Chia làm 3 phần: - Phần 1: từ đầu đến “1 ngày không sử dụng bao ni lông” Trình bãy những nguyên nhân ra đời của bản thông điệp thông tin về ngày trái đất năm 2000 đây là phần mở bài - Ph[r]
Trang 1TUẦN 10- NGỮ VĂN BÀI 9- 10
Kết quả cần đạt:
Hiểu được thế nào là nói quá, thế nào là cách nói giảm, nói tránh Biết nói giảm, nói tránh trong những trường hợp cần thiết
Củng cố hệ thống hoá kiến thức về các văn bản truyện kí Việt Nam
Thấy được ý nghĩa bảo vệ môi trường của hành động tưởng như bình thường
“Một ngày không dùng bao bì ni lông”
Ngày soạn: Ngày giảng:
Tiết 37
Tiếng Việt
NÓI QUÁ
A PHẦN CHUẨN BỊ
I Mục tiêu cần đạt: Giúp học sinh
Hiểu được thế nào là nói quá và tác dụng của biện pháp tu từ này trong văn chương cũng như trong cuộc sống thường ngày
Rèn luyện kĩ năng sử dụng từ đúng
Giáo dục lòng yêu Tiếng Việt
II Chuẩn bị
Thầy: soạn giảng, tài liệu: SGK, SGV, bảng phụ ghi VD
Trò: học bài cũ, chuẩn bị bài mới
B PHẦN THỂ HIỆN TRÊN LỚP
* Ổn định:
I Kiểm tra: 2’
Kiểm tra sự chuẩn bị bài của học sinh, kết hợp khi dạy bài mới
II Bài mới 1’
Trong chương trình ngữ văn 6- 7 các em đã được học 1 số phương pháp tu từ như:
so sánh, nhân hoá, điệp ngữ, ẩn dụ, hoán dụ
Hôm nay cô sẽ giới thiệu với các em 1 biện pháp tu từ nữa thường được dùng trong các câu thành ngữ, tục ngữ, ca dao đó là nói quá
GV
Yếu
Treo bảng phụ ghi VD SGK trang 101
Hs đọc Vd
Các em chú ý những từ ngữ được gạch chân
I Nói quá và tác dụng của nói quá 27’
1 Ví dụ
* Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng
Trang 2KH
GV
GV
GV
trong Vd
Nói “ Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng”,
“Ngày tháng mười chưa cười đã tối” và “mồ
hôi thánh thót như mưa ruộng cày” có quá sự
thật không?
Cách nói như vậy là quá sự thật Bởi thực tế
đêm tháng năm thời gian dù ngắn thật nhưng
không thể chưa kịp nằm trời đã sáng được và
ngày tháng 10 dù có có ngắn cũng không thể
chưa kịp cười trời đã tối
- Cũng như vậy, công việc cày đồng vào buổi
ban trưa dù rất vất vả, mồ hôi có rơi nhiều nhưng
cũng không thể như mưa “ruộng cày” được
Vậy thực chất mấy câu này nói tới điều gì?
- Thực chất câu tục ngữ (a) là sự đúc kết kinh
nghiệm quan sát hiện tượng thiên nhiên theo từng
mùa của ông cha ta xưa kia Ông cha ta thấy thời
gian đêm tháng 5 rất ngắn còn ngày tháng 5 thì
rất dài, ngược lại đêm tháng 10 thì dài còn ngày
tháng 10 lại rất ngắn
- Ở ví dụ (b) tác giả dân gian muốn nói công việc
cày đồng (việc làm đất) là công việc rất nặng
nhọc, vất vả lại phải làm vào thời điểm “ban
trưa” thì sự vất vả đó càng tăng lên bội phần “mồ
hôi thánh thót như mưa ruộng cày”
Tháng 5, tháng 10 trong câu tục ngữ này là tính
theo âm lịch Theo kiến thức địa lí các em đã học
ở lớp 6 thì do nước ta nằm ở phía bắc bán cầu
nên khi trái đất quay xung quanh mặt trời do
quay trên trục nghiêng nên tạo ra hiện tượng mùa
hè ngày dài, đêm ngắn (buổi sáng từ 5 giờ trời đã
sáng, tối 18 giờ trời vẫn còn sáng) Mùa đông thì
ngược lại ngày ngắn, đêm dài (sáng 6 giờ trời
vẫn còn tối, chiều 17 giờ trời đã xâm xẩm)
Yêu cầu học sinh quan sát bảng phụ cô có cách
diễn đạt sau:
a Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng- Đêm tháng
5 rất ngắn
Ngày tháng 10 chưa cười đã tối- Ngày tháng 10
rất ngắn
b Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày- mồ hôi
ướt đẫm
Cùng nói về 1 hiện tượng: đêm tháng 5 rất ngắn,
ngày tháng 10 rất ngắn và cùng diễn đạt 1 sự
việc: cày đồng vào buổi trưa rất vất vả nặng nhọc
→ Đêm tháng năm rất ngắn
* Ngày tháng mười chưa cười đã tối
→ Ngày tháng 10 rất ngắn
* Cày đồng… trưa
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày
→ Mồ hôi ướt đẫm
Ai ơi… muôn phần
Trang 3GV
GV
G
như ng ta có 2 cách diễn đạt như trên
Theo em cách diễn đạt nào hay hơn vì sao?
- Cách diễn đạt như câu tục ngữ và câu ca dao hay hơn, gây ấn tượng về thời gian rất ngắn và sự vất vả nặng nhọc hơn
Đúng vậy nếu ta chỉ nói “Đêm tháng 5 rất ngắn- ngày tháng 10 rất dài” thì dù đúng với thực tế xong cách nói ấy không gây ấn tượng với người nghe nhưng khi thời gian ngắn ấy được phản ánh hành động sinh hoạt cụ thể hàng ngày của con người “nằm- cười” thì khiến người đọc, người nghe dễ dàng hình dung độ ngắn của thời gian Bởi ngoài việc phục vụ cho yêu cầu hiệp vần của câu tục ngữ tạo nhạc điệu cho câu tục ngữ thì động từ “Nằm- cười” còn có khả năng gợi sự liên tưởng mạnh cho người đọc, người nghe
- Trong câu ca dao nếu chỉ nói “mồ hôi ướt đẫm”
sẽ không gợi cho người đọc, người nghe hình dung hết sự vất vả, cực nhọc của người dân khi lao động “cày đồng” còn diễn đạt “mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày” sẽ có khả năng nhấn mạnh được sự vất vả, nặng nhọc của công việc
“cày đồng” để góp phần làm ra hạt thóc, bát cơm dẻo thơm Nghĩa là người nông dân phải đổ biết bao mồ hôi, công sức mới làm nên hạt thóc, bát cơm Mặt khác, khi sử dụng những từ ngữ hình ảnh như câu ca dao nó còn tạo nên sự nhịp nhàng bởi cách gieo vần trong thơ lục bát làm tăng thêm tính hình tượng và nhạc điệu nhẹ nhàng cho
ca dao
Cách nói như vậy câu tục ngữ ca dao gọi là nói quá
Có ý kiến cho rằng: nói quá cũng là nói khoác
Em có đồng ý với ý kiến đó không? Vì sao?
(Thảo luận 3 phút)
- Không phải Nói quá và nói khoác đều là phóng đại qui mô, mức độ, tính chất, của sự vật, hiện tượng nhưng khác nhau về mục đích Nói quá là biện pháp tu từ nhằm mục đích nhấn mạnh, gây
ấn tượng, tăng sức biểu cảm cho sự vật hiện tượng được nói đến Còn nói khoác nhằm làm cho người nghe tin vào những điều không có thực để khoe khoang hoặc vui đùa (VD: chuyện quả bí to bằng cái đình làng) nhưng nếu nói
Trang 4TB
GV
TB
Yếu
khoác để khoe mẽ, hợm mình thì là không tốt
Cho nên các em cần phân biệt rõ để sử dụng cho
phù hợp
Trong cuộc sống hàng ngày chúng ta cũng hay sử
dụng phép nói quá để làm nổi bật ý cần diễn đạt
- Được sử dụng trong khẩu ngữ: ăn như rồng
cuốn, nói như rồng leo
- Trong văn chương châm biếm, trào phúng nói
quá được dùng nhiều
Lỗ mũi mười tám cái lông
Chồng yêu chồng bảo tơ hồng trời cho
- Trong thơ văn trữ tình:
Đau lòng kẻ ở người đi
Lệ rơi thấm đá, tơ chia rũ tằm
(Truyện Kiều- Nguyễn Du)
- Nói quá còn được sử dụng nhiều trong tục ngữ,
ca dao thành ngữ:
Khỏe như voi, đẹp như tiên, thét ra lửa, mình
đồng da sắt, tấc đất tấc vàng
Bao giờ cây cải làm đình
Gỗ lim làm ghém thì mình lấy ta
Từ sự phát triển trên em hiểu thế nào là nói quá
và nói quá có tác dụng gì?
Nói quá hay còn có tên là khoa trương, thậm
xưng, phóng đại, cường điệu, ngoa ngữ là một
biện pháp tu từ phóng đại ở mức độ qui mô, tính
chất của sự vật hiện tượng Cô giới thiệu với các
em thuật ngữ này để khi các em đọc sách, nghe
những tên gọi đó các em hiểu ngay đó là biện
pháp tu từ nói quá mà không cảm thấy bỡ ngỡ
nhầm lẫn
- Nói quá để nhấn mạnh sự việc, đêm tháng năm
và ngày tháng 10 rất ngắn và để nhấn mạnh công
việc lao động của người nông dân vất vả, nhọc
nhằn
Dựa vào khái niệm hãy lấy 1 vài ví dụ về phép tu
từ nói quá
VD: Lời khen của cô giáo là cho nó nở từng khúc
ruột
HS đọc ghi nhớ
Để củng cố và khắc sâu kiến thức chúng ta cùng
2 Bài học
Nói quá là biện pháp tu
từ phóng đại đến mức
độ, quy mô, tính chất của
sự vật, hiện tượng được miêu tả để nhấn mạnh gây ấn tượng, tăng sức biểu cảm
* Ghi nhớ SGK <102>
II Luyện tập 15’
1 Bài tập 1
Trang 5làm bài tập.
Hs đọc yêu cầu bài tập
a sỏi đá cũng thành cơm: khẳng định niềm tin
vào quá trình lao động của con người
b đi lên đến tận trời: vết thương chẳng có nghĩa
lí gì Không cần phải bận tậm
c Thét ra lửa: chỉ kẻ có quyền sinh quyền sát đối
với người khác
Hs đọc yêu cầu bài tập
Để điền được chính xác các em cần phải hiểu
đúng ý nghĩa của các thành ngữ đã cho để lựa
chọn thành ngữ phù hợp điền vào chỗ trống
Cho 2 học sinh lên bảng, hs khác nhận xét
a Chó ăn đá gà ăn sỏi
b Bầm gan tím ruột
c Ruột để ngoài da
d Nở từng khúc ruột
e Vắt chân lên cổ
Bài tập yêu cầu đạt câu với các thành ngữ dùng
biện pháp nói quá để đặt câu đúng chúng tra cần
hiểu nghĩa của các thành ngữ
Em hiểu như thế nào về các câu thành ngữ trên
- Nghiêng nước nghiêng thành: sắc đẹp lộng lẫy
của người con gái khiến người ta say đắm đến
mê hồn
- Dời non lấp biển: sức mạnh phi thường, khí thế
hùng vĩ,việc làm cực kì vĩ đại thể hiện hoài bão
lớn lao
- Nghĩ nát óc: suy nghĩ rất kĩ, nghĩ mãi mà không
ra
- Lấp bể vá trời: chỉ việc làm cực kì vĩ đại, lớn
lao
- Mình đồng da sắt
Đặt câu với các thành ngữ trên:
- Thuý Kiều có vẻ đẹp nghiêng nước nghiêng
thành
- Đoàn kết lá sức mạnh dời non lấp bể
- Lấp bể vá trời là công việc của thế hệ thanh
niên
- Các chiến sĩ pháo binh được mênh danh là
những chiến sĩ mình đồng da sắt
- Mình nghĩ nán óc mà chưa giải được bài toán
2 Bài tập 2
3 Bài tập 3
Trang 6Tìm năm thành ngữ so sánh có biện pháp nói
quá:
- Xấu như ma
- Chậm như sên
- Ngáy như sấm
- Trơn như mỡ
- Lúng túng như gà mắc tóc
III Hướng dẫn học và làm bài 1’
- Học thuộc ghi nhớ
- Nắm nội dung bài
- Làm bài tập còn lại
- Chuẩn bị đề cương ôn tập truyện kí Việt Nam
Ngày soạn: Ngày giảng:
Tiết 38
ÔN TẬP TRUYỆN KÍ VIỆT NAM
A PHẦN CHUẨN BỊ
I Mục tiêu cần đạt: Giúp học sinh
- Củng cố hệ thống hoá kiến thức phần truyện kí hiện đại Việt Nam học ở lớp 8
- Rèn luyện kĩ năng hệ thống hoá, khái quát hoá, nhận xét, kết luận trong quá trình luyện tập
- Giáo dục tình cảm yêu mến, tự hào
II Chuẩn bị
Thầy: nghiên cứu SGK, SGV, soạn giáo án, bảng phụ
Trò: học bài cũ, làm đề cương ôn tập
B PHẦN THỂ HIỆN TRÊN LỚP
* Ổn định:
I Kiểm tra: 2’
Kiểm tra đề cương ôn tập của học sinh kết hợp trong quá trình ôn tập
II Bài mới
Từ đầu năm học lớp 8 đến nay ở chương trình ngữ văn các em đã được học một số
văn bản truyện kí Việt Nam Để giúp các em củng cố và hệ thống được những kiến thức cơ bản của các văn bản ấy tiết học hôm nay chúng ta cùng ôn tập
I Nội dung ôn tập 37’
GV: ở chương trình ngữ văn lớp 6, 7 các em đã được học 1 số văn bản truyện kí Việt Nam
Hs TB: Hãy kể tên 1 số văn bản truyện kí đã học đó
Trang 7- Các văn bản: Dế mèn phiêu lưu kí (Tô Hoài)
Bức tranh của em gái tôi (Tạ Duy Anh)
Sống chết mặc bay (Phạm Duy Tốn)
Hs Khá: Qua các văn bản đó em hiểu thế nào về thể loại truyện kí
- Truyện kí chỉ các thể loại văn xuôi nghệ thuật: truyện (truyện ngắn, tiểu thuyết…) và kí (hồi ức, phóng sự, tuỳ bút…) mang yếu tố miêu tả ghi chép những hình ảnh, sự việc mà nhà văn quan sát, chứng kiến thể hiện tình cảm, suy nghĩ của tác giả
Giáo viên: Từ đầu năm học đến nay các em đã được tìm hiểu 4 văn bản truyện kí
VN trong giai đoạn văn học từ 1930- 1945 chúng ta cùng ôn tập hệ thống hoá kiến thức của 4 văn bản này
1 Bảng thống kê những văn bản truyện kí Việt Nam đã học
Hs Tb: Em hãy kể tên các văn bản truyện kí VN đã học ở học kì lớp 8
4 văn bản: Tôi đi học, Trong lòng mẹ, Tức nước vỡ bờ, Lão Hạc
2 Giá trị v ăn học
Hs Tb: Văn bản Tôi đi học được viết nào năm nào? Do ai sáng tác, văn bản được viết theo phương thức biểu đạt nào?
Hs Khá: Nêu nội dung chủ yếu và những nét đặc sắc nghệ thuật của văn bản Tôi đi học
Hs Tb: Trình bày những hiểu biết của em về tác giả Nguyên Hồng.
Hs Giỏi: Nêu thể loại, phương thức biểu đạt, nghệ thuật và nội dung chủ yếu của
văn bản “Trong lòng mẹ”
Hs Tb: Văn bản “Tức nước vỡ bờ” do ai sáng tác, thuộc thể loại nào, nêu phương thức biểu đạt của văn bản
Hs khá: Cho biết nội dung và nghệ thuật của văn bản “Tức nước vỡ bờ”
Hs Tb: văn bản Lão Hạc trích trong tác phẩm nào? Được sáng tác vào thời gian nào? Do ai sáng tác?
Hs khá: Văn bản Lão Hạc thể loại nào, nêu phương thức biểu đạt, nội dung và nghệ thuật đặc sắc của văn bản là gì?
Giáo viên: Sau mỗi câu trả lời của học sinh: GV nhận xét, khái quát và ghi vào
bảng thống kê
Tên văn bản,
tên tác giả
Thể loại
Phương thức biểu đạt
Nội dung chủ yếu Đặc sắc nghệ thuật
Tôi đi học
(1941)
Thanh Tịnh
(1911- 1988)
Truyện ngắn
Tự sự Những kỉ niệm trong
buổi sáng về buổi tựu trường đầu tiên
Ngòi bút văn xuôi giàu chất thơ, gợi dư vị trữ tình man mác
Trong lòng
mẹ (trích:
Hồi kí Tự sự
xen
Nỗi đau của cậu bé
mồ côi và tình thương
Ngòi bút thấm đượm chất trữ tình, lời văn
Trang 8Những ngày
(1938)
Nguyên
Hồng
(1918-1982))
biểu cảm
yêu mẹ cháy bỏng tự truyện chân thành
giàu sức truyền cảm
Tức nước vỡ
bờ (trích: Tắt
đèn 1939,
Ngô Tất Tố
(1893-1954))
Tiểu thuyết
Tự sự Phê phán chế độ tàn
ác bất nhân và ca ngợi
vẻ đẹp tâm hồn, sức sống tiềm tàng của người phụ nữ nông thôn
Khắc hoạ nhân vật rõ nét điển hình, ngòi bút miêu tả linh hoạt, sống động.Ngôn ngữ kể chuyện đối thoại của tác giả, người đối thoại của tác giả, người đối thoại với nhân vật rất đặc sắc Lão Hạc
(trích Lão
Hạc 1943,
Nam Cao
(1915-1951))
Truyện ngắn
Tự sự xen biểu cảm
Số phận đau thương của người nông dân trong xã hội cũ và nhân phẩm cao đẹp của Lão Hạc
Khắc hoạ nhân vật tài tình cách dẫn truyện tự nhiên hấp dẫn kết hợp
tự sự, triết lí biểu cảm
3 Những điểm giống và khác nhau về nội dung và nghệ thuật của 3 văn bản truyện kí: Trong lòng mẹ, Tức nước vỡ bờ, Lão Hạc.
a Giống nhau
Gv yêu cầu hs theo dõi bảng thống kê
Hs Tb: Tìm điểm giống nhau về thể loại và phương thức biểu đạt của 3 văn bản: Trong lòng mẹ, Tức nước vỡ bờ, Lão Hạc
Đều là văn bản tự sự, là truyện kí hiện đại (được sáng tác vào thời kì 1930- 1945)
Giáo viên: Cả 3 truyện kí VN các em đã được học đều ra đời vào thời kì (1930-1945) 1 đặc điểm quan trọng của văn học Việt Nam thời kì này là văn học đổi mới ngày càng sâu sắc, mạnh mẽ theo hướng hiện đại hoá, đặc biệt là từ 1930 văn học Việt Nam thật sự bước vào quỹ đạo hiện đại Các văn bản đều được viết bằng chữ quốc ngữ với cách viết mới mẻ đó là những truyện kí hiện đại, rất khác so với các
văn bản truyện kí VN trung đại mà các em đã học ở lớp 6 Việc hiện đại hoá văn học nói chung, truyện kí nói riêng đã diễn ra từ đầu thế kỉ XX nhưng đến những
năm 1930- 1945 có thể coi là đã hoàn thiện
Hs khá: Đề tài và chủ đề của 3 văn bản có đặc điểm gì chung
- Đều lấy đề tài về con người và cuộc sống của những người nông dân cùng khổ và đi sâu miêu tả số phận cực khổ của những con người bị vùi dập
- Chan chưa tinh thần nhân đạo
Trang 9Giáo viên: Cả 3 văn bản đều chan chưa tinh thần nhân đạo: yêu thương, trân trọng những tình cảm phẩm chất đẹp đẽ của con người; tố cáo những gì tàn ác, xấu xa
Hs Tb: Nêu điểm chung về mặt nghệ thuật của 3 văn bản trên
- Cả 3 văn bản đều có lối viết chân thực, gần đúng đời sống rất sinh động
Giáo viên: Cả 3 văn bản đều viết bằng bút pháp chân thực, hiện thực gần gũi với cuộc sống ngôn ngữ giản dị, cách kể chuyện và cách miêu tả: tả người, tả tâm lí rất
cụ thể, hấp dẫn Đó chính là những đặc điểm của dòng văn xuôi hiện thực VN trước cách mạng tháng Tám 1945 dòng văn học bắt đầu khơi nguồn từ những năm
20 nhưng phát triển mạnh mẽ ở những năm 30, và đầu những năm 40 của thể kỉ
XX, đem lại cho văn học hiện đại VN những tên tuổi và những tác phẩm kiệt xuất
Văn học hiện thực VN góp phần đáng kể vào quá trình hiện đại hoá văn học Việt Nam về nhiều mặt: đề tài, chủ đềm thể loại, đến xây dựng nhân vật, ngôn ngữ Có thể nói những điểm giống nhau của 3 văn bản trên đều là những đặc điểm chung nhất của dòng văn xuôi hiện thực nước ta trước Cách mạng Đồng thời cũng là những điểm khác biệt của truyện kí hiện đại và truyện kí trung đại Việt Nam
Giáo viên: Ngoài những điểm giống nhau và chúng ta vừa tìm hiểu 3 văn bản cũng
có những điểm khác nhau
b Khác nhau
3 văn bản trên có đặc điểmgì khác nhau về mặt nội dung và hình thức nghệ thuật?
Hs trả lời, giáo viên nhận xét bổ sung vào ghi bảng
Văn
bản
Thể
loại
PT biểu đạt Nội dung chủ yếu Đặc điểm nghệ thuật Trong
lòng
mẹ
Hồi kí
(trích)
Tự sự (xen trữ tình)
Nỗi đau của chú bé mồ côi
và tình yêu thương mẹ của chú bé
Văn hồi kí chân thực trữ tình thiết tha
Tức
nước
vỡ bờ
Tiểu
thuyết
(trích)
Tự sự Phê phán chế độ tàn ác bất
nhân và ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn, sức sống tiềm tàng của người phụ nữ nông thôn
Khắc hoạ nhân vật, miêu tả hiện thực 1 cách sinh động, chân thực
Lão
Hạc
Truyện
ngắn
(trích)
Tự sự (xen trữ tình)
Số phận bi thảm của người nông dân cùng khổ và nhân phẩm cao đẹp của họ
Nhân vật được đào sâu tâm lí cách kể chuyện tự nhiên linh hoạt, vừa chân thực vừa đậm chất triết lí trữ tình
II Luyện tập 5’
1 Bài tập 1:
Trong 3 văn bản “Trong lòng mẹ, Tức nước vỡ bờ, Lão Hạc” Em thích nhất nhân vật hoặc đoạn văn nào? Vì sao?
Trang 10- Để học sinh tự thâm nhập thật sự vào văn bản “sống” với nhân vật và câu chuyện
để có rung cảm thực, từ đó giải thích được căn cứ của những xúc cảm dẫn tới sự lựa chọn của mình
- Nếu sự lựa chọn không chính xác hoặc chưa giải thích được những căn cứ cho sự lựa chọn của mình thì giáo viên khơi ngợi định hướng cho học sinh
VD: Thích nhất nhân vật “chú bé Hồng” trong văn bản “Trong lòng mẹ” bởi vì qua nhân vật này chúng ta không chỉ cảm nhận những cung bậc tâm trạng của 1 chú bé rất tin yêu mẹ mà còn hiểu cụ thể, sâu sắc những nét đặc trưng của thể văn hồi kí, thể văn đậm chất trữ tình Qua cuộc đối thoại và những cung bậc cảm xúc của bé Hồng trước bà cô giúp chúng ta thấy được nỗi đau, thấy được 1 bản lĩnh cứng cỏi, tấm lòng thiết tha của người con rất mực thương yêu và tin tưởng mẹ
III Hướng dẫn học ở nhà 1’
- Nắm nội dung bài
- Soạn: Thông tin về ngày trái đất năm 2000
Ngày soạn: Ngày giảng:
Tiết 39
THÔNG TIN VỀ NGÀY TRÁI ĐẤT NĂM 2000
A PHẦN CHUẨN BỊ
I Mục tiêu cần đạt: Giúp học sinh
- Thấy được tác hại, mặt trái của việc sử dụng bao bì ni lông, tự mình hạn chế sử dụng bao bì ni lông và vận động mọi người cùng thực hiện khi có điều kiện
- Thấy được tính thuyết phục trong cách thuyết minh về tác hại của việc sử dụng bao bì nilông cũng như tính hợp lí của những kiến nghị mà văn bản để xuất
- Từ việc sử dụng bao bì nilông có những suy nghĩ tích cực về các việc tương tự trong vấn đề xử lí rác thải sinh hoạt, 1 vấn đề vào loại khó giải quyết nhất trong nhiệm vụ bảo vệ môi trường
II Chuẩn bị
Thầy: soạn giảng, tài liệu: SGK, SGV
Trò: học bài cũ, chuẩn bị bài mới
B PHẦN THỂ HIỆN TRÊN LỚP
I Kiêm tra 3’
Kiểm tra vở soạn của học sinh 2- 3 em
Giáo viên nhận xét đánh giá cho điểm
II Bài mới 1’
Các em thân mến, hiện nay môi trường sống của chúng ta đang bị ô nhiễm.Nguồn gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng nhất là rác thải, trong đó khó
xử lí nhất là rác thải sinh hoạt Trách nhiệm xử lí rác thải công nghiệp chủ yếu là của các cơ quan nhà nước và lãnh đạo các doanh nghiệp Rác thải sinh hoạt gắn