1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Một số kinh nghiệm giải các bài toán điển hình lớp 4 bằng “phương pháp dùng sơ đồ đoạn thẳng

20 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 459,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tóm lại, để học sinh có thể giải các bài toán thành thạo bằng “Phương pháp dùng sơ đồ đoạn thẳng” trong việc giải toán thì việc giúp cho các em hiểu rõ nội dung của từng dạng toán sau đó[r]

Trang 1

PHỊNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO PHÙ CÁT

TRƯỜNG TIỂU HỌC CÁT HẢI

Đề tài:

MỘT SỐ KINH NGHIỆM GIẢI CÁC BÀI TỐN ĐIỂN HÌNH LỚP 4 BẰNG

“PHƯƠNG PHÁP DÙNG SƠ ĐỒ ĐOẠN THẲNG

Dạy tốt Học tốt

Trang 2

 Phần 1: MỞ ĐẦU

I LÍ DO:

rong dạy học toán ở tiểu học, giải toán chiếm vị trí đặc biệt

quan trọng Các bài toán được sử dụng để gợi động cơ tìm

hiểu kiến thức mới; giải toán được sử dụng để củng cố, luyện

tập kiến thức; giải toán giúp học sinh nâng cao năng lực tư duy của

học sinh Khi học giải toán, học sinh thực hành công việc của một

người làm toán

Vì vậy, một yêu cầu đặc biệt quan trọng đối với giáo viên tiểu học là

phải nắm chắc các bài toán cơ bản ở tiểu học, đồng thời phải có năng

lực giải các bài toán bồi dưỡng học sinh giỏi bằng phương pháp tiểu

học

Qua nhiều năm giảng dạy ở chương trình lớp 4 tôi thấy toán điển

hình chiếm một phần quan trọng lớn trong đề tài này tôi nghiên cứu

và thực hiện : Giải các bài toán điển hình lớp 4 bằng “ Phương pháp

dùng sơ đồ đoạn thẳng”

II NHIỆM VỤ ĐỀ TÀI:

Việc giải toán điển hình bằng “Phương pháp dùng sơ đồ đoạn

thẳng” là rất quan trọng vì “Sơ đồ đoạn thẳng” là một phương tiện

trực quan được sử dụng trong việc dạy, giải toán ngay từ lớp 1 bởi nó

đáp ứng được nhu cầu tăng dần mức độ trừu tượng trong việc cung

cấp các kiến thức toán học cho học sinh

Phương tiện trực quan thì có nhiều nhưng qua thực tế giảng dạy

tôi nhận thấy sơ đồ đoạn thẳng là phương tiện cần thiết, quan trọng và

hết sức hữu hiệu trong việc dạy giải toán (Một kỹ năng cần thiết nhất)

ở bậc tiểu học nói chung và ở các lớp cuối cấp nói riêng

III PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH:

Trong chương trình Toán 4 có các dạng toán điển hình sau:

+ Trung bình cộng : Tiết 22

+ Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó: Tiết 37

T

Trang 3

+ Tìm hai số khi biết tổng và tỉ của hai số đó: Tiết 138

+ Tìm hai số khi biết hiệu và tỉ của hai số đó: Tiết 142

Tiến hành nghiên cứu giảng dạy trong các tiết 22, 23, 37, 38, 138, 139,

140, 142, 143, 144

IV CƠ SỞ VÀ THỜI GIAN TIẾN HÀNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Để thực hiện đề tài trên tôi đã tiến hành áp dụng một số kinh nghiệm

mới trong giảng dạy các tiết theo chương trình và luyện tập thêm cho

học sinh lớp 4A năm học 2009 – 2010 tại trường Tiểu học Cát Hải,

Phòng GD – ĐT Phù Cát

 Phần 2: KẾT QUẢ

- -I MÔ TẢ TÌNH TRẠNG SỰ VIỆC HIỆN TẠ - -I

rong năm học 2008 – 2009, tôi là giáo viên chủ nhiệm và là giáo

viên trực tiếp giảng dạy bộ môn Toán cho học sinh lớp 4A Sau

khi học sinh học xong các tiết trên, các em giải chỉ được những

bài toán đơn giản trong chương trình, vẽ sơ đồ chưa chính xác tỉ lệ

chưa thể hiện được bài toán Điều đó thể hiện qua bảng thống kê chất

lượng kiểm tra sau :

Giỏi Khá Trung Bình Yếu Xếp loại

23 em 11 47,9 7 30,4 5 21,7 0 0

- Tìm hai số khi biết tổng và tỉ của hai số đó

- Tìm hai số khi biết hiệu và tỉ của hai số đó

Giỏi Khá T.Bình Yếu Xếp loại

23 em 4 17,4 6 26,1 8 34,8 5 21,7

T

Trang 4

Nhìn vào bảng thống kê ta có thể thấy được kiểm tra 2 dạng

toán:Trung bình cộng; Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó

thì các em đạt điểm cao hơn: Giỏi, Khá 18 em chiếm 78,3 % ; không

có học sinh bị điểm yếu còn dạng toán:Tìm hai số khi biết tổng và tỉ

của hai số đó;Tìm hai số khi biết hiệu và tỉ của hai số đó thì kết

quả rất thấp: Giỏi, Khá 10 em chiếm 43,5 % ; Yếu 5 em chiếm 21,7 %

Với sự khảo sát các em làm bài đạt chất lượng chưa cao là vì các

em nắm chưa vững các dạng toán Tôi xin trình bày một số nội

dung và giải pháp mới sau:

II NỘI DUNG GIẢI PHÁP MỚI:

Để giúp học sinh có kỹ năng giải toán nói chung và kỹ năng giải bằng

“Phương pháp dùng sơ đồ đoạn thẳng” nói riêng Tôi đã giúp cho học

sinh nắm một số bước cơ bản sau đây:

CÁC BƯỚC CƠ BẢN ĐỂ GIẢI MỘT BÀI TOÁN BẰNG “PHƯƠNG

PHÁP DÙNG SƠ ĐỒ ĐOẠN THẲNG”

Để giúp học sinh có được kỹ năng sử dụng “ Phương pháp dùng

sơ đồ đoạn thẳng” giải các bài toán điển hình tôi đã chú ý các bước

sau:

Bước 1: Tìm hiểu đề bài

Đọc kỹ bài toán (Phân tích xem bài toán cho gì, hỏi hoặc tính cái gì,

thuộc loại nào? Cần tìm hiểu kỹ ý nghĩa đầu bài toán và ý nghĩa của

từng lời)

Bước 2: Lập luận để vẽ sơ đồ

Tóm tắt được bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng một cách cẩn thận,

chính xác; từ đó suy nghĩ, tìm tòi phát hiện mối liên hệ giữa cái đã cho

và cái cần tìm

Khi vẽ sơ đồ phải chọn độ dài các đoạn thẳng và sắp xếp các đoạn

thẳng đó một cách thích hợp để có thể dễ dàng thấy được mối quan hệ

phụ thuộc giữa các đại lượng, tạo ra một hình ảnh cụ thể giúp ta suy

nghĩ tìm tòi cách giải một bài toán

Trang 5

Có thể nói đây là một bước quan trọng vì đề toán được làm sáng

tỏ: mối quan hệ giữa các đại lượng trong bài toán được nêu bật Các

yếu tố không cần thiết được lượt bỏ

Để rèn luyện kĩ năng tóm tắt đề bằng sơ đồ đoạn thẳng, trước hết

hướng dẫn học sinh làm quen với cách biểu thị một số mối quan hệ

oán học

 Quan hệ “số b lớn hơn số a 3 đơn vị” hay “số a kém số b 3

đơn vị” có thể biểu thị một trong hai cách:

3

3

 Quan hệ “số b gấp 3 lần số a” hay “số a kém 3 lần số b”

 Để nói tổng 2 số a và b là số S nào đó ta dùng dấu ngoặc

móc

 Để nói hiệu 2 số a và b là số c nào đó, ta có thể tóm tắt:

a

c

b

 Để nói rằng a bằng hai phần ba số b ta dùng:

a

b

Để có thể thực hiện những bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng thì nắm

được cách biểu thị các phép tính (cộng, trừ, nhân, chia) các mối quan

hệ (quan hệ về tổng, hiệu, quan hệ về tỉ số) là hết sức quan trọng Vì

Trang 6

nó làm một công cụ biểu đạt mối quan hệ và phụ thuộc giữa các đại

lượng “Công cụ” này học sinh đã được trang bị từ những lớp đầu cấp

nhưng cần được tiếp tục củng cố, “mài giũa” ở các lớp cuối cấp

Bước 3: Phân tích bài toán để tìm cách giải Ở đây, muốn trả lời câu hỏi

bài toán thì phải biết những gì? Cần phải làm tính gì? Trong đó ta đã

biết gì? Cái gì chưa biết, cái gì đã biết Muốn tìm cái chưa biết thì lại

phải biết gì? Cần làm gì? Cứ như thế ta đi tìm tới những điều đã cho

trong đề toán (theo hướng phân tích đi lên)

Bước 4: Giải và kiểm tra các bước giải

Trình bày bài giải:

Thực hiện các bước giải của bài giải Thực hiện các phép tính theo

trình tự được thiết lập để tìm đáp số; chú ý kiểm tra từng bước tính

toán suy luận tránh viết tắt, dùng kí hiệu tuỳ tiện Đối với học sinh khá

giỏi sau khi trình bày bài giải phải rút ra kinh nghiệm tìm ra cách giải

khác; cố gắng tìm ra cách giải ngắn gọn và hay nhất

Bước 5:

Bài toán còn có cách giải nào khác?

Ra đề toán mới tương tự, khai thác bài toán bằng mở rộng và khái

quát hoá (thường dùng cho học sinh khá, giỏi)

Tóm lại, để học sinh có thể giải các bài toán thành thạo bằng

“Phương pháp dùng sơ đồ đoạn thẳng” trong việc giải toán thì việc

giúp cho các em hiểu rõ nội dung của từng dạng toán sau đó có thể mô

hình hoá nội dung từng dạng bằng sơ đồ đoạn thẳng từ đó tìm ra cách

giải bài toán là một việc làm hết sức quan trọng Làm được việc này

giáo viên đã đạt được mục tiêu lớn nhất trong giảng dạy đó là việc

không chỉ dừng lại ở việc “dạy toán” mà còn hướng dẫn học sinh “học

toán sao cho đạt hiệu quả cao nhất” vì dạy toán không phải là “giải

toán cho học sinh” mà là “dạy học sinh giải toán”

Để khẳng định cụ thể hơn lợi ích của việc sử dụng sơ đồ đoạn

thẳng để dạy giải toán ở tiểu học tôi xin trình bày một số dạng toán cơ

bản mà khi giải có thể sử dụng sơ đồ đoạn thẳng

Trang 7

Dạng 1: Dạng toán có liên quan đến số trung bình cộng

Đối với dạng toán này, học sinh nắm được khái niệm số trung

bình cộng Biết cách tìm số trung bình cộng của nhiều số Khi giải các

bài toán dạng này, thông thường các em thường sử dụng công thức

1 Số trung bình = Tổng : số các số hạng

2 Tổng = số trung bình cộng x số các số hạng

3 Số các số hạng = Tổng : số trung bình cộng

Áp dụng kiến thức cơ bản đó học sinh được làm quen với rất

nhiều dạng toán về trung bình cộng mà có những bài toán nếu không

tóm tắt bằng sơ đồ, học sinh sẽ rất khó khăn trong việc suy luận tìm ra

cách giải

Ví dụ: Cho ba số có trung bình cộng bằng 21 Tìm ba số đó, biết

rằng số thứ ba gấp 3 lần số thứ hai, số thứ hai gấp 2 lần số thứ nhất

Giải:

Sau khi đọc kỹ đề toán, phân tích mối quan hệ giữa các đại lượng

trong bài, học sinh tóm tắt bài toán bằng sơ đồ:

Số thứ nhất:

Số thứ hai 63

?

?

?

Trang 8

Số thứ ba

Sau khi hướng dẫn tìm hiểu đề và tóm tắt bằng sơ đồ, nhiều học

sinh đã biết từng bước tìm cách giải Những em chưa làm được bài, sau

khi nghe bạn trình bày cách suy luận của sơ đồ các em đều nắm được

và biết tự giải quyết các bài toán dạng tương tự

Tổng của 3 số là:

21 x 3 = 63

Số thứ nhất là:

63 : ( 1 + 2 + 6) = 7

Số thứ hai là:

7 x 2 = 14

Số thứ ba là:

14 x 3 = 42

Đáp số: - Số thứ nhất: 7

- Số thứ hai: 14

- Số thứ ba: 42

thích cách làm dạng toán tìm 2 số khi biết hiệu và trung bình cộng của

2 số đó một cách ngắn gọn

Ta thấy:

Trang 9

Hiệu

Số lớn:

Số bé:

TBC:

Qua sơ đồ ta có thể tìm ra:

Số lớn = TBC + ( Hiệu : 2)

Số bé = TBC – ( Hiệu : 2)

Ví dụ 3:

Một tổ công nhân đường sắt sửa đường, ngày thứ nhất sửa được

17m đường, ngày thứ hai sửa được nhiều hơn ngày thứ nhất 2m, ngày

thứ ba sửa được nhiều hơn ngày thứ nhất 4m Hỏi trung bình mỗi ngày

sửa được bao nhiêu mét đường?

Ta có sơ đồ:

17 m Ngày thứ nhất:

2m Ngày thứ hai:

4m

Trang 10

Ngày thứ ba:

Thông thường ta giải bài toán như sau:

Ngày thứ hai sửa được là:

17 + 2 = 19 (m) Ngày thứ 3 sửa được

17 + 4 = 21 (m) Trung bình mỗi ngày sửa được

(17 + 19 + 21) : 3 = 19 (m)

Đáp số: 19 m

ba sang ngày thứ nhất thì số m đường sửa được trong các ngày đều

bằng 19 m

17m 2m Ngày thứ nhất:

2m Ngày thứ hai:

2m 2m

Ngày thứ ba:

Ta thấy ngay trung bình mỗi ngày tổ đó sửa được 19m đường

Như vậy, sơ đồ giúp ta hình dung rõ khái niệm, đôi khi sơ đồ còn

giúp ta tính nhẩm nhanh kết quả

Dạng 2: Dạng toán tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó.

Trang 11

Tóm tắt bài toán bằng sơ đồ, căn cứ sơ đồ hướng dẫn học sinh

tìm ra phương pháp giải

Sử dụng sơ đồ biểu thị mối quan hệ về tổng, hiệu, các em sẽ tóm

tắt bài toán bằng sơ đồ dưới đây

Số lớn:

16 82

Số bé:

Nhìn vào sơ đồ, yêu cầu học sinh nhận xét:

+ Nếu lấy tổng trừ đi hiệu, kết quả đó có quan hệ như thế nào

với số bé? (Giáo viên thao tác che phần hiệu là 16 trên sơ đồ) từ đó

học sinh sẽ dễ dàng nhận thấy phần còn lại là 2 lần số bé

Dựa vào suy luận trên, yêu cầu học sinh nêu cách tìm số bé

Hơn 80% số em nêu được tìm số bé là:

(82 – 16) : 2 = 33 Tìm được số bé suy ra số lớn là:

33 + 16 = 49 Hay: Số lớn là:

82 – 33 = 49

Từ bài toán ta xây dựng được công thức tính:

Trang 12

Số bé = ( Tổng – hiệu) : 2

= Số bé + hiệu

= Tổng – số bé

Cách giải vừa nêu trên là dễ nhất với học sinh Tuy nhiên cũng có

thể giới thiệu thêm phương pháp sau đây:

Cũng biểu thị mối quan hệ hiệu nhưng sử dụng sơ đồ

Số lớn:

16 82

Số bé:

Suy luận: nếu thêm một đoạn thẳng hiệu (16) vào số bé ta được

hai đoạn thẳng bằng nhau tức là hai lần số lớn

Từ đó suy ra:

Số lớn là:

(82 + 16) : 2 = 49 Vậy số bé là:

49 – 16 = 33

Hoặc: Số bé là:

82 – 49 = 33

Số lớn

Trang 13

Sau khi học sinh đã nắm được cách giải ta xây dựng công thức

tổng quát:

Số lớn = ( Tổng + hiệu) : 2

= Số lớn – hiệu

= Tổng – số lớn

Giáo viên nói thêm số lớn bằng tổng chia hai cộng hiệu chia hai =

(tổng + hiệu) :2 chính là cách tìm số lớn

Như vậy qua sơ đồ đoạn thẳng học sinh nắm được phương pháp

giải dạng toán này và có thể áp dụng để giải các bài tập về tìm hai số

khi biết tổng và hiệu ở nhiều dạng khác nhau

Ví dụ 1:

Ba lớp A, B, C mua tất cả 150 quyển vở Tính số vở của mỗi lớp

Biết rằng nếu lớp 4A chuyển cho lớp 4B 15 quyển và cho lớp 4C 10

quyển thì số vở của 3 lớp sẽ bằng nhau

Giải Phân tích nội dung bài toán sẽ vẽ được sơ đồ

15 10 Lớp 4A:

15

Lớp 4C:

10

Số bé

Trang 14

Dựa vào sơ đồ ta có:

Sau khi lớp 4A chuyển cho hai lớp thì mỗi lớp có số vở là:

150 : 3 = 50 (quyển)

Lúc đầu lớp 4C có là:

50 - 10 = 40 (quyển)

Lúc đầu lớp 4B có là:

50 - 15 = 35 (quyển)

Lúc đầu lớp 4A có là:

50 + 15 + 10 = 75 (quyển)

Đáp số: 4A: 75 quyển; 4B: 35 quyển; 4C: 40 quyển

Dạng 3: Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó.

số bạn gái bằng số bạn trai Hỏi có mấy bạn gái, mấy bạn trai trong 1

3

đội tuyển đó?

Tóm tắt bài toán bằng sơ đồ, cắn cứ vào sơ đồ hướng dẫn học

sinh tìm ra phương pháp giải:

Sử dụng sơ đồ biểu thị mối quan hệ về tỷ số và các em sẽ tóm

tắt bài toán bằng sơ đồ dưới đây:

Số bạn trai:

12 bạn

Số bạn gái:

Trang 15

Vẽ sơ đồ đoạn thẳng thế này học sinh dễ dàng thấy được hai điều

kiện của bài toán: cả trai và gái có 12 bạn (biểu thị mối quan hệ về

tổng) và có số bạn trai gấp 3 lần số bạn gái (biểu thị mối quan hệ về

tỉ)

Sơ đồ trên gợi cho ta 12 gồm (3+1)=4 phần bằng nhau Từ đó

dễ dàng tìm số bạn gái bằng cách 12 : (3+1) = 3 từ đó tìm được số

học sinh trai

Bài giải Tổng số phần bằng nhau là

1 + 3 = 4 (phần)

Số bạn gái trong đội tuyển là

12 : 4 = 3 (bạn)

Số bạn trai trong đội tuyển là

3 x 3 = 9 (bạn) Hoặc 12 – 3 = 9 (bạn)

Đáp số: Trai: 9 bạn

Gái: 3 bạn

Từ bài toán cơ bản trên ta xây dựng các bước giải bài toán “Tìm

hai số khi biết tổng và tỉ số của 2 số đó”

Trang 16

Nắm được các bước giải học sinh sẽ biết áp dụng để giải nhiều

bài toán cùng dạng, học sinh giỏi sẽ biết áp dụng quy tắc để giải các

bài toán khó dạng này (đó là các bài toán cùng dạng như tổng, tỉ được

thể hiện dưới dạng ẩn)

Đề 1: Tuổi anh hiện nay gấp 3 lần tuổi em trước kia, lúc đó tuổi anh

bằng tuổi em hiện nay Sau này lúc tuổi em bằng tuổi anh hiện nay thì

tổng số tuổi của hai anh em sẽ bằng 28 Tính tuổi hiện nay của anh và

của em

(Bài toán trong quyển: phương pháp dạy học Toán.Giáo trình đào tạo

GV Tiểu học hệ CĐSP)

Bài giải:

+ Trước kia

Bước 1: Vẽ sơ đồ

Bước 2: Tìm tổng số phần bằng nhau

Bước 3: Tìm giá trị một phần

Giá trị một phần = Tổng : Tổng số phần bằng nhau

Bước 4: Tìm số bé

Số bé = giá trị 1 phần x số phần của số bé

Bước 5: Tìm số lớn

= giá trị 1 phần x số phần của số lớn

= Tổng – số bé

Số lớn

Trang 17

Tuổi em

Tuổi anh

+ Hiện nay

Tuổi em

Tuổi anh

+ Sau này:

Tuổi em

28 tuổi

Tuổi anh

A B C D E

( Khi vẽ đồ chú ý vẽ sao cho tuổi anh trước đây bằng tuổi em hiện nay

và tuổi anh hiện nay bằng tuổi em sau này)

BC biểu thị hiệu của tuổi anh và tuổi em trước đây

CD biểu thị hiệu của tuổi anh và tuổi em hiện nay

DE biểu thị hiệu của tuổi anh và tuổi em sau này

Vì hiệu số tuổi không thay đổi nên BC =CD = DE

Tiếp theo ta có:

AD bằng tuổi anh hiện nay

AB bằng tuổi em trước đây

Vì vậy, AD gấp 3 lần AB, nhưng vì BC =CD

Nên AB = BC =CD

Như thế nếu gọi tuổi em trước đây là 1 phần thì tuổi em sau này bằng

3 phần, tuổi anh sau này bằng 4 phần và tổng số tuổi của hai anh em

bằng 7 phần Do đó:

Số tuổi 1 phần bằng:

28: 7 = 4 ( tuổi) Tuổi em hiện nay:

4 x 2 = 8 ( tuổi)

?

?

?

?

Ngày đăng: 31/03/2021, 15:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w