“Giáo trình Luật dân sự Việt Nam” của Học viện Tư pháp, mặc dù không nói thẳng, nhưng đã ngụ ý không đồng ý với định nghĩa tại Điều 274, BLDS năm 2015, và đã đưa ra một định nghĩa: Nghĩa
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
MAI THỊ THANH HUYỀN
BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM TRONG THI HÀNH
ÁN DÂN SỰ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2021
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
MAI THỊ THANH HUYỀN
BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM TRONG THI HÀNH
ÁN DÂN SỰ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số : 8380101.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS HOÀNG THẾ ANH
Hà Nội – 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Mai Thị Thanh Huyền
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I 8
LÝ LUẬN CHUNG VỀ BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 8
1.1 Khái quát về nghĩa vụ thi hành án dân sự 8
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm nghĩa vụ thi hành án dân sự 8
1.1.2 Đặc điểm của nghĩa vụ thi hành án dân sự 10
1.1.3 Phân loại nghĩa vụ thi hành án dân sự 11
1.1.4 Phương thức thực hiện nghĩa vụ thi hành án dân sự 13
1.2 Khái niệm, đặc trưng, phân loại biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự 14
1.2.1 Khái niệm biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự 14
1.2.2 Đặc trưng của biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự 18
1.2.3 Phân loại biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự 20
1.2.3.1 Căn cứ vào mục đích của việc áp dụng 21
1.2.3.2 Căn cứ vào loại tài sản và tình trạng pháp lý của tài sản 22
1.2.3.3 Các BPBĐTHADS theo quy định của pháp luật hiện hành 23
1.3 Trình tự áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự 24
1.3.1 Thẩm quyền áp dụng 24
1.3.2 Thời điểm áp dụng 25
1.3.3 Điều kiện áp dụng 26
1.3.4 Nguyên tắc áp dụng 27
1.3.5 Hậu quả pháp lý 29
1.4 Vị trí, vài trò của biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự 29
1.5 Phân biệt biện pháp bảo đảm trong thi hành án dân sự và biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự, biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự 32
1.6 Phân biệt biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự và biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự 35
1.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự 37
Trang 51.8 Sơ lược sự phát triển các quy định của pháp luật về biện pháp bảo đảm thi
hành án dân sự 40
KẾT LUẬN CHƯƠNG I 42
CHƯƠNG II 43
THỰC TRẠNG VIỆC ÁP DỤNG BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TẠI VIỆT NAM THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH 43
2.1 Một số kết quả chủ yếu trong việc áp dụng BPBĐTHADS 43
2.2.Thực trạng áp dụng BPBĐTHADS tại Việt Nam theo quy định của pháp luật hiện hành 47
2.2.1 Một số vấn đề chung trong việc áp dụng BPBĐTHADS 47
2.2.1.1 Cơ sở pháp lý 47
2.2.1.2 Thẩm quyền áp dụng 49
2.2.1.3 Thời điểm áp dụng 49
2.2.1.4 Điều kiện áp dụng 50
2.2.1.5 Nguyên tắc áp dụng 50
2.2.2 Một số vấn đề cụ thể trong việc áp dụng BPBĐTHADS 51
2.3 Hạn chế và nguyên nhân của hạn chế, khó khăn, vướng mắc 77
2.3.1 Hạn chế, vướng mắc 77
2.3.1.1 Hạn chế, vướng mắc về mặt pháp lý 77
2.3.1.2 Hạn chế, vướng mắc về tổ chức thực hiện 83
2.3.2 Nguyên nhân 86
2.3.2.1 Xuất phát từ nguyên nhân chủ quan 86
2.3.2.2 Xuất phát từ nguyên nhân khách quan 88
KẾT LUẬN CHƯƠNG II 89
CHƯƠNG III 90
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 90
3.1 Quan điểm về việc nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự 90
Trang 63.1.1 Áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự phải đáp ứng yêu cầu xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa 90
3.1.2 Áp dụng BPBĐTHADS phải đảm bảo quyền con người, quyền công dân 91
3.1.3 Áp dụng BPBĐTHADS phải đảm bảo hiệu quả phối hợp của các cơ quan, tổ chức liên quan 91
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự 92
3.2.1 Hoàn thiện thể chế trong công tác thi hành án dân sự 92
3.2.2.Hoàn thiện các quy định của pháp luật về áp BPBĐTHADS 94
3.2.2.1.Đối với các BPBĐTHADS nói chung 94
3.2.2.2 Đối với các BPBĐTHADS cụ thể 99
3.2.3 Nâng cao chuyên môn, kỹ năng, trình độ của CHV, cán bộ, công chức trong cơ quan THADS 101
3.2.4 Nâng cao hiệu quả cơ chế phối hợp giữa cơ quan và tổ chức có liên quan trong việc THADS 102
3.2.5 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật 103
3.2.6 Đẩy mạnh và nâng cao vai trò công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trong việc THADS 103
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 104
KẾT LUẬN 105
Trang 7VKSND: Viện kiểm sát nhân dân
Trang 8dụng, thay đổi hiện trạng tài sản
48
Trang 91
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
THADS là hoạt động đưa bản án, quyết định về dân sự của Tòa án, Trọng tài thương mại, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh ra thi hành trên thực tế THADS bảo đảm cho bản án, quyết định của Tòa án được chấp hành triệt để, góp phần bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và lợi ích của Nhà nước, góp phần giữ vững ổn định chính trị-
xã hội, tăng cường hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước, góp phần phát triển kinh tế-
xã hội
Trong bối cảnh hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đang không ngừng đẩy mạnh việc thực hiện cải cách tư pháp, mục tiêu đến năm 2020 Một trong các vấn đề lớn trong cải cách hoạt động tư pháp là phải đảm bảo được công tác xét xử cũng như thi hành triệt để bản án, quyết định của Tòa án trong thực tế Điều 136 Hiến pháp Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và gần
đây nhất là Điều 106 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Bản án, quyết định của Tòa án
nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành”
Để đảm bảo hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án, trong những năm qua Đảng, Nhà nước ta đã quan tâm ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật, tiến hành cải cách về mặt tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp, trong đó có cơ quan THADS như: chuyển giao công tác THADS từ TAND sang cho Chính phủ quản lý; cải cách và củng cố hệ thống các cơ quan THADS; ban hành nhiều nghị quyết và các luật liên quan đến cải cách tổ chức và hoạt động của cơ quan tư pháp nói chung và
cơ quan THADS nói riêng: Nghị quyết số 08/NQTW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về những nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới, Chỉ thị số 20/2001/CT-TTg ngày 11/9/2001 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác THADS Đặc biệt, Luật THADS năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 đã tạo hành lang pháp lý cho cơ quan THADS giải quyết việc THA nhanh chóng, kịp thời, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước, đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Do đó, trong những năm qua tỷ lệ bản bản án, quyết định được thi hành xong chiếm một tỷ lệ khá cao, kết quả THADS năm sau luôn cao hơn
Trang 102
năm trước đã góp phần quan trọng vào việc bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, thực hiện dân chủ, công bằng và phát triển kinh tế- xã hội của đất nước Tuy nhiên, không phải lúc nào các chủ thể trong quan hệ dân sự cũng tự nguyện thực hiện các nghĩa
vụ của mình, khiến cho nhiều trường hợp các cơ quan THADS phải sử dụng các BPBĐTHADS, BPCCTHADS như một phương tiện để đảm bảo hiệu lực của các bản
án, quyết định Do đó, việc bổ sung và hoàn thiện các quy định pháp luật về THADS nói chung, các biện pháp cưỡng chế, biện pháp bảo đảm THADS nói riêng được đặt ra cấp thiết
Cùng với sự phát triển kinh tế- xã hội, các tranh chấp trong quan hệ dân sự cũng ngày càng nhiều và phức tạp hơn, do đó yêu cầu thi hành án ngày càng tăng cao Thực tế quá trình tổ chức THA cho thấy, phần lớn các nghĩa vụ thi hành án gắn liền với yếu tố tài sản của các đương sự trong vụ việc THA thường không tự nguyện thi hành án, có tâm lý chây ỳ, trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ trong bản án, quyết định nên rất dễ dẫn đến những hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản nhằm làm mất đi điều kiện thi hành án Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, với mục đích bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người được THA, khẳng định rõ quyền hạn của CHV, nhằm nâng cao hiệu quả của công tác THADS, giảm tình trạng án tồn đọng, Luật THADS đã quy định các BPBĐTHADS: phong tỏa tài khoản tài sản ở nơi gửi giữ; tạm giữ tài sản, giấy
tờ của đương sự; tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản
Bằng việc quy định các BPBĐTHADS, Luật THADS đã kịp thời bổ sung cho các CHV những quyền hạn nhất định Thực tế cho thấy việc thực hiện các BPBĐTHADS đã mang lại những kết quả nhất định trong công tác THADS Tuy nhiên, các biện pháp này vẫn còn những hạn chế, khó khăn, bộc lộ nhiều vấn đề cần nghiên cứu, làm rõ.Trong xu thế ấy, nghiên cứu một cách toàn diện chuyên sâu về BPBĐTHADS từ lý luận đến thực tiễn, để chỉ ra những ưu điểm, hạn chế trong việc áp dụng các BPBĐTHADS từ khâu xây dựng thể chế đến tổ chức thực hiện các quy định
đối với biện pháp này là yêu cầu bức thiết Vì vậy, học viên chọn đề tài “Các biện pháp bảo đảm trong thi hành án dân sự theo pháp luật Việt Nam” làm luận văn thạc
sĩ luật học là vấn đề cấp thiết và có ý nghĩa thực tiễn, mang tính thời sự, đáp ứng yêu cầu THADS trong tình hình mới
Trang 113
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1 Nhóm các công trình nghiên cứu chung về THADS
Những năm gần đây, trước những đòi hỏi khách quan của công tác THADS đã
có một số công trình khoa học nghiên cứu về về đề THADS như:
- Đề tài “Giám sát thi hành án dân sự”, Luận án tiến sĩ Luật học tại Khoa Luật
Đại học Quốc gia Hà Nội của tác giả Hoàng Thế Anh, năm 2015;
- Đề tài “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về cưỡng chế thi hành án dân sự ở
Việt Nam”, Luận án tiến sĩ Luật học tại Đại học Luật Hà Nội của tác giả Lê Anh Tuấn,
năm 2017;
- Đề tài “Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án
trong Thi hành án dân sự”, Luận văn thạc sĩ luật học tại Đại học Luật Hà Nội của tác
giả Đinh Hồng Hà, năm 2013;
- Đề tài “Biện pháp kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án trong Thi
hành án dân sự”, Luận văn thạc sĩ luật học tại Đại học Luật Hà Nội của tác giả Chu
Quang Phúc, năm 2018;
- Đề tài “Kê biên quyền sử dụng đất, theo phát luật thi hành án dân sự từ thực
tiễn huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội”, Luận văn thạc sĩ luật học tại Viện Hàn
Lân Khoa học Xã hội- Viện Khoa học Xã hội của tác giả Lê Quang Tuấn, năm 2016;
- Đề tài “Cưỡng chế thi hành án dân sự thực tiễn ở tỉnh Nam Định”, Luận văn
thạc sĩ Luật học tại Viện Hàn Lân Khoa học Xã hội- Viện Khoa học Xã hội của tác giả Lương Ngọc Hưng, năm 2018;
- Đề tài “Biện pháp cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất, theo pháp luật thi
hành án dân sự”, Luận văn thạc sĩ Luật học tại Khoa luật Đại học quốc gia Hà Nội của
tác giả Nguyễn Anh Tuấn, năm 2015;
- Đề tài “Cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở trong
Thi hành án dân sự ở Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ Luật học tại Khoa luật Đại học quốc
gia Hà Nội của tác giả Lê Anh Tuấn, năm 2019;
- Đề tài “Xác minh điều kiện thi hành án dân sự theo pháp luật Việt Nam”, Luận
văn thạc sĩ Luật học Khoa luật Đại học quốc gia Hà Nội của tác giả Nguyễn Thị Hòa, năm 2019;
Trang 124
- Đề tài “Bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự theo pháp luật Việt Nam”,
Luận văn thạc sĩ Luật học tại Khoa luật Đại học quốc gia Hà Nội của tác giả Bùi Thị Thu Hiền, năm 2014;
- Đề tài “Thi hành án dân sự- qua thực tiễn tại tỉnh Bắc Ninh”, Luận văn thạc
sĩ Luật học tại Khoa luật Đại học quốc gia Hà Nội của tác giả Lê Quỳnh Nga, năm
2014
Các nghiên cứu này đã góp phần xây dựng hệ thống lý luận về THADS ở Việt Nam, là căn cứ để hoàn thiện pháp luật, cũng như bổ sung và hỗ trợ cho các nghiên cứu trong tương lai
2.2 Nhóm các công trình nghiên cứu trực tiếp liên quan đến đề tài luận
văn
BPBĐTHADS là biện pháp nhằm ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án Qua nghiên cứu và tìm hiểu về các BPBĐ trong THADS, nhận thấy vấn đề này đã được một số cơ quan, nhà luật học, nhà khoa học quan tâm, dành thời gian nghiên cứu Cụ thể như một số công trình nghiên cứu:
- Đề tài “Biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự”, Luận văn thạc sỹ luật học
của tác giả Phan Huy Hiếu, Khoa luật Đại học quốc gia Hà Nội, 2012;
- Đề tài “Biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự theo Luật Thi hành án dân sự
năm 2014 từ thực tiến tỉnh Hưng Yên”, Luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Hà Văn
Thành, Học viện khoa học xã hội- Viện Hàn Lâm, 2016;
- Đề tài “Biện pháp phong tỏa tài khoản trong thi hành án dân sự từ thực tiễn
thành phố Đà Nẵng”, Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện khoa học xã hội- Viện Hàn
Lâm, 2016;
- Đề tài “Biện pháp bảo đảm Thi hành án dân sự”, Khóa luận tốt nghiệp tại
Đại học Luật Hà Nội của tác giả Phạm Minh Hằng, 2012;
- Đề tài “Biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự và thực tiễn thực hiện”, Luận
văn thạc sĩ luật học tại Đại học Luật Hà Nội của tác giả Nguyễn Quang Ngọc, 2019;
- Đề tài “Biện pháp bảo đảm trong thi hành án dân sự”, Luận văn thạc sĩ luật
học tại Đại học Luật Hà Nội của tác giả Nguyễn Thị Hằng, 2017;
Hay một số bài viết trên các trang tạp chí như:
Trang 135
- Bài viết: “Bản chất pháp lý của biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự theo
Luật Thi hành án dân sự” của tác giả Trần Anh Tuấn (Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số
16/2009);
- Bài viết: “Vài suy nghĩ về thời hạn áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án”
của tác giả Hồ Quân Chính (Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số chuyên đề về thi hành án dân sự 7/2011);
- Bài viết “Biện pháp bảo đảm thi hành án- Bước ngoặt của pháp luật thi hành
án dân sự” của tác giả Lê Thị Kim Dung (Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số chuyên đề
Thi hành án dân sự và vần đề xã hội hóa, năm 2009);
- Bài viết “Một số vấn đề về việc áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án” của
tác giả Đinh Duy Bằng (Tạp chí Dân chủ pháp luật, số 2 năm 2012;
- Bài viết “Một số vướng mắc trong thực tiễn áp dụng biện pháp bảo đảm thi
hành án” của tác giả Hoàng Thị Thanh Hoa (Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số định kỳ
tháng 5/2019);
- Bài viết “Tạm giữ tài sản, giấy tờ của người phải thi hành án: Tiếp tục hoàn thiện
quy định” của tác giả Hoàng Thị Thanh Hoa (Báo Pháp luật Việt Nam ngày 03/01/2020);
- Bài viết “Các biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự” của tác giả Trần
Phương Hồng (Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số chuyên đề 2011) …
2.3 Đánh giá chung
Các công trình nghiên cứu và những bài viết trên đã góp phần hoàn thiện lý luận về THADS nói chung và áp dụng BPBĐTHADS nói riêng ở những góc độ, khía cạnh và mức độ khác nhau Đồng thời đưa ra nhiều giải pháp, kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả trong việc hoàn thiện các quy định của pháp luật, hoàn thiện việc áp dụng pháp luật về THADS và việc áp dụng BPBĐTHADS trên thực tế Tuy nhiên các công trình, bài viết chủ yếu tập trung nghiên cứu mới chỉ dừng lại tại thời điểm các công trình trên được nghiên cứu (sử dụng Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành cũ đến nay một số văn bản đã được sửa đổi, bổ sung và một số văn bản đã được hủy bỏ, thay thế)
Tiếp thu có chọn lọc các công trình nghiên cứu, bằng kinh nghiệm thực tiễn và hiểu biết của mình, tác giả trình bày trong luận văn về cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn về các BPBĐTHADS và những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các BPBĐ trong công tác tổ chức THADS
Trang 146
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu của luận văn là trên cơ sở phân tích, đánh giá làm rõ những vấn đề lý luận, nội dung của các BPBĐTHADS, tác giả tìm ra những điểm hạn chế, vướng mắc và từ đó đề ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả của hoạt động áp dụng biện pháp bảo đảm này trong quá trình tổ chức THA
Với mục đích đã nêu, nhiệm vụ nghiên cứu được xác định trên những khía cạnh sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về các BPBĐTHADS như khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, nội dung, cở sở lý luận, cơ sở thực tiễn
- Phân tích, đánh giá những quy định của pháp luật Việt Nam về các BPBĐTHADS hiện hành;
- Thực trạng quá trình tổ chức thi hành án liên quan đến việc áp dụng BPBĐTHADS
- Đề ra những giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện và thực hiện pháp luật về các BPBĐTHADS
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận, các quy định của pháp luật liên quan đến việc áp dụng các BPBĐTHADS và thực trạng áp dụng các biện pháp này trong quá trình tổ chức THA hiện nay
- Phạm vi nghiên cứu: Nội dung nghiên cứu của đề tài gồm nhiều vấn đề khác nhau, do vậy trong khuôn khổ của Luận văn này, tác giả xin tập trung nghiên cứu làm
rõ một số vấn đề tổng quan như khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, nội dung, cơ sở pháp luật quy định các BPBĐTHADS và thực tiễn thi hành các quy định của pháp luật hiện hành, đồng thời đề xuất một số giải pháp tháo gỡ những bất cập của chế định này
5 Phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu đề tài luận văn là các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về pháp luật, về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tiến hành cải cách bộ máy nhà nước, hoàn thiện hệ thống pháp luật và nền tư pháp Đây là kim chỉ nam cho việc định hướng các phương pháp nghiên cứu của tác giả trong quá trình thực hiện luận văn
Trang 156 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Thứ nhất: Luận văn đã nghiên cứu một cách hệ thống những vấn đề lý luận, nội dung của các BPBĐTHADS trong tình hình mới
Thứ hai: Kết quả nghiên cứu đã góp phần đánh giá đúng các quy định của pháp luật, thực trạng áp dụng các BPBĐTHADS trong quá trình tổ chức THA
Thứ ba: Luận văn đưa ra các đề xuất có tính khả thi cao nhằm hoàn thiện pháp luật về các BPBĐTHADS, từ đó nâng cao kết quả THADS
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương, cụ thể:
Chương 1: Cơ sở lý luận về biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự
Chương 2: Thực trạng việc áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự tại Việt Nam theo quy định của pháp luật hiện hành
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự
Trang 168
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
1.1 Khái quát về nghĩa vụ thi hành án dân sự
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm nghĩa vụ thi hành án dân sự
BLDS 2005 gọi “nghĩa vụ” là “nghĩa vụ dân sự”, có nghĩa là đã loại bỏ bớt đi nghĩa vụ tự nhiên nhưng lại định nghĩa: Nghĩa vụ dân sự là việc theo đó một hoặc nhiều chủ thể (bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc khác hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (bên có quyền) (Điều 280) Định nghĩa này chưa thể hiện rõ nghĩa vụ dân sự là một quan hệ pháp luật mà trong đó có hai chủ thể đối lập nhau về mặt lợi ích, chưa nêu lên vai trò chủ động của bên có quyền yêu cầu, không mang tính chất khái quát cao mà chỉ dừng lại ở việc nhắc tới các bên trong quan hệ nghĩa vụ và liệt kê các đối tượng của nghĩa vụ
Và sau này, khi BLDS năm 2015 ra đời tại Điều 274 có định nghĩa: Nghĩa vụ là việc mà theo đó một hoặc nhiều chủ thể (bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (bên có quyền)
Thật ra định nghĩa nêu trên đã cắt bỏ phần đuôi “dân sự” trong cụm từ nghĩa vụ dân sự, song điều đó không ảnh hướng đến thói quen của xã hội trong việc nhìn nhận nghĩa vụ trong quan hệ dân sự phân biệt với nghĩa vụ trong các quan hệ pháp lý khác
Tuy nhiên, trong cuộc sống dân sự có những quan hệ nghĩa vụ hoàn toàn không trái đạo đức, không trái luật nhưng khó có thể, thậm chí không thể cưỡng chế thực hiện trong trường hợp không được tự giác thực hiện Ví dụ, một người hứa thưởng 03 triệu đồng cho người nào tìm được con chó cưng bị thất lạc, thì phải thưởng khi có người mang chó cưng đến và đòi nhận thưởng Trái lại, cũng người đó hứa thưởng 03 triệu đồng cho con trai nếu thi đỗ đại học, thì khó hình dung khả năng cưỡng chế việc trả thưởng trong trường hợp con trai đỗ đại học Có thể gọi nghĩa vụ trả thưởng trong ví dụ
Trang 17“Giáo trình Luật dân sự Việt Nam” của Học viện Tư pháp, mặc dù không nói
thẳng, nhưng đã ngụ ý không đồng ý với định nghĩa tại Điều 274, BLDS năm 2015, và
đã đưa ra một định nghĩa: Nghĩa vụ dân sự được hiểu là quan hệ pháp luật về tài sản và nhân thân của các chủ thể, theo đó chủ thể mang quyền có quyền yêu cầu chủ thể mang nghĩa vụ phải chuyển giao một tài sản, thực hiện một việc hoặc không được thực hiện một việc vì lợi ích của mình hay lợi ích của người thứ ba, phải bồi thường một thiệt hại về tài sản hoặc nhân thân do có hành vi gây thiệt hại, vi phạm lợi ích hợp pháp của quyền yêu cầu của chủ thể mang quyền Các quyền dân sự và nghĩa vụ dân
sự của các bên chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ theo quy định của pháp luật hoặc theo thỏa thuận của các bên xác lập quan hệ nghĩa vụ dân sự [38, tr.40]
Về phương diện lý luận, theo học giả Vũ Văn Mẫu thì “nghĩa vụ là một mối liên hệ pháp lý giữa hai người, nhờ đó một người là trái chủ (hay chủ nợ) có quyền đòi người kia là người thụ trái (hay con nợ) phải thi hành một cung khoản có thể trị giá bằng tiền” [50, tr.13] Theo đó, nghĩa vụ là một quan hệ mà trong đó có hai loại chủ thể trái ngược nhau về lợi ích: một bên có quyền yêu cầu và một bên khác (bên có nghĩa vụ) phải thực hiện yêu cầu của bên kia
Dù tiếp cận nghĩa vụ dân sự ở góc độ nào thì nghĩa vụ dân sự cũng được biết đến là mối liên hệ pháp lý giữa các chủ thể, theo đó có sự ràng buộc về các quyền và nghĩa vụ, các quyền và nghĩa vụ này có thể do pháp luật quy định nhưng cũng có thể
do các bên thỏa thuận
Qua những nội dung phân tích trên đây, ta có thể đưa ra khái niệm nghĩa vụ dân sự như sau: Nghĩa vụ dân sự là một nghĩa vụ mà pháp luật bắt buộc phải thi hành (chuyển giao tài sản, làm hoặc không làm một việc nào đó) vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác nhau
Vấn đề tiếp theo cần làm rõ đó là hiểu như thế nào là “nghĩa vụ thi hành án dân sự”?
Trang 1810
Về mặt thuật ngữ, theo từ điển Tiếng Việt, “Thi hành” là “làm cho thành hiện thực điều đã được chính thức quyết định” [12, tr.11559] “Án” theo nghĩa hẹp bao gồm bản án, quyết định của Tòa án, là những văn bản pháp lý của Tòa án nhân dân Nhà nước tuyên tại phiên tòa, giải quyết các vấn đề trong vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân
và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính Dân sự cũng là một từ nhiều nghĩa trong đó
có một trong những nghĩa của nó là “việc thuộc về quan hệ tài sản, hoặc hôn nhân, gia đình, …do Toà án xét xử” Theo Từ điển Law của Mỹ thì THA là cách thức để làm cho các bản án, quyết định của Tòa án được thực hiện (Oxford Reference (1994), A dictionary Law, Oxford Univerrsity Press, New York) Do đó, hiểu theo nghĩa chung nhất thì “Thi hành án dân sự” là thực hiện bản án, quyết định dân sự của Tòa án trên thực tế
Như vậy, ta có thể hiểu: Nghĩa vụ thi hành án dân sự là nghĩa vụ pháp luật bắt
buộc thực hiện bản án, quyết định dân sự của Tòa án bằng việc chuyển giao tài sản,
1.1.2 Đặc điểm của nghĩa vụ thi hành án dân sự
Một là, căn cứ phát sinh nghĩa vụ thi hành án dân sự từ bản án, quyết định của Tòa án, Trọng tài thương mại, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh
Theo BLDS năm 2015 thì căn cứ phát sinh nghĩa vụ dân sự có thể phát sinh chủ động từ hợp đồng hoặc cũng có thể phát sinh một cách thụ động do pháp luật quy định hành vi pháp lý đơn phương, thực hiện công việc không có ủy quyền, chiếm hữu,
sử dụng tài sản hoặc được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật, gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật, căn cứ khác do pháp luật quy định (Điều 275 BLDS năm 2015) còn đối với nghĩa vụ thi hành án dân sự căn cứ để phát sinh nghĩa vụ chính là từ bản
án, quyết định của Tòa án, Trọng tài thương mại, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh Bản án, quyết định này là căn cứ buộc chủ thể nào đó phải thực hiện nghĩa vụ trước bên có quyền
Hai là, nghĩa vụ thi hành án dân sự là nghĩa vụ liên quan đến tiền, tài sản
Một trong những điểm khác biệt cơ bản của nghĩa vụ thi hành án dân sự là nghĩa vụ phát sinh từ bản án, quyết định liên quan đến tiền, tài sản đã được liệt kê ngay tại Điều 1 Luật THADS bao gồm các nghĩa vụ thi hành án dân sự sau: nghĩa vụ thi hành bán án, quyết định dân sự, hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết
Trang 1911
định hình sự, phần tài sản trong bản án, quyết định hành chính của Tòa án, quyết định của Tòa án giải quyết phá sản, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh trạnh, quyết định giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh trạnh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Hội đồng giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành và phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại
Ba là, nghĩa vụ thi hành án dân sự bắt buộc phải được thực hiện mà không cần sự đồng ý của người còn lại
Trong nghĩa vụ thi hành án dân sự, khi chủ thể mang nghĩa vụ không thực hiện theo đúng nội dung của nội dung của bản án, quyết định của Tòa án, Trọng tài thương mại, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh thì chủ thể mang quyền có thể yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự, thừa phát lại tổ chức thi hành buộc chủ thể mang nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ thi hành án của mình mà không cần sự đồng ý của chủ thể mang nghĩa vụ
1.1.3 Phân loại nghĩa vụ thi hành án dân sự
Thực tế quá trình thi hành án, người phải thi hành án phải thực hiện rất nhiều loại nghĩa vụ khác nhau, nhưng cơ bản các loại nghĩa vụ của người phải thi hành án được phân chia dựa trên các căn cứ sau đây:
Thứ nhất, căn cứ đối tượng của quan hệ nghĩa vụ thi hành án dân sự được phân thành hai nhóm chính sau đây:
+ Nhóm nghĩa vụ gắn liền với tài sản như: nghĩa vụ bồi thường, nghĩa vụ trả
nợ, nghĩa vụ giao vật, giao nhà, chuyển quyền sử dụng đất;
+ Nhóm nghĩa vụ không gắn với tài sản như: Nghĩa vụ công khai xin lỗi, nghĩa
vụ tiếp tục thực hiện hợp đồng, nghĩa vụ buộc phải mở lối đi…Trong nhóm nghĩa vụ này thì có loại nghĩa vụ phải do chính người phải thi hành án thực hiện, có nghĩa vụ có thể do người khác thực hiện thay [29, tr.38]
Thứ hai, căn cứ phát sinh nghĩa vụ thi hành án dân sự:
+ Nghĩa vụ thi hành án dân sự phát sinh từ bản án, quyết định của Tòa án
Bản án, quyết định là một trong những văn bản tố tụng ghi nhận phán quyết của Tòa án đối với yêu cầu giải quyết tranh chấp của các bên Tuy nhiên không phải mọi nghĩa vụ được ghi nhận từ bản án, quyết định đều là nghĩa vụ thi hành án dân sự
Trang 2012
Nghĩa vụ thi hành án dân sự chỉ phát sinh từ bản án, quyết định dân sự và các phần bản
án, quyết định hình sự, hành chính nói chung có liên quan đến tiền, tài sản
+ Nghĩa vụ thi hành án dân sự phát sinh từ quyết định của Trọng tài Thương mại
Trong các hình thức giải quyết tranh chấp thương mại hiện nay, trọng tài thương mại với ưu điểm của mình đang là hình thức tối ưu để giải quyết các xung đột thương mại Phán quyết của trọng tài là kết quả cuối cùng của quá trình tố tụng trọng tài Tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài là các tranh chấp các bên phát sinh từ hoạt động thương mại hoặc ít nhất một bên có hoạt động thương mại hoặc giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thỏa thuận trọng tài Thỏa thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp Phán quyết trọng tài là chung thẩm và có hiệu lực kể từ ngày ban hành Theo đó quyền
và nghĩa vụ của các bên được xác lập trong các quyết định, phán quyết của trọng tài Nhà nước khuyến khích các bên tự nguyện thi hành phán quyết Trường hợp không tự nguyện thi hành thì bên được thi hành án có quyền gửi đơn yêu cầu cơ quan THADS
có thẩm quyền thi hành phán quyết sau khi đáp ứng các điều kiện nhất định
+ Nghĩa vụ thi hành án dân sự phát sinh từ quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh
Để tạo lập môi trường cạnh tranh lành mạnh, pháp luật cạnh tranh được nhấn mạnh như một công cụ quan trọng hàng đầu Chính sách cạnh tranh là bộ phận không thể thiếu của nền tảng pháp lý đảm bảo cho một nền kinh tế thị trường vận hành trôi chảy Pháp luật cạnh tranh có nhiệm vụ ngăn ngừa và xử lý những hành vi cạnh tranh trái pháp luật, trái đạo đức và tập quán kinh doanh của các doanh nghiệp Nội dung chính của pháp luật cạnh tranh bao gồm: kiểm soát các hành vi hạn chế cạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh và tố tụng cạnh tranh Và kết quả cuối cùng trong xử lý
vụ việc theo pháp luật cạnh tranh chính là quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh Tuy nhiên không phải mọi nghĩa vụ xuất phát từ quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh đều là nghĩa vụ thi hành án dân sự Theo khoản 2 Điều 114 Luật Cạnh tranh năm 2018 quy định: trường hợp quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành thì Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tổ chức thi hành quyết định Như vậy, nghĩa vụ thi hành án dân sự xuất hiện trong các quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh là các nghĩa vụ dân sự liên quan đến tài sản
Trang 2113
1.1.4 Phương thức thực hiện nghĩa vụ thi hành án dân sự
Phương thức thực hiện nghĩa vụ là những cách thức, biện pháp mà thông qua đó người có nghĩa vụ tiến hành các hành vi của mình nhằm đáp ứng quyền lợi của người khác
Trong quá trình tố tụng, cũng như sau khi kết thúc quá trình tố tụng, Tòa án ra bản án hoặc quyết định giải quyết về nội dung vụ án Tòa án nhân dân Nhà nước áp dụng các quy định của pháp luật xác định rõ sự thật khách quan của vụ án, xác định rõ quyền, nghĩa vụ của các bên tham gia vào quá trình tố tụng Tuy nhiên, lúc này quyền
và nghĩa vụ của các bên mới được ghi nhận trong bản án, quyết định của Tòa án mà chưa được thực hiện trong thực tiễn Tương tự như vậy, khi giải quyết các tranh chấp, Trọng tài Thương mại, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh cũng mới chỉ vận dụng các quy định của pháp luật để giải quyết vụ việc và kết quả của quá trình giải quyết tranh chấp đó cũng là các quyết định giải quyết tranh chấp Để các quyền và nghĩa vụ thi hành án dân sự được thực thi trên thực tế thì có nhiều cách khác nhau Cụ thể:
Thứ nhất, tự thực hiện nghĩa vụ thi hành án dân sự: Nhằm tạo điều kiện thuận
lợi nhất cho các bên thực hiện được quyền và nghĩa vụ của mình trong quan hệ nghĩa
vụ đã xác lập, pháp luật tôn trọng sự tự nguyện, thỏa thuận của các bên chủ thể Các bên có thể tự nguyện thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự đã được bản án, quyết định ghi nhận; thỏa thuận về địa điểm, thời gian, cách thức, thực hiện nghĩa vụ thi hành án dân sự
Thứ hai, thực hiện nghĩa vụ thi hành án thông qua bên thứ ba: Nếu một trong
hai bên không tự nguyện thực hiện, bên kia có quyền gửi đơn yêu cầu cơ quan THADS, thừa phát lại tổ chức THA, theo quy định của pháp luật Quá trình tổ chức THA, cơ quan THADS sẽ tác động đến ý thức của người phải THA, người được THA
để họ tự thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình Nếu họ không thực hiện, nhất là về phía người phải THA, nếu không tự nguyện thi hành án mặc dù có điều kiện thi hành
án thì cơ quan THADS sẽ áp dụng các BPBĐTHADS, BPCCTHADS để buộc họ phải thực hiện nghĩa vụ thi hành án dân sự Do đó, khi bản án, quyết định không được tự nguyện thi hành, thì hoạt động tổ chức THADS của cơ quan THADS, thừa phát lại là trung tâm, tác động tới hành vi của các đương sự và người có liên quan để thi hành án
Như vậy, nếu các bên đương sự, cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan tự nguyện thực hiện quyền và nghĩa vụ theo phán quyết của Tòa án, thì hoạt động
Trang 2214
THADS do các bên tự quyết định, không cần tới sự tác động của cơ quan THADS, thừa phát lại Ngược lại, khi các bên đương sự không tự nguyện thi hành, thì một bên
có quyền yêu cầu cơ quan THADS, thừa phát lại tổ chức thi hành
1.2 Khái niệm, đặc trưng, phân loại biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự
1.2.1 Khái niệm biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự
THADS chỉ là một khâu trong quá trình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự bởi quá trình này bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau từ khởi kiện, thụ lý án, xét xử và THA Về nguyên tắc, các bản án, quyết định chỉ thể hiện kết quả về mặt pháp lý, nếu không được thực thi trên thực tế thì không đạt được mục đích cuối cùng của hoạt động xét xử, giải quyết tranh chấp Trong đó, người có quyền THA yêu cầu người có nghĩa vụ THA phải thực hiện nghĩa vụ THA của họ đối với mình và người có nghĩa vụ THA phải thực hiện nghĩa vụ của mình vì lợi ích của người có quyền THA
Từ đó có thể hiểu, THADS là việc thực hiện bản án, quyết định dân sự của Tòa án nên
về bản chất thì THADS là hoạt động đảm bảo thực hiện nghiêm túc, đúng đắn, đầy đủ, kịp thời bản án, quyết định trong lĩnh vực dân sự đã có hiệu lực thi hành theo những trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định
Tuy nhiên thực tiễn THADS cho thấy việc THADS rất phức tạp Nhiều trường hợp ngay sau khi có bản án, quyết định của Tòa án, người phải THA có hành vi tẩu tán, hủy họai, thay đổi hiện trạng tài sản để trốn tránh nghĩa vụ THA Do đó để bảo đảm chắc chắn việc THADS được thực hiện nhanh chóng, hiệu quả thì pháp luật THADS cần thiết phải quy định về các BPBĐTHADS được xây dựng từ nguyên lý nhà nước phải có trách nhiệm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân là các đương sự trong bản án, quyết định của Tòa án Vậy hiểu như thế nào là BPBĐTHADS?
Theo Đại Từ điển Tiếng Việt, biện pháp là “cách làm, cách thức tiến hành, giải quyết một vấn đề cụ thể” [13, tr.161] Trong Từ điển Tiếng Việt biện pháp được giải thích là “cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể” [14, tr.64] Như vậy, từ việc tham khảo các định nghĩa theo nghĩa chung nhất, biện pháp là cách thức, cách thức tiến hành, cách giải quyết một vấn đề cụ thể
Theo Từ điển Tiếng Việt, bảo đảm là “cam đoan chịu trách nhiệm về việc gì đó” [13, tr.109], ngắn gọn hơn thì bảo đảm là sự chịu trách nhiệm về một điều, một
Trang 2315
công việc hay một quyền, nghĩa vụ nhất định Bảo đảm cũng được hiểu là một cơ chế cần thiết phải có để thực hiện quyền, nghĩa vụ hay công việc nhất định Điều này có nghĩa trong nhiều trường hợp, nếu không có biện pháp bảo đảm thì các quyền, nghĩa
vụ hay công việc sẽ không thực hiện Chính vì thế trong từ điển Tiếng Việt bảo đảm được hiểu là “làm cho chắc chắn thực hiện được, giữ gìn được, hoặc có đầy đủ những
gì cần thiết” [14, tr.38] Nếu giải thích dưới góc độ ngôn ngữ học, trong Từ điển Hán- Việt, bảo đảm được giải thích là “hứa chịu trách nhiệm về điều gì”, “cam đoan giữ được, làm được đầy đủ”, “sự giữ được đầy đủ, trọn vẹn” [15, tr.19]
Như vậy, có thể hiểu bảo đảm được là việc tạo điều kiện để chắc chắn giữ được đầy đủ những gì cần thiết, sự cam đoan, trách nhiệm thực hiện được trọn vẹn
Trong nghiên cứu khoa học pháp lý, “bảo đảm là trách nhiệm của một chủ thể
là cá nhân, tổ chức phải làm cho quyền, lợi ích của chủ thể bên kia chắc chắn thực hiện được, được giữ gìn, nếu xảy ra thiệt hại thì phải bồi thường” [16, tr 27] Bảo đảm có thể do các bên thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định Bảo đảm thường đặt ra đối với việc xác lập và thực hiện các quyền, nghĩa vụ của các chủ thể trong các quạn hệ pháp luật cụ thể như quan hệ pháp luật dân sự, quan hệ pháp luật kinh doanh, thương mại,
… Bảo đảm có tác dụng tạo ra sự tin tưởng lẫn nhau giữa các bên, đặt trách nhiệm cho các bên trong việc xác lập và thực hiện các quan hệ pháp luật Trong một số quan hệ pháp luật cụ thể, các chủ thể coi bảo đảm là điều kiện buộc phải có để xác lập và thực hiện các quan hệ pháp luật giữa họ
Trong quá trình THADS, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được THA trong trường hợp người phải THA chống đối, cản trở cho việc THA pháp luật THADS đã có những quy định như: người được THA có thể yêu cầu cơ quan, tổ chức
có thẩm quyền THA quyết định áp dụng các biện pháp mang tính quyền lực nhà nước, yêu cầu đặt tài sản mà người phải THA đang quản lý, sử dụng trong tình trạng bị hạn chế quyền sử dụng, định đoạt, nhằm ngăn chặn việc người phải THA tẩu tán, hủy hoại, thay đổi hiện trạng trốn tránh việc THA Những biện pháp này còn nhằm bảo toàn tình trạng tài sản của người phải THA, đôn đốc người phải THA tự nguyện thi hành nghĩa
vụ theo bản án, quyết định của Tòa án hoặc bảo đảm hiệu quả của việc THA trong trường hợp người phải THA không tự nguyện THA Các biện pháp này được gọi là BPBĐTHADS
Trang 2416
BPBĐTHADS có ý nghĩa rất quan trọng trong việc thi hành được và hiệu quả bản án, quyết định của Tòa án, vì thế khái niệm BPBĐTHADS đã được nhiều nhà nghiên cứu nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau Theo nhận định trong Giáo trình Luật Thi hành án dân sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội thì:
BPBĐTHADS là biện pháp pháp lý đặt tài sản của người phải THA trong tình trạng bị hạn chế hoặc cấm sử dụng, định đoạt nhằm ngăn chặn việc người phải THA tẩu tán, định đoạt tài sản trốn tránh việc THA và đôn đốc họ tự nguyện thực hiện nghĩa vụ THA của mình do CHV áp dụng trước khi áp dụng BPCCTHADS [37, tr.222] Nhận
định này đã làm nổi bật được một số nội dung của BPBĐTHADS như BPBĐTHADS
là gì, mục đích áp dụng, thời điểm áp dụng BPBĐTHADS Tuy nhiên vẫn định nghĩa trên chưa hoàn toàn đầy đủ, cụ thể bời vì ngoài việc tác động đến tài sản của người phải THA thì quyền tài sản của người phải THA cũng được coi là đối tượng của BPBĐTHADS, khi được áp dụng BPBĐTHADS không đặt tài sản của người phải
THA vào tình trạng “bị cấm sử dụng, định đoạt” mà chỉ tạm thời bị cấm sử dụng, định
đoạt đối với tài sản đó Mặt khác, biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự được áp dụng một cách linh hoạt trong nhiều trường hợp ngay cả khi đã áp dụng BPCCTHADS như sau khi kê biên mà tài sản của người phải THA không đủ thi hành nghĩa vụ thi hành án
mà cơ quan THADS phát hiện được tài sản khác của người phải thi hành án thì có thể
áp dụng BPBĐTHADS đối với tài sản này
Tại luận văn luật học của mình của tác giả Phan Huy Hiếu cho rằng:
BPBĐTHADS là biện pháp pháp lý được CHV áp dụng theo một trình tự, thủ tục luật định trong quá trình tổ chức việc thực hiện việc THA, đặt tài sản của người phải THA trong tình trạng bị hạn chế hoặc tạm thời bị cấm sử dụng, định đoạt, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng nhằm bảo toàn điều kiện THA, ngăn chặn người phải THA thực hiện việc tẩu tán, hủy hoại, thay đổi hiện trạng về tài sản trốn tránh việc THA, làm cơ sở cho việc
áp dụng BPCCTHADS trong trường hợp người phải THA không tự nguyện THA [42,
tr.9] Theo quan điểm của tác giả này BPBĐTHADS là một biện pháp pháp lý mang tính quyền lực Nhà nước; người có thẩm quyền áp dụng là CHV; đối tượng bị áp dụng
là tài sản; người có thẩm quyền áp dụng là CHV; mục đích áp dụng là hạn chế quyền
sử dụng, định đoạt hoặc bị cấm định đoạt nhằm ngăn chặn người phải THA tẩu tán, định đoạt tài sản, trốn tránh việc thi hành, đồng thời đôn đốc người phải THA tự nguyện thi hành; thủ tục tiếp theo sau khi người phải THA không tự nguyện THA là
Trang 2517
áp dụng BPCCTHADS Tác giả đã nghiên cứu về BPBĐTHADS tương đối đầy đủ với nhiều nội dung quan trọng như khái niệm là gì, đối tượng bị áp dụng, thẩm quyền áp dụng, mục đích áp dụng BPBĐTHADS
Như vậy, từ việc tham khảo, nghiên cứu các kết quả nghiên cứu nêu trên có thể thấy về cơ bản BPBĐTHADS được nhìn nhận dưới các góc độ khác nhau: là các biện pháp pháp lý cụ thể, là một thủ tục trong thủ tục THADS, là tiền để cho việc áp dụng BPCCTHADS về sau trong THADS
Dưới góc độ là các biện pháp cụ thể BPBĐTHADS được nhìn nhận từ yêu cầu của việc tổ chức THADS phải kịp thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự, bảo đảm hiệu quả hoạt động THA, song chưa cần thiết đến mức phải áp dụng một biện pháp phức tạp như BPCCTHADS để đáp ứng được nhu cầu bảo vệ được tài sản, giấy tờ, tránh việc hủy hoại, tẩu tán tài sản, thay đổi hiện trạng, trốn tránh THADS Tuy nhiên, việc THA trên thực tế rất đa dạng, phức tạp nên việc áp dụng BPBĐTHADS nào là phù hợp cần căn cứ vào tình hình và đặc trưng của từng vụ việc cụ thể Vì vậy hiểu một cách đầy đủ, toàn diện thì BPBĐTHADS phải gồm các BPBĐTHADS Các BPBĐTHADS là các biện pháp do pháp luật quy định mà CHV có thể áp dụng nhằm ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại, thay đổi hiện trạng trốn tránh việc THA
Dưới góc độ là thủ tục trong quy trình THADS, do thủ tục được hiểu như một phương thức hay cách thức giải quyết công việc theo một trình tự, một thể lệ thống nhất nên trong các hoạt động của cơ quan nhà nước, thủ tục được nhiều người hiểu là các quy tắc, các phép tắc, hay các quy định chung mà mọi chủ thể phải tuân thủ Với cách tiếp cận này thì thủ tục THADS có thể hiểu là cách thức, trình tự mà cơ quan THADS tiến hành xem xét, áp dụng các biện pháp, công việc cần thiết để bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật được thực thi trên thực tế
Dưới góc độ đặt trong mối tương quan với BPCCTHADS thì BPBĐTHADS nhằm ngăn chặn việc việc tẩu tán, hủy hoại tài sản, thay đổi hiện trạng trốn tránh việc THADS nên BPBĐTHADS chưa đến mức là một loại BPCCTHADS mà chỉ là biện pháp
có mối quan hệ chặt chẽ với BPCCTHADS Vì nhằm ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại, trốn tránh việc THADS nên trong mối liên hệ giữa BPBĐTHADS với BPCCTHADS thì
có thể nhận thấy BPBĐTHADS là tiền đề, cơ sở cho việc thực hiện các BPCCTHADS sau này
Trang 2618
Từ những phân tích nêu trên, ta có thể định nghĩa BPBĐTHADS như sau:
BPBĐTHADS là biện pháp pháp lý được CHV áp dụng theo một trình tự, thủ tục luật định trong quá trình tổ chức việc thực hiện việc THA, đặt tài sản, quyền tài sản của người phải THA trong tình trạng bị hạn chế hoặc tạm thời bị cấm sử dụng, định đoạt, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng nhằm bảo toàn điều kiện THA, ngăn chặn người phải THA thực hiện việc tẩu tán, hủy hoại, thay đổi hiện trạng về tài sản trốn tránh việc THA, làm cơ sở cho việc áp dụng BPCCTHADS trong trường hợp người phải THA không tự nguyện THA
1.2.2 Đặc trưng của biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự
BPBĐTHADS là một trong những biện pháp mà CHV lựa chọn áp dụng đối với người phải THA khi không tự nguyện thi hành trong quá trình tổ chức THA Tuy nhiên việc áp dụng BPBĐTHADS này lại có những đặc điểm, đặc trưng riêng như:
BPBĐTHADS là biện pháp ngăn chặn bảo toàn tài sản phục vụ cho việc thi hành
án
Khi áp dụng BPBĐTHADS thì tài sản hoặc quyền tài sản tài sản của người phải THA đặt trong tình trạng bị hạn chế hoặc tạm thời bị cấm sử dụng, định đoạt Việc áp dụng BPBĐTHADS chưa là mất đi quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản mà
nó được áp dụng nhằm ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại, thay đổi hiện trạng tài sản
trốn tránh việc THA, bảo toàn tài sản phục vụ cho việc THA
BPBĐTHADS là cơ sở, tiền đề cho việc áp dụng BPCCTHADS
BPBĐTHADS được xem như là bước đệm, cầu nối trung gian giữa giai đoạn người phải THA tự nguyện thực hiện nghĩa vụ thi hành án của mình và giai đoạn CHV tiến hành áp dụng BPCCTHADS, trường hợp người phải THA không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ của mình thì trên cơ sở BPBĐTHADS đã áp dụng, CHV sẽ áp dụng BPCCTHADS tương ứng để xử lý tài sản của người phải THA
BPBĐTHADS được áp dụng linh hoạt, tại nhiều thời điểm, nhiều địa điểm khác nhau trong quá trình THA nhằm ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại, trốn tránh việc THA
Nếu xét thấy cần phải ngăn chặn ngay hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh việc thi hành án của đương sự, CHV có thể áp dụng BPBĐTHADS ngay tại thời điểm ra quyết định thi hành án, trong thời hạn tự nguyện thi hành án và cũng có thể được áp dụng tại thời điểm trước hoặc trong quá trình cưỡng chế thi hành án Đồng
Trang 2719
thời BPBĐTHADS cũng được áp dụng tại nhiều địa điểm khác nhau, tùy thuộc vào nơi có tài sản, tài khoản hoặc nơi phát hiện được tài sản, tài khoản của người phải THA
BPBĐTHADS có thể được CHV áp dụng trong trường hợp ủy thác thi hành nghĩa vụ liên đới
Thủ tục đơn giản, linh hoạt gọn nhẹ, ít tốn kém, có thời gian áp dụng ngắn, có tác dụng thúc đẩy nhanh việc thi hành án
Việc áp dụng BPBĐTHADS xuất phát từ yêu cầu của người được THA hoặc
do CHV chủ động áp dụng khi thấy cần thiết Thời gian kể từ khi ban hành quyết định cho đến khi thi hành quyết định áp dụng BPBĐTHADS diễn ra một cách khá linh hoạt, nhanh chóng Do việc áp dụng BPBĐTHADS mới chỉ nhằm để ngăn chặn hành
vi tẩu tán, thay đổi hiện trạng, chuyển dịch hoặc hủy hoại tài sản của người phải THA
mà chưa cần phải huy động lực lượng để thực hiện việc cưỡng chế nên thời gian thực hiện nhanh gọn, ít tốn kém kinh phí
BPBĐTHADS được áp dụng nhằm ngăn chặn đương sự tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh việc THA Do vậy, CHV không cần thực hiện việc xác minh và thông báo trước cho đương sự biết Tùy theo từng loại tài sản mà CHV sẽ ban hành quyết định áp dụng BPBĐTHADS tương ứng
BPBĐTHADS khi được áp dụng chưa làm thay đổi, chuyển dịch về quyền sở hữu, sử dụng tài sản của chủ sở hữu, sử dụng
Với mục đích ngăn chặn người phải THA thực hiện hành vi tẩu tán, thay đổi hiện trạng hoặc hủy hoại tài sản, nhằm bảo toàn tài sản đó, đảm bảo điều kiện thi hành
án, BPBĐTHADS chưa làm mất đi quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản của chủ sở hữu, chủ sử dụng mà mới chỉ làm hạn chế quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản đó của chủ sở hữu, chủ sử dụng tài sản
Khiếu nại đối với quyết định áp dụng BPBĐTHADS được giải quyết một lần
và có hiệu lực thi hành
Việc áp dụng BPBĐTHADS là bước tiền đề, nhằm bảo đảm cho việc áp dụng BPCCTHADS tiếp theo, thời gian áp dụng rất ngắn (10 ngày) Trong thời hạn trên, nếu việc áp dụng BPBĐTHADS là không có cơ sở thì CHV phải giải tỏa, trả lại tài sản cho chủ sở hữu, sử dụng hợp pháp tài sản đó; nếu có cơ sở thì phải áp dụng BPCCTHADS
Trang 2820
Về vấn đề này, nếu đương sự không đồng ý với việc CHV áp dụng BPBĐTHADS thì có quyền khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết lần đầu và theo quy định tại Điều 38 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hưỡng dẫn thi hành một số điều của Luật THADS (sau đây gọi tắt là Nghị định số 62/2015/NĐ-CP) thì quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định áp dụng BPBĐTHADS
có hiệu lực thi hành mà không phải là hai cấp như nguyên tắc chung giải quyết các quyết định, hành vi khác của Thủ trưởng cơ quan THA, CHV Nếu đương sự không đồng ý với kết quả khiếu nại lần đầu thì cũng đã có quyền khiếu nại đối với chính quyết định, hành vi mới, tiếp theo của CHV sau BPBĐTHADS như quyết định giải tỏa, trả lại tài sản, chấm dứt việc tạm dừng đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản, quyết định cưỡng chế, …
Nhìn chung, các BPBĐTHADS vừa mang những đặc điểm của BPCCTHADS như tác động trực tiếp đến quyền định đoạt tài sản của người phải THA và vừa mang đặc điểm của biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự như sự đơn giản về thủ tục, nhanh chóng về thời gian áp dụng Tuy nhiên, về mức độ thì biện pháp này chỉ dừng ở việc hạn chế quyền tự định đoạt mà chưa tước quyền tự định đoạt tài sản của người phải THA như BPCCTHADS
1.2.3 Phân loại biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự
Quá trình tổ chức thi hành án, CHV đã gặp rất nhiều trường hợp người phải THA có tài sản nhưng cố tình trốn tránh, tẩu tán, hủy hoại tài sản dẫn đến không còn điều kiện THA Trong khi đó, thời gian từ khi có bản án, quyết đinh thi hành án, xác minh đến khi tổ chức cưỡng chế phải thực hiện khá nhiều thủ tục có thể ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả công tác THADS Để ngăn chặn các hành vi nêu trên của người phải THA, kịp thời khắc phục những bất cập và tạo hành lang pháp lý cho CHV thực thi nhiệm vụ, BPBĐTHADS trong trường hợp này là giải pháp tối ưu trước khi áp dụng BPCCTHADS Tuy nhiên, áp dụng BPBĐTHADS nào đối với từng loại tài sản thì pháp luật THADS hiện nay không có văn bản nào quy định Để có lựa chọn phù hợp, tối ưu nhất BPBĐTHADS được áp dụng trong quá trình tổ chức THA, CHV cần căn cứ vào một số vấn đề sau đây:
Trang 2921
1.2.3.1 Căn cứ vào mục đích của việc áp dụng
Căn cứ vào mục đích áp dụng BPBĐTHADS, ta có thể chia thành các nhóm
biện pháp như sau:
Thứ nhất, biện pháp ngăn chặn hành vi tẩu tán tài sản
Hiện nay trong các văn bản pháp luật chưa có quy định thế nào là hành vi tẩu tán tài sản tuy nhiên ta có thể hiểu hành vi tẩu tán tài sản chính là việc xác lập các giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ đối với người thứ ba Trên thực tế để chứng minh một hành vi có phải là hành vi tẩu tán tài sản hay không là rất khó Sử dụng hiệu quả biện pháp bảo đảm này sẽ đảm bảo hiệu lực, hiệu quả cho việc xét xử và THA BPBĐTHADS được
áp dụng trong trường hợp này chính là biện pháp bảo đảm để người phải THA, người đang quản lý sử dụng tài sản của người phải THA tạm thời không thể định đoạt tài sản như biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ; tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự; tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản
Thứ hai, biện pháp ngăn chặn hành vi hủy hoại tài sản
BPBĐTHADS thực chất là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ THADS Như trên đã phân tích nghĩa vụ THADS có nhiều loại khác nhau và cơ bản gồm hai nhóm nghĩa vụ chính đó là nghĩa vụ dân sự gắn với tài sản, nghĩa vụ dân sự không gắn với tài sản Để trốn tránh nghĩa vụ THADS, các bên đương sự thường có những hành
vi tác động trực tiếp đến tài sản của mình và hủy hoại tài sản là một trong những hành
vi đó Hành vi hủy hoại tài sản là hành vi làm cho tài sản lâm vào tình trạng mất hẳn giá trị sử dụng của nó, không thể khôi phục lại được Như vậy, nếu tài sản của người phải THA không được bảo toàn thì nghĩa vụ THADS cũng khó có thể thực hiện được việc áp dụng BPBĐTHADS trong việc ngặn chặn hành vi hủy hoại tài sản được đặt ra
là cần thiết Trong trường hợp này cần có những BPBĐ để người phải THA, người đang quản lý sử dụng tài sản của người phải THA tạm thời không nắm giữ tài sản và BPBĐTHADS được sử dụng trong trường hợp này là biện pháp tạm giữ tài sản, giấy
tờ của đương sự
Thứ ba, biện pháp ngăn chặn hành vi làm thay đổi hiện trạng tài sản
Những hành vi được coi là thay đổi hiện trạng tài sản như hành vi tháo gỡ, lắp ghép, xây dựng thêm,…làm thay đổi hình dạng ban đầu của tài sản Việc thay đổi hiện trạng tài sản này sẽ làm phức tạp thêm quá trình giải quyết vụ tranh chấp và gây khó khăn
Trang 3022
cho việc THA sau này Để ngăn chặn hành vi này xảy ra trong giai đoạn tố tụng, căn cứ vào đơn đề nghị của người yêu cầu Thẩm phán sẽ cân nhắc và quyết định về việc áp dụng biện pháp cấm ngăn chặn hành vi làm thay đổi hiện trạng tài sản tranh chấp được quy định tại Điều 122 BLTTDS Còn trong giai đoạn THA, CHV có thể áp dụng biện pháp tạm dừng việc đăng ký quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản theo quy định tại Điều 69 Luật THADS
1.2.3.2 Căn cứ vào loại tài sản và tình trạng pháp lý của tài sản
Theo pháp luật hiện hành có rất nhiều tài sản, nhiều cách phân loại tài sản khác nhau Một trong những cách phân loại điển hình theo pháp luật dân sự là việc phân loại tài sản thành động sản và bất động sản Theo đó Điều 107 BLDS năm 2015 quy định:
1 Bất động sản gồm:
a Đất đai
b Nhà, công trình xây dựng găn liền với đất đai
c Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng
d Tài sản khác theo quy định của pháp luật
2 Động sản là những tài không phải là bất động sản
Việc phân biệt tài sản thành động sản, bất động sản tạo ra các quy chế pháp lý khác nhau đối với pháp luật THADS nói chung và việc áp dụng BPBĐTHADS nói riêng Ta có thể phân chia và nhóm các BPBĐTHADS vào hai nhóm tài sản như sau:
Thứ nhất, BPBĐTHADS được áp dụng đối với tài sản là động sản
Thực tiễn thi hành loại tài sản đương sự dễ cất giấu, mua bán, …chính là động sản Do đó, với mục đích áp dụng BPBĐ tạm giữ tài sản, giấy tờ để đương sự không thể tẩu tán, hủy hoại tài sản thì thông thường CHV chỉ tạm giữ đối với tài sản là động sản; đối với tiền trong tài khoản, tài sản gửi giữ cũng là một loại động sản nhưng có tính đặc thù riêng bởi nó đang không hiện hữu trước mặt CHV mà đang được cất giữ bởi một chủ thể khác, cần có sự phối hợp với chủ thể đang cất giữ đó thì CHV mới thực hiện được việc áp dụng BPBĐTHADS và trong trường hợp này thì CHV sẽ áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ
Thứ hai, biện pháp BPBĐTHADS được áp dụng đối với tài sản là bất động sản
Căn cứ theo quy định của pháp luật hiện hành, có nhiều loại tài sản, quyền tài sản mà việc chuyển dịch quyền sở hữu, quyền sử dụng phải thực hiện việc đăng ký
Trang 31cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký Trong những trường hợp này BPBĐTHADS thường hay được lựa chọn áp dụng chính là biện pháp tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng thay đổi hiện trạng tài sản
1.2.3.3 Các BPBĐTHADS theo quy định của pháp luật hiện hành
Thứ nhất, biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ
Biện pháp phong tỏa tài tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ được áp dụng đối với người phải THA, người này phải thi hành nghĩa vụ trả tiền và có tài khoản, trong tài khoản phải có tiền hoặc người phải THA phải có tài sản ở nơi gửi giữ CHV có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của đương sự áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ nhằm ngăn chặn người phải THA rút toàn bộ tiền, tài sản hoặc một khoản tiền, tài sản tương ứng với nghĩa vụ phải THA Theo đó, mọi giao dịch đầu ra tài khoản của chủ tài khoản sẽ không thực hiện được hoặc bị hạn chế thực hiện Việc áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản chính là tiền đề, là cơ sở cho việc áp dụng BPCCTHADS khấu trừ tiền trong tài khoản của người phải THA nếu người đó không
tự nguyện thực hiện nghĩa vụ của mình
Thứ hai, biện pháp tạm giữ tài sản, giáy tờ của đương sự
Biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự được CHV áp dụng không chỉ đối với người phải THA mà còn cả đối với người được THA và các tổ chức, cá nhân khác đang quản lý, sử dụng tài sản, giấy tờ; tài sản, giấy tờ bị tạm giữ phải có liên quan đến việc THA và không thuộc trường hợp được kê biên, xử lý Đây là biện pháp cấp bách và linh hoạt, nhằm tạo điều kiện và cơ sở pháp lý cho tác nghiệp nghiệp vụ
Trang 3224
khi phát hiện đương sự có tài sản, giấy tờ để thi hành và áp dụng trong bất cứ giai đoạn nào của quá trình tổ chức THA Việc áp dụng biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự là tiền đề, là cơ sở cho việc áp dụng biện pháp cưỡng chế trả giấy tờ, kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án để đảm bảo việc THA
Thứ ba, biện pháp tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản
Biện pháp tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản được CHV áp dụng đối với người phải THA và tài sản bị áp dụng BPBĐ này là tài sản có thể là động sản hoặc bất động sản, tài sản riêng của người phải THA hoặc tài sản chung với người khác đã đăng ký quyền sở hữu, sử dụng tại cơ quan nhà nước có thầm quyền nhằm ngăn chặn hành vi hoặc có thể thực hiện hành vi đăng
ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng về tài sản Sau khi có quyết định áp dụng BPBĐ này được gửi tới các cơ quan có liên quan thì mọi việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng thay đổi hiện trạng đối với tài sản không được công nhận và không có giá trị pháp lý Việc áp dụng biện pháp tạm dừng đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản là tiền đề, là cơ sở cho việc áp dụng các BPCCTHADS như kê biên, xử lý tài sản; cưỡng chế trả vật, chuyển quyền sử dụng đất, …
Các BPBĐTHADS giữ vai trò hỗ trợ đắc lực cho quá trình THA, góp phần bảo vệ các quyền và nghĩa vụ dân sự được ghi nhận trong bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, là cơ sở cho việc áp dụng các BPCCTHADS khi người phải THA không tự nguyện thi hành nghĩa vụ Việc áp dụng BPBĐTHADS này phải được áp dụng nhanh chóng, kịp thời để ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại, trốn tránh nghĩa vụ thi hành án của người phải THA CHV có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của đương sự quyết định áp dụng BPBĐTHADS
1.3 Trình tự áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự
1.3.1 Thẩm quyền áp dụng
Khoản 1 Điều 66 Luật THDS quy định: “CHV có quyền tự mình hoặc theo yêu
cầu bằng vản bản của đương sự áp dụng ngay biện pháp bảo đảm thi hành án nhằm ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án Khi áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án, CHV không phải thông báo trước cho đương sự” Như
Trang 3325
vậy, xuất phát từ mục đích nhằm ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh việc THA, CHV có thể tự mình hoặc theo yêu cầu bằng văn bản của đương sự áp dụng ngay các BPBĐTHADS Khi áp dụng BPBĐTHADS, CHV căn cứ nội dung bản án, quyết định thi hành án; tính chất, mức độ, nghĩa vụ THA; nếu người phải THA có hành vi, dấu hiệu tẩu tán, hủy hoại tài sản nhằm trốn tránh việc THA và tình hình thực
tế để lựa chọn việc áp dụng BPBĐ có phù hợp không Người yêu cầu CHV áp dụng BPBĐTHADS phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu của mình; trường hợp yêu cầu áp dụng BPBĐ không đúng mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng BPBĐ hoặc cho
người thứ ba thì phải bồi thường
Theo quy định trước đây khi thực hiện việc xã hội hóa hoạt động THADS, thẩm quyền áp dụng BPBĐTHADS không chỉ dừng lại ở CHV mà thừa phát lại cũng được nhà nước trao quyền áp dụng biện pháp này Điều 38 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của thừa phát lại thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh và sau này là Nghị định số 135/2013/NĐ-CP ngày 18/10/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung tên gọi và một số điều của Nghị định số 61/200/NĐ-CP quy định Thừa phát lại có quyền áp dụng các BPBĐTHADS quy định tại khoản 3, Điều
66 Luật THADS, khi áp dụng các BPBĐTHADS, Thừa phát lại có quyền và nghĩa vụ như CHV, thực hiện các thủ tục quy định tại Điều 66, Điều 67, Điều 68 và Điều 69 của Luật THADS
Đến nay khi Nghị định số 08/2020/NĐ-CP ngày 08/01/2020 quy định về tổ chức và hoạt động của thừa phát lại, tại khoản 2 Điều 52 quy định Thừa phát lại không được thực hiện việc áp dụng các BPBĐTHADS tại Điều 66, Điều 71, Điều 72 của Luật THADS
1.3.2 Thời điểm áp dụng
Sau khi có quyết định thi hành án, CHV được giao tổ chức thi hành vụ việc sẽ tiến hành các hoạt động tác nghiệp như thông báo về THA, xác minh điều kiện THA, thông báo thời gian tự nguyện THA, cưỡng chế THA Nếu trong thời gian tự nguyện THA, người phải THA thực hiện các nghĩa vụ theo bản án, quyết định thì việc THA kết thúc Trường hợp, người phải THA không tự nguyện thi hành thì CHV áp dụng các BĐTHADS, BPCCTHADS cần thiết để thi hành án
Theo quy định của Luật THADS thì BPBĐTHADS được áp dụng tại rất nhiều thời điểm khác nhau, có thể ngay sau khi ra quyết định thi hành, trong thời gian tự
Trang 3426
nguyện THA, cũng có thể là trước hoặc trong quá trình cưỡng chế THA nếu xét thấy cần ngăn chặn ngay hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh việc thi hành án của đương sự Tuy nhiên, trong từng vụ việc cụ thể thì thời điểm để thực hiện việc áp dụng là khác nhau, đặc biệt, để áp dụng BPBĐTHADS ngay thời gian tự nguyện thi hành án thì CHV cần có các thông tin hết sức chính xác về tài sản, tài khoản cũng như việc người phải THA đang thực hiện hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản đó nhằm trốn tránh việc thi hành án
1.3.3 Điều kiện áp dụng
Việc áp dụng BPBĐTHADS có tác động lớn đến quyền lợi của người phải THA nên để lựa chọn áp dụng BPBĐTHADS chính xác cần phải tuân theo những điều kiện nhất định
CHV có quyền tự mình hoặc theo yêu cầu bằng văn bản của đương sự áp dụng ngay BPBĐTHADS để ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh việc THA Như vậy, BPBĐTHADS được áp dụng trong thời điểm hiện tại để ngăn chặn một hành
vi có thể xảy ra trong tương lai Vấn đề đặt ra là có nên hiểu hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án là điều kiện để áp dụng BPBĐTHADS hay không?
Xung quanh vấn đề này cũng còn có những quan điểm khác nhau Quan điểm thứ nhất cho rằng, nếu xác định là điều kiện áp dụng thì CHV chỉ được áp dụng khi có dấu hiệu của hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh việc THA Quan điểm thứ hai
đề cao mục đích ngăn chặn, phòng ngừa, theo đó, CHV có thể áp dụng ngay BPBĐTHADS mà không cần thiết phải xem xét có xảy ra hay không xảy ra hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh việc THA
Hai quan điểm trên đều có những ưu điểm và nhược điểm khác nhau Đối với quan điểm thứ nhất, điều kiện áp dụng BPBĐTHADS chặt chẽ hơn, tuần tự cần phải
có xác minh dấu hiệu của hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh nghĩa vụ THA trước khi áp dụng Tuy nhiên xác định theo hướng này bộc lộ hạn chế khá rõ đó là BPBĐ có tính kịp thời, nhanh chóng ngăn chặn thì mới bảo đảm được tài sản cho THA, do vậy nếu phải tiến hành hoạt động xác minh nêu trên sẽ làm chậm quá trình áp dụng và mục đích ngăn chặn, phòng ngừa khó đạt hiệu quả Và hiện nay, việc xác định như thế nào là hành vi tẩu tán tài sản cũng chưa có một văn bản pháp luật nào quy định vấn đề này, tất cả việc xác định đều mang tính định tính của CHV trong quá trình tổ chức THA Ngược lại, ưu điểm của quan điểm thứ hai là do áp dụng BPBĐTHADS
Trang 3527
không cần phải xác minh có dấu hiệu hành vi tẩu tán tài sản, hủy hoại tài sản, trốn tránh việc THA nên việc áp dụng nhanh gọn, đáp ứng tính kịp thời sẽ đảm bảo được mục đích ngăn chặn, phòng ngừa Song, viêc áp dụng BPBĐTHADS như vậy cũng bộc lộ hạn chế là sẽ dẫn đến việc áp dụng tràn lan, lạm quyền, gây ra những thiệt hại không đáng có cho người phải THA Ví dụ: Trong thời gian tự nguyện thi hành án, CHV tiến hành thủ tục tạm giữ tài sản hoặc phong tỏa tài khoản của cơ sở kinh doanh
mà không xác định xem họ có hay không có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản, sẽ gây thiệt hại cả về lợi ích kinh tế và uy tín kinh doanh cho các đối tượng này
Theo quan điểm của cá nhân tôi, điều kiện áp dụng BPBĐTHADS nên được xác định theo hướng linh hoạt, đó là nếu CHV nhận thấy cần thiết hoặc theo yêu cầu của đương sự mà không bắt buộc phải có dấu hiệu có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh nghĩa vụ THA của người phải THA Tuy nhiên, khi áp dụng BPBĐTHADS cần cân nhắc kỹ để vừa đảm bảo mục đích ngăn chặn, phòng ngừa, đảm bảo quyền lợi của người được THA, vừa không gây thiệt hại cho người phải THA
Ngoài việc phải xác định điều kiện chung, việc áp dụng BPBĐTHADS còn phải đảm bảo điều kiện riêng đối với từng BPBĐ cụ thể
1.3.4 Nguyên tắc áp dụng
Theo Điều 13 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại khoản 8 Điều 1 Nghị định số 33/2020/NĐ-CP ngày 17/3/2020 việc áp dụng BPBĐTHADS cần tuân thủ những nguyên tắc sau:
Thứ nhất, CHV căn cứ vào nội dung bản án, quyết định; quyết định thi hành
án; tính chất, mức độ, nghĩa vụ THA; điều kiện của người phải THA; yêu cầu bằng văn bản của đương sự và tình hình thực tế của địa phương để lựa chọn việc áp dụng BPBĐ thích hợp CHV áp dụng BPBĐTHADS trong trường hợp thi hành quyết định
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định tại Điều 130 Luật THADS
Thứ hai, việc áp dụng BPBĐTHADS phải tương ứng với nghĩa vụ của người
phải THA và các chi phí THA theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp tài sản duy nhất của người phải THA lớn hơn nhiều lần so với nghĩa vụ thi hành án mà tài sản đó không thể phân chia được hoặc việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản; tài sản bảo đảm đã được bản án, quyết định tuyên xử lý để THA hoặc người phải THA tự nguyện đề nghị kê biên tài sản cụ thể trong số nhiều tài sản mà không gây trở ngại cho việc THA và tài sản đó đủ để THA, các chi phí liên quan
Trang 3628
Trước đây theo quy định tại khoản 1 Điều 13 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP thì việc áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án phải tương xứng với nghĩa vụ thi hành án không loại trừ trường hợp tài sản bảo đảm đã được bản án, quyết định tuyên xử lý để thi hành
Ví dụ: Bản án 123/2016/KDTM-ST ngày 04/5/2016 của TAND huyện L, tỉnh
B tuyên buộc ông Nguyễn Minh Tuấn và bà Trần Thị Lụa, địa chỉ: Khu Lê Hồng Phong, thị trấn C, huyện L, tỉnh B phải trả cho Ngân hàng Đầu tư và phát triển nông thôn Việt Nam- Chi nhánh huyện L số tiền là 500.000.000 đồng và lãi suất chậm thi hành án Trường hợp ông Tuấn và bà Lụa không tự nguyện thi hành thì Ngân hàng Đầu tư và phát triển nông thôn Việt Nam- Chi nhánh huyện L có quyền phát mại tài sản là Quyền sử dụng đất 100m2 đất ở, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A578963, thửa số 01, tờ bản đồ số 03, có100m2, địa chỉ thửa đất: Khu Lê Hồng Phong, thị trấn C, huyện L, tỉnh B do Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 02/01/2001 mang tên ông Nguyễn Minh Tuấn và bà Trần Thị Lụa Tuy nhiên tài sản này có giá trị khoảng 3.000.000.000đ lớn hơn nhiều so với nghĩa vụ phải THA Đối chiếu theo quy định tại khoản 1 Điều 13 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP thì cơ quan THADS chỉ được
áp dụng BPBĐTHADS, BPCCTHADS tương ứng với nghĩa vụ phải THA của quyền
sử dụng đất này Việc xử lý này đã gây ra không ít khó khăn cho cơ quan THADS khi bán đấu giá, giảm giá tài sản nhiều lần mà không có người mua tài sản, sau khi bán tài sản thì vẫn không đủ thực hiện nghĩa vụ thi hành án CHV một lần nữa lại tiếp tục thực hiện việc kê biên phần đất còn lại Khắc phục vấn đề này, khoản 8 Điều 1 Nghị định số 33/2020/NĐ-CP ngày 17/3/2020 trường hợp tài sản bảo đảm đã được bản án, quyết định tuyên xử lý để thi hành thì CHV không cần phải tuân theo nguyên tắc áp dụng BPBĐ, BPCC tương xứng với nghĩa vụ THA
Ngoài ra cần chú ý, theo Điều 34 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP, trong trường hợp ủy thác thi hành nghĩa vụ liên đới mà người phải THA cư trú hoặc có tài sản ở nhiều địa phương khác nhau mà tài sản ở địa phương nhận ủy thác không đủ để THA thì cơ quan THADS nơi nhận ủy thác có quyền áp dụng các BPBĐTHADS đối với tất cả những người, tài sản có liên quan đến việc THA để tránh trường hợp tẩu tán, trốn tránh việc THA
Trang 37bị áp dụng BPCCTHADS và phải chịu mọi chi phí có liên quan Do đó, BĐTHADS chỉ mang tính chất ngăn chặn, bảo toàn tài sản nhằm tạo điều kiện cho CHV có thời gian tiến hành các biện pháp cần thiết chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cần thiết để áp
dụng BPCCTHADS
1.4 Vị trí, vài trò của biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự
Với vai trò đảm bảo điều kiện THA của người phải THA, các BPBĐTHADS
có ý nghĩa hết sức to lớn, đóng vai trò quan trọng đối với kết quả tổ chức thi hành các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, cụ thể như sau:
- Thứ nhất: BPBĐTHADS đã góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
đương sự, người có quyền, nghĩa vụ liên quan
Xuất phát từ việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho các đương sự đã được ghi nhận trong các bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; ngăn chặn người phải THA thực hiện hành vi tẩu tán, hủy hoại hoặc thay đổi hiện trạng tài sản trốn tránh việc THA để từ đó có thể bảo toàn được điều kiện thi hành án Luật THADS
đã quy định nhóm BPBĐTHADS
Việc ra quyết định áp dụng BPBĐTHADS chính là thực hiện bước đệm, tạo tiền
đề hiệu quả cho việc áp dụng BPCCTHADS đối với tài sản của người phải THA trong trường hợp họ không tự nguyện THA Luật THADS quy định BPBĐTHADS đã tạo điều kiện cho CHV thực hiện hạn chế quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản của người phải THA ngay khi có thông tin về điều kiện THA của họ đã khắc phục được hạn chế trước đây của Pháp lệnh THADS năm 2004 là muốn hạn chế quyền sở hữu, sử dụng tài sản của người phải THA phải thực hiện đúng trình tự, thủ tục về cưỡng chế THADS thì
Trang 38bị áp dụng BPBĐTHADS không phải của người phải THA thì CHV ra quyết định chấm dứt việc áp dụng BPBĐTHADS để trả lại tài sản cho chủ sở hữu, chủ sử dụng hợp pháp
- Thứ hai, BPBĐTHADS đã góp phần đẩy nhanh quá trình thi hành án, làm
giảm thiểu các chi phí không đáng có
Sau khi ra quyết định áp dụng BPBĐTHADS đối với tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của người phải THA thì chỉ trong một thời hạn rất ngắn, CHV phải ra quyết định áp dụng BPCCTHADS để xử lý tài sản đó để THA Vì vậy, sau bị CHV ra quyết định áp dụng BPBĐTHADS thì người phải THA sẽ phải cân nhắc, lường trước
về các hậu quả pháp lý sẽ xảy ra đối với họ nếu không tự nguyện THA Đó là việc CHV sẽ ra quyết định áp dụng BPCCTHADS tài sản sẽ bị xử lý để THA và khi đó người phải THA còn phải chịu thiệt hại về kinh tế do phải chịu các chi phí cưỡng chế thi hành án và các chi phí khác có liên quan; đồng thời, người phải THA còn mất uy tín, danh dự đối với cộng đồng dân cư nơi người đó sinh sống Với những hậu quả tiêu cực có thể xảy ra, người phải THA có thể sẽ lựa chọn phương án tự nguyện THA để có thể bảo toàn tài sản đã bị áp dụng BPBĐTHADS, giảm thiểu thiệt hại về kinh tế phát sinh và bảo toàn được uy tín, danh dự đối với cộng đồng Chính sự lựa chọn này của người phải THA sẽ góp phần thúc đẩy nhanh quá trình tổ chức THADS, giảm thiểu chi phí xã hội phát sinh
Trong trường hợp đã bị CHV ra quyết định áp dụng BPBĐTHADS nhưng người phải THA vẫn không tự nguyện THA hoặc không có phương án, thỏa thuận
Trang 3931
khác thì đây cũng chính là cơ sở, tiền đề để CHV ra quyết định cưỡng chế THADS để bảo vệ tính nghiêm minh của pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được THA; các tài sản của người phải THA đã bị đặt trong tình trạng bị hạn chế quyền
sử dụng, định đoạt hoặc tạm thời bị cấm định đoạt theo BPBĐTHADS trước đây sẽ được xử lý để THA
Thứ ba, BPBĐTHADS góp phần nâng cao ý thức của đương sự, người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến việc THA
BPBĐTHADS tuy chưa làm chấm dứt quyền định đoạt tài sản của người phải THA nhưng việc áp dụng biện pháp này cũng đã làm cho người phải THA gánh chịu những thiệt hại đáng kể về kinh tế do khi bị hạn chế quyền sử dụng, định đoạt tài sản thì họ không thể đem tài sản đó tham gia một cách trọn vẹn vào các giao dịch của mình Sau một thời hạn nhất định, nếu đương sự không tự nguyện THA thì CHV sẽ đưa tài sản đó ra cưỡng chế để THA
Trong hoạt động sản xuất, kinh doanh thì uy tín là một tài sản rất có giá trị, thậm chí quyết định đến sự thành bại của thương nhân, doanh nghiệp Việc bị áp dụng BPBĐTHADS có thể làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động thanh toán, chi trả, giao dịch với đối tác theo hợp đồng đã ký kết bị chậm trễ, thậm chí bị ngưng trệ, dẫn đến việc phát sinh chi phí, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại do bị vi phạm thời hạn hợp đồng, thời hạn thanh toán Bên cạnh đó, việc người phải THA bị áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản, bị tạm giữ tài sản, giấy tờ hay bị áp dụng biện pháp tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi về hiện trạng tài sản cũng dẫn đến hậu quả là
dư luận của xã hội cho rằng người phải THA đang lâm vào tình trạng vỡ nợ, kinh tế suy yếu, thậm chí là mất khả năng thanh toán, đến mức phải bị áp dụng BPBĐ Từ đó,
uy tín của người phải THA trong hoạt động sản xuất, kinh doanh cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng, các đối tác của họ sẽ không tin tưởng để giao kết hợp đồng khiến cho tình trạng càng thêm khó khăn và khi tiến hành đàm phán để ký kết được hợp đồng thì
họ cũng sẽ phải chịu nhiều ràng buộc, thiệt thòi do phía các đối tác không tín nhiệm
Do đó, để thoát ra khỏi tình trạng không mong muốn đó, người phải THA sẽ nhanh chóng lựa chọn phương án tự nguyện thi hành nghĩa vụ của mình, hạn chế các thiệt hại
có thể xảy ra
- Thứ tư, ý nghĩa về kinh tế xã hội
Trang 4032
Khi phát hiện người phải THA có tài khoản hoặc có tài sản để THA, CHV áp dụng BPBĐTHADS nhằm ngăn chặn hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh việc THA tạo tiền đề, bước đệm hiệu quả cho việc áp dụng BPCCTHADS khi người phải THA không tự nguyện thi hành Do đó, việc tổ chức THA được nhanh chóng hơn, hiệu quả hơn Đặt trong bối cảnh các cơ quan đang trong tình trạng quá tải công việc như hiện nay, thì việc giải quyết nhanh gọn, dứt điểm bản án, quyết định góp phần làm lành mạnh hóa các quan hệ dân sự, kinh tế, lao động, …bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, công dân, mang lại giá trị to lớn cả về kinh tế và xã hội
Hơn nữa, do tâm lý e ngại bị áp dụng BPCCTHADS, người phải THA tự nguyện thi hành giúp cho quá trình THA diễn ra nhanh chóng, thuận lợi Dưới góc độ
xã hội, việc đương sự tự nguyện THA góp phần ổn định các quan hệ xã hội, cụ thể là các quan hệ pháp luật THA, đồng thời góp phần nâng cao ý thức pháp luật của đương
sự
Như vậy, mặc dù BPBĐTHADS không mạnh mẽ như BPCCTHADS nhưng với tính chất cảnh báo rằng CHV sẽ áp dụng BPCCTHADS gây hậu quả tiêu cực và những ảnh hưởng đến uy tín, danh dự, ảnh hưởng đến các cơ hội kinh doanh, thiệt hại
về tài sản, quyền tài sản của người phải THA và các chị phí phát sinh đã gây nên áp lực tâm lý của người phải THA, hướng họ lựa chọn phương án tự nguyện THA Điều này cho thấy, việc thực hiện quy định về BPBĐTHADS đã góp phần nâng cao ý thức pháp luật của đương sự trong hoạt động THADS
1.5 Phân biệt biện pháp bảo đảm trong thi hành án dân sự và biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự, biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân
để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cứ trú, tạm hoãn xuất cảnh Đối với biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn xét xử là biện pháp do pháp luật quy định mà Tòa án quyết định áp dụng trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự nhằm giải quyết được tình trạng cấp bách tạm thời, khống chế và ngăn chặn được những hành vi tẩu tán, hủy hoại hoặc