâm Nghiệp và chi cục Lâm nghiệp Lào Cai
3.3.1.2 Phân tích thành phần các giỏ phấn
Nguồn thức ăn cho ong trong khu vực cũng có thể xác định qua việc phân tích thành phần phấn hoa trong các giỏ phấn Khi tìm kiếm thức ăn trên các bông hoa của những cây tiết mật hấp dẫn côn trùng, ong lấy mật luôn cả phấn hoa Phấn hoa được dự trữ trong lỗ tổ Phân tích thành phần các giỏ phấn ong lấy về sẽ cho thấy các nguồn phấn trong khu vực
Trang 36Qua việc phân tích thành phấn các giỏ phấn, sự có mặt các hạt phấn
sẽ biết được sự có mặt của các loài thực vật và tỷ lệ các hạt phấn của mỗi loài ong trong giỏ phấn giúp chúng tôi tìm ra những loài thực vật nào ong thích nhất
3.3.1.3 Phương phấp lấy mẫu
Mẫu được lấy vào 2 thời điểm trong 1 tháng (ngày thứ nhất và ngày thứ mười lăm) từ tháng 7/2008 đến tháng 6/2009
Thời điểm lấy mẫu: từ 6,00 đến 8,00 giờ sáng
Số lượng đàn ong lấy mẫu: 10 đàn được đánh số theo thứ tự từ 1 – 10 Mỗi đàn ong được lấy mẫu phấn riêng biệt
Lấy mẫu phấn hoa: bắt ong thợ đi làm về ở mỗi đàn thí nghiệm, dùng panh gỡ 2 giỏ phấn ở chân ong Số lượng lấy mẫu là 2 giỏ phấn/đàn/lần
3.3.1.4 Phương pháp chuẩn bị mẫu hạt phấn và phân tích
- Lấy 2 giỏ phấn cho vào ống nghiệm và xử lý bằng phương pháp Acetolysis (Erdtman 1969, Collinson 1992)
- Điều chỉnh thể tích mẫu (bằng cách cho thêm dung dịch glycerin 10%) đến thể tích 0,5ml
- Dùng micropipette lấy từ dịch mẫu đH khuấy đều 40 ul để làm vừa đủ một tiêu bản hữu vi kích thước 18 x 18 mm
- Xác định phấn hoa dưới kính hiển vi và thống kê số lượng từng loại trong toàn bộ tiêu bản
3.3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của các giai đoạn nở hoa lên tình hình phát triển đàn hoa
3.3.2.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của giai đoạn có nhiều hoa nở đến phát triển
đàn ong
- Thời gian theo dõi: từ tháng 3 đến tháng 6 năm 2009
- Các chỉ tiêu theo dõi:
+ Hoạt động của đàn ong (Nhịp độ hoạt động của đàn ong, sự lựa chọn nguồn thức ăn, tập tính đi làm của ong thợ)
Trang 37+ Khả năng phân đàn (Kiểm tra các đàn ong đánh giá khả năng phân
đàn, tỷ lệ ong chúa giao phối và đẻ trứng)
+ Năng suất mật (Theo dõi năng suất mật 30 đàn ong của 5 gia đình nuôi ong trong vụ mật xuân hè)
3.3.2.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của giai đoạn khan hiếm thức ăn đến phát triển đàn ong
- Thời gian theo dõi: vào các tháng 7, 8, 9 năm 2009
- Các chỉ tiêu theo dõi:
+ Hoạt động của đàn ong (Tình trạng nguồn mật, phấn trong giai đoạn này, theo dõi nhịp độ hoạt động của đàn ong)
+ Số lượng cá thể và khả năng phân đàn (Khả năng đẻ trứng của ong chúa, sự tiết sữa nuôi ấu trùng của ong thợ)
+ Năng suất mật (Theo dõi năng suất mật 30 đàn ong của 5 gia đình nuôi ong nói trên bằng cách lập bảng ghi chép số lượng mật thu được/tổng số
đàn ong của từng giai đoạn nuôi ong)
3.3.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại bệnh ấu trùng đến phát triển đàn ong
ở ong Apis cerana, các loại địch hại chính là các loại bệnh thối ấu trùng Ngoài ra còn một số kẻ thù hại ong khác nhau như các loại ong rừng, sâu phá bánh tổ, kiến, chim ăn ong, chuồn chuồn, …, trong đó bệnh thối ấu trùng vẫn là vấn đề nan giải nhất Khi theo dõi các chỉ tiêu sau:
- Theo dõi thời gian xuất hiện bệnh trên các đàn ong nội xH Sa Pả
- Xác định các loại bệnh trên các đàn ong
- Đánh giá mức độ thiệt hại do bệnh tật gây ra
Trong thời gian nghiên cứu, hàng tháng kiểm tra các đàn ong, phát hiện các loại bệnh
3.4 Phương pháp khảo sát
- Phỏng vấn từng người nuôi ong và chưa nuôi ong
- Quan sát các đàn ong đang nuôi về hình thức nuôi, kiểu thùng, thế đàn
- Phỏng vấn lHnh đạo của xH về tình hình nuôi ong, điều kiện tự nhiên
và điều kiện kinh tế xH hội
Trang 384 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 4.1 Cây nguồn mật phấn làm thức ăn cho ong mật ở Sa Pả
4.1.1 Danh sách các cây nguồn mật phấn ở Sa Pả
ở Sa Pả có rất nhiều loại cây cung cấp mật và phấn cho ong, nhưng không phải bất cứ có sự nở hoa của cây nguồn mật, phấn nào đàn ong cũng có thể tích luỹ được lượng mật dư thừa cho con người khai thác Chúng tôi điều tra các cây mà ong đến lấy mật và phấn hoa tại khu vực vùng đệm vương quốc gia Hoàng Liên bao gồm các cây rừng, cây lâm nghiệp, cây công nghiệp, cây
ăn quả, cây đặc sản, cây cỏ dại, cây rau, cây cảnh Kết quả thu được trình bày
Dạng sống
9
10 – 12
+ +++
++ ++
Trang 3912 – 1 1- 2