1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Những vấn đề chung về chương trình, sách giáo khoa môn tiếng Việt cấp tiểu học

10 540 4

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 209,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do trình độ khoa học về xây dựng chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Tiếng Việt còn hạn chế, do các dữ liệu về trình độ học tập của số đông HS tiểu học Việt Nam ở toàn quốc và ở các vùng đại di[r]

Trang 1

Phần một

Những vấn đề chung về Chương trình, sách giáo khoa môn tiếng việt cấp tiểu học

I – Chương trình môn Tiếng Việt cấp Tiểu học

Chương trỡnh mụn Tiếng Việt cấp Tiểu học là một bộ phận của Chương trỡnh Giỏo dục phổ thụng cấp Tiểu học (2006) Cũng như chương trỡnh cỏc mụn học

khỏc, chương trỡnh mụn Tiếng Việt gồm 4 mục : Mục tiờu ; Nội dung ; Chuẩn kiến

thức, kĩ năng ; Giải thớch, hướng dẫn (trong đú, Chuẩn kiến thức, kĩ năng là mục

mới so với cỏc chương trỡnh Tiếng Việt tiểu học trước đõy)

1 Mục tiêu và nguyên tắc xây dựng chương trình Tiếng Việt tiểu học

Chương trỡnh Tiếng Việt tiểu học 2006 xỏc định mục tiờu quan trọng nhất của

mụn Tiếng Việt là “Hỡnh thành và phỏt triển ở HS cỏc kĩ năng sử dụng tiếng Việt

(đọc, viết, nghe, núi) để học tập và giao tiếp trong cỏc mụi trường hoạt động của lứa tuổi” Chương trỡnh cũng trỡnh bày rừ 3 nguyờn tắc xõy dựng chương trỡnh :

– Dạy học tiếng Việt thụng qua hoạt động giao tiếp ;

– Tận dụng những kinh nghiệm sử dụng tiếng Việt của HS ;

– Vận dụng quan điểm tớch hợp trong dạy học tiếng Việt.

Cỏc tuyờn bố trờn trong văn bản chương trỡnh đó khẳng định rừ đối tượng, mục tiờu, nội dung, phương phỏp dạy học mụn Tiếng Việt, gạt bỏ một số ý kiến chưa chuẩn xỏc khi phỏt biểu về mục tiờu, về đối tượng, về cỏc kĩ năng cần rốn luyện… của mụn học

2 Nội dung dạy học của chương trình Tiếng Việt tiểu học

Nội dung dạy học của chương trỡnh Tiếng Việt tiểu học ở từng lớp khụng trỡnh bày theo hệ thống cỏc loại bài học hoặc phõn mụn (VD : tập đọc, kể chuyện,

tập viết, chớnh tả, từ ngữ, ngữ phỏp, tập làm văn) mà viết theo hai trục : kiến thức

Trang 2

và kĩ năng Cách viết này một mặt khẳng định những tri thức, kĩ năng về tiếng

Việt kế thừa các chương trình trước đây, mặt khác tạo điều kiện bổ sung vào nội dung dạy học từng lớp nhiều kiến thức và kĩ năng mới mà các chương trình trước đây chưa từng đề cập đến Cụ thể :

a) Về kiến thức

– Trục kiến thức ở các lớp trong chương trình môn Tiếng Việt tiểu học đều

đề cập đến các tri thức về tiếng Việt, tập làm văn, văn học Tri thức về tiếng Việt

là các tri thức ngữ âm và chữ viết, từ vựng, ngữ pháp, phong cách ngôn ngữ và biện pháp tu từ Tri thức về tập làm văn là tri thức về văn bản, đoạn văn, nghi thức giao tiếp, các kiểu bài văn miêu tả, kể chuyện, đơn, thư… Tri thức văn học là tri thức về nhân vật, cốt truyện, lời kể, lời nhân vật… của truyện, vần của thơ và các trích đoạn văn bản

– Những tri thức về tiếng Việt mới đưa vào chương trình là :

+ Tri thức về giao tiếp ngôn ngữ, như : Nghi thức lời nói (chào hỏi, chia tay, cảm ơn, xin lỗi ; đáp lời chào hỏi, chia tay…) ở lớp 1, 2; một số nghi thức giao tiếp chính thức trong sinh hoạt trường lớp ở lớp 3 ; một số quy tắc giao tiếp trong trao đổi, thảo luận ở lớp 4, 5

+ Tri thức về văn bản, như : Sơ giản về đoạn văn và nội dung đoạn văn ở lớp 2,

sơ giản về liên kết câu, văn bản, đề tài, đầu đề văn bản ở lớp 5 Các tri thức về nhiều kiểu văn bản hành chính thông dụng trước đây chưa được chú ý nay đã đưa vào dạy cho HS, như : thư, đơn, báo cáo, thông báo, tờ khai in sẵn, báo cáo thống

kê, biên bản, chương trình hành động,…

– Yêu cầu về văn bản không chỉ là các trích đoạn tác phẩm nghệ thuật mà còn có các văn bản thuyết minh, bình luận, biểu cảm, hành chính,… đề cập đến các vấn đề xã hội và thời sự, như : quyền và nghĩa vụ công dân, quyền trẻ em, tinh thần đoàn kết hữu nghị giữa các dân tộc, bảo vệ hoà bình, bảo vệ môi trường,… Các tri thức trình bày ở trên cho thấy nội dung kiến thức trong chương trình Tiếng Việt tiểu học 2006 đã có sự điều chỉnh quan trọng :

+ Chuyển từ giai đoạn chỉ học duy nhất các trích đoạn văn bản nghệ thuật sang giai đoạn học cả các trích đoạn văn bản nghệ thuật và các trích đoạn văn bản

Trang 3

thuộc các thể loại khác nhau cần cho con người sống ở xã hội hiện đại Tuy nhiên, các trích đoạn văn bản nghệ thuật vẫn chiếm vị trí quan trọng

+ Chuyển từ giai đoạn chỉ chú ý đến các tri thức về Việt ngữ học cấu trúc sang giai đoạn chú ý cả tri thức Việt ngữ học cấu trúc và Việt ngữ học chức năng (phần ngữ dụng học)

b) Về kĩ năng

Trục kĩ năng ở các lớp trong chương trình môn Tiếng Việt tiểu học đề cập

đến các kĩ năng đọc, viết, nghe, nói khi sử dụng tiếng Việt Cách viết đó đã tạo

một diện mạo mới cho văn bản chương trình, làm xuất hiện trong yêu cầu luyện tập từng kĩ năng (đọc, viết, nghe, nói) một số kĩ năng bộ phận mà các chương trình tiểu học trước đây chưa đề cập đến

– Đọc

+ Chương trình yêu cầu luyện đọc thành tiếng từ đánh vần đến đọc thông thạo (từ lớp 1 đến lớp 5), đọc thầm (các lớp 2, 3, 4, 5), đọc thuộc lòng (từ lớp 1 đến lớp 5), đọc diễn cảm (các lớp 4, 5), đọc hiểu (từ lớp 1 đến lớp 5)

+ Điểm mới của việc rèn luyện kĩ năng đọc là :

* Sự mở rộng các kiểu loại văn bản khi luyện đọc Đối tượng để luyện đọc không chỉ là văn bản nghệ thuật mà còn có văn bản hành chính, báo chí, khoa học thường thức…

* Sự mở rộng các kiểu loại văn bản đã làm xuất hiện nhiều yêu cầu luyện tập mới trong phương pháp dạy đọc, như : dạy đọc hiểu văn bản khoa học, văn bản báo chí, biểu cảm,…

– Viết

+ Chương trình đã trình bày các yêu cầu tập viết (các lớp 1, 2, 3) viết chính tả (từ lớp 1 đến lớp 5), viết đoạn văn (các lớp 2, 3, 4, 5), viết bài văn (các lớp 3, 4, 5) + Điểm mới của việc rèn luyện kĩ năng viết là :

* Bên cạnh yêu cầu luyện viết các đoạn văn bản, bài văn miêu tả, kể chuyện, chương trình còn yêu cầu tập viết các loại văn bản khác, như : bưu thiếp, tin nhắn, báo cáo ngắn, giấy mời, điện báo, tờ khai in sẵn,

Trang 4

* Sự thay đổi các kiểu loại văn bản khi luyện tập đã làm xuất hiện yêu cầu mới trong phương pháp dạy tập làm văn : dạy viết các kiểu văn bản in sẵn, dạy viết văn bản hành chính thông thường,

– Nghe

Đây là phần rất mới của chương trình Chương trình đã trình bày kĩ năng nghe với các yêu cầu : nghe trả lời câu hỏi (lớp 1, 2), nghe – viết chính tả (lớp 3, 4, 5), nghe và ghi chép nội dung văn bản (lớp 3, 4, 5) Các loại văn bản để luyện nghe cũng bao gồm cả văn bản nghệ thuật lẫn văn bản hành chính, khoa học, báo chí, biểu cảm,…

Sự xuất hiện nội dung dạy kĩ năng nghe đòi hỏi có sự nghiên cứu và hướng dẫn về phương pháp dạy kĩ năng nghe, đặc biệt phương pháp dạy kiểu bài nghe và ghi chép nội dung văn bản

– Nói

Phần kĩ năng nói cũng có nhiều nội dung mới Chương trình đã đưa ra các yêu cầu :

+ Rèn luyện kĩ năng độc thoại qua kĩ năng kể chuyện và thuật lại nội dung văn bản (bản tin, bài báo khoa học,…) đã nghe, đã đọc (từ l đến lớp 5) ; kĩ năng trả lời câu hỏi (lớp 1, 2), kĩ năng tự giới thiệu về bản thân, gia đình quê hương,… (các lớp 1, 2, 3, 4), kĩ năng phát biểu ý kiến trong các cuộc họp chính thức như họp lớp, họp chi đội (lớp 4, 5)…

+ Rèn kĩ năng hội thoại qua rèn luyện các kĩ năng nói lời chào hỏi, chia tay, xin lỗi, đề nghị… trong các tình huống giao tiếp ở trường học, gia đình, nơi công cộng (lớp 1, 2) ; kĩ năng trao đổi, thảo luận trong sinh hoạt đội, sinh hoạt lớp (các lớp 3, 4, 5)

Sự xuất hiện kĩ năng đối thoại, hội thoại là một thay đổi quan trọng trong nội dung học ở các lớp tiểu học vì đây là kĩ năng chiếm một tỉ lệ lớn trong giao tiếp hằng ngày bằng ngôn ngữ Điều này đòi hỏi phải thoát ra khỏi vòng luẩn quẩn của phương pháp dạy làm văn nói trước đây, đẩy mạnh nghiên cứu phương pháp dạy đối thoại, hội thoại và bồi dưỡng GV về phương pháp dạy đối thoại, hội thoại, phương pháp dạy kĩ năng trao đổi, thảo luận

Trang 5

Túm lại, chương trỡnh mụn Tiếng Việt tiểu học 2006 đó cú nhiều điểm mới

từ cỏch trỡnh bày mục tiờu tới cỏch lựa chọn, sắp xếp nội dung chương trỡnh nhằm đưa việc dạy học tiếng Việt ngày càng phự hợp hơn với yờu cầu sử dụng trong đời sống và tiếp cận với cỏc chương trỡnh dạy tiếng mẹ đẻ của cỏc nước trờn thế giới

3 Chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình Tiếng Việt tiểu học

a) Quan niệm

a.1 Chuẩn kiến thức, kĩ năng là cỏc yờu cầu cơ bản, tối thiểu về kiến thức và

kĩ năng của mụn học, hoạt động giỏo dục mà HS cần phải và cú thể đạt được

Quan niệm trờn cú ba ý cần làm rừ :

– Chuẩn là cỏc yờu cầu cơ bản về kiến thức, kĩ năng của mụn học, hoạt động

giỏo dục Theo quan niệm này trong nội dung học từng lớp, chỉ cỏc kiến thức, kĩ

năng cơ bản mới trở thành nội dung của chuẩn VD :

+ Chương trỡnh tập làm văn lớp 4 quy định học 4 nội dung : Kết cấu 3 phần của bài văn kể chuyện và miờu tả (mở bài, thõn bài, kết bài), lập dàn ý cho bài văn

kể chuyện, miờu tả ; Đoạn văn kể chuyện, miờu tả (tả đồ vật, cõy cối, con vật) ; Bài văn kể chuyện, miờu tả (tả đồ vật, cõy cối, con vật), một số văn bản thụng thường : đơn, thư, tờ khai in sẵn ; Một số quy tắc giao tiếp trong trao đổi, thảo luận, đơn, thư

+ Chuẩn kiến thức, kĩ năng tập làm văn lớp 4 chỉ quy định : Nhận biết cỏc

phần của bài văn kể chuyện, miờu tả (mở bài, thõn bài, kết bài) ; Biết cỏch lập dàn

ý cho bài văn kể chuyện, miờu tả ; Biết cỏch viết đơn, thư (theo mẫu)

– Chuẩn là cỏc yờu cầu tối thiểu về kiến thức, kĩ năng của mụn học, hoạt động giỏo dục Theo quan niệm này, cỏc kiến thức và kĩ năng cú nhiều mức độ đạt

được khỏc nhau Ở mỗi lớp, chỉ cỏc yờu cầu tối thiểu của kiến thức, kĩ năng quy định cho lớp đú mới trở thành chuẩn

VD : Kĩ năng đọc thành tiếng cú thể chia thành sỏu mức độ :

(1) Nhỡn chữ đỏnh vần to hoặc nhẩm trong miệng, trong đầu rồi mới đọc to chữ đú

(2) Nhỡn chữ, đọc trơn tiếng khụng phải đỏnh vần (đọc trơn từng tiếng, đọc liền mạch khụng rời rạc những từ cú nhiều tiếng)

Trang 6

(3) Nhìn chữ có vần khó, ít dùng (uyu, uych, oao, oăp,…) đọc trơn không đánh vần

(4) Đọc liền mạch từ ngữ, câu, không ê, a, ngắc ngứ

(5) Đọc trơn đoạn, bài, biết cách ngắt – nghỉ hơi với các chỉ số từ ngữ đọc trong một phút từ thấp đến cao

(6) Đọc trơn đoạn bài, biết cách thay đổi cường độ, trường độ, ngữ điệu của giọng đọc để diễn đạt cảm xúc của người đọc (đọc diễn cảm)

Trong sáu mức độ trên, mức độ 2 và mức độ 5 (tốc độ đọc khoảng 30 tiếng / phút) trở thành chuẩn về đọc thành tiếng của lớp 1 ; mức độ 4 và mức độ 5 (tốc độ đọc khoảng 50 tiếng/phút) trở thành chuẩn về đọc thành tiếng của lớp 2

– Chuẩn là yêu cầu HS cần và có thể đạt được.

Theo quan niệm này, đa số HS cần đạt và các em luyện tập có thể đạt được các chuẩn kiến thức, kĩ năng đặt ra Nói cách khác, chuẩn kiến thức, kĩ năng không khó đến mức chỉ HS khá, giỏi mới đạt được, cũng không dễ đến mức HS không cần cố gắng, không cần luyện tập cũng đạt được Đối với đại đa số HS, chỉ cần các em có ý thức, có cố gắng luyện tập trong một thời gian nhất định là đạt được chuẩn Muốn vậy, việc định ra chuẩn kiến thức, kĩ năng phải căn cứ cả vào kết quả đánh giá năng lực trí tuệ, trình độ học vấn chung của HS trong toàn quốc gia, ở các vùng lãnh thổ Đây chính là tính khách quan, khoa học của chuẩn

Kết hợp 3 yêu cầu vừa nêu cho thấy : Chuẩn kiến thức và kĩ năng là mức sàn

về kiến thức, kĩ năng buộc HS phải đạt nhưng lại không ngăn cản các HS khá, giỏi

có thể đạt ở các mức cao hơn

a.2 Chuẩn kiến thức, kĩ năng của các môn học nói chung, của môn Tiếng Việt

nói riêng được xác định ở các chủ đề, ở các lĩnh vực học tập cho từng lớp ; yêu cầu

về thái độ được xác định cho từng lớp và cả cấp học

Chuẩn kiến thức, kĩ năng thuộc một chủ đề, một lĩnh vực học tập, một phạm

vi kiến thức hoặc một loại kĩ năng của mỗi môn học sẽ có sự phát triển dần từ lớp dưới lên lớp trên một cách hợp lí, khoa học

Trang 7

VD : Chuẩn kiến thức về dấu câu được quy định như sau :

– Lớp 1 : Nhận biết dấu chấm, dấu hỏi, dấu phẩy trong bài học

– Lớp 2 : Bước đầu biết cách dùng dấu chấm, dấu chấm hỏi, dấu chấm than, dấu phẩy

– Lớp 3 : Biết cách dùng dấu chấm, dấu chấm hỏi, dấu chấm than, dấu phẩy, dấu hai chấm

– Lớp 4 : Biết cách dùng dấu hai chấm, dấu gạch ngang, dấu ngoặc kép – Lớp 5 : Biết cách dùng dấu chấm, dấu chấm hỏi, dấu chấm than, dấu hai chấm, dấu phẩy, dấu ngoặc kép, dấu gạch ngang

Ví dụ trên cho thấy chuẩn kiến thức về dấu câu ở lớp sau cao hơn lớp

trước (lớp 1 ở mức độ nhận biết, lớp 2 ở mức độ bước đầu biết cách dùng, lớp 3,

4, 5 ở mức độ biết cách dùng dấu câu) ; rộng hơn lớp trước (lớp 1 học 3 dấu,

lớp 2 học 4 dấu…)

Có thể tìm thấy sự phát triển của chuẩn bất kì một đơn vị kiến thức hoặc một loại kĩ năng nào của môn Tiếng Việt giống như sự phát triển của chuẩn kiến thức

về dấu câu đã nêu Nếu việc xây dựng văn bản chuẩn kiến thức, kĩ năng bảo đảm các nguyên tắc khoa học, thống nhất, toàn diện và khả thi thì các đơn vị kiến thức

và kĩ năng sử dụng tiếng Việt luôn có sự phát triển từ thấp lên cao qua các lớp ở Tiểu học

Do trình độ khoa học về xây dựng chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Tiếng Việt còn hạn chế, do các dữ liệu về trình độ học tập của số đông HS tiểu học Việt Nam

ở toàn quốc và ở các vùng đại diện cho sự phát triển khác nhau của đất nước còn

sơ sài,… nên văn bản chuẩn kiến thức, kĩ năng trong chương trình Tiếng Việt tiểu học năm 2006 còn một số nhược điểm, thiếu sót (như việc xác định các yêu cầu

cơ bản và tối thiểu của một số đơn vị kiến thức hoặc kĩ năng thiếu cụ thể, thiếu căn cứ chuẩn xác; giải quyết mối quan hệ giữa nội dung dạy học môn Tiếng Việt với các yêu cầu của chuẩn nhiều lúc chưa thoả đáng…) Tuy nhiên, văn bản chuẩn kiến thức và kĩ năng được ban hành vẫn là một bước tiến quan trọng của khoa học nghiên cứu xây dựng chương trình môn Tiếng Việt

Trang 8

b) Tác dụng

Chuẩn kiến thức, kĩ năng có nhiều tác dụng :

– Là cơ sở để biên soạn sách giáo khoa (SGK), là cơ sở để đánh giá các bộ SGK đã biên soạn theo yêu cầu của chương trình

– Là căn cứ để quản lí dạy học ở tất cả các cấp quản lí từ Bộ, Sở tới trường tiểu học

– Là căn cứ để đánh giá kết quả giáo dục ở từng môn học và hoạt động giáo dục

Chuẩn kiến thức và kĩ năng là cơ sở để đảm bảo tính thống nhất, tính khả thi của chương trình tiểu học, là thước đo chất lượng và hiệu quả của quá trình giáo dục tiểu học Các quan niệm trên cũng hoàn toàn đúng với chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Tiếng Việt Văn bản chuẩn kiến thức, kĩ năng trong chương trình Tiếng Việt tiểu học 2006 là sự vận dụng các hiểu biết về chuẩn vào môn Tiếng Việt Vai trò của chương trình, của chuẩn kiến thức, kĩ năng to lớn như thế nhưng hiện nay vẫn chưa được coi trọng và sử dụng đúng nên chưa phát huy hết tác dụng Nhiều GV, cán bộ quản lí giáo dục tiểu học không biết đến chuẩn kiến thức,

kĩ năng, chưa đọc văn bản chương trình Thậm chí nhiều người còn đồng nhất hoặc nhầm lẫn chương trình, chuẩn kiến thức, kĩ năng với SGK, coi trọng SGK hơn chương trình và chuẩn kiến thức, kĩ năng Có người còn cho rằng chỉ cần nghiên cứu SGK Tiếng Việt là bảo đảm dạy học có hiệu quả, không cần biết đến chương trình, không cần biết đến chuẩn kiến thức, kĩ năng Đây là những thiếu sót, hạn chế cần sớm khắc phục

Căn cứ chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình Tiếng Việt tiểu học 2006,

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã cụ thể hoá thành tài liệu “Hướng dẫn thực hiện chuẩn

kiến thức, kĩ năng các môn học ở tiểu học” dựa trên bộ SGK Tiếng Việt được sử

dụng trên toàn quốc hiện nay Tài liệu đã đưa ra các yêu cầu cơ bản, tối thiểu của từng bài trong SGK Tiếng Việt hiện hành, giúp GV dạy học theo chuẩn và đáp ứng yêu cầu của chương trình môn Tiếng Việt ở từng lớp

Trang 9

II – S¸ch gi¸o khoa m«n TiÕng ViÖt cÊp TiÓu häc

Theo cách viết “mở” như văn bản chương trình Tiếng Việt tiểu học 2006, từ chương trình và chuẩn kiến thức, kĩ năng đã ban hành có thể biên soạn nhiều bộ sách khác nhau Mỗi bộ SGK thể hiện một góc nhìn, một cách nhận thức, một cách tiếp cận chương trình và chuẩn kiến thức, kĩ năng nhằm phục vụ cho một loại đối tượng Bộ SGK Tiếng Việt tiểu học hiện hành là một cách tiếp cận, một quan niệm nhìn nhận về bộ chương trình và chuẩn kiến thức kĩ năng ban hành năm

2006 Nó đã kế thừa những thành tựu của các bộ sách Tiếng Việt trước đây (như : sách Tiếng Việt cải cách giáo dục, sách Tiếng Việt phổ cập giáo dục, sách của Trung tâm Công nghệ giáo dục, sách Tiếng Việt dành cho HS dân tộc thiểu số gặp nhiều khó khăn) Bộ sách này cũng đã thể hiện nhiều nội dung dạy học mới của chương trình Tiếng Việt, có những đổi mới quan trọng về nội dung biên soạn (đưa thêm nhiều trích đoạn thuộc các loại văn bản khác ngoài văn bản nghệ thuật để dạy nghi thức lời nói, dạy hội thoại, ), hiện đại về cách trình bày thể hiện (kết hợp chặt chẽ, sinh động giữa kênh chữ và kênh hình…)

Tuy nhiên, do đặc điểm các vùng miền khác nhau tác động đến chất lượng

HS, việc dạy học theo SGK Tiếng Việt tiểu học phải bám sát chuẩn kiến thức, kĩ năng và được vận dụng một cách sáng tạo nhằm đem lại hiệu quả thiết thực

Ngày 13 – 2 – 2005, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có công văn số

896/BGD&ĐT–GDTH về Hướng dẫn điều chỉnh việc dạy và học cho HS tiểu

học Theo đó, việc quản lí và chỉ đạo dạy học ở Tiểu học theo chương trình, SGK

Tiếng Việt có những đổi mới cơ bản như sau :

– GV chủ động cụ thể hoá phân phối chương trình học tập của HS phù hợp

với từng lớp học, đảm bảo yêu cầu giáo dục HS tiểu học và yêu cầu nhiệm vụ quy

định trong chương trình tiểu học

– Đổi mới cách soạn giáo án để GV có thời gian tập trung vào công tác giáo

dục GV cần nắm vững yêu cầu về kiến thức và kĩ năng cơ bản được quy định tại chương trình tiểu học, giáo án cần ngắn gọn nhưng có nhiều thông tin

– GV phải nắm được khả năng học tập của từng HS trong lớp để xác định

nội dung cụ thể của bài học trong SGK cần hướng dẫn cho từng nhóm HS Việc

Trang 10

xác định nội dung dạy học của GV phải đảm bảo tính hệ thống và đáp ứng yêu cầu : dạy nội dung bài học mới dựa trên kiến thức, kĩ năng của HS đạt được ở bài học trước và đảm bảo vừa đủ để tiếp thu bài học tiếp sau, từng bước đạt được chuẩn kiến thức, kĩ năng

– GV cần báo cáo tổ trưởng chuyên môn, ban giám hiệu kế hoạch dạy học cụ

thể của cá nhân và ghi rõ kế hoạch dạy học tuần Tổ trưởng chuyên môn và ban

giám hiệu phải có trách nhiệm giúp đỡ và tạo điều kiện để GV thực hiện nhiệm vụ

giáo dục và giảng dạy cho HS đạt hiệu quả tốt, không máy móc rập khuôn và

không mang tính hình thức.

– GV không được đưa thêm nội dung ngoài chương trình SGK, tạo nên sự quá tải trong giảng dạy

Chính vì vậy, công tác bồi dưỡng và tự bồi dưỡng giai đoạn hiện nay cần tập trung vào những nội dung và phương pháp dạy học mới của chương trình Tiếng Việt tiểu học Phương hướng bồi dưỡng cũng cần chuyển từ cách “cầm tay chỉ việc” sang thực hành các kĩ năng, trau dồi kiến thức và năng lực nghề nghiệp để

GV có thể chủ động, sáng tạo vận dụng vào thực tiễn dạy học

Ngày đăng: 31/03/2021, 15:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w