luận văn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Chuyên ngành : Quản trị kinh doanh
Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS LÊ HỮU ẢNH
HÀ NỘI - 2010
Trang 2LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan rằng, nội dung, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa ñược sử dụng ñể bảo vệ một học vị nào
Tôi cũng xin cam kết chắc chắn rằng, mọi sự giúp ñỡ cho việc thực hiện luận văn ñã ñược cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn ñều ñược chỉ
rõ nguồn gốc, bản luận văn này là nỗ lực, kết quả làm việc của cá nhân tôi (ngoài phần ñã trích dẫn)
Tác giả luận văn
Bùi Thị Lâm
Trang 3
LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng thành kính biết ơn đến PGS.TS Lê Hữu Ảnh về
sự quan tâm, những góp ý chuyên môn vô cùng có giá trị trong quá trình thực hiện luận văn và những lời động viên tinh thần quý báu Trên hết, Thầy là tấm gương sáng cho thế hệ trẻ chúng tôi về tính nghiêm túc và chuẩn xác trong khoa học; luôn tìm tòi những ý tưởng sáng tạo trong nghiên cứu
Tôi xin bày tỏ tình cảm chân thành đến toàn thể các thầy cô giáo trong Bộ môn Tài chính, Khoa Kế toán và Quản trị kinh doanh, Viện Đào tạo sau đại học – Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, đã có những đóng góp đúng đắn và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này Luận án này hoàn thành với sự tài trợ vật chất và kỹ thuật của dự án TRIG
“Nghiên cứu chất lượng cung ứng và quản lý dịch vụ công chủ yếu trong nông thôn các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng” Tôi xin cảm ơn sâu sắc đến các thành viên thực hiện dự án đã hỗ trợ tốt nhất phương tiện tài chính và học thuật để luận văn được hoàn thành
Tôi xin cảm ơn tất cả bà con nông dân, lãnh đạo địa phương, các công, viên chức có liên quan ở các xã địa bàn nghiên cứu đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập thông tin, cung cấp những ý kiến chân thành để tôi có thể biến những ý tưởng nghiên cứu thành hiện thực
Luận văn này không thể hoàn thành nếu như không có sự quan tâm, giúp đỡ, chia sẻ vật chất và động viên tinh thần của gia đình, bạn bè và đồng nghiệp Tôi xin bày tỏ những tình cảm sâu sắc nhất đến họ
Tác giả luận văn
BÙI THỊ LÂM
Trang 42.1 Một số vấn ñề lý luận về dịch vụ công nông thôn 4
3 ðẶC ðIỂM ðỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP
4.1 Hệ thống tổ chức cung ứng và quản lý dịch vụ công trong nông thôn 53
Trang 54.1.2 Cách thức phân bổ dự toán chi thường xuyên ngân sách cho các
4.1.3 Tổng quát về tình hình cung ứng dịch vụ công vùng ựồng bằng
4.2 đánh giá tác ựộng các dịch vụ công chủ yếu tại ựịa bàn nghiên cứu 71 4.2.1 Khái quát tình hình cung ứng dịch vụ công tại ựịa bàn nghiên cứu 71 4.2.2 đóng góp của các hộ gia ựình trong vùng ựể hưởng dịch vụ công 78 4.2.3 đánh giá tác ựộng của các dịch vụ công chủ yếu trong nông thôn 88 4.2.3 Nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng ựến cung ứng dịch vụ công 101 4.3 Một số ựề xuất về giải pháp nâng cao chất lượng cung ứng dịch
4.3.1 Phân cấp ngân sách và gắn với vai trò Ờ trách nhiệm của các cấp
4.3.3 Thực hiện những giải pháp ựồng bộ ựể ựổi mới chế ựộ học phắ,
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BHYT : Bảo hiểm y tế
CTMTQG : Chương trình mục tiêu quốc gia
đBSH : đồng bằng sông Hồng
GD&đT : Giáo dục và đào tạo
GTGT : Thuế giá trị gia tăng
Trang 7DANH MỤC BẢNG
2.1 Phân biệt hàng hóa tư nhân và hàng hóa công cộng 4
3.2 Dân số, diện tắch và mật ựộ của một số vùng năm 2007 37 3.3 Một số chỉ tiêu về dân cư, xã hội ở ựồng bằng sông Hồng 38
3.6 Một số ựặc ựiểm mẫu ựiều tra hộ nông thôn trong vùng 42 4.1 Phân cấp nhiệm vụ chủ yếu nhằm cung ứng dịch vụ công 53
4.3 định mức và tiêu chắ phân bổ chi thường xuyên một số dịch vụ công 57
4.7 Tỷ lệ học sinh ựược miễn giảm học phắ và các khoản ựóng góp 62 4.8 Tỷ lệ người khám chữa bệnh có sổ/thẻ bảo hiểm y tế 65
4.11 đánh giá mức ựộ hài lòng dịch vụ công tại ựịa bàn nghiên cứu 70 4.12 Tỷ lệ học sinh/giáo viên tại ựịa bàn nghiên cứu năm 2009 71 4.13 Các ựối tượng hưởng lợi từ dịch vụ giáo dục năm 2009 73 4.14 Các ựối tượng hưởng lợi từ dịch vụ y tế năm 2009 74 4.15 Các ựối tượng hưởng lợi từ hoạt ựộng khuyến nông năm 2009 75 4.16 Các khoản ựóng góp của hộ gia ựình vùng nông thôn 78 4.17 Tổng hợp các khoản ựóng góp của các nhóm hộ năm 2009 80
Trang 84.18 Mức ựóng góp và tỷ trọng ựóng góp so với thu Ờ chi bằng tiền
4.21 đóng góp khác và tỷ trọng ựóng góp khác so với thu Ờ chi bằng
4.24 Các yếu tố ảnh hưởng ựến thu nhập từ trồng trọt 96 4.25 Thu nhập và diện tắch ựất nông nghiệp bình quân các nhóm hộ 99
Trang 9
4.2 Quy trình xác ñịnh chế ñộ học phí, viện phí mới 107 4.3 Xác ñịnh chế ñộ học phí, viện phí dựa trên giá thành dịch vụ công 108
Trang 10DANH MỤC ðỒ THỊ
2.1 Mức ñộ hài lòng của các dịch vụ công giảm sút, 2006 - 2008 32 4.1 Tỷ lệ lượt người khám chữa bệnh chia theo loại cơ sở y tế 64 4.2 Thu nhập bình quân của các nhóm hộ qua các năm 2002 - 2008 66 4.3 Mức ñộ hài lòng của người dân về các khoản ñóng góp năm 2009 83 4.4 Quan hệ giữa chi giáo dục và thu nhập của các nhóm hộ 92 4.5 Quan hệ giữa chi y tế và thu nhập của các nhóm hộ 95 4.6 Mối quan hệ giữa thu nhập trồng trọt và diện tích ñất canh tác 98
Trang 111 MỞ ðẦU
1.1 Tính cấp thiết của ñề tài
Trong hơn 20 năm ðổi mới, các dịch vụ công cơ bản ñã ñược cải thiện ñáng kể, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế – xã hội nói chung và tác ñộng tích cực ñến cải thiện ñời sống, ñảm bảo công bằng ở các vùng nông thôn nói riêng Trình ñộ phát triển kinh tế – xã hội và nhu cầu ñời sống ngày càng cao, ñặc biệt là khu vực nông thôn gần ñây có những cải biến rõ rệt sau khi có sự quan tâm của Nhà nước1, thì cũng ñòi hỏi các dịch vụ này phải dần nâng cao chất lượng và quy mô cung cấp
Theo quan niệm mới, các dịch vụ công không nhất thiết do nhà nước ñộc quyền cung cấp mà nhà nước ñóng vai trò “bà ñỡ”, tạo môi trường thuận lợi
cho quá trình xã hội hóa dịch vụ công theo phương châm “nhà nước và nhân
dân cùng làm” Tuy ñã có những chủ trương ñúng ñắn nhưng số lượng và
chất lượng dịch vụ công nông thôn vẫn còn yếu và thiếu, chỉ số hài lòng của người dân chưa cao mà gần ñây ñang có xu hướng giảm sút [43; 44] Các dịch
vụ công thiết yếu này nếu chưa ñáp ứng ñược nhu cầu phát triển sẽ là một nhân tố cản trở sự phát triển chung của khu vực nông thôn và ngày càng tạo khoảng cách lớn so với khu vực thành thị, gây nên những bất ổn về kinh tế – chính trị – xã hội Do vậy, một ñòi hỏi tất yếu và cấp thiết là phải tiến hành nghiên cứu ñể ñưa ra những giải pháp khả thi nhằm nâng cao chất lượng dịch
vụ công
Trong vòng một thập kỷ qua, lĩnh vực dịch vụ công ở Việt Nam ñã bước ñầu ñược các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, kết hợp với các tổ chức, chính quyền ñịa phương ñưa ra các thử nghiệm, ñánh giá và giải pháp Nhìn chung, các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc khái quát hóa vai trò của dịch
Trang 12vụ công [16]; cung cấp những lý luận cơ bản tạo tiền ñề cho việc cải cách dịch vụ công ở Việt Nam [4; 22] hay tìm hiểu các mô hình cung cấp dịch vụ công và ñề xuất phương hướng xã hội hóa dịch vụ công [33] Gần ñây một số nghiên cứu khảo sát lấy ý kiến ñáng giá của người dân ñối với chất lượng dịch
vụ công ñã diễn ra ở một số tỉnh/thành phố lớn [43; 44] Bên cạnh ñó, các tổ chức quốc tế hỗ trợ chính thức cũng ñã ñưa ra những ñánh giá và khuyến nghị của mình trên cơ sở phân tích thực trạng các dịch vụ công trọng yếu như cơ sở
hạ tầng, y tế, văn hóa giáo dục [25] Tuy nhiên, các nghiên cứu này vẫn chỉ mới tập trung vào một số dịch vụ cung cấp bởi các dự án hoặc một vài ñịa phương ñiển hình chứ chưa mang lại những ñịnh hướng và giải pháp cụ thể về cấu trúc và tác ñộng của các dịch vụ công ở Việt Nam, ñặc biệt là khu vực nông thôn
ðồng bằng sông Hồng là vùng trọng ñiểm kinh tế của cả nước Từ ñó hàng loạt các chính sách, thể chế kinh tế - xã hội ñược ưu ñãi, trong ñó có cả
sự cung cấp các dịch vụ công Mặt khác, khu vực nông thôn của vùng có kinh
tế khá phát triển nên mức ñộ ñầu tư và sẵn có ñể tiếp nhận dịch vụ công khá thuận lợi, ñiều ñó ñảm bảo ñược các mục tiêu của chính sách ñi ñúng hướng Thực tế có ñúng diễn ra như những gì chúng ta ñã kỳ vọng?
Nghiên cứu này nhằm trả lời các câu hỏi: Dịch vụ công ở khu vực nông
thôn ñược cung cấp thế nào? ðối tượng hưởng lợi là ai? Tác ñộng như thế
nào ñến phát triển kinh tế - xã hội nông thôn? Cần phải cải tiến những gì và
b ắt ñầu từ ñâu? ðây là những vấn ñề mà ñề tài “Nghiên cứu tác ñộng của
một số dịch vụ công chủ yếu trong nông thôn các tỉnh vùng ñồng bằng sông Hồng” muốn lý giải nhằm ñưa ra những giải pháp hợp lý cho cải cách dịch vụ công nông thôn cho vùng ñồng bằng sông Hồng nói riêng và trên cả nước nói chung
Trang 131.2 Mục tiêu nghiên cứu
Ớ Hệ thống hóa cơ sở lý luận về tình hình cung ứng dịch vụ công
Ớ đánh giá tác ựộng các dịch vụ công ựến phát triển khu vực nông thôn vùng ựồng bằng sông Hồng
Ớ Góp phần ựề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của các dịch vụ công trên ựịa bàn nông thôn
1.3 đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 đối tượng nghiên cứu
- Hệ thống cung ứng và quản lý dịch vụ công
- Các ựối tượng hưởng lợi trực tiếp từ dịch vụ công
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Ớ Phạm vi về nội dung: Các dịch vụ công chủ yếu trong nông thôn như
dịch vụ phát triển kinh tế (khuyến nông) và dịch vụ xã hội (y tế, giáo dục cơ sở); nội dung ựánh giá tác ựộng các dịch vụ công ựến thu nhập của hộ nông dân/ ựối tượng hưởng lợi
Ớ Phạm vi về thời gian: sử dụng số liệu ựiều tra năm 2009 và các số liệu
thứ cấp các năm 2002 - 2008
Ớ Phạm vi không gian: Vùng nông thôn của các tỉnh thuộc vùng ựồng
bằng sông Hồng: Hà Nội, Hải Phòng và Bắc Ninh
Trang 142 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Một số vấn ñề lý luận về dịch vụ công nông thôn
2.1.1 Khái quát về dịch vụ công
Một số khái niệm cơ bản
Hàng hóa, hàng hóa công
Về khía cạnh kinh tế chính trị, hàng hóa ñược ñịnh nghĩa là sản phẩm của lao ñộng thông qua trao ñổi, mua bán có thể ở dạng vật chất hay phi vật chất Hàng hóa có hai thuộc tính cơ bản là giá trị sử dụng (ñó là những công năng, tiện dụng của hàng hóa nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của con người) và giá trị (là lao ñộng xã hội của người sản xuất kết tinh trong hàng hóa) Khi hàng hóa ñưa ra ngoài thị trường ñể mua bán, trao ñổi thì giá trị của nó ñược thể hiện qua giá trị trao ñổi hay giá cả của hàng hóa Hàng hóa gồm hai loại là hàng hóa công cộng và hàng hóa tư nhân (bảng 2.1)
Bảng 2.1: Phân biệt hàng hóa tư nhân và hàng hóa công cộng
Hàng hóa công cộng Chỉ tiêu Hàng hóa tư nhân
Phạm vi
sử dụng
Việc sử dụng thuộc phạm
vi sở hữu của tư nhân
Việc sử dụng không thuộc phạm vi của tư nhân, mọi người ñều có thể sử dụng
Khi chúng thiếu ít nhất một trong các thuộc tính của HHCC thuần túy
Ngu ồn: [42]
Có thể nói, chi phí sử dụng cận biên của hàng hóa công cộng thuần túy bằng không Quốc phòng là một ví dụ ñiển hình về hàng hóa công cộng, biến ñộng dân số hàng ngày nhưng cũng không làm giảm lợi ích của những người thụ hưởng ngay ở hiện tại Tính không thể loại trừ ñược hiểu là không thể
Trang 15hoặc rất tốn kém nếu muốn loại trừ những cá nhân không trả tiền cho việc sử dụng hàng hóa công cộng, mặc dù một người nào ñó không ñóng góp tiền cho ngân sách quốc phòng thì anh ta vẫn ñược hưởng sự an ninh từ hệ thống quốc phòng mang lại Tính không cạnh tranh trong tiêu dùng ñược hiểu là việc một
cá nhân này ñang sử dụng hàng hóa ñó không ngăn cản ñược những người khác cũng ñang sử dụng Trong một số trường hợp, hàng hóa công cộng thuần túy trở thành hàng hóa công cộng không thuần túy do không ñáp ứng chặt chẽ các ñặc tính trên (trên con ñường ñông người thì sự tiêu dùng của người này
sẽ bị ảnh hưởng của người kia, hoặc việc qua cầu có thể loại trừ bằng giá ñó
là phí qua cầu…)
Do những tính chất và ñặc thù của hàng hóa công cộng như trên nên thị trường không thể cung cấp hoặc cung cấp không ñầy ñủ Khu vực tư nhân rất khó khăn trong việc tạo doanh thu ñể bù ñắp chi phí ðây ñược coi là một luận cứ mạnh mẽ nhất ñòi hỏi chính phủ phải ñứng ra với vai trò là người cung cấp những loại hàng hóa này cho xã hội
Hoặc “Dịch vụ là một hoạt ñộng hay lợi ích cung ứng nhằm ñể trao ñổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn ñến việc chuyển quyền sở hữu Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất” [dt
14, tr.7]
Trang 16“Dịch vụ là những hành vi, những hoạt ñộng thể hiện quan hệ trực tiếp giữa tổ chức và cá nhân này với tổ chức và cá nhân kia, nhằm thoả mãn những nhu cầu rất ña dạng của họ với tư cách là khách hàng” [33]
Và “Dịch vụ là một thứ hàng hóa mà việc cung cấp nó không phải chuyển giao quyền sử hữu mà chỉ là ñem lại lợi ích nào ñó cho bên tiếp nhận” [21]
Mặc dù còn nhiều quan ñiểm khác nhau về dịch vụ nhưng tựu chung lại thì dịch vụ có các ñặc trưng sau:
- Tính ñồng thời về sản xuất và tiêu dùng, ñồng thời về không gian và thời gian
- Tính không thể tách rời giữa sản xuất và tiêu dùng
- Tính không ñồng nhất: Dịch vụ hướng vào nhu cầu của các cá nhân, mỗi khách hàng mỗi tình huống sẽ có những dịch vụ tương ứng Mặt khác, không có tiêu chuẩn xác ñịnh ñể ñáng giá chất lượng như các hàng hóa vật chất ñược sản xuất hàng loạt và có tiêu chuẩn chất lượng rõ ràng
- Tính vô hình: dịch vụ không tồn tại ở dạng vật chất, không thể cân, ñong, ño, ñếm ñược
- Tính khó hoặc không lưu trữ: là loại hàng hoá không thể lưu trữ nếu không có người mua, theo thời gian sẽ bị mất không lấy lại một ñược
Tóm lại, Dịch vụ là hoạt ñộng có chủ ñích nhằm ñáp ứng nhu cầu nào ñó
c ủa con người ðặc ñiểm của dịch vụ là không tồn tại ở dạng sản phẩm hữu
hình nh ưng nó phục vụ trực tiếp nhu cầu nhất ñịnh của xã hội
Khi dịch vụ trở thành hàng hóa thì nó cũng ñược phân loại thành dịch vụ công và dịch vụ tư Dịch vụ tư mang ñặc ñiểm của hàng hóa tư nhân còn dịch
vụ công ñược tiếp cận ở nhiều góc ñộ khác nhau
Theo từ ñiển Petit Larouss của Pháp (1992): “Dịch vụ công là hoạt
ñộng vì lợi ích chung, do cơ quan nhà nước hoặc tư nhân ñảm nhận” [dt 33]
Trang 17Theo từ ñiển Oxford của Anh (1994): “Dịch vụ công bao gồm các dịch vụ
như giao thông hoặc chăm sóc sức khoẻ do nhà nước hoặc các tổ chức chính thức cung cấp cho nhân dân, xã hội; là việc làm ñược thực hiện nhằm giúp ñỡ mọi người hơn là kiếm lợi nhuận, do chính phủ, cơ quan chính phủ thực hiện” [dt 33]
“Dịch vụ công là những dịch vụ ñáp ứng những nhu cầu cơ bản, thiết
yếu chung của người dân và cộng ñồng, ñảm bảo ổn ñịnh và công bằng xã hội
do nhà nước chịu trách nhiệm, hoạt ñộng không vì mục tiêu lợi nhuận” [33]
“Dịch vụ công có thể hiểu là những hoạt ñộng phục vụ nhu cầu thiết
yếu của xã hội, vì lợi ích chung của cộng ñồng, của xã hội, do nhà nước trực tiếp ñảm nhận hay ủy quyền cho khu vực tư nhân thực hiện nhằm ñảm bảo trật tự công bằng xã hội” [4]
“Dịch vụ công cộng là từ thường ñược sử dụng ñể chỉ các dịch vụ mà
chính phủ cung ứng cho các công dân của mình, có thể là trực tiếp thông qua khu vực công hoặc là cung cấp tài chính cho khu vực tư nhân cung ứng” [21] Mặt khác, những dịch vụ này nhất thiết phải ñến ñược với tất cả mọi người, bất kể thu nhập bao nhiêu
Tóm lại, Dịch vụ công là những hoạt ñộng không vì mục tiêu lợi nhuận,
nh ằm phục vụ những nhu cầu cơ bản của xã hội và cộng ñồng; có thể do Nhà
n ước trực tiếp thực hiện hoặc ủy quyền một phần cho khu vực tư nhân thực
hi ện
Phạm vi dịch vụ công
Nhiều nhà kinh tế học cho rằng, dịch vụ công luôn gắn với vai trò của nhà
nước trong việc quản lý và cung ứng các dịch vụ này Từ giác ñộ chủ thể quản lý nhà nước, dịch vụ công ñược xem là những hoạt ñộng của cơ quan
nhà nước trong việc thực thi chức năng quản lý hành chính nhà nước và ñảm bảo cung ứng các hàng hóa công cộng phục vụ nhu cầu thiết yếu của xã hội
Trang 18Cách hiểu này nhấn mạnh vai trò và trách nhiệm của nhà nước ñối với những
hoạt ñộng cung cấp hàng hóa công cộng Cách tiếp cận từ ñối tượng hưởng hàng hóa công cộng cho rằng, ñặc trưng chủ yếu của dịch vụ công là hoạt
ñộng ñáp ứng nhu cầu thiết yếu của xã hội và cộng ñồng, mà việc tiến hành hoạt ñộng cung ứng thì có thể do nhà nước hoặc tư nhân ñảm nhiệm
Phạm vi dịch vụ công có sự biến ñổi tùy thuộc vào bối cảnh mỗi quốc
gia [4] Chẳng hạn ở Canada, có tới 34 loại hoạt ñộng ñược coi là dịch vụ
công từ quốc phòng, an ninh, pháp chế, ñến các chính sách kinh tế - xã hội (tạo việc làm, bảo vệ môi trường và các hoạt ñộng y tế, giáo dục, văn hóa, bảo
hiểm xã hội,…) Ở Pháp, dịch vụ công ñược hiểu bao gồm không chỉ các hoạt
ñộng phục vụ nhu cầu về tinh thần và sức khỏe của người dân (như giáo dục, văn hóa, y tế, thể thao…), các hoạt ñộng phục vụ ñời sống dân cư mang tính công nghiệp (ñiện, nước, giao thông công cộng, vệ sinh môi trường…) hay các dịch vụ hành chính công, bao gồm hoạt ñộng của cơ quan hành chính về cấp phép, hộ khẩu…, mà cả hoạt ñộng thuế vụ, trật tự, an ninh, quốc
phòng…; còn ở Italia dịch vụ công ñược giới hạn chủ yếu ở hoạt ñộng sự
nghiệp (y tế, giáo dục), hoạt ñộng kinh tế công ích (ñiện, nước sạch và vệ sinh môi trường) và các hoạt ñộng cấp phép, hộ tịch, hộ khẩu do cơ quan hành chính thực hiện
Ở Việt Nam, dịch vụ công ñược tập trung nhiều hơn vào chức năng
phục vụ xã hội của nhà nước, mà không bao gồm các chức năng công quyền, như lập pháp, hành pháp và tư pháp…, qua ñó nhấn mạnh vai trò chủ thể của nhà nước trong việc phục vụ cộng ñồng Nhiều khuyến cáo ñưa ra rằng, Việt Nam cần phải sớm tách bạch hoạt ñộng dịch vụ công ra khỏi hoạt ñộng hành chính công quyền nhằm xóa bỏ cơ chế bao cấp, giảm tải bộ máy nhà nước, khai thác mọi nguồn lực tiềm tàng trong xã hội và nâng dần chất lượng dịch
vụ công ðiều này có nghĩa là nhà nước có thể xã hội hóa một số dịch vụ, qua
Trang 19ñó trao một phần việc cung ứng một số dịch vụ như y tế, giáo dục, nước sạch… cho khu vực phi nhà nước thực hiện
Hành chính công
Hình 2.1: Phạm vi dịch vụ công trên thế giới và ở Việt Nam
Có thể thấy rằng, khái niệm và phạm vi các dịch vụ công ñược tiếp cận ở nhiều góc ñộ khác nhau, chúng ñều có tính chất chung là nhằm phục vụ cho nhu cầu và lợi ích chung thiết yếu cho cộng ñồng Ngay cả khi nhà nước chuyển giao một phần việc cung ứng dịch vụ công cho khu vực tư nhân thì tính chất ñó vẫn không bị biến ñổi
Dịch vụ công nông thôn
Khi nghiên cứu về vấn ñề “Tam nông” ở Việt Nam, nông thôn ñược hiểu
là môi trường sống của nông dân và nông nghiệp là sinh kế, ñồng thời là ñóng
Trang 20góp của nông dân vào nền kinh tế cả nước [18] Từ việc người nông dân cần môi trường sống như thế nào mà xây dựng nông thôn tương ứng ñể cho người nông dân sống ñược Ví dụ, xây dựng trường học cho trẻ em nông thôn (giáo dục trẻ em nông thôn sẽ khác với trẻ em thành thị), bệnh viện cho nông dân (không cần phòng lạnh nhưng người thân ñược ra vào chăm sóc thường xuyên), phương tiện giải trí (không cần vũ trường mà các sân khấu biểu diễn kịch, chèo hay hát cải lương),…
Có thể thấy, dịch vụ công nông thôn không khác gì với dịch vụ công ở thành thị về loại hình nhưng khác về mức ñộ sẵn có và chất lượng cung ứng dịch vụ công [15] Ví dụ, ở thành thị và nông thôn ñều có các trường phổ thông công lập nhưng rõ ràng ở thành thị các trường này ñều sẵn có và ñều ñạt chất lượng cao hơn hẳn so với các trường phổ thông công lập ở nông thôn, nhất là các vùng sâu, vùng xa Mặt khác, do các vùng nông thôn thường kém hấp dẫn hơn so với khu vực thành thị ñể các tổ chức, cá nhân cung ứng dịch vụ công, cho nên dịch vụ công nông thôn chủ yếu do nhà nước trực tiếp cung ứng
Khái niệm “thành thị” và “nông thôn” liên quan tới quản lý hành chính nhà nước khi xác ñịnh các ñơn vị hành chính Rất có thể trong một tỉnh miền núi vẫn có thành phố và trong một thành phố có huyện, xã là nông thôn Vì vậy, dịch vụ công ở ñịa bàn cấp xã ñược gọi là dịch vụ công ở nông thôn
Trên cơ sở ñó, dịch vụ công nông thôn ñược hiểu là những loại dịch vụ do
khu v ực nhà nước ñảm nhiệm ñể ñáp ứng nhu cầu của khu vực nông thôn
Phân loại dịch vụ công
Dịch vụ công bao gồm rất nhiều loại với những mức ñộ khác nhau về tính chất công cộng kéo theo sự tương ứng về trách nhiệm của nhà nước ñối với dịch vụ này Do ñó cần phải có sự phân loại một cách ñúng ñắn các hình thức dịch vụ công ñể hình thành cơ chế quản lý thích hợp
Xét theo tiêu chí chủ thể cung ứng, dịch vụ công gồm ba loại:
Trang 21- Dịch vụ công do cơ quan nhà nước trực tiếp cung cấp đó là những
dịch vụ công cơ bản do các cơ quan của nhà nước cung cấp Thắ dụ, an ninh quốc phòng, giáo dục phổ thông, chăm sóc y tế công cộng, bảo trợ xã hội,Ầ
- Dịch vụ công do các tổ chức phi chắnh phủ và khu vực tư nhân cung
c ấp Chúng bao gồm những dịch vụ mà nhà nước có trách nhiệm cung cấp,
nhưng không trực tiếp thực hiện mà ủy nhiệm cho tổ chức phi chắnh phủ và tư nhân thực hiện, dưới sự ựôn ựốc, giám sát của nhà nước Thắ dụ, các công trình công cộng do chắnh phủ gọi thầu có thể do các công ty tư nhân ựấu thầu xây dựng
- Dịch vụ công do tổ chức nhà nước, tổ chức phi chắnh phủ, tổ chức tư
nhân ph ối hợp thực hiện Loại hình cung ứng này ngày càng trở nên phổ biến
ở các quốc gia và cả ở Việt Nam [4]
Xét theo tắnh chất và tác dụng của dịch vụ ựược cung ứng, có thể chia dịch vụ công thành các loại sau:
D ịch vụ hành chắnh công: đây là loại hình dịch vụ gắn liền với chức
năng quản lý nhà nước Do vậy, cho ựến nay, ựối tượng cung ứng duy nhất các dịch vụ công này là cơ quan công quyền hay cơ quan do nhà nước thành lập ựược uỷ quyền thực hiện cung ứng dịch vụ hành chắnh công để thực hiện chức năng này, nhà nước phải tiến hành những hoạt ựộng phục
vụ trực tiếp như cấp giấy phép, giấy chứng nhận, ựăng ký, công chứng, thị thực, hộ tịch,Ầ Giá của những dịch vụ này không theo quan hệ cung cầu, ngang giá trên thị trường, mà thông qua việc ựóng lệ phắ hoặc phắ cho các
cơ quan hành chắnh nhà nước Phần lệ phắ này mang tắnh chất hỗ trợ cho ngân sách nhà nước
D ịch vụ sự nghiệp công: Bao gồm các hoạt ựộng cung cấp phúc lợi xã
hội thiết yếu cho người dân như giáo dục, văn hoá, khoa học, chăm sóc sức khoẻ, thể dục thể thao, bảo hiểm, an ninh xã hội,Ầ Mức ựộ cung ứng của các
Trang 22nhà nước ñối với các dịch vụ này tuỳ thuộc vào sự phát triển của ñời sống kinh tế - xã hội Xu hướng chung hiện nay trên thế giới là nhà nước chỉ thực hiện những dịch vụ công nào mà khu vực tư nhân không thể hoặc không muốn làm, phần còn lại nhà nước nên chuyển giao cho khu vực tư nhân và các tổ chức xã hội
D ịch vụ công ích: Là các hoạt ñộng cung cấp các dịch vụ cơ bản, thiết
yếu cho cộng ñồng, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và thúc ñẩy phát triển kinh tế Các loại dịch vụ công ích như: dịch vụ vận tải công cộng, vệ sinh môi trường, cấp nước sạch, ñiện sinh hoạt và chiếu sáng công cộng, phòng chống thiên tai…
Các hình thức cung ứng dịch vụ công
Có thể khẳng ñịnh lại sự tồn tại tất yếu của các dịch vụ công ñảm bảo cho kinh tế – xã hội phát triển một cách ổn ñịnh và bền vững Và nhà nước, với vai trò, nhiệm vụ và chức năng của mình phải là người chủ ñạo trong việc cung ứng dịch vụ công Tuy nhiên, gần ñây có nhiều ý kiến từ các chuyên gia quốc tế hàng ñầu, trong ñó có giáo sư Joseph E Stiglitz [dt 37] (nguyên cố vấn trưởng kinh tế của Ngân hàng thế giới, nguyên Chủ tịch hội ñồng cố vấn kinh tế của Tổng thống Clinton, giải thưởng Nobel năm 2001 về kinh tế) hay tiến sĩ Jay K Rosengard [30](Trường Quản lý nhà nước Kennedy, ðại học Harvard) cho rằng, hệ thống dịch vụ công do khu vực công cung ứng có những hạn chế nhất ñịnh (về mô hình tổ chức, về ñộng lực làm việc,…) nên chuyển một phần công việc cung ứng dịch vụ công sang cho khu vực tư nhân
và nó sẽ ưu việt hơn, hiệu quả hơn và ñáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân, nhờ các yếu tố thần kỳ của cơ chế thị trường (cung/cầu, giá, cạnh tranh …)
ðiều này ñược lý giải bởi các nguyên nhân sau [4]: thứ nhất, cùng với sự phát
triển ngày càng mạnh mẽ của khu vực tư nhân về phương diện kinh tế, những thành tựu khoa học công nghệ ñã làm cho khu vực tư nhân có thể tiếp nhận
Trang 23một số dịch vụ trước ñây chỉ thuộc về nhà nước Thí dụ, kỹ thuật truyền hình cáp phát triển cho phép nắm ñược thời gian sử dụng của từng máy thu hình
của từng hộ tiêu thụ (ñể thu tiền); thứ hai, sự thay ñổi về mức sống tạo ñiều
kiện cho cá nhân có thể tự mua sắm cho mình những phương tiện mà trước ñây chỉ có thể sử dụng công cộng Trong lĩnh vực văn hóa, nếu như trước ñây, người dân chỉ có thể xem phim ảnh tại các rạp chiếu công cộng, thì nay người
ta có thể xem tại nhà qua ñầu máy VCD, DVD; thứ ba, lý do quan trọng
khiến nhà nước cần ñổi mới cơ chế cung ứng dịch vụ công thông qua cải cách
và chuyển giao dần việc cung ứng dịch vụ công cho khu vực tư nhân là sự kém hiệu quả của khu vực công so với khu vực tư nhân Theo Joseph E Stiglitz [dt 4], các dự án nhà ở công cộng thường tốn kém hơn nhà ở của khu vực tư nhân khoảng 20%; chi phí thu gom rác thải do khu vực công cộng thực hiện thường cao hơn khu vực tư nhân 20%; chi phí phòng cháy, chữa cháy của khu vực tư nhân (nhưng do nhà nước cấp tiền) thấp hơn của khu vực công cộng 47% ðặc biệt, dịch vụ xây dựng ñường sá và dịch vụ y tế bị ñánh giá là
kém hiệu quả nhất Và cuối cùng, sự chuyển giao này giúp nhà nước giảm nhẹ
ñược gánh nặng ngân sách, huy ñộng ñược các nguồn lực tiềm tàng của xã hội Theo một tài liệu khảo sát, chi tiêu cho chăm sóc y tế trong GDP nói chung ñã tăng lên ñáng kể trong giai ñoạn từ 1965 ñến 1983 với mức tăng ít nhất là 50%, trong ñó có năm nước ñạt mức tăng trên 70% Với mức tăng như vậy, ngân sách nhà nước khó mà chịu nổi và sự tham gia của khu vực tư nhân
là tất yếu
Hiện nay, việc cung ứng dịch vụ công ở hầu hết các nước thông thường tiến hành theo các hình thức sau:
Nhà nước trực tiếp cung ứng
ðây là hình thức cung ứng phổ biến của các nước phát triển theo con ñường xã hội chủ nghĩa Nhà nước làm mọi việc ñể cung ứng hàng hoá phục
Trang 24vụ cuộc sống xã hội và công dân thông qua hệ thống các cơ quan, ñơn vị mình lập ra Hiện nay khi thực hiện việc chuyển ñổi cơ chế quản lý kinh tế, cải cách nền hành chính,… các nhà nước giảm dần việc cung cấp các dịch vụ hàng hoá thông thường và xác ñịnh rõ hơn các hàng hoá dịch vụ công cộng thật sự cần thiết ñể cung ứng, tiêu biểu là các dịch vụ liên quan ñến an ninh quốc gia như quốc phòng, an ninh, hộ tịch… Ngoài ra nhà nước cũng trực tiếp cung ứng các loại dịch vụ thuộc các lĩnh vực và ñịa bàn không thuận lợi ñầu tư như vùng sâu vùng xa mà thị trường không thể hoặc không muốn tham gia do chi phí quá lớn hay không có lợi nhuận
Nhà nước chuyển một phần hoạt ñộng cung ứng dịch vụ công cho thị
tr ường dưới hình thức khác:
Trong hình thức chuyển giao này thì chính phủ vẫn giữ vai trò chủ ñạo, thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát và giúp ñỡ, khuyến khích (trợ cấp, thuế,…) các tổ chức cá nhân tham gia cung ứng dịch vụ công nhưng tính chất của hàng hóa công cộng không bị thay ñổi Có những hình thức cụ thể như:
- Uỷ quyền cho các công ty tư nhân hoặc tổ chức phi chính phủ cung ứng một số dịch vụ công mà nhà nước có trách nhiệm bảo ñảm và thường có nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước như vệ sinh môi trường, thu gom và xử
lý rác thải, xây dựng và xử lý hệ thống cống thoát nước v.v…
- Liên doanh cung ứng dịch vụ công giữa nhà nước và một số ñối tác trên cơ sở ñóng góp nguồn lực, chia sẻ rủi ro và cùng phân chia lợi nhuận
- Chuyển giao trách nhiệm cung ứng dịch vụ công cho các tổ chức khác ñối với các dịch vụ mà tổ chức này có ñiều kiện thực hiện có hiệu quả như ñào tạo, khám chữa bệnh, tư vấn, giám ñịnh…
- Tư nhân hoá dịch vụ công, trong ñó nhà nước bán phương tiện và quyền chi phối của mình ñối với dịch vụ nào ñó cho tư nhân song vẫn giám sát và ñảm bảo lợi ích công bằng pháp luật
- Mua dịch vụ công từ khu vực tư nhân ñối với các dịch vụ mà tư nhân
Trang 25có thể làm tốt và giảm ñược số người làm dịch vụ trong cơ quan nhà nước
Hộp 1: Các hình thức chuyển giao dịch vụ công sang khu vực tư nhân
ứng dịch vụ công cho tư nhân hoặc một tập thể;
công ra ngoài xã hội;
tập thể;
cung ứng dịch vụ công theo yêu cầu của nhà nước;
cung ứng dịch vụ công và chịu sự quản lý của nhà nước thông qua luật lệ và quy chế
Ngu ồn: [22].
ðặc ñiểm của dịch vụ công
Các loại dịch vụ công và hình thức cung ứng dịch vụ công có ñặc ñiểm, tính chất khác nhau, song chúng có những ñặc ñiểm chung cơ bản như sau:
- Dịch vụ công có tính xã hội, với mục tiêu chính là phục vụ lợi ích cộng ñồng ñáp ứng nhu cầu của tất cả công dân không phân biệt giai cấp, ñịa vị xã hội và bảo ñảm công bằng và ổn ñịnh xã hội, mang tính quần chúng rộng rãi Mọi người ñều có quyền ngang nhau trong việc tiếp cận các dịch vụ công với
tư cách là ñối tượng phục vụ của nhà nước
- Dịch vụ công cung ứng loại hàng hoá ñặc biệt do nhà nước cung ứng hoặc uỷ nhiệm cho tổ chức, cá nhân thực hiện, ñáp ứng nhu cầu toàn xã hội, bất kể các sản phẩm ñược tạo ra có hình thái hiện vật hay phi hiện vật
- Việc trao ñổi dịch vụ công không thông qua quan hệ thị trường ñầy ñủ
Trang 26Thông thường người sử dụng dịch vụ công không trực tiếp trả tiền, hay ñúng hơn là ñã trả tiền dưới hình thức ñóng thuế vào ngân sách nhà nước Cũng có những dịch vụ công mà người sử dụng vẫn phải trả một phần hoặc toàn bộ chi phí song vẫn do nhà nước quản lý, có trách nhiệm trong việc ñảm bảo cung ứng các dịch vụ này không nhằm mục tiêu lợi nhuận
- Dịch vụ công cung ứng cho xã hội một loại hàng hóa công cộng Loại hàng hóa này mang lại lợi ích không chỉ cho những người mua nó, mà cho cả những người không phải trả tiền cho hàng hóa này Sự thụ hưởng dịch vụ công không phụ thuộc vào mức thuế mà người ñó ñóng góp
Từ sự nghiên cứu các vấn ñề khái quát về dịch vụ công, có thể thấy rằng cung ứng dịch vụ này một cách có hiệu quả không phải vấn ñề ñơn giản Nhà nước cần phải xác ñịnh rõ loại dịch vụ nào cần giữ vai trò chủ ñạo, loại dịch
vụ nào cần phối hợp với khu vực tư nhân Kinh nghiệm của các nước phát triển cho thấy, nhà nước chỉ cung ứng loại dịch vụ công nào mà tư nhân không thể làm và không muốn làm Nếu nhà nước “bao sân” toàn bộ các dịch
vụ công sẽ vừa kém hiệu quả vừa tăng gánh nặng lên ngân sách, từ ñó ảnh hưởng nghiêm trọng ñến ñời sống của toàn xã hội
Tác dụng của dịch vụ công ñến phát triển kinh tế – xã hội
Tính ưu việt của một xã hội ñược phản chiếu một cách rõ ràng qua chất lượng cung ứng dịch vụ công, vì dịch vụ công những hoạt ñộng phục vụ lợi ích tối cần thiết của xã hội, ñảm bảo cho xã hội phát triển bền vững và ổn ñịnh ðể ñảm bảo ñược ñiều này thì cần thiết cần có sự góp sức của nhà nước
và toàn xã hội trong việc cung ứng dịch vụ công Nếu các dịch vụ công bị ngừng cung cấp hoặc cung cấp thiếu, chất lượng không ñầy ñủ sẽ gây rối loạn trong xã hội và tác ñộng tiêu cực ñến phát triển của mỗi quốc gia
Nhìn chung, dịch vụ công ñáp ứng những nhu cầu chung của toàn xã hội
về các lĩnh vực sau:
Trang 27- Duy trì trật tự công cộng và an toàn xã hội
- Bảo vệ trật tự kinh tế thông qua xây dựng và thực thi thể chế kinh tế thị trường
- Cung cấp các tiện ích công cộng cho toàn thành viên trong xã hội
- Quản lý tài nguyên và tài sản công cộng
- Bảo vệ quyền công dân, quyền con người
Nguyên tắc nhà nước phải chịu trách nhiệm cao nhất và cuối cùng ñối với việc cung ứng ñầu ñủ số lượng, chất lượng và có hiệu quả dịch vụ công cho dù hình thức cung ứng trực tiếp hay gián tiếp là một lá chắn bảo vệ an toàn cho cuộc sống của mỗi người dân Với việc nhà nước ñảm bảo sự công bằng, bình ñẳng cho công dân, nhất là nhóm dân cư dễ bị tổn thương, trong việc tiếp cận và thụ hưởng các dịch vụ công thiết yếu liên quan trực tiếp ñến ñời sống Trên cơ sở ñó họ học tập, làm việc nâng cao mức sống của bản thân
và ñóng góp nhiều hơn cho xã hội Như vậy, dịch vụ công có tác dụng cực kỳ
to lớn ñối với sự phát triển ñất nước và từng người dân cả trong hiện tại và tương lai
Vai trò của nhà nước ñối với vấn ñề cung ứng dịch vụ công
Chúng ta ñều biết, mọi nhà nước, không phụ thuộc vào chế ñộ chính trị -
xã hội ñều có hai chức năng cơ bản: chức năng quản lý (hay còn gọi là chức năng cai trị) và chức năng phục vụ (hay còn gọi là chức năng cung cấp các dịch vụ xã hội) Với chức năng phục vụ, nhà nước có trách nhiệm cung ứng các dịch vụ công thiết yếu cho xã hội Bên cạnh ñó, nhà nước phải thực hiện vai trò quản lý và ñiều tiết xã hội thông qua những công cụ quản lý vĩ mô như pháp luật, chính sách, quy hoạch… ñể quản lý và ñiều tiết hoạt ñộng cung ứng dịch vụ công
- Nhà n ước hỗ trợ, khuyến khích, tạo ñiều kiện thuận lợi ñể các tổ chức ngoài nhà nước cùng tham gia cung ứng dịch vụ công
Trang 28Thực hiện vai trò này, nhà nước cần hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích tư nhân, các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội của người dân tham gia cung ứng dịch vụ công Cơ chế, chính sách ấy bao gồm: vạch rõ những lĩnh vực dịch vụ cần khuyến khích sự tham gia của khu vực phi nhà nước, chính sách hỗ trợ tài chính, chính sách thuế, các ñiều kiện vật chất, các chính sách ñào tạo, kiểm tra và kiểm soát, Nhà nước cần tạo ra một môi trường pháp lý chung cho tất cả các ñơn vị cung ứng dịch vụ công, ñảm bảo một sân chơi bình ñẳng cho tất cả các nhà cung ứng dịch vụ công
- Nhà n ước quản lý, kiểm tra và giám sát hoạt ñộng của các cơ sở ngoài
nhà n ước cung ứng dịch vụ công
ðể thực hiện vai trò này, nhà nước phải tạo ra cơ chế ñể các tác nhân bên ngoài nhà nước khi ñảm nhận các dịch vụ công thực hiện mục tiêu xã hội Xây dựng hệ thống chỉ tiêu chất lượng dịch vụ công ñể ñánh giá hoạt ñộng của các ñơn vị cung cấp, giám sát và kiểm tra hoạt ñộng của các cơ sở này Nhà nước cần ñịnh hướng phát triển ñối với khu vực tư nhân, hướng khu vực
tư nhân vào những lĩnh vực mà tư nhân hoạt ñộng hiệu quả, ñồng thời tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm không ngừng cải tiến việc cung ứng dịch
vụ công cho xã hội ðiều cốt lõi là nhà nước phải cân nhắc, tính toán và giải quyết thỏa ñáng mối quan hệ giữa lợi ích của nhà nước, của xã hội với lợi ích của tổ chức và cá nhân tham gia cung ứng dịch vụ công
2.1.2 Xã hội hoá cung ứng dịch vụ công
Khái niệm
ðể hiểu thuật ngữ “xã hội hóa cung ứng dịch vụ công”, dưới ñây chúng tôi sẽ làm rõ nội hàm của thuật ngữ “xã hội hóa”, từ ñó suy ra nội hàm của xã hội hóa dịch vụ công (xem xét khái niệm “xã hội hóa” trong bối cảnh cung ứng dịch vụ công)
Có thể khái quát rằng “xã hội hóa” một hoạt ñộng nào ñó chính là sự
Trang 29gia tăng tính chất xã hội của hoạt ñộng ấy thông qua sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau trong xã hội dựa trên những ñiều kiện và trong khuôn khổ cơ chế nhất ñịnh [40] ðiều kiện và cơ chế cụ thể ñó chính là bối cảnh của xã hội hóa – là yếu tố ñóng vai trò then chốt trong việc thành công của
xã hội hóa Cung ứng dịch vụ công tức là hoạt ñộng cung ứng các dịch vụ vốn ñược thực hiện bởi nhà nước Như vậy, theo nghĩa chung nhất, xã hội hóa ở ñây nghĩa là mở rộng sự tham gia của nhiều chủ thể kinh tế khác ngoài nhà nước cung ứng dịch vụ công dưới những ñiều kiện và cơ chế nhất ñịnh mà trước ñây vốn chỉ có nhà nước là tác nhân duy nhất thực hiện
“Xã hội hoá dịch vụ công là việc tư nhân, các hội, tổ chức phi chính phủ tham gia cùng nhà nước thực hiện dịch vụ công ở khâu nào ñó, lĩnh vực nào
ñó mà không làm biến ñổi tính chất hàng hoá dịch vụ công mà nhà nước phải cung cấp cho xã hội, không làm mất ñi vai trò của nhà nước trong việc cung cấp hàng hoá công ñó cho xã hội” [33]
“Xã hội hóa dịch vụ công là việc mở rộng sự tham gia của các chủ thể kinh tế ngoài chính phủ vào việc cung ứng dịch vụ công, bao gồm toàn xã hội
và thu hút cả ñầu tư nước ngoài vào lĩnh vực hoạt ñộng này và cả xã hội hóa hưởng thụ dịch vụ công, thực hiện công bằng xã hội, bảo ñảm cho mọi người dân ñược hưởng những dịch vụ công cơ bản, thiết yếu” [4]
Như vậy, xã hội hoá dịch vụ công ñơn giản chỉ là việc mở rộng sự tham gia của các chủ thể xã hội vào các hoạt ñộng của nhà nước mà không làm mất
ñi hay giảm tính công cộng của dịch vụ công
Vai trò và tác dụng của xã hội hóa dịch vụ công
- Xã hội hóa dịch vụ công giúp phát huy tiềm năng trí tuệ và vật chất trong nhân dân, huy ñộng toàn xã hội chăm lo ñến những nhu cầu thiết yếu
- Xã hội hóa tạo ñiều kiện ñể toàn xã hội, ñặc biệt là các ñối tượng chính
sách, người nghèo ñược hưởng thụ dịch vụ công ở mức ñộ ngày càng cao
Trang 30- Nâng cao chất lượng và hiệu quả của dịch vụ công vì khu vực ngoài
nhà nước sẽ hạn chế ựược những tồn tại vốn có của khu vực công cộng
- Góp phần nâng cao tắnh công khai và minh bạch trong chi tiêu công của chắnh phủ vì lúc này có sự kiểm tra, giám sát nhất ựịnh của các tổ chức, cá nhân ngoài nhà nước
Phân biệt xã hội hóa và tư nhân hóa
Như ựã trình bày ở trên, xã hội hóa là sự chuyển giao một số dịch vụ công từ khu vực nhà nước sang khu vực ngoài nhà nước, vì vậy có một số quan ựiểm cho rằng xã hội hóa là tư nhân hóa Cách hiểu này càng ựược củng cố nhất là dưới hình thức các doanh nghiệp, ựược phép cung ứng dịch
vụ công Tuy nhiên, ựiều khác nhau cơ bản với tư nhân hóa là xã hội hóa nhấn mạnh trách nhiệm và ựảm bảo sự chỉ ựạo, ựiều hành của Nhà nước ựối với việc cung ứng các dịch vụ công đối với các cơ sở ngoài công lập, Nhà nước luôn luôn khuyến khắch hoạt ựộng theo cơ chế phi lợi nhuận, ựược hiểu là lợi nhuận thu ựược không chia hết cho các cá nhân mà chủ yếu dùng ựể ựầu tư phát triển, thực hiện các chắnh sách xã hội, trợ giúp người nghèo Như vậy, giống nhau ở xã hội hóa và tư nhân hóa chỉ là ựối tượng tham gia vào cung ứng dịch vụ công, còn tắnh chất của hàng hóa công cộng thì không hề thay ựổi và vai trò quản lý của Nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp ựến cung ứng dịch vụ công
2.1.3 Vai trò của các dịch vụ công chủ yếu ựối với phát triển nông thôn
Kinh nghiệm ở khu vực đông Á cho thấy, khu vực nông thôn có khả năng biến ựổi phi thường bằng cách tăng thu nhập, giảm ựói nghèo và cải thiện phúc lợi [25] Quá trình này ựòi hỏi ựến một loạt các yếu tố như tăng năng suất lao ựộng nông nghiệp ở nông thôn và phát triển cơ sở hạ tầng, ựưa dân (nhất là lớp trẻ) ựến những nơi có cơ hội làm việc, cải thiện y tế, cung
Trang 31cấp trường học và nâng cao môi trường sống ðiều này lại phụ thuộc rất lớn ñến khả năng của chính phủ cung cấp các dịch vụ công cơ bản ở nông thôn
Do nông thôn nước ta nhiều vùng còn rất khó khăn, cơ sở hạ tầng kém phát triển, trình ñộ dân trí thấp, sản xuất với tập quán cũ năng suất kém… nên nhu cầu về cải thiện ñời sống của người dân là rất lớn, ñặc biệt là ở những khu vực khó khăn và các ñối tượng dễ bị tổn thương Vùng nông thôn với sản xuất nông nghiệp là chủ yếu với mức rủi ro cao, lợi nhuận thấp nên sức hấp dẫn các tổ chức tư nhân vào khu vực này còn rất hạn chế Hiện nay, các dịch vụ công cung cấp các hàng hóa công cộng chủ yếu do nhà nước thực hiện, ñây là một thực tế chung ở các nước ñã và ñang phát triển chứ không riêng gì ở Việt Nam [25]
Các dịch vụ xã hội, nhất là giáo dục tiểu học và chăm sóc sức khỏe
cơ bản có vai trò quan trọng trong việc cải thiện tình hình phúc lợi xã hội
và (ñặc biệt ñối với giáo dục) tạo cho các cá nhân những năng lực ñược nâng cao ñể thích ứng với các cơ hội mới Kinh nghiệm cho thấy, giáo dục có mối quan hệ với việc tăng năng suất lao ñộng nông nghiệp, tăng cường vai trò của các hoạt ñộng phi nông nghiệp mới, và xét về lâu dài,
nó tạo ñiều kiện tiếp cận các hoạt ñộng chế tác và dịch vụ hiện ñại Các
hộ gia ñình thường tham gia trực tiếp các dịch vụ xã hội bằng việc thanh toán trực tiếp phí sử dụng, ñối với dịch vụ giáo dục thì chi phí cơ hội tăng thêm do số việc làm bị mất ñi khi ñi học và tự học ở nhà Chúng ta có thể thấy tầm quan trọng của việc nâng cao mức sống nông thôn và giảm nghèo bằng con ñường nâng cao trình ñộ dân trí, từ ñó họ có khả năng tự chăm sóc sức khỏe và phòng ngừa bệnh tật từ ñó giảm rủi ro cũng như những thiệt hại do thiếu hiểu biết gây nên
Trang 32Dịch vụ khuyến nông: ðể phát triển kinh tế nhờ vào sản xuất nông
nghiệp thì các nông hộ phải tăng năng suất, tích cực nắm bắt thông tin thị trường, lường trước ñược rủi ro và sự biến ñộng giá cả hàng hóa Thông thường, các nông hộ ñặc biệt là hộ nghèo thường ít ñất, thiếu kiến thức kỹ thuật và vốn, sản xuất của họ chỉ ñủ ăn hoặc dôi ra một ít ñể bán Khuyến nông có tiềm năng giúp nông dân trong những tình huống khó khăn trên giải quyết ñược khó khăn và nâng cao mức sống Cán bộ khuyến nông là người
có kiến thức chuyên môn sâu rộng trong lĩnh vực nông nghiệp, nắm rõ kỹ thuật và xu hướng thời ñại ñưa những giống mới năng suất cao, ñáp ứng ñược nhu cầu thị trường nên giá bán nông sản sẽ cao
Tuy nhiên, nhiều ñánh giá gần ñây cho thấy vai trò của khuyến nông không mang lợi ích cụ thể rõ ràng cho phát triển kinh tế, hoặc chỉ một bộ phận nhỏ các trang trại hay nông hộ quy mô lớn mới có thể áp dụng những hướng dẫn của cán bộ khuyến nông vì kỹ thuật khó áp dụng Các cuộc khảo sát cho thấy, 1/3 số xã chỉ ñược cán bộ khuyến nông ñến làm việc 5 lần và thưa hơn trong 12 tháng; khoảng 28% xã có cán bộ khuyến nông làm việc
từ 6 ñến 10 lần trong 12 tháng [35]; một số ý kiến cho rằng vai trò của cán
bộ khuyến nông rất mờ nhạt trong việc triển khai các phong trào phát ñộng
về nông nghiệp từ trung ương [25] Theo cơ cấu chi tiêu ngân sách trung ương và các tỉnh cho các vùng nông thôn thì chi cho công tác khuyến nông tăng ñều qua các năm [39] Từ ñó thấy rằng, các cấp ñều nhận rõ vai trò của nó nhưng việc triển khai thực hiện vẫn còn nhiều hạn chế nên hiệu quả chưa rõ ràng
Dịch vụ thuỷ nông: Chính phủ rất ưu tiên, dành các nguồn ñầu tư tập
trung cho các hệ thống thuỷ lợi ở khu vực nông thôn, ñảm bảo nhu cầu tưới
Trang 33tiêu cho sản xuất nông nghiệp – vốn là một lĩnh vực rất cần có ñiều kiện tự nhiên, khí hậu thuận lợi Trong những năm gần ñây, công tác thủy nông ñã
có nhiều thành tựu ñáng kể, cải tạo hệ thống kênh mương, kiên cố hóa kênh mương, thu hẹp diện tích ñất canh tác không có nước tưới… Mặt khác, ñể tạo ñiều kiện cho nông dân có thêm nguồn vốn ñầu tư sản xuất, nâng cao ñời sống nông dân, từ 1/1/ 2009 Chính phủ thực hiện Nghị ñịnh 115 quy ñịnh miễn thuỷ lợi phí cho nông dân Tuy nhiên, vấn ñề ñặt ra rằng, liệu chủ trương này có thực sự công bằng không? ðối tượng ñược hưởng nhiều nhất
có phải là những người nghèo khó thực sự hay tầng lớp khá giả trong nông thôn? Ý thức sử dụng nguồn nước có hạn có nâng cao hay không nếu họ (nhất là những hộ ñầu nguồn) ñược sử dụng miễn phí? Một số nghiên cứu gần ñây cho thấy, những hộ ñược thực sự ñược hưởng quyền lợi lại là những người quỹ ñất lớn cho nên phần lợi ích tuyệt ñối họ ñược hưởng từ chủ trương này mang lại lợi ích cho người kinh tế khá hơn chứ không phải là những người khó khăn nhất Những hộ ở ñầu nguồn nước sẽ sử dụng nhiều hơn mà không hề quan tâm ñến những hộ ở cuối nguồn Kết quả ñiều tra cũng cho thấy, sau khi miễn thuỷ lợi phí thái ñộ, trách nhiệm phục vụ và quản lý vận hành công trình của các tổ chức dùng nước kém ñi (chiếm 41,67%) Việc nước không phù hợp với lịch cấy của dân, các ñợt cấp nước cách quá xa nhau và xảy ra tình trạng lúc dân cần thì không có nước, lúc không cần thì lại có ðây là một trong những nguyên nhân giải thích tại sao sau khi có chính sách miễn thuỷ lợi phí các công trình thuỷ lợi xuống cấp nhanh hơn, nguồn nước bị sử dụng lãng phí và không hiệu quả [31]
Trang 34Hộp 2 Tác ñộng của các dịch vụ công ñến phát triển kinh tế nông thôn
Ở Việt Nam, chi tiêu từ nguồn của Chính phủ là rất quan trọng ñối với tăng trưởng và phát triển nông nghiệp, nông thôn
Nghiên cứu của Fan, Shenggen et al (2004) chỉ ra rằng, trong các loại chi tiêu
từ nguồn Chính phủ thì nghiên cứu nông nghiệp ñã có thu hồi lớn nhất trong sản xuất nông nghiệp Cứ chi 1 ñồng, thì có thể sản ra 12,22 ñồng trong giá trị sản xuất nông nghiệp ðầu tư cho ñường sá ñứng thứ hai về thu hồi (3,01 ñồng trên 1 ñồng chi ra), tiếp theo là ñầu tư vào giáo dục (chi 1 ñồng thu về 2,06 ñồng) Khác với các loại ñầu tư khác, thu hồi từ ñầu tư cho thuỷ lợi là dưới 1 ñồng khi chi ra 1 ñồng, nghĩa là lợi nhuận không ñủ bù chi phí
ðiều thú vị là sắp hạng về ñầu tư theo tác ñộng giảm nghèo là hoàn toàn giống hệt như sắp hạng loại ñầu tư theo hiệu quả tăng trưởng Cứ mỗi tỷ chi cho nghiên cứu nông nghiệp, thì 339 người nghèo ñược thoát lên trên ranh giới nghèo; mỗi tỷ chi cho làm ñường ñã giúp 132 người nghèo vượt lên khỏi ranh giới nghèo ðầu tư cho giáo dục cũng có thu hồi khá (76 người nghèo thoát nghèo khi ñầu tư 1 tỷ) Trong tất cả các loại chi thì chi cho thuỷ lợi có tác ñộng nhỏ nhất ñến tình trạng nghèo; chi 1 tỷ chỉ giúp ñược 13 người thoát lên trên ranh giới nghèo
Nghiên cứu thứ hai là của Baker et al (2002), ñánh giá các chỉ số quyết ñịnh tăng trưởng nông nghiệp trong một thời kỳ, tìm thấy rằng ñầu tư công vào thuỷ lợi
là nguồn quan trọng nhất của tăng trưởng nông nghiệp (chiếm 28% tăng trưởng), thứ ñến nghiên cứu nông nghiệp (27%) ðầu tư vào ñường sá tạo ra 11% tăng trưởng ñầu ra nông nghiệp, còn giáo dục góp 8%
Nguồn: [26].
2.2 Cung cấp dịch vụ công ở nông thôn Việt Nam
2.2.1 Môi trường thể chế, chính sách của dịch vụ công nông thôn
Trong thời gian qua, Nhà nước ñã ban hành nhiều văn bản pháp lý của Nhà nước nhằm cung ứng các loại dịch vụ công cho khu vực nông thôn Kết quả rà soát cho thấy Việt Nam, ñã có khá ñầy ñủ các chính sách phát triển các loại dịch vụ công cơ bản và chúng luôn ñược ñổi mới theo hướng phát triển
Trang 35các cơ sở vật chất và cung cấp các dịch vụ công nông thôn nhằm ñảm bảo sự công bằng giữa các vùng và nhóm xã hội
V ề giáo dục, Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
nêu rõ "Phát triển giáo dục là quốc sách hàng ñầu", "Nhà nước thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu chuẩn giáo viên, quy chế thi cử và hệ thống văn bằng"
"Học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân Bậc tiểu học là bắt buộc, không
phải trả học phí" ðây là một chính sách có nhiều tiến bộ Thứ nhất, giáo dục
tiểu học là một hàng hóa khuyến dụng có tác ñộng lan tỏa mạnh, nếu thu phí
sẽ không khuyến khích ñược việc sử dụng dịch vụ mà lẽ ra cần phải khuyến
khích Thứ hai, phí sử dụng dịch vụ giáo dục tăng lên nhanh ở các cấp trên,
ñặc biệt là giáo dục phổ thông trung học và cao hơn nữa ở các cấp trung cấp chuyên nghiệp, cao ñẳng, ñại học Vì ñây là những nhóm dân cư có thu nhập cao hơn, mặt khác khả năng tìm kiếm việc làm sau khi tốt nghiệp các trường chuyên nghiệp này sẽ tốt hơn nhiều so với các bậc học cấp dưới nên khả năng cân bằng giữa lợi ích – chi phí có thể cho là hợp lý
Trong lĩnh vực y tế, ñể thực hiện chủ trương "Nhà nước ñầu tư, phát
triển và thống nhất quản lý sự nghiệp bảo vệ sức khoẻ của nhân dân", Nhà nước ñã ban hành nhiều văn bản quy ñịnh các chính sách cụ thể về y tế, trong
ñó có Chiến lược phát triển sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân 2001-2010; Kế hoạch Phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001-2005 và 2006-2010; Luật Bảo vệ Sức khoẻ nhân dân năm 1987; Pháp lệnh Hành nghề Y dược tư nhân năm 1993; Nghị quyết của Chính phủ về Chủ trương xã hội hoá các hoạt ñộng y tế, giáo dục, văn hoá năm 1997; Quyết ñịnh của Thủ tướng Chính phủ về thành lập Quỹ khám chữa bệnh cho người nghèo năm 2002,
ðối với các dịch vụ công khác như thuỷ lợi, khuyến nông, ñiện và nước sinh hoạt cũng ñã ñược ñưa ra thành các chủ trương chính sách lớn ðối với
thu ỷ lợi, liên tiếp trong các kỳ ðại hội ðảng (VIII, IX, X), các vấn ñề thuỷ lợi
Trang 36luôn ñược ñưa vào Nghị quyết thành những chủ trương lớn về "thuỷ lợi hoá"
ðể thể chế hoá chủ trương ñó, Nhà nước ñã ban hành hàng loạt chính sách Nổi lên hàng ñầu là chính sách ñầu tư phát triển thuỷ lợi tại Quyết ñịnh số 66/2001/Qð-TTg ngày 26/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc “Kiên
cố hóa hệ thống kênh mương” Theo ñó ngân sách nhà nước ñầu tư hàng nghìn tỷ ñồng phát triển các công trình thuỷ lợi ñầu mối, kênh chính và người dân ñầu tư vào kênh mương nội ñồng Thêm vào ñó, ñể hỗ trợ cho sản xuất nông nghiệp, từ 1/1/ 2009 Chính phủ thực hiện Nghị ñịnh 115/Nð-CP quy
ñịnh miễn thuỷ lợi phí cho nông dân Trong công tác khuyến nông, ñã có
nhiều chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn như Quyết ñịnh 67/1999/Gð-TTg ngày 30/03/1999 của Thủ tướng chính phủ về “Tín dụng ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn”, và các chính sách
về hỗ trợ vật tư, kỹ thuật sản xuất nông nghiệp, chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, chính sách tiêu thụ nông sản và hàng loạt các chính sách
khuyến nông khác… Về cung ứng các dịch vụ về ñiện, nước sạch và vệ sinh
môi tr ường, tuy vùng nông thôn có những thiệt thòi hơn so với thành thị
nhưng nhìn chung chính phủ ñã và ñang quan tâm ñể hướng tới cung cấp các dịch vụ này với sự bao phủ lớn nhất, tạo nền tảng phát triển cơ bản cho mọi miền ñất nước Trước ñây, vùng nông thôn thường không ñược cung cấp ñiện ñầy ñủ trong những ngày hè nóng bức do nhu cầu tiêu dùng tăng cao và phải
ưu tiên các vùng thành thị Tuy nhiên, mới ñây Chính phủ ñã chỉ ñạo “không
ñể người dân thiếu ñiện sinh hoạt và sản xuất, nếu thiếu thì sẽ phải mua” Theo quan sát thực tế, hiện nay vùng nông thôn ñược cung cấp ñiện ñầy ñủ và chất lượng ñiện ổn ñịnh Chính phủ luôn khuyến khích cộng ñồng cùng cung ứng các dịch vụ mà Chính phủ chưa thể vươn tới và thực tế có rất nhiều tổ chức ñược hình thành dưới dạng hợp tác xã dịch vụ ñáp ứng các nhu cầu dịch
vụ thiết yếu như thu gom – xử lý rác thải…
ðể triển khai các chủ trương lớn trên, các bộ, ngành trung ương như Bộ
Trang 37Giáo dục và đào tạo, Bộ Y tế, Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Công thương, Bộ Văn hoá - Thông tinẦ và các ựịa phương ựã cụ thể hoá thành các chắnh sách
cụ thể Vắ dụ, Nghị quyết của Chắnh phủ về Chủ trương xã hội hoá các hoạt ựộng y tế, giáo dục, văn hoá năm 1997 và thực hiện ở các ựịa phương, trong
ựó ựầu tư ựể tăng cường cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng dịch vụ ựã ựược chú trọng
2.2.2 Công tác tổ chức và cung ứng dịch vụ công tại Việt Nam
Ở nước ta trước thời kỳ ựổi mới, Nhà nước nắm giữ hầu hết các hoạt ựộng cung ứng dịch vụ công từ lĩnh vực kinh tế ựến hoạt ựộng dịch vụ văn hóa, xã hội, từ quản lý hành chắnh ựến giáo dục, y tế và ngân hàngẦ Nói chung, Nhà nước Ộbao sânỢ tất cả dẫn tới việc kém hiệu quả trong cung ứng dịch vụ công Hiện nay, Nhà nước ựã có những chắnh sách thoáng ựãng hơn nhằm khuyến khắch khu vực ngoài nhà nước tham gia cùng cung ứng hoạt ựộng xã hội này Chắnh những chủ trương ựúng ựắn này ựã tạo nên một số thành tựu ựáng kể về cung ứng dịch vụ công
V ề lĩnh vực giáo dục
Hầu hết các ựịa phương trong cả nước ựã xóa ựược nạn mù chữ, hoàn thành chương trình phổ cập giáo dục tiểu học và ựang tiến tới chương trình phổ cập ở bậc trung học cơ sở Số trẻ em ựi học ựúng tuổi ựạt tỷ lệ cao, năm
2008 tỷ lệ này ở cấp tiểu học là 105%, cấp trung học cơ sở là 96% và trung học phổ thông là 73,6% [38] vượt xa so với mục tiêu phát triển ngành Giáo dục 2001 Ờ 2010 Các trường phổ thông hầu hết là công lập, chỉ có một số ắt trường ngoài công lập và chủ yếu tập trung ở vùng ựô thị Các trường công lập không thu học phắ ở bậc tiểu học, học phắ tăng dần ở các cấp học cao hơn đây là một chủ trương rất ựúng ựắn của Nhà nước, khuyến khắch các gia ựình cho con em ựi học nhằm nâng cao dân trắ trên phạm vi toàn quốc Nhà nước ựã tắch cực vận ựộng, thu hút các nguồn vốn trong, ngoài nước
ựể ựầu tư cho lĩnh vực Ộquốc sáchỢ này Bên cạnh việc ựảm bảo cơ sở vật chất
Trang 38hạ tầng tốt, Chính phủ còn luôn quan tâm ñến việc nâng cao chất lượng giáo viên, ñổi mới phương pháp giảng dạy mới nhằm nâng cao chất lượng dạy – học và các nhu cầu ñào tạo con người của xã hội
V ề lĩnh vực y tế
Nhà nước ñã có quy hoạch tổng thể phát triển sự nghiệp chăm sóc, bảo
vệ và nâng cao sức khỏe người dân Ngân sách nhà nước dành cho ngành y tế tăng liên tục qua các năm 2000 – 2007 (khoảng từ 0,9% ñến 1,2% GDP)2 và phân bổ theo hướng ưu tiên cho y tế dự phòng, hoàn thiện mạng lưới cơ sở, phát triển bảo hiểm y tế cho các ñối tượng chính sách, hiện ñại hóa các trung tâm y tế chuyên sâu… Các chính sách hỗ trợ của Nhà nước cùng với các hình thức hỗ trợ của cộng ñồng quan các quỹ từ thiện, làm việc tình nghĩa… thể hiện sự quan tâm và cố gắng của Nhà nước cũng như toàn xã hội trong việc chăm sóc sức khỏe toàn dân Các chương trình mục tiêu y tế quốc gia ñã ñược thực hiện có hiệu quả như chương trình tiêm chủng mở rộng cho bà mẹ và trẻ
em, cho trẻ em dưới 6 tuổi uống vitamin A, các chương trình phòng chống dịch bệnh khác… Hiện nay, tuổi thọ bình quân của người Việt Nam là 73 tuổi, ñây là một con số khá cao trong khu vực [39]
Việc ñổi mới chính sách viện phí ñi ñôi với chính sách trợ cấp cho người nghèo, người khó khăn và gia ñình chính sách, khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi, cấp thuốc miễn phí cho những bệnh nan y (lao phổi, phong, HIV/AIDS…) Công tác nâng cao chất lượng cán bộ y tế các cấp ñược quan tâm ñúng mực dưới nhiều hình thức ñào tạo, ñảm bảo chất lượng cán bộ
y tế và tạo tâm lý yên tâm cho người bệnh, ñặc biệt trong khu vực công
Các dịch vụ công ích
Cho ñến nay, Nhà nước vẫn là người chịu trách nhiệm cung ứng hầu như toàn bộ các dịch vụ ñiện, nước, vệ sinh môi trường ðối với dịch vụ ñiện và chiếu sáng công cộng, Nhà nước (dưới hình thức doanh nghiệp Nhà nước)
2
Số liệu Bộ Tài chính, 2008
Trang 39thực hiện cả ba khâu của quá trình cung ứng ựiện: phát ựiện, truyền tải và phân phối ựiện Hầu như ựiện ựã bao phủ toàn quốc (năm 2003 tỷ lệ xã có ựiện là 86,2%, năm 2008 tỷ lệ này tăng lên 99,1%) [38] Nhằm ựảm bảo nhu cầu thiết yếu cơ bản của người dân, chủ trương tiến bộ của Nhà nước ta là nếu thiếu thì ựi mua chứ không ựể người dân phải khổ (những xã gần biên giới thì dùng ựiện nhập khẩu, ựợt nóng nắng tháng 07/2010 ựã gây thiệt hại lớn cho sản xuất cũng như ựời sống sinh hoạt người dân vì thiếu ựiện nên Nhà nước
ựã phải nhập khẩu ựiện ựể ựảm bảo nhu cầu trong nước) đây là những nỗ lực rất lớn dành cho khu vực nông thôn ựể tạo mặt bằng chung tương ựối gần so với khu vực thành thị, ắt nhất cũng ựáp ứng những nhu cầu tối thiểu ựảm bảo chất lượng ựời sống người dân nông thôn
đánh giá hiện trạng cung cấp dịch vụ công ở Việt Nam
Với cơ chế quan liêu bao cấp trong nhiều thập kỷ qua, Nhà nước hầu như ựảm nhiệm tất cả các hoạt ựộng cung ứng các loại dịch vụ công dưới nhiều hình thức khác nhau Hậu quả là Nhà nước ựã phải chịu gánh nặng về bộ máy Nhà nước cồng kềnh, ựồ sộ, chi phắ hoạt ựộng thường xuyên rất lớn dẫn ựến kém về hiệu quả và chất lượng Không thể thực hiện ựược ý tưởng nhà nước
lo dịch vụ cho dân bởi tình hình tài chắnh khó khăn ựã hạn chế khả năng cung cấp dịch vụ công, nhất là trong tình trạng nhân lực và vật tư rất thiếu, yếu Vào cuối những năm 1990 vùng ựô thị Việt Nam, nhất là thành phố Hồ Chắ Minh và Hà Nội phát triển nhanh, tốc ựộ ựô thị hóa diễn ra chóng mặt ựã làm cho sức ép của nó lên dịch vụ công ựã ựến lúc phải thay ựổi về mô hình cung cấp điều ựó ựã ựược thực hiện thông qua Nghị quyết 90/CP ngày 21/08/1997, mạnh dạn giao việc cung cấp dịch vụ công cho các pháp nhân ngoài nhà nước và hoan nghênh khu vực tư nhân tham gia Tư duy về cung cấp dịch vụ công tại Việt Nam ựã thay ựổi, Nhà nước vẫn chịu trách nhiệm chung thì công việc hàng này ựược chuyển cho các tổ chức bên ngoài và các
cơ quan chức năng có thể tập trung vào công tác lập chắnh sách Cho ựến nay,
Trang 40có thể ngạc nhiên khi thấy rằng khu vực tư nhân chỉ ựảm ựương một phần nhỏ những dịch vụ công mà trước ựây nhà nước cung cấp Và nhà nước Việt Nam vẫn trực tiếp cung cấp dịch vụ công trong những lĩnh vực không ựược coi là dịch vụ công do những dịch vụ này không ựúng với ựịnh nghĩa về dịch vụ công [22]
V ề giáo dục, Việt Nam ựã tiến những bước lớn trong xã hội hóa giáo dục
ựại học và cao ựẳng, nhưng giáo dục phổ thông 12 năm thì vẫn ựược coi là một loại dịch vụ công thuộc trách nhiệm của nhà nước điều ựó lại càng ựúng hơn ựối với những vùng xa và nghèo, nơi khu vực tư nhân không với tới và giáo dục chắnh là chìa khóa ựể nâng cao ựời sống cho người nghèo và ựồng bào thiểu số Trong hệ thống các trường ở Việt Nam, khoảng 2/3 là trường tiểu học
và trung học cơ sở Chắnh sách của Chắnh phủ là cố gắng xây dựng một trường tiểu học và trung học cơ sở tại mỗi xã và tối thiểu một trường trung học phổ thông ở mỗi huyện Chi phắ cho các trường do Nhà nước ựài thọ gần như toàn
bộ và ngân sách giáo dục ựược giao cho ựịa phương quản lý Ngân sách giáo dục tăng ựều hàng năm, năm 1996 là 10% tăng lên 15,5% và 20% tương ứng cho năm 2000 và 20083
Trong tình hình gánh nặng ngân sách quốc gia ngày càng tăng, Chắnh phủ bắt ựầu khuyến khắch tư nhân tham gia ngành giáo dục kể cả giáo dục cơ
sở Trong vòng 15 năm trở lại ựây, số trường và số học sinh bao gồm cả tiểu học, trung học, ựại học và dạy nghề ựều tăng lên Nhà nước vẫn là người cung cấp chủ ựạo dịch vụ ựối với giáo dục tiểu học và trung học cơ sở, trong khi tư nhân tham gia nhiều hơn vào cung cấp dịch vụ giáo dục mẫu giáo mầm non
và giáo dục phổ thông trung học
Những thành tựu trong việc mở rộng nguồn cung ựồng thời cũng có nghĩa
là không thể kiểm tra hết chất lượng học sinh và chất lượng dịch vụ do tốc ựộ
3
đề án đổi mới cơ chế tài chắnh giáo dục của Bộ Giáo dục và đào tạo (2009 Ờ 2014) do Chắnh phủ trình Quốc hội tháng 05 Ờ 2009