1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Giáo án Ngữ văn 8 - Tuần 26 - Lò Điệp Hồng - THCS Tô Hiệu

20 59 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 285,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu: Tiếp tục gúp HS: a Về kiến thức: Cảm nhận được lòng yêu nước bất khuất của Trần Quốc Tuấn, của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm thể hiện qua lòng căm thù[r]

Trang 1

TUẦN 26 NGỮ VĂN – BÀI 23 Kết quả cần đạt

- Cảm nhận được tinh thần yêu nước của tác giả Trần Quốc Tuấn thể hiện

qua lòng căm thù giặc sâu sắc và ý chí quyết chiến, quyết thắng kẻ thù xâm

lược Thấy được đặc sắc nghệ thuật văn chính luận của bài Hịch tướng sĩ.

- Nắm được khái niệm hành động nói và một số kiểu hành động nói

thường gặp

- Qua giờ trả bài, củng cố toàn bộ kiến thức về văn bản thuyết minh

Ngày soạn: 19/2/2011 Ngày dạy: 21/02/2011 Dạy lớp: 8B

Tiết 93, 94 V ăn bản:

HỊCH TƯỚNG SĨ

Trần Quốc Tuấn

1 Mục tiêu:

a) Về kiến thức: Cảm nhận được lòng yêu nước bất khuất của Trần Quốc

Tuấn, của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm thể hiện qua lòng căm thù giặc, tinh thần quyết chiến, quyết thắng kẻ thù xâm lược

Nắm được đặc điểm cơ bản của thể hịch Thấy được đặc sắc nghệ thuật

văn chính luận của Hịch tướng sĩ.

b) Về kĩ năng: Biết vận dụng bài học để viết văn nghị luận, có sự kết hợp

giữa tư duy lô gíc và tư duy hình tượng, giữa lí lẽ và tình cảm

c) Về thái độ: Giáo dục học sinh tình cảm yêu nước, lòng tự hào về truyền

thống yêu nước bất khuất của dân tộc

2 Chuẩn bị của GV và HS:

a) Chuẩn bị của GV: Nghiên cứu sgk, sgv, Bình giảng văn 8, Thiết kế bài

học Ngữ văn theo hướng tích hợp; Nâng cao ngữ văn THCS; soạn giáo án

b) Chuẩn bị của HS: Đọc và suy nghĩ trả lời các câu hỏi phần Đọc - Hiểu

văn bản (sgk – tr 61)

3 Tiến trình bài dạy:

* Ổn định tổ chức:

- Kiểm tra sĩ số lớp 8B: ……/17 Vắng: ………

- Lớp phó học tập báo cáo việc học bài và chuẩn bị bài của các bạn

a) Kiểm tra bài cũ: Miệng (5 phút)

* Câu hỏi: Em hiểu thế nào về thể chiếu? Nêu nét nghệ thuật và nội dung của văn bản Chiếu dời đô?

Trang 2

* Đáp án - Biểu điểm:

- Chiếu là thể văn do vua dùng để ban bố mệnh lệnh Chiếu có thể viết bằng văn vần, văn xuôi hoặc văn biền ngẫu, được công bố và đón nhận một cách

trang trọng (3 điểm)

- Chiếu dời đô phản ánh khát vọng của nhân dân về một đất nước độc

lập, thống nhất, đồng thời phản ánh ý chí tự cường của dân tộc Đại Việt đang trên đà lớn mạnh Bài chiếu có sức thuyết phục mạnh mẽ vì nói đúng được ý

nguyện của nhân dân, có sự kết hợp hài hoà giữa lí và tình (7 điểm)

* Đặt vấn đề vào bài mới: (1 phút) Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử

của một dân tộc có truyền thống anh dũng đấu tranh chống ngoại xâm Ngược dòng lịch sử vào thời điểm trước cuộc kháng chiến chống quân Mông Nguyên lần thứ hai (1285) chúng ta sẽ thấy rõ truyền thống đó qua văn bản Hịch tướng sĩ của người anh hùng dân tộc Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn

(GV ghi tên bài dạy)

b) Dạy nội dung bài mới:

I Đọc và tìm hiểu chung (15 phút)

1 Giới thiệu tác giả, tác phẩm.

HS: Đọc phần chú thích  sgk (58).

TB: Nêu những hiểu biết của em về Trần Quốc Tuấn?

- Trần Quốc Tuấn (1231? - 1300), tước Hưng Đạo Vương là một danh tướng kiệt xuất của dân tộc Nhân dân tôn thờ ông là Đức Thánh Trần và lập đền thờ ở nhiều nơi trên đất nước Ông là người có phẩm chất cao đẹp, có tài năng văn võ song toàn, có công lớn lao trong cuộc kháng chiến chống Mông – Nguyên lần thứ hai (1285) và lần thứ ba (1287 - 1288).

GV: Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta ở thế kỉ XIII Trần

Quốc Tuấn nổi bật là một con người có phẩm chất cao đẹp, là người có tài năng văn võ song toàn, là người có công lớn lao trong các cuộc kháng chiến chống Mông – Nguyên lần thứ hai và thứ ba Ông là con của An Sinh Vương Trần Liễu, tước Hưng Đạo Vương Ngay từ nhỏ, ông đã được mọi người yêu mến bởi

sự thông minh, dũng cảm, biết làm thơ và đánh võ Năm 1257 lần đầu tiên quân Mông – Nguyên sang xâm lược nước ta, ông đã được cử cầm quân trấn giữ biên thuỳ phía Bắc Hai lần sau năm 1825 và 1827 quân Mông – Nguyên lại đem binh xâm lược nước ta, ông lại được Trần Nhân Tông cử làm Tiết chế thống lĩnh các đạo quân, cả hai lần đều thắng lợi vẻ vang Trần Quốc Tuấn yêu người hiền, trọng kẻ sĩ, môn khách của ông có những người nổi tiếng như Phạm Ngũ Lão, Trương Hán Siêu, Dã Tượng,… Đời Trần Anh Tông ông về trí sĩ ở Vạn Kiếp (nay là xã Hưng Đạo, huyện Chí Linh, Hải Dương) rồi mất ở đó Nhân dân tôn thờ ông là Đức Thánh Trần và lập đền thờ ở nhiều nơi trên đất nước

- Trần Quốc Tuấn là tấm gương sáng về lòng trung nghĩa, đặt lợi ích quốc gia lên trên quyền lợi gia đình Ông là người rộng lượng mến trọng người tài Trần

Trang 3

Quốc Tuấn có một nhân cách vĩ đại nhất của thời “Sát thát Bình Nguyên” ở cả

ba phương diện: đức cả (yêu nước, thương dân, khoan hoà, độ lượng); tài cao (trí dũng song toàn, điều binh khiển tướng, thuật binh thư); công huân hiển hách (chiến tích lẫy lừng trong ba cuộc kháng chiến)

KH: Thể hịch có gì khác thể chiếu?

- Hịch là thể văn nghị luận thời xưa, thường được vua chúa, tướng lĩnh hoặc

thủ lĩnh một phong trào dùng để cổ động, thuyết phục hoặc kêu gọi đấu tranh chống thù trong giặc ngoài.

GV: Vốn xưa đó là những bài diễn thuyết quân sự gọi là “thệ” Từ “hịch” xuất

hiện lần đầu thời chiến quốc Hịch còn gọi là “lộ bố” nghĩa là văn bản để lộ, không phong, để cho mọi người cùng đọc

Mục đích của hịch là khích lệ tinh thần, tình cảm Hịch có kết cấu chặt chẽ, có

lí lẽ sắc bén, dẫn chứng thuyết phục, giọng văn hùng hồn đanh thép Hịch thường được viết theo thể biền ngẫu Kết cấu của bài hịch có thể thay đổi linh hoạt tuỳ theo mục đích và nghệ thuật lập luận của tác giả Tuy nhiên bài hịch kêu gọi đánh giặc thường gồm 4 phần: phần mở đầu có tính chất nêu vấn đề; phần thứ hai nêu truyền thống vẻ vang trong sử sách để gây lòng tin tưởng; phần thứ ba nhận định tình hình, phân tích phải trái để gây lòng căm thù giặc; phần kết thúc nêu chủ trương cụ thể và kêu gọi đấu tranh

TB: Trần Quốc Tuấn viết bài hịch vào thời điểm nào?

- “Hịch tướng sĩ” được viết vào khoảng trước cuộc kháng chiến chống

quân Mông – Nguyên lần thứ hai năm (1285).

GV: Theo “Biên niên lịch sử cổ trung đại Việt Nam” (xuất bản năm 1987) thì

bài hịch này được công bố vào tháng 9/1284 tại cuộc duyệt binh ở Đông Thăng Long Trong ba cuộc kháng chiến chông Mông – Nguyên thời Trần thì cuộc kháng chiến lần thứ hai là gay go, quyết liệt nhất Giặc cậy thế mạnh ngang ngược, hống hách Ta sôi sục căm thù quyết tâm chiến đấu nhưng trong hàng ngũ tướng sĩ cũng có người dao động, có tư tưởng cầu hòa Để cuộc chiến đấu giành thắng lợi, điều quan trọng là phải đánh bại những tư tưởng dao động bàng quan, phải giành thế áp đảo cho tư tưởng quyết chiến, quyết thắng Vì vậy tư

tưởng chủ đạo của bài Hịch tướng sĩ là nêu cao tinh thần quyết chiến, quyết

thắng Đây chính là thước đo cao nhất, tập trung nhất tinh thần yêu nước trong hoàn cảnh lúc bấy giờ

2 Đọc.

GV: Nêu yêu cầu đọc: Hịch tướng sĩ được viết chủ yếu bằng văn biền ngẫu,

ngôn ngữ không nặng nề khoa trương mà gần gũi, thân tình Điều này phù hợp với đối tượng và mục đích của bài hịch Đối tượng là tướng sĩ quan ta, là ta nói với ta; còn mục đích là đánh bại tư tưởng bàng quan, cầu an hưởng lạc, thái độ thờ ơ trước vận mệnh đất nước trong hàng ngũ tướng sĩ nghĩa là đánh bại kẻ thù trong ta Khi đọc cần đọc to, rõ ràng giọng điệu chuyển đổi cho phù hợp với nội dung từng đoạn: lúc sôi nổi, lúc răn dạy, lúc căm giận; lúc thân tình, thiết tha;

Trang 4

lúc mỉa mai, nghiêm khắc,… chú ý tính chất cân xứng, nhịp nhàng của câu văn biền ngẫu

- GV đọc một đoạn, gọi học sinh đọc, hs nhận xét; gv uốn nắn cách đọc cho học sinh

KH: Qua sự chuẩn bị bài cho biết bài hịch có thể chia làm mấy đoạn? Chỉ rõ

giới hạn và ý chính của mỗi đoạn?

- Bài hịch chia làm 4 đoạn (trên cơ sở kết cấu chung của bài hịch kêu gọi đánh giặc)

+ Đoạn 1: từ đầu đến “còn lưu tiếng tốt”: Nêu gương trung thần nghĩa sĩ trong sử sách để khích lệ ý chí lập công danh, xả thân vì nước

+ Đoạn 2: từ “Huống chi” đến “cũng vui lòng”: Lột tả sự ngang ngược và tội

ác của kẻ thù đồng thời nói lên lòng căm thù giặc

+ Đoạn 3: từ “Các ngươi ở cùng ta” đến “không muốn vui vẻ phỏng có được không”: phân tích phải trái, làm rõ đúng sai Đoạn này có thể chia làm hai đoạn nhỏ:

Từ “Các ngươi” đến “muốn vui vẻ phỏng có được không?”: nêu mối ân tình giữa chủ tướng và tướng sĩ, phê phán những biểu hiện sai trong hàng ngũ chiến sĩ

Từ “Nay ta bảo thật” đến “không muốn vui vẻ phỏng có được không”: khẳng định những hành động đúng nên làm để tướng sĩ thấy rõ điều hay, lẽ phải + Đoạn 4: phần còn lại: Nêu nhiệm vụ cấp bách, khích lệ tinh thần chiến đấu

GV: Kết cấu của bài Hịch tướng sĩ về cơ bản giống kết cấu chung của thể hịch

nhưng có sự thay đổi linh hoạt Tác giả không nêu phần đặt vấn đề riêng vì toàn

bộ bài hịch là nêu vấn đề và giải quyết vấn đề

II Phân tích (24 phút)

GV: Bài hịch khá dài mà chỉ học trong hai tiết nên chúng ta chỉ tập trung tìm

hiểu phần in chữ to (tức từ đoạn 2 đến đoạn 4)

TB: Đọc thầm lại đoạn 2 và nhắc lại nội dung chính của đoạn?

1 Tội ác của kẻ thù và thái độ của tác giả:

GV: Sau khi nêu những gương trung thần nghĩa sĩ trong sử sách để khích lệ ý

chí lập công danh, xả thân vì nước tác giả quay về với thực tế trước mắt, lột tả tội ác và sự ngang ngược của giặc, đồng thời nêu mối ân tình giữa chủ và tướng Mục đích là gì? Ta cùng tìm hiểu

TB: Tội ác và sự ngang ngược của kẻ thù được tác giả lột tả qua những chi tiết

nào?

HS phát hiện chi tiết, gv ghi bảng

Trang 5

- […] sứ giặc đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng

triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ,

+ đòi ngọc lụa, để thoả lòng tham khôn cùng,

+ thu bạc vàng, để vét của kho có hạn Thật khác nào như đem thịt mà nuôi

hổ đói,…

KH: Tác giả đã sử dụng biện pháp nghệ thuật nào để tố cáo tội ác của lũ giặc?

Phân tích để thấy được tác dụng của nghệ thuật ấy?

- Đoạn văn có giọng điệu sôi sục căm thù không đội trời chung với quân cướp nước Tội ác và sự ngang ngược của kẻ thù được lột tả bằng những hành động thực tế và qua cách diễn đạt bằng những hình ảnh ẩn dụ Kẻ thù tham lam, tàn bạo: đòi ngọc lụa, hạch sách bạc vàng, vét kiệt của kho có hạn, hung hãn như hổ đói Kẻ thù ngang ngược: đi lại nghênh ngang ngoài đường, bắt nạt tể phụ

- Kẻ thù tham lam, tàn bạo và sự ngang ngược của kẻ thù.

GV: Miêu tả sứ giặc “đi lại nghênh ngang ngoài đường” và những hình tượng

ẩn dụ “uốn lưỡi cú diều”, “đem thân dê chó”, gọi kẻ thù là “hổ đói”; tác giả bày

tỏ thái độ khinh bỉ và lòng căm giận kẻ thù một cách sâu sắc Hành động ngang ngược, bản chất tham tàn của kẻ thù được vạch trần bằng những hình ảnh sóng đôi nhau, vừa có giá trị miêu tả vừa giàu sức biểu cảm Những cụm động từ được đặt liên tiếp nhau trong câu văn biền ngẫu như xoáy sâu vào tâm trí của

người đọc, người nghe: uốn lưỡi; sỉ mắng; đem thân; bắt nạt; thác mệnh; đòi;

thoả; giả hiệu; mà thu; vét cho thấy nỗi đau, nỗi nhục khi thấy thể diện của quốc

gia, của dân tộc đang bị xúc phạm nặng nề Đồng thời qua đó tác giả đã sáng suốt nhìn thấy dã tâm xâm lược của kẻ thù: “Thật khác nào… sao cho khỏi tai vạ

về sau!” Những câu văn dồn chứa nỗi niềm của Trần Quốc Tuấn đã có tác dụng thức tỉnh tinh thần trách nhiệm và ý thức dân tộc trong tướng sĩ

TB: Theo em tác giả lột tả tội ác và sự ngang ngược của kẻ thù trong phần hai

của bài hịch để làm gì?

- Để khơi dậy lòng căm thù giặc, khích lệ tinh thần yêu nước của tướng sĩ

GV: Đúng vậy bởi ở đoạn hịch Trần Quốc Tuấn đã chỉ ra nỗi nhục lớn của mọi

người khi chủ quyền đất nước bị xâm phạm Thực tế lịch sử đã cho ta thấy rõ điều đó: Năm 1277, Sài Xuân đi sứ hắn buộc ta phải lên tận biên giới đón rước; năm 1281, Sài Xuân lại sang sứ nước ta, hắn cưỡi ngựa đi thẳng vào cửa Dương Minh, quân sĩ Thiên Trường ngăn lại, bị hắn lấy roi đánh toạc cả đầu; vua sai Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải ra đón tiếp; Xuân nằm khểnh không thèm dậy Từ thực tế ấy có thể thấy lời hịch của Trần Quốc Tuấn như lửa đổ thêm dầu vào lòng căm thù sứ giặc bạo ngược hung tàn

TB: Chú ý đoạn văn “Ta thường tới bữa… cũng vui lòng” Tìm chi tiết nói lên

lòng yêu nước, căm thù giặc của Trần Quốc Tuấn?

HS phát hiện chi tiết, gv ghi bảng

- Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối; ruột đau như cắt, nước mắt

đầm đìa; chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng.

Trang 6

KH: Hãy nhận xét về giọng điệu, cách sử dụng hình ảnh, cách diễn đạt của tác

giả ở đoạn này?

- Đoạn văn có giọng điệu tha thiết sôi sục, hừng hực như ngọn lửa yêu nước và căm thù giặc nhờ nhịp điệu nhanh dồn dập và cách đối của câu văn biền ngẫu Những hình ảnh trong văn chương cổ điển, biện pháp cường điệu được sử dụng

ở đây “nửa đêm vỗ gối; ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ căm tức chưa

xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa” không hề sáo mòn mà gợi được ý nghĩa thiêng liêng của nỗi đau xót, căm thù giặc và sự sẵn sàng hi sinh vì đất nước của vị chủ soái Người nghe là các tướng sĩ lại càng thấm thía trước những hình ảnh có sức lay động lớn như: “nuốt gan uống máu quân thù Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng”

KH: Phân tích lòng yêu nước, căm thù giặc của Trần Quốc Tuấn qua đoạn văn

này?

- Lòng yêu nước căm thù giặc của Trần Quốc Tuấn được thể hiện cụ thể: quên

ăn, mất ngủ, đau đớn đến thắt tim, thắt ruột Nỗi đau vò xé tâm can suốt đêm ngày được thể hiện một cách thấm thía trong những hình ảnh ẩn dụ, so sánh và cường điệu Câu đầu ngắt thành nhiều vế ngắn liên tiếp nhau như nhưng đợt sóng lòng không bao giờ dứt: “tới bữa quên ăn; nửa đêm vỗ gối ruột đau như cắt; nước mắt đầm đìa; xả thịt lột da, nuốt gan uống máu” Mỗi chữ, mỗi lời như chảy trực tiếp từ trái tim qua ngòi bút lên trang giấy Câu văn chính luận mà đã khắc hoạ thật sinh động hình tượng người anh hùng yêu nước: đau xót đến quặn lòng trước cảnh tình đất nước, căm thù giặc đến bầm gan tím ruột, mong rửa nhục đến mất ngủ quên ăn, vì nghĩa lớn mà coi thường xương tan, thịt nát Khi

tự bày tỏ khúc nhôi gan ruột, chính Trần Quốc Tuấn đã là một tấm gương yêu nước bất khuất có tác dụng động viên to lớn đối với tướng sĩ

TB: Từ sự phân tích em cảm nhận như thế nào về lòng yêu nước của Trần Quốc

Tuấn?

- Những câu văn biền ngẫu cân xứng, trùng điệp, ngắn gọn mà súc tích, giàu hình ảnh và cảm xúc đã diễn tả sâu sắc tinh thần yêu nước nồng nàn, lòng căm thù giặc sâu sắc và ý chí quyết tâm chiến đấu chống ngoại xâm của người anh hùng Trần Quốc Tuấn, phản ánh tinh thần yêu nước của cả dân tộc ở thời đại nhà Trần

* Trần Quốc Tuấn có lòng yêu nước nồng nàn, căm thù giặc sâu sắc và

ý chí quyết tâm chiến đấu, sẵn sàng xả thân vì giang sơn xã tắc.

c) Củng cố, luyện tập: (2 phút)

GV Khái quát lại toàn bộ nội dung đã học trong tiết học.

HS Đọc diễn cảm đoạn trích vừa phân tích

d) Hướng dẫn học sinh tự học ở nhà: (2 phút)

- Về nhà các em đọc kĩ lại văn bản, phân tích phần đã học trên lớp

- Đọc lại toàn bộ văn bản, Chuẩn bị tiếp phần còn lại, tiết sau tìm hiểu tiếp

Trang 7

Ngày soạn: 19/2/2011 Ngày dạy: 22/02/2011 Dạy lớp: 8B

Tiết 94 V ăn bản:

HỊCH TƯỚNG SĨ (Tiếp theo)

Trần Quốc Tuấn

1 Mục tiêu: Tiếp tục gúp HS:

a) Về kiến thức: Cảm nhận được lòng yêu nước bất khuất của Trần Quốc

Tuấn, của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm thể hiện

qua lòng căm thù giặc, tinh thần quyết chiến, quyết thắng kẻ thù xâm lược; thấy

được đặc sắc nghệ thuật văn chính luận của Hịch tướng sĩ.

b) Về kĩ năng: Biết vận dụng bài học để viết văn nghị luận, có sự kết hợp

giữa tư duy lô gíc và tư duy hình tượng, giữa lí lẽ và tình cảm

c) Về thái độ: Giáo dục học sinh tình cảm yêu nước, lòng tự hào về truyền

thống yêu nước bất khuất của dân tộc

2 Chuẩn bị của GV và HS:

a) Chuẩn bị của GV: Nghiên cứu sgk, sgv, Bình giảng văn 8, Thiết kế bài

học Ngữ văn theo hướng tích hợp; Sách nâng cao ngữ văn THCS; soạn giáo án

b) Chuẩn bị của HS: Học bài theo yêu cầu của GV; đọc và suy nghĩ trả lời

các câu hỏi phần Đọc - Hiểu văn bản (sgk – tr 61)

3 Tiến trình bài dạy:

* Ổn định tổ chức:

- Kiểm tra sĩ số lớp 8B: ……/17 Vắng: ………

- Lớp phó học tập báo cáo việc học bài và chuẩn bị bài của các bạn

a) Kiểm tra bài cũ: Miệng (5 phút)

* Câu hỏi: Em hiểu thế nào về thể chiếu? Nêu nét nghệ thuật và nội dung

của văn bản Chiếu dời đô?

* Đáp án - Biểu điểm:

- Chiếu là thể văn do vua dùng để ban bố mệnh lệnh Chiếu có thể viết

bằng văn vần, văn xuôi hoặc văn biền ngẫu, được công bố và đón nhận một cách

trang trọng (3 điểm)

- Chiếu dời đô phản ánh khát vọng của nhân dân về một đất nước độc

lập, thống nhất, đồng thời phản ánh ý chí tự cường của dân tộc Đại Việt đang

trên đà lớn mạnh Bài chiếu có sức thuyết phục mạnh mẽ vì nói đúng được ý

nguyện của nhân dân, có sự kết hợp hài hoà giữa lí và tình (7 điểm)

* Đặt vấn đề vào bài mới: (1 phút) Từ lòng căm thù giặc cháy bỏng đến

hành động giết giặc cứu nước là tất yếu Để các em hiểu rõ hơn trách nhiệm của

người chủ tướng trước vận mệnh của dân tộc ta tìm hiểu tiếp văn bản

(GV ghi tên bài dạy)

b) Dạy nội dung bài mới:

Trang 8

HS: Đọc đoạn từ “Các ngươi ở cùng ta … không muốn vui vẻ phỏng có được

không”

2 Phân tích phải trái, làm rõ đúng sai của các tướng sĩ:

GV: Ở đoạn này ta có thể chia làm hai đoạn nhỏ Các em chú ý đoạn từ “Các

ngươi ở cùng ta”… “muốn vui vẻ phỏng có được không”

TB: Cho biết ý chính của đoạn văn?

a Mối ân tình giữa chủ và tướng sĩ, phê phán những biểu hiện sai trong hàng ngũ tướng sĩ:

TB: Mối ân tình giữa Trần Quốc Tuấn với tướng sĩ được thể hiện qua những câu

văn nào?

HS: tìm chi tiết, gv ghi bảng.

- […] không có mặc thì ta cho áo, không có ăn thì ta cho cơm; quan nhỏ

thì ta thăng chức, lương ít thì ta cấp bổng; đi thuỷ thì ta cho thuyền, đi bộ thì ta cho ngựa; lúc trận mạc xông pha thì cùng nhau sống chết, lúc ở nhà nhàn hạ thì cùng nhau vui cười.

KH: Em có nhận xét như thế nào về mối quan hệ trên?

- Mối ân tình giữa Trần Quốc Tuấn và tướng sĩ dựa trên hai quan hệ: quan hệ chủ tướng và quan hệ cùng cảnh ngộ

TB: Mối quan hệ ân tình ấy đã khích lệ điều gì ở tướng sĩ?

- Quan hệ chủ tướng để khích lệ tinh thần trung quân ái quốc, còn quan hệ cùng cảnh ngộ để khích lệ lòng nhân nghĩa thuỷ chung của những người chung hoàn cảnh “lúc trận mạc xông pha thì cùng nhau sống chết, lúc ở nhà nhàn hạ thì cùng nhau vui cười” Nêu mối ân tình giữa mình và tướng sĩ, Trần Quốc Tuấn

đã khích lệ ý thức trách nhiệm và nghĩa vụ của mỗi người đối với đạo vua tôi cũng như đối với tình cốt nhục

GV: Mối quan hệ ân tình giữa chủ và tướng sĩ được tác giả biểu đạt qua một câu

văn dài có nhiều vế sóng đôi nhau tạo sự nhịp nhàng, cân xứng, nội dung diễn đạt Vì vậy dễ đi vào lòng người và tạo được sức thuyết phục lớn

KH: Tại sao ngay sau khi bày tỏ lòng mình, tác giả không phê phán ngay những

sai lầm của tướng sĩ mà lại nhắc lại cách cư xử của mình với tướng sĩ?

- Trước khi phê phán tướng sĩ Trần Quốc Tuấn nhắc lại những ân tình mình đã giành cho họ, điều này cho thấy Trần Quốc Tuấn không chỉ là vị chủ soái biết quan tâm đến thuộc hạ của mình mà còn là một con người gần gũi và gắn bó với tướng sĩ, đã cùng họ sống chết, vui buồn có nhau Hơn nữa còn tạo cơ sở cho sự khiển trách có lí, có tình và Trần Quốc Tuấn trách mắng, phê phán họ là xuất phát từ tình thương yêu họ, từ nghĩa lớn

TB: Tác giả đã phê phán những biểu hiện sai của tướng sĩ như thế nào?

- Nay các ngươi nhìn chủ nhục mà không biết lo, thấy nước nhục mà không

biết thẹn Làm tướng triều đình phải hầu quân giặc mà không biết tức; nghe nhạc thái thường để đãi yến nguỵ sứ mà không biết căm

+ lấy việc trọi gà làm vui đùa,

Trang 9

+ lấy việc đánh bạc làm tiêu khiển,

+ vui thú ruộng vườn hoặc quyến luyến vợ con,

+ lo làm giàu mà quên việc nước ,

+ ham săn bắn mà quên việc binh;

+ thích rượu ngon… mê tiếng hát.

Nếu có giặc Mông Thát tràn sang thì cựa gà trống không thể đâm thủng áo giáp của giặc, mẹo cờ bạc không làm không thể dùng làm mưu lược nhà binh; dẫu rằng ruộng lắm vườn nhiều, tấm thân quý ngàn vàng khôn chuộc,

+ tiền của tuy nhiều khôn mua được đầu giặc, chó săn tuy khoẻ khôn đuổi được quân thù; chén rượu ngon không thể làm cho giặc say chết, tiếng hát hay không thể làm cho giặc điếc tai.

+ Chẳng những thái ấp của ta không còn, mà bổng lộc các ngươi cũng mất; chẳng những gia quyến của ta bị tan, mà vợ con các ngươi cũng khốn; chẳng những xã tắc tổ tông ta bị giày xéo, mà phần mộ cha mẹ các ngươi cũng

bị quật lên; chẳng những thân ta kiếp này chịu nhục, rồi đến trăm năm sau, tiếng dơ khôn rửa, tên xấu còn lưu,

+ Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi muốn vui vẻ phỏng có được không?

KH: Hãy phân tích nghệ thuật lập luận đặc sắc của tác giả trong đoạn văn này?

- Đoạn văn sử dụng liên tiếp các câu văn biền ngẫu cùng giọng văn vừa là lời của vị chủ soái nói với tướng sĩ dưới quyền, vừa là lời của người cùng cảnh ngộ; chính vì vậy, cách nói có khi nghiêm khắc mang tính chất sỉ mắng, răn đe; có khi lại chân thành, tình cảm mang tính chất bày tỏ thiệt hơn Sử dụng lối điệp cấu trúc trong đoạn và câu hỏi tu từ Trần Quốc Tuấn vừa chân tình chỉ bảo vừa phê phán nghiêm khắc thái độ bàng quan trước vận mệnh của đất nước: “nhìn chủ nhục … không biết căm” Thái độ bàng quang không chỉ là tội thờ ơ nông cạn mà còn là sự vong ân bội nghĩa với ân tình của chủ tướng Sự ham chơi hưởng lạc không chỉ là vấn đề nhân cách cá nhân mà còn là sự vô trách nhiệm đến táng tận lương tâm khi vận mệnh đất nước đang “nghìn cân treo sợi tóc” Cái sai thứ hai là hành dộng hưởng lạc: “Hoặc lấy việc chọi gà …mê tiếng hát”, tác giả chỉ rõ những việc làm sai tưởng chừng nhỏ nhặt ấy lại dẫn đến những hậu quả tai hại khôn lường: Tất cả sẽ mất hết, từ cái chung đến cái riêng, từ chủ soái đến tướng sĩ, từ những cái cụ thể gần gũi là sinh mạng, vật chất, gia quyến vợ con… đến những cái trìu tượng, thiêng liêng là danh tiếng, xã tắc tổ tông, mộ phần cha mẹ

KH: Em có nhận xét gì về cách phê phán đó?

- Cách phê phán của tác giả cũng rất linh hoạt, có khi là nói thẳng, gần như sỉ mắng: “không biết lo, không biết thẹn, không biết tức, không biết căm” Có khi

là cách nói mỉa mai, chế giễu: “cụa gà trống … điếc tai” Điều đơn giản ấy trẻ con cũng biết được, mà các tướng sĩ lại hình như không biết… chính cách phê phán đó làm cho họ tức khí, muốn mau chóng chứng minh tài năng, phẩm chất của mình bằng việc làm thiết thực

Trang 10

* Trần Quốc Tuấn vừa chân tình chỉ bảo vừa phê phán nghiêm khắc

hành động hưởng lạc, thái độ thờ ơ, bàng quan trước vận mệnh đất nước của các tướng sĩ.

GV: Sau khi phê phán thái độ, hành động sai trái của các tướng sĩ, Trần Quốc

Tuấn đã chỉ rõ cho họ thấy những thái độ, hành động đúng nên theo, cần làm

b Khẳng định những hành động đúng nên làm để tướng sĩ thấy rõ điều hay

lẽ phải:

TB: Theo TQT những hành động đúng nên làm của tướng sĩ vào lúc đó là gì?

- […] nên nhớ câu “đặt mồi lửa vào dưới đống củi” là nguy cơ, nên lấy điều

“kiềng canh nóng mà thổi rau nguội” làm răn sợ Huấn luyện quân sĩ, tập dượt cung tên; khiến cho người người giỏi như Bàng mông, nhà nhà đều là Hậu Nghệ.

- Việc tướng sĩ nên làm lúc đó là nêu cao tinh thần cảnh giác, chăm lo “tập dượt cung tên; khiến cho người người giỏi như Bàng mông, nhà nhà đều là Hậu Nghệ”

TB: Nêu nhận xét của em về cách viết của tác giả trong đoạn văn?

- Trong đoạn văn tác giả dùng thủ pháp nghệ thuật so sánh tương phản và cách điệp từ, điệp ý tăng tiến Tác giả so sánh hai viễn cảnh, đầu hang thất bại thì mất tất cả, chiến đấu thắng lợi thì được cả chung lẫn riêng Từ lời văn dịch khá sát ta có thể thấy khi nêu viễn cảnh thất bại, TQT sử dụng những từ mang tính chất phr định: “không còn”, “cũng mất”, “bị tan”, “cũng khốn” Còn khi nêu viễn cảnh chiến đấu thắng lợi tác gỉa dùng những từ mang tính chất khẳng định:

“mãi mãi vững bền”, “đời đời hưởng thụ”, “không bị mai một”, “sử sách lưu thơm”

GV: Điều đáng lưu ý là trong khi sử dụng phương pháp so sánh tương phản, tác

giả rất hiểu quy luật nhận thức Cách điệp ngữ, điệp ý tăng tiến có tác dụng nêu bật vấn đề từ nhạt đến đậm, từ nông đến sâu Cứ từng bước, từng bước tác giả đưa người đọc nhận thấy rõ đúng sai, nhận ra điều phải trái

Đoạn văn này với đoạn văn trên đăng đối với nhau từ cách triển khai ý theo lối trùng điệp và tăng tiến cho đến từ ngữ, giọng điệu … tác động mạnh mẽ vào cả

lí trí lẫn tình cảm, tạo nên hiệu quả thuyết phục lớn lao

TB: Qua đoạn hịch trên TQT muốn nói điều gì với tướng sĩ?

* Trần Quốc Tuấn chỉ rõ cho tướng sĩ việc cần làm là nêu cao tinh thần

cảnh giác, chăm lo luyện tập võ nghệ nhằm quyết chiến thắng kẻ thù.

GV: Hai đoạn nhỏ trong đoạn 3 tác giả đều sử dụng cấu trúc: “chẳng những…

mà còn…” và kết thúc bằng một câu hỏi tu từ nhưng nội dung lại đối lập Đoạn thứ nhất kết thúc bằng một câu hỏi nhức nhối, thấm thía tận đáy lòng người nghe: “lúc bấy giờ dẫu các ngươi muốn vui vẻ phỏng có được không?” Đoạn thứ hai kết thúc bằng một câu hỏi sảng khoái: “lúc bấy giờ dẫu các ngươi không muốn vui vẻ phỏng có được không?”

TB: Đọc đoạn 4 và cho biết nội dung chính của đoạn?

Ngày đăng: 31/03/2021, 16:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w