Tuy không phải là một mối đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe nhưng VBM gây nhiều khó chịu trong sinh hoạt. Việc khám phát hiện sớm cũng như hướng dẫn bệnh nhân điều trị thuốc sẽ giúp ngăn ngừa tái phát, làm hạn chế tối thiểu các biến chứng và nâng cao chất lượng cuộc sống của người bệnh.Cho đến hiện nay, có rất ít nghiên cứu trong nước về viêm bờ mi đã được thực hiện. Các đề tài có thể kể đến bao gồm nghiên cứu của Trần Thị Minh đối với viêm bờ mi do nấm, hay nghiên cứu của Phạm Ngọc Đông cùng cộng sự trên đối tượng viêm bờ mi do Demodex 9,10.
Trang 1NGUYỄN VIỆT THANH
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ VIÊM BỜ MI TRÊN BỆNH NHÂN ĐẾN KHÁM TẠI KHOA MẮT BỆNH VIỆN ĐA
KHOA THÀNH PHỐ VINH
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ
Thành phố Vinh, năm 2020
Trang 2NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ VIÊM BỜ MI TRÊN BỆNH NHÂN ĐẾN KHÁM TẠI KHOA MẮT BỆNH VIỆN ĐA KHOA
THÀNH PHỐ VINH
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ
Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Việt Thanh Cộng sự : Phạm Thị Vân
Thành phố Vinh, năm 2020
Trang 3VBM: Viêm bờ mi
MGD: Meibomian Gland Dysfunction
Trang 4Chương1: TỔNG QUAN 3
1.1 Giải phẫu bờ mi mắt 3
1.2 Viêm bờ mi 3
1.2.1 Đại cương 3
1.2.2 Yếu tố nguy cơ 3
1.2.3 Phân loại và nguyên nhân 4
1.2.4 Triệu chứng lâm sàng 5
1.2.4.1 Triệu chứng cơ năng 5
1.2.4.2 Triệu chứng thực thể 5
1.2.5 Chẩn đoán 8
1.2.6.Điều trị 11
1.3 Tình trạng viêm bờ mi 12
1.3.1 Trên thế giới 12
1.3.2 Trong nước 14
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
2.1 Đối tượng nghiên cứu 15
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn 15
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ 15
2.2 Phương pháp nghiên cứu 15
2.2.1.Thiết kế nghiên cứu 15
2.2.2 Cỡ mẫu 15
2.2.3 Phương tiện nghiên cứu 15
2.2.4 Nội dung nghiên cứu 15
2.2.4.1 Khám sàng lọc bệnh nhân và đánh giá triệu chứng lâm sàng 16
2.2.4.2 Đánh giá nguyên nhân 18
2.2.4.3 Điều trị 19
2.2.5 Phương pháp thu thập số liệu 21
2.2.6 Xử lý số liệu 21
Trang 53.1 Đặc điểm chung của đối tượng tham gia nghiên cứu 22
3.1.1 Phân bố theo tuổi và giới 22
3.1.2 Phân bố theo học vấn và nghề nghiệp 22
3.1.3 Phân bố theo nơi ở 23
3.2 Đặc điểm lâm sàng 24
3.2.1.Triệu chứng cơ năng 24
3.2.2 Triệu chứng thực thể 25
3.3 Kết quả điều trị 27
3.3.1.Triệu chứng cơ năng sau điều trị 27
3.3.2.Triệu chứng thực thể sau điều trị 30
Chương 4: BÀN LUẬN 35
4.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 35
4.2 Đặc điểm lâm sàng của viêm bờ mi 36
4.2.1 Triệu chứng cơ năng 36
4.2.2 Triệu chứng thực thể 37
4.3 Kết quả điều trị viêm bờ mi 38
4.3.1 Triệu chứng cơ năng sau điều trị 38
4.3.2 Triệu chứng thực thể sau điều trị 39
KẾT LUẬN 42
Đặc điểm lâm sàng của viêm bờ mi 42
Kết quả điều trị của viêm bờ mi……… 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO 44
Trang 6Hình 1.1 Giải phẫu bờ mi mắt 3Hình 1.2.Viêm bờ mi trước (Nguồn: Kanski's Clinical Ophthalmology: A
Systematic Approach 9th Edition) 6Hình 1.3.Viêm bờ mi sau (Nguồn: Kanski's Clinical Ophthalmology: A Systematic Approach 9th Edition) 8
Trang 7Bảng 1.1 Tóm tắt các đặc điểm của viêm bờ mi thường gặp……… 6
Bảng 2.1 Đánh giá triệu chứng cơ năng theo các mức độ 17
Bảng 2.2.Triệu chứng thực thể thường gặp của viêm bờ mi 18
Bảng 3.1 Phân bố tuổi, giới 22
Bảng 3.2 Phân bố học vấn và nghề nghiệp 23
Bảng 3.3 Triệu chứng của lông mi và bờ mi 25
Bảng 3.4.Triệu chứng tại tuyến Meibomian 26
Bảng 3.5 Triệu chứng tại kết giác mạc 26
Bảng 3.6 Triệu chứng khô mắt 27
Bảng 3.7 Chẩn đoán nguyên nhân 27
Bảng 3.8 Triệu chứng của lông mi và bờ mi sau điều trị 30
Bảng 3.9 Triệu chứng tại tuyến Meibomian sau điều trị 31
Bảng 3.10 Triệu chứng tại kết giác mạc sau điều trị 32
Bảng 3.11 Triệu chứng khô mắt sau điều trị 32
Bảng 3.12 Đánh giá sau điều trị 7 ngày của các dạng viêm bờ mi 33
Bảng 3.13 Đánh giá sau điều trị 14 ngày của các dạng viêm bờ mi 33
Trang 8Biểu đồ 3.1 Phân bố đối tượng theo nơi ở 23
Biểu đồ 3.2 Triệu chứng cơ năng của viêm bờ mi và mức độ 24
Biểu đồ 3.3 Số lượng mắt bị bệnh trên cùng 1 bệnh nhân 25
Biểu đồ 3.4 Triệu chứng cơ năng của viêm bờ mi sau điều trị 7 ngày 28
Biểu đồ 3.5 Triệu chứng cơ năng của viêm bờ mi sau điều trị 14 ngày 29
Biểu đồ 3.6 Đánh giá chung triệu chứng cơ năng của bệnh nhân sau điều trị 7 ngày và 14 ngày 30
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm bờ mi là tình trạng viêm nhiễm của mi mắt, là một trong những nguyênnhân gây kích ứng và khó chịu mắt thường gặp nhất trong thực hành nhãn khoa[1] Trong một cuộc khảo sát của các bác sĩ nhãn khoa Hoa Kỳ năm 2009, có37% đến 47% bệnh nhân đến khám có dấu hiệu viêm bờ mi [2] Bệnh có thể gặp
ở cả nam và nữ, ở bất kỳ lứa tuổi nào và bất kỳ mùa nào trong năm Tuy nhiên,nguy cơ mắc viêm bờ mi tăng lên khi bệnh nhân già đi Một nghiên cứu tạiBệnh viện Walter Reed đã xác định rằng tỷ lệ mắc bệnh viêm bờ mi ở Hoa Kỳtăng dần từ 3% trong độ tuổi 18-20 lên 71% ở những người trên 65 tuổi Người
ta thường chia viêm bờ mi thành hai nhóm trước và sau theo vị trí giảiphẫu Viêm bờ mi trước ảnh hưởng đến da mi mắt, gốc lông mi, nang lông mi vànguyên nhân gây nên thường là do vi khuẩn, chủ yếu là Staphylococcusaureus Viêm bờ mi sau thường là hệ quả của rối loạn chức năng tuyếnMeibomian (MGD), và đây là hình thái gặp phổ biến hơn [3], [4]
Mặc dù nguyên nhân gây bệnh rất đa dạng nhưng triệu chứng cơ năng củaviêm bờ mi lại tương đối đồng nhất, bao gồm: kích ứng mắt và mi mắt, cảm giácnóng rát, ngứa, chảy nước mắt, đỏ mắt, sợ ánh sáng [5] Việc chẩn đoán viêm
bờ mi thường không gặp nhiều khó khăn vì đây là một chẩn đoán lâm sàng,không có xét nghiệm cận lâm sàng cụ thể nào được khuyến cáo thực hiện trêntất cả bệnh nhân ngoài hỏi bệnh sử và ghi nhận các dấu hiệu thông qua thămkhám [6] Tuy nhiên, có thể chỉ định nuôi cấy chất tiết bờ mi mắt cho nhữngtrường hợp bệnh nhân bị viêm bờ mi tái phát, viêm nặng hoặc không đáp ứngvới điều trị [7] Tuy dễ chẩn đoán nhưng việc điều trị bệnh lý này dường nhưkhông dễ dàng, đa phần không thể khỏi hoàn toàn mà diễn biến trở thành mạntính với đặc trưng có thời kỳ thuyên giảm xen kẽ với các đợt bùng phát Tronggiai đoạn thuyên giảm, bệnh nhân thường không để ý và không quan tâm đến vệsinh mắt cũng như dùng thuốc dẫn đến nguy cơ bùng phát của bệnh với các triệu
Trang 11chứng rầm rộ, lúc này, bệnh nhân mới đi khám Việc không tuân thủ và điều trịngắt quãng dẫn đến tình trạng viêm nhiễm dai dẳng, lâu dần gây ra một số biếnchứng: chắp, lẹo, rụng hàng lông mi, thay đổi cấu trúc vĩnh viễn như biến dạng
bờ mi, sụn mi, thay đổi cấu trúc phim nước mắt gây khô mắt, lông quặm, lôngxiêu, viêm kết giác mạc, ảnh hưởng đến thị lực [8]
Tuy không phải là một mối đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe nhưng VBMgây nhiều khó chịu trong sinh hoạt Việc khám phát hiện sớm cũng như hướngdẫn bệnh nhân điều trị thuốc sẽ giúp ngăn ngừa tái phát, làm hạn chế tối thiểucác biến chứng và nâng cao chất lượng cuộc sống của người bệnh
Cho đến hiện nay, có rất ít nghiên cứu trong nước về viêm bờ mi đã đượcthực hiện Các đề tài có thể kể đến bao gồm nghiên cứu của Trần Thị Minh đốivới viêm bờ mi do nấm, hay nghiên cứu của Phạm Ngọc Đông cùng cộng sựtrên đối tượng viêm bờ mi do Demodex [9],[10]
Nhận thấy viêm bờ mi cũng là một tình trạng rất phổ biến tại địa phương,
chính vì vậy, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm lâm
sàng và kết quả điều trị của viêm bờ mi trên bệnh nhân đến khám tại khoa Mắt Bệnh viện đa khoa thành phố Vinh” với mục tiêu:
1 Mô tả đặc điểm lâm sàng của viêm bờ mi trên bệnh nhân đến khám tạikhoa Mắt Bệnh viện đa khoa Thành phố Vinh
2 Đánh giá kết quả điều trị viêm bờ mi tại khoa Mắt Bệnh viện đa khoaThành phố Vinh
1 Chương 1: TỔNG QUAN 1.1 Giải phẫu bờ mi mắt
Bờ mi là phần tự do của mi mắt, có ở mi trên và mi dưới
Hình 1.1 Giải phẫu bờ mi mắt
Trang 12Bờ mi được chia thành 2 phần: Bờ
mi trước và mi sau, ranh giới là đường
xám
Bờ mi trước gồm da, tổ chức dưới
da, cơ, nang lông và lông mi, các
tuyến Zeiss, Moll
Bờ mi sau gồm kết mạc, sụn mi và
tuyến Meibomian nằm trong sụn
1.2 Viêm bờ mi
Viêm bờ mi ( Blepharitis) là một thuật ngữ y tế cho viêm mi mắt mạn
tính Từ "viêm bờ mi" có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp blepharos, có nghĩa là "mi mắt", và hậu tố itis thường được sử dụng trong tiếng Anh để biểu thị một chứng
viêm
Viêm bờ mi là một rối loạn mi mắt phổ biến với nhiều nguyên nhân, có thểgặp ở mọi lứa tuổi Mặc dù bệnh gây ra các kích ứng, khó chịu nhiều tại mắtnhưng không phải là bệnh truyền nhiễm và không gây tổn thương vĩnh viễn chothị lực Hầu hết bệnh nhân bị viêm bờ mi đều bị ở cả hai mắt MGD(Meibomiangland dysfunction) hay còn gọi là bệnh tuyến meibomian, thường được sử dụngnhư một từ đồng nghĩa với viêm bờ mi do phần lớn viêm bờ mi liên quan đếnrối loạn chức năng tuyến meibomian [11]
Tuổi: Người càng lớn tuổi nguy cơ bị bệnh càng cao
Giới: Có xu hướng nữ gặp nhiều hơn nam Trong nghiên cứu Maurílio RorizDias và cộng sự, tỷ lệ mắc của của nữ giới chiếm 56,4% cao hơn nam giới43,5% [1]
Trang 13Tình trạng khô mắt: Khô mắt đã được báo cáo là có mặt ở 50% bệnh nhân bịviêm bờ mi do tụ cầu [8], [12] Người ta cho rằng sự giảm nồng độ lysozyme vàimmunoglobulin liên quan đến thiếu nước mắt có thể làm thay đổi sức đề khángvới vi khuẩn, khiến bệnh nhân dễ mắc viêm bờ mi do tụ cầu [13].
Cơ địa da : Người ta đã ghi nhận được sự kèm theo của bệnh lý mụn trứng cá
đỏ ở 20% đến 42% bệnh nhân viêm bờ mi Các phát hiện trên da đặc trưng baogồm ban đỏ và viêm da tuyến bã Viêm da tiết bã được đặc trưng bởi sự bongtróc và nhờn bóng trên da đầu, nếp gấp mũi, da phía sau tai và xương ức đãđược báo cáo ở 33% đến 46% bệnh nhân bị viêm bờ mi Trong một nghiên cứu,95% bệnh nhân bị viêm bờ mi bã nhờn cũng bị viêm da tiết bã [8], [14]
Bệnh da do Demodex ( Ký sinh trùng): Demodex folliculorum đã được tìmthấy ở 30% bệnh nhân bị viêm bờ mi mạn tính, nhưng loại ký sinh trùng nàycũng đã được tìm thấy với tỷ lệ gần như tương tự ở những bệnh nhân không bịviêm bờ mi Tuy nhiên, những bệnh nhân bị viêm bờ mi tái phát đã đáp ứng tốtvới liệu pháp điều trị giảm hoặc loại bỏ Demodex [15]
Có nhiều cách phân loại viêm bờ mi Có thể chia viêm bờ mi thành cấp vàmạn tính, trong đó hình thái viêm bờ mi mạn là chủ yếu Nhiều tác giả lại chiaviêm bờ mi theo nguyên nhân gây bệnh do vi khuẩn, vi rút, nấm, ký sinh trùnghay do tắc tuyến meibomian Tuy nhiên, trong thực hành lâm sàng, đa phần cácbác sỹ phân loại viêm bờ mi thành hai nhóm trước và sau theo vị trí giải phẫu:[16]
Viêm bờ mi trước : Bao gồm viêm bờ mi do nhiễm trùng và viêm bờ mi bãnhờn Nguyên nhân gây nhiễm trùng thường gặp là tụ cầu (Staphylococcus),ngoài ra có thể do vi khuẩn lậu, giang mai, virus Herpex, nấm, ký sinh trùngDemodex folliculorum longus… Viêm bờ mi bã nhờn xuất hiện ở những bệnhnhân có cơ địa da tăng tiết nhờn, sản xuất thừa các chất bã, dẫn đến sự tăng tiết
Trang 14của các tuyến mi mắt Bệnh thường xuất hiện ở những người lớn tuổi và khôngphân biệt giới tính Nhìn chung, viêm bờ mi trước thường dễ điều trị và tìnhtrạng bệnh sau điều trị thuyên giảm nhiều hơn
Viêm bờ mi sau là do rối loạn chức năng tuyến meibomian và sự thay đổidịch tiết của tuyến này Những biến đổi ban đầu trong loạn năng tuyếnMeibomian là sừng hoá biểu mô ống tuyến và lỗ tuyến dẫn tới tắc tuyến Tuyến
bị giãn, biến đổi thành phần lipid của chất tiết Các vi khuẩn như: P.acnes,Staphylococcus… tiết ra men hủy lipid, làm biến đổi các acid béo, gây mất ổnđịnh màng phim nước mắt Viêm bờ mi sau thường được coi là một tình trạngviêm dai dẳng và mạn tính hơn viêm bờ mi trước Ngoài ra, người ta cũng tìmthấy vai trò của Demodex folliculorum brevis trong bệnh sinh của viêm bờ misau
1.2.4.1 Triệu chứng cơ năng
Thường xảy ra ở cả hai mắt và đối xứng, tương đối giống nhau giữa các dạngviêm bờ mi, bao gồm: Kích thích, ngứa, châm chích, cảm giác nóng rát, cộmxốn, chảy nước mắt, đỏ mắt, sợ ánh sáng, mỏi mắt, khó mở mắt,….Các triệuchứng thường có xu hướng nặng hơn vào buổi sáng Tuy nhiên, mức độ nghiêmtrọng của các triệu chứng cơ năng thường không tương xứng với dấu hiệu thựcthể trên lâm sàng
1.2.4.2 Triệu chứng thực thể
Bảng 1.1: Tóm tắt các đặc điểm của viêm bờ mi thường gặp
sauStaphylococca Bã nhờn
Trang 15Mụntrứng cá
Viêm bờ mi do tụ cầu: được đặc trưng bởi sự sưng đỏ và phù nề của viền mimắt, kèm theo đó là mất lông mi, lông xiêu, đây là những dấu hiệu hiếm gặp đốivới các loại viêm bờ mi khác [3] Ngoài ra có thể có giãn mạch mi, vảy cứngbao quanh gốc lông mi, viêm kết mạc nhú, mất ổn định màng phim nước mắt vàthay đổi giác mạc (thâm nhiễm,u nhú) Trong trường hợp nghiêm trọng và lâudài, loét mí mắt và sẹo giác mạc có thể xảy ra [4]
Viêm bờ mi bã nhờn: được phân biệt với viêm bờ mi tụ cầu bởi ít sưng đỏ, ítphù nề và giãn mạch hơn nhưng tăng tiết nhờn và có lớp vảy mềm trên lông mi[3], [12]
Viêm bờ mi sau do bài tiết của tuyến meibomian quá mức và bất thường,biểu hiện bởi các giọt dầu phủ ở lỗ tuyến Ngoài ra còn có dấu hiệu lỗ tuyếndạng nang do tắc tuyến, mạch máu cương tụ và giãn ở bờ mi sau Khi đè lên bờ
mi có thể thấy chất tiết tuyến chảy ra đục hoặc giống như kem đánh răng Trongmột số trường hợp khi lật mi sẽ thấy sự mất tuyến và giãn nở của ống tuyến
Hình 1.2.Viêm bờ mi trước (Nguồn: Kanski's Clinical Ophthalmology: A
Systematic Approach 9th Edition)
Trang 16meibomian Màng phim nước mắt chứa nhiều dầu và bọt, không ổn định và bọtthường đọng ở bờ mi hoặc góc mắt trong.
Hình 1.3.Viêm bờ mi sau (Nguồn: Kanski's Clinical Ophthalmology:
A Systematic Approach 9th Edition) A- Giọt dầu phủ lỗ tuyến B- Lỗ tuyến dạng nang
Trang 17B- Chất tiết dạng kem đánh răng D- Bọt đọng ở bờ mi
Tổ chức Nhãn khoa Quốc tế (ICO) đã ban hành hướng dẫn chẩn đoán viêm
bờ mi (năm 2008) với các đánh giá dựa vào dấu hiệu của viêm bờ mi theo cácmức độ [17]:
- Mức độ quan trọng
A: Quan trọng nhất; B: Quan trọng vừa; C: Có ích nhưng không thiết yếu
- Mức độ tin cậy
I: độ tin cậy cao (là kết quả các nghiên cứu ngẫu nhiên, kiểm chứng)
II: độ tin cậy vừa (là kết quả các nghiên cứu kiểm chứng, tiến cứu, đa trung tâm)III: đồng thuận (là kết quả báo cáo ca điển hình, mô tả, ý kiến của nhóm chuyêngia)
Khám lần đầu
a- Hỏi bệnh sử
- Các triệu chứng và dấu hiệu tại mắt (A:III)
- Thời gian các triệu chứng nặng lên trong ngày (A:III)
- Mức độ kéo dài của các triệu chứng (A:III)
- Tổn thương ở một mắt hay cả hai mắt (A:III)
- Các yếu tố làm nặng thêm (ví dụ: khói thuốc, các chất gây dị ứng, gió, kínhtiếp xúc, khí hậu khô, thực đơn nhất định, rượu, mỹ phẩm) (A:III)
- Triệu chứng liên quan đến các bệnh toàn thân (ví dụ: hội chứng trứng cá đỏ,
dị ứng) (A:III)
- Các thuốc dùng tại chỗ và toàn thân đã dùng và đang dùng (A:III)
Trang 18- Tiếp xúc gần đây với các bệnh nhân khác (ví dụ: bệnh chấy rận) (C:III)
- Tiền sử nhãn khoa (ví dụ: phẫu thuật mi mắt hoặc nội nhãn đã thực hiện, cácchấn thương khác, bao gồm cả chấn thương cơ giới, bỏng nhiệt, hoá chất vàtia xạ) (A:III)
- Bệnh sử toàn thân (ví dụ: các bệnh da liễu như hội chứng trứng cá đỏ, cácbệnh dị ứng và zona mắt) (A:III)
- Có thể cần làm xét nghiệm nuôi cấy vi khuẩn (NCVK) cho những bệnh nhân
bị viêm bờ mi trước nặng, tái phát và những bệnh nhân không đáp ứng điềutrị (A:III)
Trang 19- Cần làm sinh thiết bờ mi để loại trừ carcinoma khi tổn thương 2 bên khôngđều, không đáp ứng điều trị hoặc chắp tái phát cùng chỗ không đáp ứng điềutrị tốt (A:II)
- Cần hội chẩn bác sỹ giải phẫu bệnh trước khi làm sinh thiết loại trừ ung thưtuyến bã (A:II)
Tái khám
- Diễn biến bệnh (A:III)
- Thị lực (A:III)
- Thăm khám ngoài (A:III)
- Khám trên đèn khe (A:III)
- Nếu có khô mắt , dùng nước mắt nhân tạo không chất bảo quản 4-8 lần/ ngày
- Nếu nặng, dùng thêm mỡ erythromycin hoặc azithromycin khi ngủ
- Viêm tuyến Meibomian không đáp ứng có thể điều trị bằng thuốc mỡ khángsinh steroid ( tobramycin 0,3%/dexametheson 0,1% 2-3 lần/ngày) Cũng cóthể dùng Doxycyclin 100 mg/ngày uống 1-2 tuần, sau đó giảm dần dến ¼liều và duy trì trong 3-6 tháng, hoặc uống Azithromycin 500mg/ngày x3ngày trong 3 chu kỳ cách nhau 7 ngày (Lưu ý: các chất dẫn Tetracylin nhưDoxycyclin không được dùng cho phụ nữ có thai, cho con bú và trẻ em < 8
Trang 20tuổi, trong trường hợp này có thể thay thế bằng erythromycin 200mg uống 2lần/ngày)
- Có thể uống bổ sung axit béo omega 3 và nhỏ mắt cyclosporin 0,05% 2lần/ngày
- Nếu nghi nhiễm Demodex, dùng giấy lau bờ mi có dầu tràm trà hoặc thuốclàm sạch bờ mi có chứa axit hypochloro trong tối thiểu 6 tuần
- Nếu đáp ứng kém, có thể điều trị bằng máy LipiFlow, máy laser ánh sángdạng xung, máy làm sạch vẩy bờ mi và thông tuyến Meibomian
c- Theo dõi [18]
Theo dõi 2 - 4 tuần tùy mức độ triệu chứng Vệ sinh bờ mi và chườm nóng
có thể giảm xuống mỗi ngày một lần nếu tình trạng cải thiện nhưng có thể cầnduy trì vô thời hạn
d- Tư vấn [17]
- Tư vấn bệnh nhân về đặc điểm mãn tính và tái phát của bệnh này
- Cho bệnh nhân biết rằng các triệu chứng có thể cải thiện nhưng ít khi khỏihẳn
- Chuẩn bị tinh thần cho bệnh nhân về tình huống khi chườm ấm và vệ sinh
mi mắt có hiệu quả thì các triệu chứng vẫn có thể tái phát nếu ngừng điều trịnên có thể cần điều trị lâu dài
1.3 Tình trạng viêm bờ mi
1.3.1 Trên thế giới
Về dịch tễ và đặc điểm lâm sàng của viêm bờ mi, trong nghiên cứu củaMaurílio Roriz Dias và cộng sự (2019) cho thấy tuổi trung bình của bệnh nhânviêm bờ mi là 67,4 tuổi (từ 18 đến 91; SD 11,7 tuổi) Nữ giới chiếm tỷ lệ 56,4%
và nam giới chiếm 43,5% Liên quan đến mức độ nghiêm trọng thì có hơn một
Trang 21nửa bệnh nhân bị viêm bờ mi nhẹ (chiếm 56,8%), có 52 trường hợp là trungbình (41,6%) và 2 trường hợp nặng (1,6%) [1] Trong một nghiên cứu khác củaMathers và cộng sự (1991) thì trong 57 bệnh nhân có triệu chứng viêm bờ mimạn có đến 42 bệnh nhân (74%) có bằng chứng mất tuyến meibomian [5] Vềmặt điều trị, Adenis và cộng sự (1996) đã thực hiện một nghiên cứu để đánh giáhiệu quả lâm sàng của ciprofloxacin so với tobramycin trên đối tượng bị viêm
bờ mi Nghiên cứu tiến hành trên 464 bệnh nhân, trong đó 230 người được điềutrị bằng ciprofloxacin và 234 người còn lại điều trị với tobramycin Trên lâmsàng, hơn 80% bệnh nhân ở cả hai nhóm điều trị đã được chữa khỏi hoặc cảithiện sau 7 ngày Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm điềutrị [19] Hay trong nghiên cứu của Luchs (2008) cũng chỉ ra rằng sử dụng dungdịch Azithromycin nhỏ mắt 1% kết hợp với chườm ấm mang lại lợi ích lâm sànglớn hơn đáng kể so với chườm ấm đơn thuần trong điều trị các dấu hiệu và triệuchứng của viêm bờ mi sau [20] Trong 5 năm trở lại đây, các nghiên cứu vềviêm bờ mi trên thế giới tập trung chủ yếu vào tìm hiểu về căn nguyên gây bệnhmới nổi là Demodex và thử nghiệm các phương pháp điều trị mới hi vọng có thểgiải quyết được bệnh lý này hiệu quả hơn Như trong nghiên cứu thực nghiệmngẫu nhiên có đối chứng của M Arrua vào năm 2015 trên 45 bệnh nhân (67%nữ; Tuổi trung bình: 40,5 tuổi) được chẩn đoán mắc bệnh viêm bờ mi mãn tính,nhằm so sánh hiệu quả của ba lựa chọn điều trị Nhóm 1: vệ sinh mi mắt bằngdầu gội trung tính 3 lần/ ngày; nhóm 2: vệ sinh mi mắt bằng dầu gội trung tínhkết hợp bôi gel metronidazol 0,75% x 2 lần / ngày; nhóm 3: vệ sinh mi mắt bằngdầu gội trung tính kết hợp với neomycin 3,5%, thuốc mỡ kháng sinh polymyxin10% và dexamethasone 0,5% x 3 lần / ngày Kết quả là các dấu hiệu và triệuchứng được cải thiện đáng kể ở cả 3 nhóm điều trị Trong đó nhóm 1 và 2 có cảithiện nhiều hơn trong tất cả các biến được nghiên cứu (P <0,05), nhóm 3 không
có cải thiện lâm sàng về ngứa (P = 0,16), khô mắt (P = 0,29), lông mi rụng (P =0,16) ), và ban đỏ ở rìa mí mắt (P = 29)[21] Vào năm 2019, Safonova đã tiến
Trang 22hành nghiên cứu để đánh giá hiệu quả của NSAID - 0,09% bromfenac trongđiều trị viêm bờ mi mạn tính không do nguyên nhân nhiễm trùng Nghiên cứubao gồm 37 bệnh nhân (74 mắt), 31 nữ (62 mắt) và 6 nam (12 mắt) bị viêm bờ
mi mạn tính Tất cả các bệnh nhân đều được khám lâm sàng, đo chức năng vàlàm xét nghiệm Điều trị cho bệnh nhân của nhóm chính bao gồm nhỏ thuốcbromfenac 0,09% ('Broxinac', Sentiss, Ấn Độ) một lần mỗi ngày và nước mắtnhân tạo có thành phần lipid 3 lần một ngày trong 30 ngày Bệnh nhân trongnhóm chứng chỉ được sử dụng nước mắt nhân tạo có thành phần lipid 3 lần mỗingày trong 30 ngày Việc theo dõi bao gồm các cuộc kiểm tra sau một tuần, một
và hai tháng Kết quả đáp ứng lâm sàng tích cực hơn sau điều trị bằng thuốcbromfenax 0,09%[22] Trong một nghiên cứu khác của Tanriverdi được thựchiện vào năm 2018 với mục đích điều tra sự hiện diện của Demodex trong cáctrường hợp viêm bờ mi mạn tính kháng trị liệu Trong 153 trường hợp được đưavào nghiên cứu có 79 (51,6%) đối tượng là nam và 74 đối tượng (48,4%) là
nữ Tuổi trung bình là 43,1 ± 9,7 tuổi Sự hiện diện của Demodex acari trongcác nang lông mi ở bệnh nhân viêm bờ mi mạn tính được tìm thấy trong 69trường hợp (45,1%)[23]
Trong nghiên cứu của Trần Thị Minh (2016) trên nhóm 36 bệnh nhân viêm
bờ mi do nấm cho thấy tuổi trung bình của nhóm đối tượng là 48,08 ± 11,429;
đa phần là phụ nữ (88,9%) Các triệu chứng cơ năng thường gặp là ngứa mi mắt(100%), chảy tiết tố (22,2%) và đau nhức mắt (13,%) Tỷ lệ gặp của các dấuhiệu thực thể giảm dần từ rụng lông mi (86,7%), mụn mủ mi ( 80,6%), lông xiêu(72,2%), cương tụ mi (63,9%), khô mắt (37,5%), quặm mi 25%, loét bờ mi13,9%, tăng sản và u nhú 2,8% Kết quả điều trị khỏi bệnh khoảng 60%, do tínhchất không ổn định nên tỷ lệ tái phát cao [9] Hay trong nghiên cứu gần đây nhấtcủa Phạm Ngọc Đông và cộng sự (2019) về viêm bờ mi do Demodex cho thấy
Trang 23bệnh chủ yếu gặp ở nữ giới, tỷ lệ bệnh thường gặp cao nhất ở nghề nghiệp lànông dân, nông thôn gặp nhiều hơn thành thị Về triệu chứng cơ năng thì bệnhthường khởi phát bằng những triệu chứng nhẹ nhàng, kéo dài, hầu hết các bệnhnhân viêm bờ mi do Demodex đều có ngứa mi, cộm mắt, chảy nước mắt, bỏngrát mi, dính 2 mi Tổn thương da mi biểu hiện bằng vẩy gầu hình trụ điển hìnhchiếm tỷ lệ (100%), hay gặp nhất là vẩy gầu độ 2 (78,8%), độ 1 (19,9%), độ 3 ítnhất (1,4%) Tổn hại hàng chân lông mi khá thường gặp: bệnh nhân có lông mirụng chiếm tỷ lệ cao nhất (53,4%), lông mi mọc bất thường (49,3%) [10].
2 Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Những bệnh nhân được khám và chẩn đoán viêm bờ mi tại khoa Mắt bệnhviện đa khoa thành phố Vinh trong thời gian từ tháng 2 năm 2020 đến tháng 8năm 2020
Bệnh nhân được chẩn đoán viêm bờ mi
Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu
Bệnh nhân đang mắc các bệnh toàn thân nặng: cao huyết áp, tim mạch, đáitháo đường giai đoạn nặng
Bệnh nhân có kèm theo bệnh khác của mắt cần điều trị: glôcôm, bong võngmạc, viêm màng bồ đào…
Trang 242.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu cắt ngang tiến cứu
Chọn mẫu thuận tiện
Bảng thị lực
Máy sinh hiển vi khám bệnh
Nhuộm Fluoresceine
Các phương tiện hỗ trợ khác
Được thực hiện theo quy trình sau:
Trang 252.2.4.1 Khám sàng lọc bệnh nhân và đánh giá triệu chứng lâm sàng
Bệnh nhân được hỏi bệnh trực tiếp, thăm khám chức năng, khám sinh hiển
vi, kết quả được ghi lại sau mỗi lần tái khám để theo dõi tiến triển và hiệu quảđiều trị
Thông tin trong lần thăm khám ban đầu
- Hỏi bệnh sử: thời gian khởi phát, các triệu chứng chủ quan tại mắt, mức độ,tần suất xuất hiện của triệu chứng, các yếu tố làm tăng hoặc giảm triệuchứng, các triệu chứng toàn thân kèm theo, hậu quả ảnh hưởng đến sinh hoạt,công việc hàng ngày, các thuốc đã dùng
- Hỏi tiền sử: Số lần đã đi khám mắt, tiền sử chẩn đoán, phương pháp điều trị,kết quả điều trị, tiền sử bệnh lý về mắt và các bệnh toàn thân khác
- Đo thị lực: Thử từng mắt một, không kính Đo thị lực bằng bảng Snellen,khoảng cách 5m
Bảng 2.1.Đánh giá triệu chứng cơ năng theo các mức độ
xốn Không Thỉnh thoảng
Vài lần trongngày Thường xuyên
Trang 26Ngứa mắt Không Thỉnh thoảng Vài lần trongngày Thường xuyên
Sợ ánh sáng Không Khi có kíchthích mạnh Kích thích nhẹ Thường xuyên
Nhìn mờ Không Thỉnh thoảng,chớp mắt hết Vài lần trongngày, tự hết Thường xuyên,liên tục
- Khám toàn thân
- Khám mắt bằng kính sinh hiển vi: các dấu hiệu thường gặp:
+ Lông mi: rụng, chân lông mi có nhiều vảy nhỏ dễ bong tróc, nang lông mi,lông mi mọc sai vị trí, lông quặm, lông xiêu
+ Cương tụ mi: giãn mạch bờ mi,bờ mi tấy đỏ, sung huyết từng vùng hay toànbộ
+ Bờ mi ẩm ướt, đóng vẩy, mưng mủ, giọt dầu đọng ở lỗ tuyến meibomian, tắctuyến, giãn và mất tuyến, ấn có chất tiết đục chảy ra
+ Các biến chứng: chắp lẹo
+ Viêm giác mạc chấm, loét giác mạc
+ Khô mắt ( Nhuộm flouresecin đánh giá TBUT), tạo bọt đọng ở mi mắt
Thông tin trong các lần tái khám
- Diễn biến bệnh: Các triệu chứng khỏi hoàn toàn, giảm đi hay không đổi,triệu chứng nào còn, triệu chứng nào mất, có xuất hiện thêm triệu chứng nào
- Đo thị lực và khám lại tương tự như lần khám đầu
2.2.4.2 Đánh giá nguyên nhân
Trong nghiên cứu này, chúng tôi không tiến hành nuôi cấy chất tiết mà chỉđánh giá viêm bờ mi do nguyên nhân nhiễm trùng, tăng tiết bã (trong viêm bờ
mi trước) hay do tắc tuyến meibomian thông qua khám lâm sàng
Trang 27Bảng 2.2.Triệu chứng thực thể thường gặp của viêm bờ mi
Triệu chứng thường gặpViêm bờ mi trước
Cơ địa da tăngtiết nhờn
Bờ mi sau giãnmạch, giọt dầu phủ
lỗ tuyến, tắc tuyếndạng nang, mấttuyến meibomian
Có thể có chắpKhô mắt nhiềuViêm giác mạc chấmthường gặp
+ Với các trường hợp tắc tuyến Meibomian, tiến hành nặn tuyến bờ mi để giảiphóng chất tiết ứ đọng, sau đó dùng tăm bông tẩm thuốc mỡ Tetracyclin đánh bờ
mi theo chiều từ ngoài vào trong 2-3 lần
- Hướng dẫn vệ sinh mắt tại nhà:
+ Thực hiện vệ sinh bờ mi 2 lần/ngày: Đầu tiên, đắp gạc ẩm lên bờ mi trong vàiphút để làm mềm vảy, sau đó cọ nhẹ nhàng bờ mi bằng tăm bông hoặc khăn mặtsạch nhúng trong dung dịch chứa dầu gội trẻ em pha loãng
Trang 28+ Chườm ấm trong 10-15 phút, 2-4 lần/ngày để làm tăng nhiệt độ nóng chảy củachất tiết tuyến Meibomian, do đó làm mềm và tăng thoát chất tiết, giảm ứ đọng+ Tuyệt đối không dùng tay chà xát mạnh bờ mi, không dụi mắt, đồng thời trướckhi tiến hành các thủ thuật trên phải vệ sinh tay sạch sẽ bằng xà phòng
Trường hợp không đáp ứng điều trị trên có thể cho thêm:
+ Mỡ Tobradex tra 2 lần /ngày trong 1 tuần
+ Doxycyclin 100mg uống mỗi lần 1 viên, 2 lần/ngày trong 1 tuần
Theo dõi và tái khám
- Chúng tôi tiến hành theo dõi kết quả điều trị tại thời điểm ngày thứ 7 và ngàythứ 14 sau điều trị
- Đánh giá kết quả điều trị: theo ba mức độ khỏi, đỡ và không đỡ
a Khỏi khi:
Trang 29- Hết triệu chứng cơ năng
- Hết các dấu hiệu thực thể
b Đỡ khi:
- Giảm cơ bản triệu chứng cơ năng
- Giảm cơ bản các dấu hiệu thực thể
c Không đỡ khi:
- Triệu chứng cơ năng không giảm hoặc chỉ giảm nhẹ
- Các dấu hiệu thực thể giảm nhẹ hoặc không giảm
2.2.5 Phương pháp thu thập số liệu
Phỏng vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi và khám lâm sàng
Thu thập kết quả nghiên cứu và xử lý với phần mềm SPSS 22.0
Trang 303 Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu của chúng tôi tiến hành trên 125 bệnh nhân ( 245 mắt bị bệnh trong đó 120 bệnh nhân bị bệnh ở cả 2 mắt và 5 bệnh nhân bị bệnh ở 1 mắt) cókết quả như sau:
-3.1 Đặc điểm chung của đối tượng tham gia nghiên cứu
3.1.1 Phân bố theo tuổi và giới
Bảng 3.3 Phân bố tuổi, giới
Nhận xét: Đối tượng nghiên cứu có tỷ lệ nữ giới (52%) cao hơn so với nam giới
(48%) Về nhóm tuổi, ở cả hai giới thì đối tượng từ 40 – 79 chiếm tỷ lệ cao nhất(Nam : 36,8%, Nữ: 40%), nhóm có độ tuổi ≥ 80 có tỷ lệ thấp nhất (Nam 4%, Nữ3,2%) Những sự khác biệt trên chưa có ý nghĩa thống kê (p <0,05)