Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra cùng với sự thể hiện công khai, minh bạch thì đánh giá tính công khai, minh bạch trong hoạt động xét xử, thực hiện quyền tư pháp của tòa án là đòi hỏi kh
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN NGỌC CHÍ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người cam đoan
Nguyễn Ngọc Mai
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MINH BẠCH TRONG XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ 8
1.1 Quan điểm về minh bạch tư pháp 8
1.1.1 Quan điểm về minh bạch tư pháp trên thế giới 8
1.1.2 Quan điểm về minh bạch tư pháp tại Việt Nam 17
1.2 Khái niệm minh bạch trong xét xử vụ án hình sự 24
1.3 Đánh giá tính minh bạch trong xét xử vụ án hình sự 26
1.3.1 Sự cần thiết và khái niệm đánh giá tính minh bạch trong xét xử vụ án hình sự 26
1.3.2 Căn cứ, tiêu chí đánh giá tính minh bạch trong xét xử vụ án hình sự 29
Kết luận Chương 1 34
CHƯƠNG 2: MINH BẠCH TRONG XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI 36
2.1 Minh bạch trong xét xử vụ án hình sự trong pháp luật tố tụng hình sự Anh 36
2.1.1 Những quy định pháp luật trong luật tố tụng hình sự Anh 36
2.1.2 Thực tiễn thực thi pháp luật tại Anh về minh bạch trong xét xử vụ án hình sự 40
2.1.3 Nhận xét 44
2.2 Minh bạch trong xét xử vụ án hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Hoa Kỳ 46
Trang 52.2.1 Những quy định pháp luật trong luật tố tụng hình sự Hoa Kỳ 46
2.2.2 Thực tiễn thực thi pháp luật tại Hoa Kỳ về minh bạch trong xét xử vụ án hình sự 51
2.2.3 Nhận xét 54
2.3 Minh bạch trong xét xử vụ án hình sự trong pháp luật tố tụng hình sự Trung Quốc 55
2.3.1 Những quy định pháp luật trong luật tố tụng hình sự Trung Quốc 55
2.3.2 Thực tiễn thực thi pháp luật tại Trung Quốc về minh bạch trong xét xử vụ án hình sự 59
2.3.3 Nhận xét 63
Kết luận Chương 2 67
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG, THỰC TIỄN VÀ TIẾP THU KINH NGHIỆM NƯỚC NGOÀI TRONG VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG MINH BẠCH TRONG XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM 68
3.1 Minh bạch trong xét xử vụ án hình sự theo pháp luật Việt Nam 68
3.1.1 Minh bạch trong xét xử vụ án hình sự theo Hiến pháp năm 2013 68
3.1.2 Minh bạch trong xét xử vụ án hình sự theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 69
3.1.3 Minh bạch trong xét xử vụ án hình sự trong các luật liên quan 78
3.2 Thực tiễn thực thi, áp dụng pháp luật về minh bạch trong xét xử vụ án hình sự 82
3.3 Nâng cao chất lượng minh bạch trong xét xử vụ án hình sự trên cơ sở kinh nghiệm nước ngoài 89
Kết luận Chương 3 97
KẾT LUẬN 99
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLTTHS: Bộ luật tố tụng hình sự TAND: Tòa án nhân dân
TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao TTHS: Tố tụng hình sự
VKS: Viện kiểm sát XHCN: Xã hội chủ nghĩa
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Giáo sư luật Aharon Barak từng có một câu nói “Thẩm phán không có
kiếm cũng không có ví Tất cả những gì anh ta có là niềm tin của cộng đồng đối với anh ta” [38, p.109] Niềm tin của người dân vào pháp luật có ý nghĩa
rất quan trọng bởi nó cần thiết cho sự tự nguyện chấp nhận quyết định tư pháp
và hơn thế nữa đó là niềm tin vào hệ thống chính trị, vào công lý được thực thi Nếu coi niềm tin của nhân dân là thước đo để đánh giá vai trò sự lãnh đạo của một nhà nước công bằng, dân chủ hay không thì sự minh bạch tư pháp được coi như là một phương tiện quan trọng để củng cố niềm tin của nhân dân
và là công cụ để thúc đẩy mạnh mẽ việc xây dựng một xã hội được quản lý bởi luật pháp và một cơ chế bảo vệ nhân quyền Niềm tin của người dân, của
xã hội đối với tư pháp chỉ thể có được khi nền tư pháp đó minh bạch, người dân có thể dễ dàng tiếp cận được các thông tin của quá trình xét xử, thực hiện quyền tư pháp của tòa án
Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra cùng với sự thể hiện công khai, minh bạch thì đánh giá tính công khai, minh bạch trong hoạt động xét xử, thực hiện quyền tư pháp của tòa án là đòi hỏi khách quan trong nhà nước pháp quyền Tuy nhiên, mỗi hình thức tổ chức thực hiện quyền tư pháp và mỗi phương thức thiết kế bộ máy tòa án lại có cách thức đánh giá tính công khai, minh bạch trong hoạt động xét xử, thực hiện quyền tư pháp khác nhau nên bên cạnh việc khẳng định tính tất yếu của hoạt động đánh giá tính công khai, minh bạch trong hoạt động xét xử, thực hiện quyền tư pháp thì mục đích, cơ chế, cách thức, tiêu chí đánh giá ở mỗi nhà nước, mỗi giai đoạn lịch
sử lại có sự khác nhau
Ở phương Tây, các nghiên cứu được phát triển hàng trăm năm qua đã tạo nên hệ thống quan điểm, học thuyết làm cơ sở cho việc xây dựng pháp
Trang 8pháp luật và hoạt động nhằm cải thiện hiệu quả hoạt động của tòa án cũng như tính minh bạch trong hoạt động của cơ quan này thông qua việc thiết kế
hệ thống, đến giám sát của quần chúng, sự đánh giá, đo lường bởi các định chế độc lập Cơ chế đánh giá và các phương pháp đánh giá định lượng được thiết kế công phu, hơn nữa không ngừng được quan tâm cải thiện, do nhận thức về tầm quan trọng của sự minh bạch, công khai trong hoạt động tư pháp đối với sự phát triển xã hội
Tuy nhiên, ở chiều ngược lại, tại các quốc gia đang phát triển, trong
đó có Việt Nam, tư pháp và hoạt động của tòa án theo nghĩa là một nhánh quyền lực, độc lập và bảo đảm công lý mới trải qua sự phát triển ngắn ngủi và thiếu hẳn triết lý cũng như một hình ổn định Trong bối cảnh như vậy, việc nghiên cứu về nhánh quyền lực tư pháp và hoạt động của tòa án đáp ứng yêu cầu phải công khai, minh bạch là đòi hỏi cấp thiết, nhất là trước biến đổi của thời đại, khi hội nhập quốc tế, toàn cầu hóa là xu thế thời đại, khi có sự đòi hỏi cao đối với việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người trong mọi mặt đời sống xã hội cũng như những yêu cầu đặt ra trước sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học công nghệ thế hệ mới [3]
Ở Việt Nam, trong quá trình cải cách tư pháp đã đặt ra yêu cầu về công khai, minh bạch và đánh giá tính công khai, minh bạch trong hoạt động xét
xử, thực hiện quyền tư pháp của tòa án và bước đầu có các hoạt động đánh giá
ở những phạm vi nhất định nhưng chưa đáp ứng được định hướng xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa [1] Hoạt động đánh giá tính công khai, minh bạch trong hoạt động
xét xử, thực hiện quyền tư pháp của tòa án còn đơn lẻ, chưa hình thành cơ chế mang tính pháp định buộc các chủ thể liên quan có trách nhiệm đánh giá tính
Trang 9công khai, minh bạch trong hoạt động xét xử, thực hiện quyền tư pháp của tòa
án một cách thường xuyên, chưa là một tiêu chí khi đánh giá hiệu quả hoạt động của tòa án Ở một số hoạt động đánh giá của tòa án về tính công khai, minh bạch trong hoạt động xét xử của mình chưa hình thành được bộ tiêu chí khoa học làm cơ sở cho việc đánh giá nên kết quả thu được chưa khách quan
Do vậy, để góp phần thực hiện cải cách tư pháp, hoàn thiện tính công khai, minh bạch trong hoạt động xét xử, thực hiện quyền tư pháp của tòa án
Việt Nam học viên chọn đề tài “Minh bạch trong xét xử vụ án hình sự - Pháp
luật quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam” làm luận văn tốt nghiệp của mình
- STEPHANOS BIBAS (2006), Tính minh bạch của bài luận và tham
gia vào tố tụng hình sự, Tái bản với sự cho phép của Trường Luật Đại học
New York, Tập 8, Số 3;
- Liên Hợp Quốc, “Hướng dẫn tăng cường năng lực và liêm chính tư
pháp”, 2011;
Trang 10- Liên Hợp Quốc (2016), “Một nền tư pháp minh bạch và có trách
nhiệm để mang lại công lý cho tất cả mọi người”;
- Tòa án nhân dân tối cao Trung Quốc (2015), “Sách trắng: Minh bạch
tư pháp của các Tòa án Trung Quốc”;
- Tian He (2013); So sánh về minh bạch tư pháp, Bắc Kinh, Nhà xuất
bản Khoa học xã hội
Ở Việt Nam công khai, minh bạch hay liêm chính tư pháp bắt đầu là
chủ đề quan tâm của nhiều học giả, có thể kể đến: “Những vấn đề chủ yếu về
liêm chính tư pháp trong quá trình xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Đào Trí Úc; “Liêm chính trong hoạt động của tòa án: chia sẻ một số kết quả từ Nghiên cứu hệ thống liêm chính quốc gia của Việt Nam” của tác giả Vũ Công Giao; “Liêm chính trong hoạt động của các cơ quan thực thi pháp luật: chia sẻ một số kết quả từ Nghiên cứu hệ thống liêm chính quốc gia Việt Nam” của tác giả Tường Duy Kiên [4]
Những nghiên cứu này bước đầu đã xây dựng được các tiêu chí đánh giá tính công khai, minh bạch trong hoạt động tư pháp - biểu trưng định lượng của sự liêm chính tư pháp
Nghiên cứu so sánh nhằm rút ra các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam liên quan đến minh bạch tư pháp nhận được sự quan tâm của cả học giả trong
nước, như: “Cơ chế giám sát hoạt động của các cơ quan tư pháp trên thế giới
và ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Mạnh Cường; “Liêm chính trong hoạt động của luật sư: các tiêu chuẩn quốc tế và Việt Nam” của tác giả Lưu Tiến
Dũng; “Độc lập tư pháp: các khuôn khổ pháp lý quốc tế và Việt Nam” của tác giả Scott Ciment [4]; “Sự độc lập của thẩm phán - nhân tố bảo đảm liêm
chính tư pháp ở Liên Bang Nga” của tác giả Mai Văn Thắng [4],
Các sách, giáo trình, bài viết công bố trên các tạp chí ở trong nước đã
đề cập đến một số nội dung của minh bạch tư pháp và đánh giá tính minh
Trang 11bạch trong hoạt động xét xử của tòa án, có thể kể đến như: “Hệ thống tòa án
Việt Nam trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền” của tác giả Nguyễn
Đăng Dung [6]; “Thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về công khai,
minh bạch và trách nhiệm giải trình” [17]; “Minh bạch pháp luật và công bố phán quyết của Tòa án trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế” Tạp chí Luật
học, số 5/2004 của tác giả TS Nông Quốc Bình; “Nguyên tắc khi xét xử, thẩm
phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật - thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện” của tác giả Nguyễn Quang Hiền [32],
Một số luận án, luận văn luật học cũng đã đề cập đến các vấn đề liên quan đến minh bạch tư pháp và đánh giá tính công khai, minh bạch trong hoạt động xét xử, thực hiện quyền tư pháp của tòa án, có thể kể đến như: Nguyễn
Huyền Ly (2012), “Vai trò của tòa án trong nhà nước pháp quyền Việt Nam” luận văn thạc sỹ luật học; Nguyễn Thị Liên Hương (2012), “Quyền được xét
xử công bằng trong luật tố tụng hình sự Việt Nam” luận văn thạc sỹ luật học;
Qua khảo sát của học viên thấy rằng, mặc dù hiện nay trong khoa học Luật tố tụng hình sự Việt Nam đã có một số nghiên cứu chung và khái quát nhất về tăng cường tính minh bạch trong xét xử vụ án hình sự Tuy nhiên
chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu về “Minh bạch trong xét xử vụ án hình
sự - Pháp luật quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam” Vì vậy, việc nghiên
cứu đề tài là cần thiết và phù hợp với yêu cầu thực tiễn của công cuộc cải cách tư pháp mà Đảng và Nhà nước đã đề ra trong giai đoạn hiện nay
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Học thuyết, quan điểm về minh bạch tư pháp của các học giả trong và ngoài nước; Pháp luật về minh bạch tư pháp của một số nước trên thế giới; pháp luật và thực tiễn minh bạch trong xét xử vụ án hình sự ở Việt Nam
* Phạm vi nghiên cứu
Trang 12Phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung nghiên cứu về tính minh bạch trong xét xử vụ án hình sự trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của một số quốc gia tiêu biểu trên thế giới là Anh, Hoa Kỳ, Trung Quốc - những nước đại diện cho các hệ thống pháp luật chính trên thế giới, cũng như
có điều kiện chính trị tương đồng với Việt Nam Trên cơ sở này, luận văn đối chiếu, so sánh với pháp luật Việt Nam để rút ra bài học kinh nghiệm mà Việt Nam có thể tiếp thu
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, quy định của pháp luật Việt Nam và một
số quốc gia điển hình trên thế giới và thực tiễn xét xử ở Việt Nam, luận văn đưa ra những định hướng và nội dung tham khảo, tiếp thu kinh nghiệm nước ngoài để nâng cao tính minh bạch trong xét xử vụ án hình sự tại Việt Nam
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận về minh bạch tư pháp trong xét xử vụ án hình sự;
- Phân tích những quy định của pháp luật thể hiện tính minh bạch trong xét xử vụ án hình sự trong pháp luật hình sự của một số quốc gia trên thế giới như Anh, Mỹ, Trung Quốc và tại Việt Nam;
- Đưa ra bài học kinh nghiệm về minh bạch tư pháp mà Việt Nam có thể tiếp thu góp phần tăng cường tính minh bạch trong xét xử vụ án hình sự trong quá trình cải cách tư pháp
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được tiến hành nghiên cứu dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm, chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà
Trang 13nước Ngoài ra luận văn cũng kế thừa có chọn lọc những vấn đề lý luận và thực tiễn đã được các nhà nghiên cứu đi trước đưa ra, những tài liệu, công trình trong và ngoài nước đã được công bố trên các tài liệu, bài viết, tạp chí của các cơ quan bảo vệ pháp luật cùng các phương pháp luận của khoa học Luật tố tụng hình sự
Luận văn cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phương pháp tổng kết thực tiễn; Phương pháp thống kê, so sánh; Phương pháp phân tích, tổng hợp; Phương pháp tiếp cận, thu thập thông tin, … Các phương pháp nghiên cứu được kết hợp giữa lý luận và thực tiễn để rút ra kết luận khoa học của mình đối với vấn đề nghiên cứu
6 Tính mới và những đóng góp của đề tài
Luận văn được thực hiện và nghiên cứu về tính minh bạch trong xét
xử vụ án hình sự trên pháp luật của một số quốc gia trên thế giới và ở Việt Nam, góp phần làm thêm các tri thức lý luận về tính minh bạch trong xét xử
vụ án hình sự
7 Kết cấu luận văn
Đề tài ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tham khảo, nội dung được cấu trúc thành 03 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về minh bạch trong xét xử vụ án hình sự Chương 2: Minh bạch trong xét xử vụ án hình sự theo pháp luật tố tụng
hình sự một số quốc gia trên thế giới
Chương 3: Thực trạng, thực tiễn và tiếp thu kinh nghiệm nước ngoài trong
việc nâng cao chất lượng minh bạch trong xét xử vụ án hình sự ở Việt Nam
Trang 14Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MINH BẠCH
TRONG XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1 Quan điểm về minh bạch tư pháp
1.1.1 Quan điểm về minh bạch tư pháp trên thế giới
1.1.1.1 Quan niệm về sự ra đời, bản chất và vai trò của minh bạch tư pháp
Ngay từ thời kì cổ đại, quyền tư pháp đã được các nhà triết học đề cập
từ thời La Mã cổ đại nhưng còn sơ khai mà các vị đại diện đặc sắc nhất là triết nhân Hy Lạp Heraclitus (530-470 TCN), Plato (427-347 TCN), Aristote (384
- 322 TCN), … thông qua những nghiên cứu về nhà nước pháp quyền và khẳng định về vai trò của pháp luật Kế tiếp là các nhà tư tưởng như Thomas von Aquin (1225 - 1274), Marsilius von Padua (1275 - 1342), Jean Bodin (1530-1596), Thomas Hobbes (1588 - 1679), … đã đặt nền móng đã quan tâm nghiên cứu về tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước để các nhà nghiên cứu tiếp theo tiếp tục triển khai và cải biến tư tưởng chính trị - xã hội phù hợp với điều kiện lịch sử mới Đến thời kỳ Khai sáng, triết gia người Anh - John Loke (1632-1704) tiếp theo là nhà luật học người Pháp S Montesquieu (1689-1755), với tác phẩm Tinh thần Pháp luật (l’Esprit des lois) xuất bản năm 1748 và Jean Jacques Rousseau (1712-1778) với tác phẩm Khế ước xã hội (1762) thì nghiên cứu về tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước mới được hoàn chỉnh Theo đó, các tác giả đều cho rằng để hạn chế quyền lực nhà nước tự bành trướng, tự tăng cường thì cách tốt nhất để chống lạm quyền là giới hạn quyền lực bằng chính công cụ quyền lực Tức là, quyền lực của Nhà nước phải chia thành ba nhánh: quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp và các quyền này phải được tách biệt và độc lập với nhau, ràng buộc, giám định, khống chế l n nhau a nhánh quyền lực này do ba cơ quan khác nhau nắm giữ để không một cá nhân hay tổ chức nào nắm trọn vẹn quyền lực nhà nước
Trang 15Hoạt động của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp có sự chuyên môn hóa, chỉ thực hiện chức năng riêng của mình, không làm ảnh hưởng tới hoạt động của các cơ quan khác Quyền lực giữa các cơ quan này cân bằng nhau, không có loại quyền lực nào vượt trội, lớn hơn quyền lực nào và quyền tư pháp đại diện cho một nhánh quyền lực nhà nước được giao Tòa án Khi nói
về vấn đề này, quan điểm của Rousseau có nhiều điểm tương đồng với Montesquieu, cơ quan tư pháp phải hiểu đó là Tòa án, là hoạt động xét xử của Tòa án, ông đã viết trong tác phẩm nổi tiếng của mình rằng:
Khi người ta không thể định rõ một tỷ lệ chính xác giữa các bộ phận cấu thành của nhà nước, hoặc khi mà những nguyên nhân khách quan làm suy yếu không ngừng mối quan hệ giữa các bộ phận ấy, thì người ta phải đặt một cơ quan đặc biệt, không tham dự vào bất cứ một bộ phận nào Cơ quan này đặt mỗi bộ phận vào đúng vị trí của nó, làm mối dây liên lạc và yếu tố trung gian giữa Chính phủ với nhân dân, hoặc giữa Chính phủ với cơ quan quyền lực tối cao, hoặc giữa cả ba vế ấy khi cần Cơ quan này tôi gọi là cơ quan tư pháp [14, tr.218]
Các công trình nghiên cứu của các tác giả trên đã đặt nền móng đầu tiên cho những nghiên cứu về tính minh bạch Đến cuối thế kỷ XVIII, cùng với sự phát triển của xã hội, khi người dân bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến việc có được thông tin để bày tỏ ý kiến của họ, việc kiểm soát quyền lực nhà nước nghiễm nhiên trở thành một nhu cầu và một trong những cách để hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước được thể hiện ở quyền truy cập thông tin Cùng với công khai - một nguyên tắc nhằm đảm bảo sự liêm chính của những người nắm trong tay quyền lực điều hành bộ máy nhà nước thì nguyên tắc minh bạch cũng được đặt ra với khả năng truy cập thông tin để bất kỳ ai cũng có thể giám sát các hoạt động của nhà nước Công khai, minh bạch được coi là một trong
Trang 16những phương thức hạn chế quyền lực nhà nước từ bên ngoài Thuật ngữ “minh
bạch” được ra đời từ đó, nó bắt nguồn từ thuật ngữ “Transparere” trong tiếng
latin thời trung cổ, trans (through) và parere (appear), theo nghĩa đen, nó có nghĩa là "ánh sáng xuyên qua" [42] và thuật ngữ này dần trở thành một từ thông dụng được thế giới sử dụng trong nhiều lĩnh vực và tư pháp cũng không là ngoại
lệ Minh bạch tư pháp là chủ đề được các học giả quan tâm nhiều vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX
Đến cuối thập niên 70 của thế kỷ XX, các phương pháp đánh giá về hiệu quả và tác động của chính sách pháp luật ở các nước phương Tây đã được xem như là phương pháp phân tích trong lĩnh vực chính trị - hành chính
và tư pháp Các vấn đề về minh bạch và hiệu quả gắn với những tìm kiếm và xây dựng các nguyên tắc quản lý nhằm nâng cao chất lượng, đo lường hiệu suất làm việc của các thiết chế công được đặc biệt chú trọng trong các nghiên
cứu, phải kể đến các công trình như Impoving Productivity and Productivity
Measurement in Local Government (Nâng cao hiệu quả và đo lường hiệu quả trong khu vực công ở địa phương) của Harry P Hatry, Donald M Fisk [42]; Productivity in the Local Government Sector (Hiệu quả trong khu vực công ở địa phương) của Ross J Burkhead [44] Những công trình này đã đề xuất đến
sự cần thiết của việc đo lường hiệu quả hoạt động của các cơ quan hành chính
và tư pháp [4] Từ những thập niên giữa thế kỷ XX, cùng với sự hỗ trợ của Liên Hợp Quốc, các hội nghị quốc tế về hoạt động quản lý nhà nước nói chung và nhiều công trình, nghiên cứu về minh bạch tư pháp; đánh giá tính công khai, minh bạch hoạt động của tòa án nói riêng được tổ chức, thực hiện
như Hội thảo “Công lý điện tử: chia sẻ kinh nghiệm quốc gia trong tăng
cường tính minh bạch, hiệu quả và khả năng tiếp cận công lý” được tổ chức
tại New York vào ngày 1 tháng 6 năm 2016; Chương trình Phát triển Liên
Hợp Quốc “Một nền tư pháp minh bạch và có trách nhiệm để mang lại công lý cho
Trang 17tất cả mọi người” với sự hợp tác của Trung tâm Nguồn lực chống tham nhũng U4,
một loạt kinh nghiệm thành công từ Afghanistan, Bosnia và Herzegovina, Colombia, Indonesia, Kenya, Kosovo, Nepal, Nigeria, Paraguay, Philippines và Somalia, trong thúc đẩy tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong cơ quan tư pháp [47]; Evaluation and Effective Public Management (Đánh giá về hiệu quả của quản lý công) của Wholey J F [50], … Cùng với các nghiên cứu
so sánh về phương pháp đánh giá của từng khu vực quốc gia và tham khảo thành tựu của các nước trong lĩnh vực này, cho đến nay, các chuyên gia của Liên hợp quốc đã có nhiều đóng góp trong việc đề xuất các mô hình cải cách, đánh giá hiệu quả cải cách tư pháp phù hợp với mỗi quốc gia, nhằm thúc đẩy tính toàn vẹn và độc lập của tư pháp
Nói đến định nghĩa, theo Ủy ban chuyên gia về hành chính công của
Liên hợp quốc thì “Tính minh bạch là sự truy cập nhanh chóng, kịp thời vào
thông tin đáng tin cậy về các quyết định và sự thực thi” [46, p.10] Trong lý
thuyết pháp lý Lexicon cung cấp một giới thiệu rất ngắn gọn và đơn giản về
khái niệm minh bạch: “things go better when processes are open” tạm dịch là
“mọi thứ trở nên tốt hơn khi các quy trình được mở” [51]
Một định nghĩa khác về minh bạch nhấn mạnh đến sự khác biệt cũng như mối quan hệ mật thiệt giữa công khai và minh bạch và các yếu tố tạo nên minh bạch tư pháp như sau:
Trong khi công khai liên quan chủ yếu đến sự sẵn có và và sự rõ ràng của các quyết định tư pháp, tính minh bạch đảm bảo cơ hội nhìn thấy con đường d n đến kết quả đạt được, cùng với lý do của nó Minh bạch có nghĩa là công khai cách thức thẩm phán đi đến quyết định của mình Các yếu tố của tính minh bạch bao gồm: phiên xét xử công khai (phát trực tuyến các phiên tòa), lập luận cho quyết định (bao gồm cả lập luận ngoài pháp lý), công bố các ý kiến phản đối, thông tin về quá trình ra quyết định và nhận dạng của báo cáo viên, sự giới
Trang 18thiệu các thẩm phán (bao gồm hình ảnh và thông tin tiểu sử), quyền được thông tin và truy cập tài liệu tự do theo pháp luật, và cuối cùng, tiết lộ kết quả biểu quyết của hội đồng xét xử [45, p.2]
Có thể thấy công khai tư pháp là điều kiện tiên quyết và quan trọng để đạt được sự minh bạch về tư pháp
Quyển So sánh quốc tế về minh bạch tư pháp lại định nghĩa minh bạch
tư pháp như sau:
Minh bạch tư pháp có nghĩa là ngoài những vấn đề liên quan đến bí mật nhà nước, bí mật kinh doanh hoặc quyền riêng tư của các bên liên quan và các vấn đề có thể ảnh hưởng đến lệnh xét xử bình thường của tòa án, tất cả các hoạt động xét xử của tòa án và tất cả các loại thông tin liên quan đến hoạt động xét xử phải kịp thời; công bố toàn diện, chính xác và hiệu quả cho các bên và công chúng [49, p.3]
1.1.1.2 Quan niệm về nội dung, đặc điểm và việc phân loại minh bạch
tư pháp
Mặc dù đã có nhiều công trình về minh bạch, giới khoa học trên thế giới v n còn những ý kiến khác biệt và v n còn tiếp diễn những cuộc tranh luận về khái niệm minh bạch, về các yếu tố cấu thành nội dung khái niệm hay
về những đặc điểm, cũng như mục đích minh bạch tư pháp có thể mang lại và nhiều vấn đề khác Tuy nhiên, nhìn chung các quan điểm đều nhấn mạnh đến những nội dung là đặc điểm của minh bạch tư pháp sau đây:
Thứ nhất, tư pháp là một trong những nhánh quyền lực nhà nước, do đó,
hoạt động xét xử của Tòa án cần phải được minh bạch, đó là thẩm quyền được trao cho Tòa án và các thẩm phán xem xét và quyết định các vụ việc và đưa ra phán quyết có giá trị bắt buộc thi hành đối với các vụ việc ấy; quyền giải thích
và áp dụng pháp luật khi có tranh cãi phát sinh từ việc một điều gì đó có phù hợp hay không phù hợp với pháp luật điều chỉnh việc ấy [39, p.924] Trong lời tựa
Trang 19Sách trắng về minh bạch tư pháp của các tòa án Trung Quốc [48, p.1] viết:
Minh bạch tư pháp là một phương tiện quan trọng để tạo thuận lợi cho công bằng tư pháp, ngăn ngừa tham nhũng trong hệ thống tư pháp và cải thiện uy tín tư pháp, và là mục đích để thực hiện các nguyên tắc Hiến pháp và pháp lý, bảo vệ quyền tranh tụng của công dân cũng như thể hiện văn minh pháp lý hiện đại Có thể khẳng định, minh bạch tư pháp là yếu tố tất yếu trong nhà
nước pháp quyền, đóng vai trò quan trọng trong giám sát hoạt động tư pháp, tránh sự lạm quyền và mục đích cuối cùng là góp phần tạo nên một nền tư pháp công bằng Minh bạch tư pháp được xem như là một tiêu chí để đánh giá tình trạng của nền văn minh tư pháp trong xã hội hiện đại, tạo điều kiện cho
sự độc lập tư pháp và nâng cao niềm tin của công chúng vào công lý
Thứ hai, sự cởi mở, công khai quá trình xét xử và các thông tin liên
quan cho các bên tham gia tố tụng và xã hội Điều đó có nghĩa là, không chỉ quá trình xét xử nên được công khai cho các bên và công chúng, kết quả của quá trình tư pháp bao gồm bản án, tài liệu tư pháp và tất cả những gì liên quan đến hoạt động tư pháp trừ bí mật nhà nước, bí mật kinh doanh, quyền riêng tư thì đều phải được công khai và chấp nhận sự giám sát xã hội nhằm đảm bảo
vụ án được xét xử độc lập, công bằng, khách quan và đúng pháp luật Ở một khía cạnh rộng hơn, minh bạch tư pháp còn bao gồm sự tiếp cận thông tin của công chúng về các loại hoạt động chính thức khác của các cơ quan tư pháp như thống kê của tòa án, quỹ công của tòa án, thi tuyển/ bổ nhiệm công chức, thẩm phán, … Cơ quan tư pháp tạo điều kiện để công chúng tiếp cận phiên tòa, thông tin liên quan đến vụ án, tòa án một cách dễ dàng, bình đẳng và quá trình tiếp cận phải dễ hiểu, đơn giản, nhanh chóng và thuận tiện
Thứ ba, minh bạch tư pháp thể hiện khả năng tiếp cận thông tin một
cách bình đẳng, kịp thời, đáng tin cậy, chính xác của công chúng và quyền, cơ hội được tham gia đóng góp, giám sát của nhân dân đối với hoạt động tư
Trang 20pháp Ở đây, xuất hiện mối quan hệ chặt chẽ tác động qua lại l n nhau giữa cơ quan tư pháp với công chúng, bởi nếu cơ quan tư pháp không chủ động công khai thông tin để công chúng dễ dàng tiếp cận thì thông tin được cung cấp khó có thể đáp ứng được các yêu cầu về sự phù hợp, bình đẳng, đầy đủ và kịp thời Ngược lại, nếu tiếp cận thông tin không tốt, không đầy đủ thì quyền và cơ hội giám sát sẽ không được phát huy, do đó, tính minh bạch tư pháp sẽ khó được thể hiện Vì vậy, minh bạch tư pháp phải được gắn liền với trách nhiệm giải trình tư pháp, tức là phải cung cấp, giải thích, làm rõ các thông tin các quyết định, bản án về vụ án cũng như các vấn đề khác có liên quan đến việc thực hiện quyền tư pháp của mình
Trong các nghiên cứu, dựa theo tiêu chí kiểm soát tính minh bạch trong nội bộ Tòa án hay các cơ quan, tổ chức ngoài hệ thống người ta phân minh bạch tư pháp thành hai loại: Minh bạch tư pháp bên trong và minh bạch tư pháp bên ngoài Theo đó, thì:
- Minh bạch tư pháp bên trong (minh bạch nội bộ): là cơ quan tư pháp
cung cấp, công bố thông tin và sự trao đổi, công khai thông tin giữa các bên tham gia tố tụng nhằm đảm bảo các bên được tiếp cận thông tin liên quan đến vụ án bình đẳng, nhanh chóng, kịp thời và chính xác Minh bạch nội bộ được thể hiện rõ ràng nhất trong hệ thống pháp luật common law, biểu hiện
ở cơ chế trao đổi thông tin, bằng chứng liên quan đến vụ án và sự hợp tácgiữa bên buộc tội và bên gỡ tội với mục đích tìm kiếm sự thật tốt hơn, do đó, góp phần tạo nên sự bình đẳng giữa cho bị cáo, người bào chữa và bên truy
tố Theo nghĩa này, minh bạch tư pháp nội bộ có thể được coi là nền tảng và
là điều kiện tiên quyết nhằm đảm bảo hoạt động xét xử được công bằng, nhanh chóng và chính xác
- Minh bạch tư pháp bên ngoài: đề cập đến sự cởi mở hoạt động tư
pháp đối với công chúng và phương tiện thông tin đại chúng (tức là những
Trang 21người bên ngoài vụ án) Cụ thể là khả năng tiếp cận thông tin (một cách toàn diện, phù hợp, kịp thời và đáng tin cậy); quyền, cơ hội được tham gia đóng góp và giám sát của công dân đối với hoạt động tư pháp Trong khi tính minh bạch nội bộ tập trung vào các chủ thể có liên quan trực tiếp đến vụ án và đóng vai trò là sự đảm bảo công bằng cho cả quá trình tố tụng thì sự minh bạch bên ngoài được hướng ra bên ngoài với phạm vi rộng hơn và góp phần đảm bảo phiên tòa được diễn ra công bằng, công khai trước công chúng Theo đó, tính minh bạch bên ngoài có thể được coi là chỉ số đánh giá về chất lượng tư pháp của công dân đối với hoạt động tư pháp và cũng là nền tảng để xây dựng một nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý
1.1.1.3 Quan niệm về các điều kiện bảo đảm minh bạch tư pháp
Bên cạnh việc nhấn mạnh tính tất yếu, vai trò quan trọng của minh bạch
tư pháp đối với hệ thống tư pháp trong việc thực hiện quyền lực nhà nước thì các nghiên cứu còn quan tâm đến các điều kiện bảo đảm tính minh bạch tư pháp, coi đó như yếu tố nền tảng để minh bạch tư pháp thể hiện trong thực tiễn xét xử Theo đó, điều kiện bảo đảm minh bạch tư pháp sẽ bao gồm các yếu tố sau:
Thứ nhất, bảo đảm của thể chế chính trị và quy định của pháp luật
Một nền dân chủ thực sự chỉ có khi quyền lực nhà nước được kiểm soát, hạn chế bởi những thiết chế dân chủ, người dân được tham gia vào các quá trình xã hội Để hạn chế quyền lực nhà nước, đa số các quốc gia áp dụng
và thực thi những phương thức hạn chế quyền lực nhà nước từ bên trong như Hiến pháp và hệ thống luật pháp, tổ chức bộ máy theo các hình thức phân quyền và cơ chế kiềm chế, đối trọng quyền lực khác nhau Từ nguồn gốc hình thành trong học thuyết tam quyền phân lập thì quyền tư pháp là một quyền gắn liền với quyền lực nhà nước được thực hiện thông qua cơ quan có chức năng xét xử là Tòa án Quyền tư pháp gắn với Tòa án và chỉ Tòa án là cơ
Trang 22quan duy nhất có chức năng thực hiện quyền tư pháp, bởi vậy ở nhiều quốc gia trên thế giới minh bạch tư pháp còn có nghĩa là minh bạch hoạt động của Tòa án, cụ thể hơn là minh bạch hoạt động xét xử Vì vậy, công khai, minh bạch được coi là một trong những phương thức hạn chế quyền lực nhà nước
từ bên ngoài Theo đó, Toà án với tư cách là chủ thể của quyền lực công phải công khai, minh bạch hoạt động của mình với toàn thể xã hội và công chúng
Thúc đẩy sự minh bạch tư pháp là một biện pháp quan trọng để bảo vệ các bên và quyền được biết, quyền giám sát các hoạt động tư pháp của công chúng Để đảm bảo minh bạch, các quy định pháp luật cũng là điều kiện cần giúp minh bạch tư pháp phát huy được vai trò tối đa, đặc biệt là pháp luật về TTHS, về quyền tiếp cận thông tin của công chúng
Thứ hai, bảo đảm trong việc nâng cao trách nhiệm của cơ quan tư pháp trong việc bảo đảm minh bạch tư pháp
Một nhà nước có nền tư pháp dân chủ cần bảo đảm người dân của mình
có quyền được biết thông tin, quyền này là tiền đề cho tự do thông tin để người dân có đủ thông tin cần thiết và hữu dụng, bảo đảm cho quyền hợp pháp của các bên tham gia tố tụng và công chúng Vì vậy, cơ quan tư pháp cần phải có trách nhiệm trong việc đảm bảo minh bạch thông qua hoạt động xét xử khách quan, công bằng, độc lập, đúng quy định pháp luật; thực hiện tốt việc công khai các thông tin liên quan đến vụ án và tạo điều kiện cho công chúng tiếp cận thông tin ấy một cách kịp thời, toàn diện, chính xác và hiệu quả
Thứ ba, những bảo đảm về vật chất, kỹ thuật; cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin
Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin đã ảnh hưởng sâu sắc tới kinh tế - xã hội cũng như lối sống, thói quen của mọi người, nhất là trong việc tiếp cận thông tin Khắc phục được những khuyết điểm của phương thức truyển tải thông tin truyền thống, truyền thông qua internet đã tạo ra nền
Trang 23tảng phổ biến thông tin mới, càng thuận tiện, khắc phục những hạn chế về thời gian, không gian và ngày càng được sử dụng rộng rãi Chính lý do này đã thúc đẩy sự phát triển của chính phủ điện tử và sự minh bạch của tư pháp Sự
ra đời của internet đã giúp cho tính minh bạch của tư pháp có một nền tảng công bố thông tin kịp thời, hiệu quả, có hệ thống và toàn diện hơn
Cơ sở vật chất cũng là yếu tố quan trọng không kém trong việc đảm bảo minh bạch tư pháp bởi để người dân có thể tiếp cận được toàn bộ quá trình xét xử thì đầu tiên chính Toà án phải có đủ điều kiện trang bị các thiết bị phục vụ cho việc công khai, minh bạch các nội dung liên quan đến vụ án Ở một số quốc gia phát triển, chữ ký điện tử và hệ thống công nghệ thông tin của họ rất được chú trọng, tạo điều kiện cho người dân có thể nộp đơn điện
tử, tra cứu toàn bộ mọi thông tin liên quan đến vụ án một cách nhanh chóng, thuận lợi, kịp thời và tiết kiệm
1.1.2 Quan điểm về minh bạch tư pháp tại Việt Nam
1.1.2.1 Quan niệm về sự ra đời, bản chất và vai trò của minh bạch tư pháp
Khác với nhà nước tư sản, ở Việt Nam, quyền lực nhà nước thống nhất nhưng có sự phân công và phối hợp giữa ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, điều này đã được quy định rất rõ trong các Nghị quyết của Bộ Chính trị
và Hiến pháp Tức là quyền tư pháp là một loại quyền lực nhà nước, có mối tương tác với quyền lập pháp và hành pháp, có tính phái sinh từ quyền lực của Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất Theo đó, Quốc hội thành lập và giao cho các cơ quan tư pháp (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án,
Cơ quan thi hành án và các cơ quan, tổ chức khác theo quy định) thực hiện các hoạt động tư pháp bao gồm các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án và các hoạt động bổ trợ tư pháp khác, trong đó trọng tâm là hoạt động xét xử của các Tòa án nhân dân Có thể thấy, hoạt động tư pháp ở Việt Nam
có phạm vi rộng hơn, không chỉ riêng hoạt động xét xử mà còn các hoạt động
Trang 24khác phục vụ, hỗ trợ cho hoạt động xét xử Mặc dù Điều 102 Hiến pháp năm
2013 lần đầu tiên quy định “Toà án nhân dân là cơ quan xét xử của nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp”, tuy nhiên
v n còn nhiều quan điểm khác nhau về quyền tư pháp Một số ý kiến cho rằng Tòa án thực hiện quyền tư pháp không có nghĩa là cơ quan duy nhất thực hiện quyền tư pháp; hay việc xem quyền tư pháp và hoạt động tư pháp là hai khái niệm riêng biệt, tức là Tòa án là chủ thể của quyền tư pháp có chức năng xét
xử thì hoạt động tư pháp lại bao gồm các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, … cũng là một cách nhìn khác về quyền tư pháp Nhưng tóm lại, quyền tư pháp ở Việt Nam là một trong ba quyền hợp thành quyền lực nhà nước, nhưng không tách bạch tuyệt đối với quyền lập pháp và hành pháp, được giao cho Tòa án thực hiện nhằm bảo vệ chế độ, pháp chế XHCN, lợi ích hợp pháp của công dân, tôn trọng và duy trì công lí
Theo từ điển Hán Việt, “minh bạch” được cấu thành từ “minh” (sáng)
và “bạch” (trắng) [16, tr.439], bởi vậy, minh bạch có nghĩa là sáng tỏ, cởi
mở, không che giấu Từ điển tiếng Việt giải thích “minh bạch” là “rõ ràng,
rành mạch” [19, tr 633] Tra cứu cơ sở dữ liệu pháp luật quốc gia cho thấy,
thuật ngữ này đã xuất hiện trong các văn bản pháp luật của Việt Nam ngay từ
những năm đầu của chế độ mới Cụ thể, thuật ngữ “minh bạch” đã xuất hiện
trong Sắc lệnh số 13 ngày 24/01/1946 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà về cách tổ chức các Toà án và các ngạch thẩm phán trong nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Kể từ thời kỳ đổi mới, mở cửa, hội nhập, mặc
dù dưới góc độ luật pháp, trong các văn bản pháp luật chưa có định nghĩa trực
tiếp minh bạch là gì, nhưng thuật ngữ “minh bạch” và những biểu hiện của
minh bạch lại được sử dụng ngày càng phổ biến trong các văn bản pháp luật ở nước ta Điều 25 Hiến pháp năm 2013 quy định về quyền tiếp cận thông tin được ghi nhận với tư cách là một trong những quyền cơ bản của công dân
Trang 25“Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền hội họp, lập hội, biểu tình” Điều 102 Hiến pháp năm 2013 lần đầu tiên khẳng định, cơ
quan thực hiện quyền tư pháp ở Việt Nam là Tòa án nhân dân Như vậy, so với thời kỳ trước Hiến pháp năm 2013 thì quyền tư pháp đã được định hình và nhấn mạnh đến vị thế của Tòa án, d n đến những đổi mới trong nhận thức về quyền tư pháp ở Việt Nam và cũng từ chính quy định này đã khẳng định sự cần thiết của tính minh bạch trong xét xử Một số tác giả đã bước đầu quan tâm nghiên cứu bản chất, đặc điểm của quyền tư pháp và vai trò, chức năng
của Toà án như các nghiên cứu “Bản chất, đặc điểm và các nguyên tắc chủ
đạo của quyền tư pháp” của tác giả Đào Trí Úc [28, tr.61]; “Về quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền” của tác giả Lê Văn Cảm; “Tư pháp trong nhà nước pháp quyền” của tác giả Nguyễn Ngọc Chí; “Những vấn đề chủ yếu về liêm chính tư pháp trong quá trình xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Đào Trí Úc; “Vị trí trung tâm của Tòa án trong chiến lược cải cách tư pháp ở Việt Nam và Mô hình quan điểm
về tố tụng hình sự theo Hiến pháp” của tác giả Đào Trí Úc; Những quy định của Hiến pháp năm 2013 về Tòa án: triển vọng và thách thức đối với cải cách
tư pháp của tác giả Đặng Minh Tuấn Tiếp đến phải kể tới những nghiên cứu
xoay quanh các yếu tố góp phần tạo nên minh bạch tư pháp như Những nhân
tố ảnh hưởng đến sự độc lập của Tòa án của tác giả Phạm Hồng Thái; Tính độc lập của thẩm phán và vấn đề liêm chính của đồng tác giả Vũ Công Giao -
Nguyễn Minh Tâm; các bài viết về Nâng cao tính công bằng trong bổ nhiệm
thẩm phán và Nâng cao điều kiện làm việc của thẩm phán của Tổ chức Minh
bạch quốc tế; Cải cách thủ tục hành chính tại Tòa án để nâng cao khả năng
tiếp cận công lý của tác giả Nguyễn Hưng Quang Một số bài viết thể hiện
quan điểm về minh bạch tư pháp khi đã đề cập tới nội dung, ý nghĩa của việc công khai quá trình xét xử; các tài liệu, chứng cứ, quyết định, bản án của Tòa
Trang 26án trước và sau khi xét xử cũng như công bố những thông tin đó trên truyền thông đại chúng hay kiến nghị về việc tuyển chọn và bổ nhiệm Thẩm phán, …
như “Nguyên tắc xét xử công khai trong tố tụng hình sự Việt Nam” của tác giả Ngô Quang Vinh, Nguyên tắc khi xét xử, thẩm phán và hội thẩm độc lập
và chỉ tuân theo pháp luật - thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện của tác giả
Nguyễn Quang Hiền, [4]
1.1.2.2 Quan niệm về nội dung, đặc điểm và việc phân loại minh bạch
tư pháp
Những ý kiến, quan điểm, bài viết nêu trên đã bước đầu thể hiện nhu cầu minh bạch hóa tư pháp, phản ánh quá trình phát triển trong tư duy pháp lý của Việt Nam và là sự phát triển bình thường của quá trình nhận thức, tiếp cận được với quan niệm về quyền tư pháp cũng như minh bạch tư pháp của nhiều quốc gia trên thế giới Ở Việt Nam, xuất phát từ sự khác nhau về cách thức tổ chức, hoạt động và quản lý xã hội nên quan niệm về tư pháp của Việt Nam so với nhiều quốc gia trên thế giới có sự khác biệt, tư pháp được hiểu theo nhiều nghĩa, theo nghĩa rộng là sự trộn l n toàn bộ hoạt động bảo vệ pháp luật nhưng bản chất hoạt động xét xử của Tòa án v n là trung tâm vì vậy minh bạch trong xét xử chỉ là một bộ phận và có quan hệ mật thiết với minh bạch tư pháp Nhìn chung, các nghiên cứu về minh bạch tư pháp thể hiện ở một số nội dung sau:
Thứ nhất, minh bạch tư pháp là yêu cầu tất yếu của nhà nước pháp
quyền XHCN GS.TS Võ Khánh Vinh cho rằng:
Quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước là công khai, hợp pháp Quyền tư pháp với tư cách là một trong ba bộ phận, phạm vi, lĩnh vực, loại quyền lực nhà nước, tất yếu, là công khai, hợp pháp Chế
độ tư pháp là công khai, vì xét trên tất cả các phương diện, chế độ
tư pháp ghi nhận, thể hiện việc tổ chức và thực hiện quyền tư pháp,
do vậy, là công khai, hợp pháp [33]
Trang 27Có thể nói, minh bạch tư pháp góp phần bảo về quyền con người, cụ thể là quyền tiếp cận thông tin và quyền được xét xử công bằng; bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; thúc đẩy sự giám sát của các cơ quan, tổ chức, cá nhân; đảm bảo cán bộ, công chức của các cơ quan tư pháp hoạt động đúng chức năng, nhiệm vụ, phạm vi, giới hạn quyền lực được giao; nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp; góp phần khẳng định dân chủ là bản chất của Nhà nước ta Vì vậy, đây là một yếu tố không thể thiếu trong công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân,
do nhân dân, vì nhân dân
Thứ hai, minh bạch tư pháp chứa đựng sự cởi mở, tính công khai những
hoạt động cụ thể do cơ quan tư pháp thực hiện, liên quan trực tiếp đến việc giải quyết vụ án, các tranh chấp pháp luật mà các hoạt động đó thuộc về Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án; trong đó hoạt động của Tòa án nhân dân
là trọng tâm, là cơ quan được giao phán xử về các vi phạm pháp luật, các tranh chấp trong xã hội
Thứ ba, minh bạch tư pháp chứa đựng khả năng tiếp cận các thông tin
tư pháp của công chúng và quyền giám sát toàn bộ quá trình tố tụng đồng thời là công cụ để nhân dân kiểm tra, giám sát hoạt động của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và cơ quan thi hành án, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của các cơ quan tư pháp; xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh
Xuất phát từ nhiều cách hiểu khác nhau về quyền tư pháp, ở Việt Nam minh bạch tư pháp có thể được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp như sau:
- Minh bạch tư pháp theo nghĩa rộng gắn liền chặt chẽ đến cả quá trình
tố tụng Đó là sự cởi mở, công khai toàn bộ tài liệu, chứng cứ trừ những thông tin, tài liệu thuộc danh mục bí mật nhà nước do pháp luật quy định; những hoạt động cụ thể do cơ quan tư pháp thực hiện trong tố tụng tư pháp, liên
Trang 28quan trực tiếp đến việc giải quyết vụ án, các tranh chấp pháp luật, hướng tới mục đích giải quyết các vụ án, tranh chấp một cách khách quan, đúng đắn và các hoạt động liên quan đến thi hành các phán quyết của tòa án, mà các hoạt động đó thuộc về Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và thi hành án Minh bạch tư pháp ở đây được hiểu theo quyền tư pháp theo nghĩa rộng, tức là minh bạch toàn bộ hoạt động của hệ thống các cơ quan bảo vệ pháp luật như cơ quan điều tra, cơ quan công tố và tòa án Trong hệ thống các cơ quan đó, Tòa
án với chức năng xét xử có vai trò trung tâm và thể hiện rõ nhất tính tư pháp của quyền tư pháp
- Minh bạch tư pháp theo nghĩa hẹp đề cập tới sự minh bạch của cơ quan
có thẩm quyền xét xử, tức là Toà án Cụ thể là người dân phải được trao cơ hội cho tham gia và biết đến mọi hoạt động giải quyết vụ án của Toà án, góp phần tăng cường giám sát hoạt đông tư pháp, khắc phục tình trạng oan, sai; bảo đảm cho hoạt động tư pháp thực hiện đúng pháp luật một cách khách quan, khoa học, hiệu quả, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
1.1.2.3 Quan niệm về các điều kiện bảo đảm minh bạch tư pháp
Để tính công khai, minh bạch được phát huy rõ rệt trong các hoạt động
tư pháp cần có các điều kiện bảo đảm tính minh bạch tư pháp sau:
Thứ nhất, thể chế chính trị và quy định của pháp luật
Minh bạch tư pháp phải nhận được quyết tâm chính trị cao Nhà nước phải ban hành các quy định liên quan đến minh bạch tư pháp và có cơ chế đảm bảo việc thi hành các quy định đó Ở Việt Nam, toàn bộ hoạt động của hệ thống chính trị đều đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và khác với tính chất là quyền độc lập, đối trọng với quyền lập pháp và hành
pháp theo cơ chế “tam quyền phân lập”, quyền tư pháp ở nước ta được Quốc
hội thành lập và giao cho các cơ quan tư pháp Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhiệm vụ tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của
Trang 29nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân được đặt ra Với bản chất thượng tôn Hiến pháp và pháp luật đã tạo điều kiện cho tính minh bạch được đảm bảo Pháp luật ra đời là công cụ sắc bén của Nhà nước trong việc thực hiện bảo vệ quyền con người, quyền công dân thông qua các quy định đảm bảo các cơ quan tư pháp có trách nhiệm minh bạch các hoạt động tư pháp, tạo điều kiện công khai, cởi mở các thông tin liên quan đến hoạt động tư pháp ở mức tối đa
và khả năng tiếp cận thông tin của công chúng một cách toàn diện; đồng thời nhà nước cũng có cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát các hoạt động ấy một cách thường xuyên, liên tục, kịp thời thông qua người dân và các cơ quan ban ngành có liên quan
Thứ hai, cơ sở vật chất, công nghệ thông tin và con người
Cuộc cách mạng công nghệ 4.0 mang một vai trò quan trọng trong sự phát triển của đất nước Dưới sự tác động của nó đã làm thay đổi toàn bộ phương thức sản xuất, tổ chức xã hội kể cả cách tương tác giữa con người với con người, việc này đòi hỏi chúng ta phải thật sự nghiêm túc trong việc tối ưu hóa những vấn đề xã hội và trước hết phải đi từ các bộ máy quản lí nhà nước
Cơ quan tư pháp không phải ngoại lệ, sự phát triển của công nghệ thông tin sẽ
là cơ hội cho minh bạch tư pháp phát triển, giúp tất cả các thành phần nhân dân có thể tiếp xúc với những hoạt động tư pháp, người dân tăng khả năng giám sát và có nhiều phản hồi, góp ý đa chiều từ xã hội Để làm được điều đó,
cơ sở vật chất, kỹ thuật cần được trang bị đầy đủ, hiện đại để đảm bảo tính chính xác, kịp thời, bảo mật Tuy nhiên yếu tố con người cũng không thể bỏ qua bởi đây là nhân tố quyết định tính hiệu quả của việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động tư pháp
Thứ ba, nhận thức của người dân về minh bạch tư pháp
So với các nước phát triển, nhu cầu, nhận thức của người dân về minh bạch tư pháp còn thấp Vì vậy bên cạnh chủ thể thực hiện việc công khai,
Trang 30minh bạch các thông tin về hoạt động tư pháp thì cũng chủ thể tiếp nhận cũng cần có nhận thức đầy đủ về quyền và đòi hỏi các cơ quan tư pháp thực hiện các nghĩa vụ về việc tiếp cận thông tin tư pháp, đồng thời cũng phải nâng cao khả năng, năng lực tiếp nhận các thông tin đó
1.2 Khái niệm minh bạch trong xét xử vụ án hình sự
Trong cuốn “Tinh thần pháp luật” nổi tiếng của mình, Montesquieu đã nhận định: “Quyền tư pháp bao gồm xét xử hành vi vi phạm pháp luật để bảo
đảm quyền tự do và quyền con người và do đó phải được trao cho một thiết chế riêng rẽ đó là Tòa án” [30] Khác với quan niệm phổ quát trên thế giới
thì tư pháp là một nhánh quyền lực nhà nước Ở Việt Nam, quyền tư pháp là một trong những quyền lực nhà nước được giao cho Tòa án thực hiện, bao gồm từ quyền phán quyết đối với các hành vi vi phạm pháp luật; xử lý các tranh chấp, xung đột về quyền và nghĩa vụ phát sinh từ các quan hệ xã hội; công nhận giá trị pháp lý đối với các sự kiện, hành vi làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ của cá nhân, cơ quan, tổ chức, … Có thể thấy, tư pháp được coi là công cụ để duy trì công bằng xã hội và tính minh bạch là yếu
tố giúp công cụ đó hoạt động hiệu quả hơn Mặc dù thuật ngữ minh bạch đang dần được sử dụng ngày càng nhiều trong bối cảnh hiện nay, tuy nhiên định nghĩa minh bạch là gì lại rất khó xác định bởi khái niệm quá rộng và được đặt trong từng lĩnh vực khác nhau thì khác nhau Vì vậy để có thể định nghĩa được khái niệm minh bạch trong xét xử vụ án hình sự đầu tiên cần hiểu rõ nội hàm của nó, bao gồm:
Thứ nhất, minh bạch trong xét xử vụ án hình sự đòi hỏi hình thành hệ
thống quy phạm rõ ràng, chặt chẽ về quy trình xét xử với các nguyên tắc, trình tự, thủ tục xét xử, quyền và nghĩa vụ của Hội đồng xét xử và các chủ thể
có liên quan, dựa trên các chuẩn mực quốc tế được thừa nhận chung và phù hợp với thực tiễn Đây là yếu tố có tính chất tiền đề của công khai, minh bạch
tư pháp, là sự bảo đảm pháp lý về tính công khai, minh bạch tư pháp trong xét
Trang 31xử vụ án hình sự, nó tạo ra hành lang pháp lý cũng như làm cơ sở cho việc đánh giá tính công khai, minh bạch trong xét xử vụ án hình sự;
Thứ hai, hoạt động xét xử được tiến hành công khai Đây là yếu tố cốt
lõi, tức là mọi hoạt động trong quá trình xét xử của Tòa án phải được tiến hành với sự tham dự của công dân, tổ chức, trừ trường hợp đặc biệt do luật định; mọi người đều có thể tham dự phiên tòa, xem trực tiếp những diễn biến tại phiên tòa và tiếp cận thông tin một cách bình đẳng, kịp thời, đáng tin cậy, chính xác Ở đây, tính minh bạch trong xét xử vụ án hình sự không những được bảo đảm ở sự rõ ràng mà còn đòi hỏi phải công khai đối với mọi hoạt động xét xử của tòa án, bảo đảm khả năng tiếp cận thông tin liên quan đến quá trình xét xử vụ án hình sự của mọi công dân, tổ chức, xã hội;
Thứ ba, tính minh bạch trong xét xử vụ án hình sự có mối quan hệ và là
một bảo đảm cho các nguyên tắc của TTHS được thực thi, nhất là đối với các nguyên tắc như: Tranh tụng, độc lập trong xét xử, bảo đảm sự vô tư, khách quan trong trong hoạt động xét xử hình sự, suy đoán vô tội, bảo đảm quyền bào chữa, ;
Thứ tư, minh bạch trong xét xử vụ án hình sự không chỉ đề cập đến
sự sẵn có thông tin về quá trình xét xử vụ án hình sự mà còn về kết quả của quả trình đó Việc công khai bản án, quyết định của Tòa án ngoài lúc tuyên án công khai thì còn phải được công khai trên các kênh thông tin chính thống của Tòa án để người dân dễ dàng tiếp cận và chấp nhận sự giám sát xã hội
Với các nội hàm nêu trên, có thể hiểu: Minh bạch trong xét xử vụ án
hình sự là sự rõ ràng, công khai các hoạt động xét xử và thông tin liên quan một cách kịp thời, chính xác, đáng tin cậy, bình đẳng cho các bên và công chúng trừ những vấn đề thuộc danh mục bí mật của nhà nước do pháp luật
Trang 32quy định nhằm bảo đảm cho phiên tòa diễn ra vô tư, công bằng, khách quan cũng như quyền, lợi ích của các bên tham gia tố tụng và công chúng
1.3 Đánh giá tính minh bạch trong xét xử vụ án hình sự
1.3.1 Sự cần thiết và khái niệm đánh giá tính minh bạch trong xét
xử vụ án hình sự
1.3.1.1 Sự cần thiết đánh giá tính minh bạch trong xét xử vụ án hình sự
Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra cùng với minh bạch thì đánh giá tính công khai, minh bạch trong hoạt động xét xử, thực hiện quyền tư pháp của tòa
án là đòi hỏi khách quan trong nhà nước pháp quyền Đề cập đến tính tất yếu, đòi hỏi khách quan của việc đánh giá hiệu quả hoạt động của cơ quan nhà nước trong đó có hoạt động của Tòa án được đa số các nhà nghiên cứu thừa nhận và nhấn mạnh, các tiêu chí đánh giá hiệu quả là công cụ quan trọng không thể thiếu trong quá trình quản lý nhà nước Quan điểm sử dụng phương pháp đo lường ở lĩnh vực tư vào các tổ chức ở khu vực công để đánh giá hiệu quả hoạt động gần đây nhận được sự tán đồng rộng rãi của giới học giả cũng
như của các nhà làm chính sách Đáng quan tâm là sách chuyên khảo “Đo
lường và đánh giá hiệu quả quản lý hành chính nhà nước - Những thành tựu trên thế giới và ứng dụng ở Việt Nam” [24], công trình đầu tiên ở Việt Nam
nghiên cứu một cách có hệ thống về đo lường và đánh giá hiệu quả quản lý nhà nước Trong đó tập trung giải quyết các vấn đề như: khái niệm, phân loại hiệu quả; lý thuyết về đánh giá hiệu quả quản lý hành chính nhà nước; đặc biệt đã đưa ra cách tiếp cận đánh giá hiệu quả quản lý hành chính nhà nước từ khía cạnh kinh tế, khía cạnh chính trị, khía cạnh hành chính, văn hóa Đồng thời, so sánh các mô hình và phương pháp đánh giá hiệu quả quản lý công trên thế giới và đưa ra các chỉ số đo lường và đánh giá hiệu quả của các tổ chức nhà nước Phương pháp đánh giá RIA (đánh giá tác động) được sử dụng khá phổ biến trong việc đánh giá chính sách, pháp luật trên thế giới cũng như
Trang 33ở Việt Nam Tuy nhiên, vấn đề quan tâm và cũng thể hiện nhiều quan điểm, cách tiếp cận khác nhau là cách thức, phương pháp, mô hình đánh giá hiệu quả hoạt động của tổ chức công [5]
Xét xử, thực hiện quyền tư pháp của Tòa án là hoạt động công của cơ quan công quyền đại diện cho nhánh quyền lực tư pháp, do đó, đánh giá tính công khai, minh bạch của Tòa án là đòi hỏi tất yếu trong quá trình vận động của bất kỳ nhà nước, thể chế nào Việc đánh giá tính minh bạch trong xét xử
vụ án hình sự sẽ giúp xác định mức độ minh bạch của mỗi Tòa án, từ đó thúc đẩy sự minh bạch hơn nữa giữa các Tòa án cũng như để tìm ra những ưu, khuyết điểm để học hỏi hay khắc phục những hạn chế còn tồn tại trong hoạt động xét xử vụ án hình sự, góp phần xây dựng một nền tư pháp văn minh, trong sạch và bảo vệ công lý Tuy nhiên, mỗi hình thức tổ chức thực hiện quyền tư pháp và mỗi phương thức thiết kế bộ máy Tòa án lại có cách thức đánh giá tính công khai, minh bạch trong hoạt động xét xử, thực hiện quyền
tư pháp khác nhau nên bên cạnh việc khẳng định tính yếu của hoạt động đánh giá tính công khai, minh bạch trong hoạt động xét xử, thực hiện quyền tư pháp thì mục đích, cơ chế, cách thức, tiêu chí đánh giá ở mỗi nhà nước, mỗi giai đoạn lịch sử lại có sự khác nhau Theo tiếp cận của Liên Hợp Quốc thì:
“Minh bạch xét xử là một giá trị quan trọng” thường được nói gọn là “không những công lý phải được thực thi, mà công lý phải được nhìn thấy là đã được thực thi” Minh bạch xét xử cũng được công nhận là một nguyên tắc quan
trọng trong các tài liệu nhân quyền quốc tế, trong đó xác định quyền được xét
xử công khai và thông báo công khai về bản án là một trong những nền tảng của quyền được xét xử công bằng [17, tr.85] Vì vậy, tính minh bạch trong hoạt động xét xử vụ án hình sự cần phải được đánh giá, do vậy, bên cạnh việc quy định trong pháp luật, các quốc gia còn thiết lập cơ chế đánh giá với các căn cứ và tiêu chí đánh giá tính minh bạch trong hoạt động xét xử vụ án hình
Trang 34sự Để xác định những căn cứ, tiêu chí đánh giá tính minh bạch trong xét xử
vụ án hình sự, đầu tiên cần hiểu rõ khái niệm đánh giá tính minh bạch trong xét xử vụ án hình sự là gì?
1.3.1.2 Khái niệm đánh giá tính minh bạch trong xét xử vụ án hình sự
Hướng d n tăng cường năng lực và liêm chính tư pháp của Liên hợp quốc
đã chỉ ra một sự đánh giá mang tính toàn diện đối với các hệ thống tư pháp đang trở thành một thách thức có tính chiến lược đối với các nền tư pháp trên toàn thế giới Kinh phí eo hẹp, kỹ thuật quản lý mới, cạnh tranh về nguồn lực với các cơ quan khác của nhà nước, các áp lực quốc tế và đôi khi là tình trạng mất dần tính hợp pháp đang khiến các nền tư pháp phải cải tiến các biện pháp đánh giá về ngành tư pháp Trong 30 năm qua, ngày càng có nhiều chính sách
đã được thực hiện để đánh giá hiệu quả hoạt động của Tòa án từ khía cạnh quản lý Với việc cân nhắc các giá trị như tính hiệu quả, năng suất làm việc, tính kịp thời, các chỉ số như chi phí trên một vụ án, thời gian giải quyết vụ án
và các hệ thống hỗ trợ đối với quản lý theo mục tiêu, việc đánh giá hoạt động của ngành Tòa án ở góc độ quản lý ngày càng trở nên phổ biến Đôi khi, tính phổ biến của phương pháp tiếp cận mới đối với việc đánh giá hoạt động thậm chí còn che lấp một thực tế là các hệ thống tư pháp có một truyền thống lâu đời và vững chắc về việc đánh giá hoạt động từ góc độ pháp lý Thực tế đúng
là phạm vi của việc đánh giá hoạt động của tòa án bao gồm các cơ chế như kháng cáo, các quyết định của tòa án tối cao, các hoạt động thanh tra, các phán quyết về kỷ luật Những cơ chế này đã được xây dựng để đánh giá những gì được coi là hoạt động pháp lý của một tòa án và về các chủ thể có liên quan đến hoạt động xét xử (thẩm phán, thư ký, …) [17, tr.85] Đây là cách tiếp cận tổng thể, toàn diện nhưng có tính đến đặc thù, điều kiện của quốc gia khi tiến hành đánh giá tính công khai, minh bạch trong hoạt động xét
xử, thực hiện quyền tư pháp của tòa án Theo cách tiếp cận này thì khái niệm
Trang 35“đánh giá tính công khai, minh bạch trong hoạt động xét xử vụ án hình sự”
có những nội hàm sau: (i) Đánh giá tính công khai, minh bạch trong hoạt động xét xử vụ án hình sự là hoạt động thường xuyên của tòa án, của các cơ quan, tổ chức, xã hội trong quá trình thực hiện quyền lực nhà nước mà kết quả của nó mang lại nhận thức khách quan về thực trạng minh bạch của hệ thống
tư pháp về xét xử hình sự; (ii) Việc đánh giá tính công khai, minh bạch trong hoạt động xét xử vụ án hình sự được tiến hành dựa trên bộ công cụ khoa học, thực tế là công cụ để tiến hành hoạt động đánh giá; (iii) Hoạt động đánh giá tính công khai, minh bạch trong hoạt động xét xử vụ án hình sự đòi hỏi có sự tham gia của người dân bên cạnh trách nhiệm giải trình của Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền về mức độ minh bạch cũng như nguyên nhân của những hạn chế về tính công khai, minh bạch trong hoạt động xét xử vụ án hình sự; (iv) Kết quả đánh giá tính công khai, minh bạch trong hoạt động xét
xử vụ án hình sự phải được công khai và được sử dụng trong việc xác định hiệu quả hoạt động của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án hình sự
Từ những nội hàm nêu trên có thể hiểu đánh giá tính công khai, minh bạch trong hoạt động xét xử vụ án hình sự là hoạt động của Tòa án và các chủ thể khác nhằm xác định mức độ công khai, minh bạch trong quá trình xét xử
vụ án hình sự bằng công cụ khoa học, khách quan
1.3.2 Căn cứ, tiêu chí đánh giá tính minh bạch trong xét xử vụ án hình sự
Tính minh bạch trong hoạt động xét xử vụ án hình sự là việc xác định mức độ minh bạch được thể hiện trong quy định của pháp luật và thực tiễn hoạt động xét xử của tòa án thông qua các căn cứ, tiêu chí nhất định của cơ quan, tổ chức, cá nhân tiến hành đánh giá Đánh giá tính minh bạch trong hoạt động xét xử vụ án hình sự là đòi hỏi khách quan của thực tiễn giải quyết vụ án cũng như đòi hỏi của việc kiểm soát thực hiện quyền lực tư pháp thông qua
Trang 36hoạt động xét xử vụ án hình sự của Tòa án Nếu như tính minh bạch trong hoạt động xét xử vụ án hình sự đã được thể hiện trong hệ thống pháp luật thì
sẽ đòi hỏi sự kiểm tra, đánh giá mức độ minh bạch được thể hiện như thế nào trong thực tiễn xét xử, đồng thời thông qua đó cũng đánh giá được mức độ thỏa mãn các yêu cầu về tính minh bạch trong hoạt động xét xử của xã hội đối với hệ thống pháp luật Nói cách khác, việc đánh giá tính minh bạch trong hoạt động xét xử vụ án hình sự cần phải được tiến hành trên hai phương diện,
đó là mức độ minh bạch được thể hiện trong các hệ thống pháp luật TTHS và mức độ đạt được về tính minh bạch trong thực tiễn hoạt động xét xử của Tòa
án Trên cả hai phương diện này, khi tiến hành đánh giá cần phải dựa trên các căn cứ, tiêu chí nhất định làm cơ sở và lập luận cho việc đánh giá [5]
1.3.2.1 Căn cứ đánh giá minh bạch trong xét xử vụ án hình sự
Căn cứ đánh giá minh bạch trong xét xử vụ án hình sự là những cơ sở, yêu cầu đặt ra trong quá trình xác định mức độ công khai, minh bạch trong xét xử vụ án hình sự Với cách tiếp cận này thì căn cứ đánh giá minh bạch trong xét xử vụ án hình sự bao gồm không chỉ ở lĩnh vực xây dựng pháp luật
mà còn ở quá trình thực thi, áp dụng pháp luật và kiểm soát việc thi hành pháp luật về tính công khai, minh bạch Do đó, đánh giá minh bạch trong xét
xử vụ án hình sự gồm những căn cứ sau:
Thứ nhất, quy định của pháp luật
Cơ sở của sự minh bạch trong xét xử vụ án hình sự dựa trên hai quyền
cơ bản là quyền tiếp cận thông tin (right to access to information) và quyền được xét xử công bằng (right to a fair trial) Vì vậy căn cứ đánh giá minh bạch trong xét xử vụ án hình sự nằm trong khuôn khổ các quy định của Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người (UDHR); Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR); Công ước châu Âu về bảo vệ nhân quyền và tự
Trang 37do căn bản (ECHR); các công ước nhân quyền được quốc gia phê chuẩn; các cam kết và lời hứa của quốc gia; các điều ước liên quan đến về quyền thông tin, quyền được xét xử công bằng và các quy định về TTHS của các quốc gia
Thứ hai, căn cứ vào việc thực hiện pháp luật trong quá trình xét xử vụ
án hình sự
Để bảo đảm tính minh bạch trong xét xử vụ án hình sự thì hoạt động thực hiện pháp luật của Tòa án cũng cần được đảm bảo Hay nói cách khác, các hoạt động tuân thủ, thi hành, áp dụng và sử dụng pháp luật đều phải thực hiện đúng theo quy định pháp luật Đặc biệt, cần tập trung đánh giá dựa trên hoạt động áp dụng pháp luật của Tòa án bởi đây là hoạt động chính, mang tính quyền lực Nhà nước, thể hiện ý chí của Nhà nước cũng như thể hiện nhiệm vụ, quyền hạn cũng như trách nhiệm của thẩm phán khi xét xử
Thứ ba, dựa trên thực tiễn xét xử của Tòa án
Thực tiễn xét xử là căn cứ quan trọng không thể thiếu trong việc đánh giá minh bạch trong xét xử vụ án hình sự bởi nó phản ánh thực chất chất lượng xét xử cũng như mức độ minh bạch khi xét xử từng vụ án hình sự Đánh giá minh bạch dựa trên thực tiễn xét xử vụ án hình sự bao gồm các yếu tố: áp dụng pháp luật cho toàn bộ quá trình xét xử; xét xử trực tiếp bằng lời nói, liên tục và trên cơ sở kết quả tranh tụng công khai của bên buộc tội và bên bào chữa; tranh tụng công khai; công khai diễn biến phiên tòa và thông tin, chứng cứ, tài liệu liên quan đến vụ án và cuối cùng là tuyên án công khai
Thứ tư, dựa trên ý kiến phản hồi của người dân và các bên liên quan
Trang 38tử, mạng internet hay cổng thông tin điện tử, … và dựa vào đó để tìm hiểu, nắm bắt ý kiến cũng như đánh giá mức độ hài lòng của người dân đối với sự minh bạch trong quá trình xét xử vụ án hình sự Những góp ý đó không chỉ phản ánh một cách khách quan, trung thực nhất về phiên tòa xét xử, giúp tăng cường nhận thức và trao quyền giám sát quá trình xét xử cho người dân mà còn thể hiện sự ủng hộ và niềm tin của người dân đối với Tòa án bởi nó làm tăng lên độ công khai, minh bạch trong hoạt động xét xử của Tòa án
1.3.2.2 Tiêu chí đánh giá minh bạch trong xét xử vụ án hình sự
Nếu như căn cứ đánh giá tính công khai, minh bạch trong xét xử vụ án hình sự là những yếu tố mang tính khái quát, hình thành nên khung đánh giá thì tiêu chí đánh giá là sự cụ thể hóa, chi tiết nhằm làm rõ các yêu cầu đánh giá mà căn cứ đặt ra Do vậy, có thể hiểu tiêu chí đánh giá tính công khai, minh bạch trong xét xử vụ án hình sự là những tiêu chuẩn mang tính định lượng nhằm làm rõ các yếu tố định tính mà căn cứ đánh giá yêu cầu, đặt ra hướng tới xác định mức độ công khai, minh bạch trong xét xử vụ án hình sự
Các tiêu chí đánh giá tính công khai, minh bạch trong xét xử vụ án hình
sự được xếp theo nhóm dựa trên căn cứ đánh giá và bao gồm:
* Nhóm tiêu chí dựa trên căn cứ quy định pháp luật
Quy định của pháp luật về tính công khai, minh bạch trong xét xử vụ án hình sự là căn cứ thể hiện mức độ, có vai trò “tiên phong” trong việc xác định tính công khai, minh bạch, bao gồm nhiều tiêu chí, cụ thể như sau: (i) Có hay không quy định mục tiêu hướng tới minh bạch trong hoạt động xét xử và có trở thành nguyên tắc cơ bản của TTHS không; (ii) Mục tiêu công khai, minh bạch trong xét xử vụ án hình sự có được thể hiện trong các quy định cụ thể của pháp luật TTHS không; (iii) Xét xử công khai được thể hiện với phạm vi nào và mức độ hạn chế của các bí mật, quyền riêng tư đối với xét xử công khai; (iv) Các quy định của pháp luật TTHS về công khai, minh bạch có rõ
Trang 39ràng, thống nhất với các quy định khác của luật TTHS không; (v) Các nguyên tắc cơ bản của TTHS có mối liên hệ mật thiết và ảnh hưởng đến tính công khai, minh bạch có được quy định luật TTHS không,
* Nhóm tiêu chí dựa trên căn cứ thực thi, áp dụng pháp luật
Nhóm tiêu chí này nhằm xác định mức độ đạt được do căn cứ thực thi,
áp dụng pháp luật đặt ra, nó bao gồm các tiêu chí chủ yếu sau: (i) Có hình thành cơ chế thực thi, áp dụng pháp luật hiệu quả hướng tới bảo đảm công khai, minh bạch trong hoạt động xét xử của Tòa án hay không; (ii) Việc thực thi, áp dụng pháp luật có thống nhất, chính xác và tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định không; (iii) Việc thực hiện nguyên tắc xét xử công khai ở mức độ nào trong thực tiễn xét xử; (iv) Tòa án xét xử kịp thời, công bằng có được thực thi nghiêm chỉnh hay không; (v) Nguyên tắc tranh tụng được thực thi ở mức độ nào, ảnh hưởng ra sao tới minh bạch, công khai; (vi) Người dân có được tiếp cận dễ dàng những thông tin đáng tin cậy liên quan đến xét xử vụ án hình sự; (vii) Cơ chế kiểm soát việc thực thi, áp dụng pháp luật hướng tới công khai, minh bạch trong xét xử hình sự như thế nào,
* Nhóm tiêu chí dựa trên căn cứ bảo đảm các điều kiện công khai, minh bạch trong xét xử vụ án hình sự
Nhóm tiêu chí nhằm xác định mức độ các điều kiện bảo đảm tính công khai, minh bạch trong xét xử vụ án hình sự, bao gồm các tiêu chí chủ yếu sau: (i) Các tiêu chí về con người; (ii) Các tiêu chí về vật chất, phương tiện
kỹ thuật; (iii) Các tiêu chí về quyết tâm chính trị của nhà nước và sự hợp tác của các cơ quan, tổ chức, xã hội đối với minh bạch tư pháp; (iv) Các tiêu chí thể hiện mức độ đi trước, định hướng, d n dắt của khoa học pháp lý đối với minh bạch tư pháp,
Trang 40Kết luận Chương 1
Mặc dù còn nhiều quan điểm và cách nhìn nhận khác nhau xoay quanh
về quyền tư pháp nhưng tựu chung lại Toà án là chủ thể thực hiện quyền tư pháp thông qua hoạt động xét xử và minh bạch tư pháp là yếu tố tất yếu cần thiết cho một nhà nước pháp quyền, là thước đo sự tiến bộ văn minh của nền
tư pháp của một quốc gia Minh bạch tư pháp góp phần bảo vệ quyền con người, là công cụ hữu hiệu để ngăn ngừa và phòng, chống hiệu quả những tệ nạn tư pháp, đảm bảo người dân biết, theo dõi và giám sát các hoạt động tư pháp; giảm thiểu những hiểu lầm và sự phản đối của công chúng với quyết định của cơ quan tư pháp đồng thời giúp xây dựng niềm tin của nhân dân vào công lý đồng thời cũng bảo vệ chính chủ thể thực hiện quyền tư pháp Kết thúc chương 1 đã nêu ra những quan điểm về minh bạch tư pháp giữa Việt Nam và thế giới, nội dung, phân loại và các điều kiện đảm bảo minh bạch tư pháp Luận văn bước đầu cũng đã hoàn thiện khung lý thuyết về minh bạch trong xét xử vụ án hình sự thông qua phân tích nội hàm của nó; đồng thời cũng xây dựng các căn cứ, tiêu chí để đánh giá minh bạch trong xét xử vụ án hình sự, là cơ sở thực hiện việc xem xét, đánh giá tính minh bạch một cách trung thực nhất của các cơ quan tiến hành tố tụng khi xét xử vụ án hình sự hướng tới việc xét xử vụ án hình sự khách quan, công khai, minh bạch, bảo đảm tuân theo pháp luật, tôn trọng và bảo đảm quyền công dân
Sau hơn 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới, hệ thống pháp luật của Việt Nam đã từng bước được xây dựng, nhu cầu hoàn thiện pháp luật trở nên cấp thiết để phù hợp hơn với thực tiễn Xuất phát từ nhu cầu thực tế, trong điều kiện chủ động mở cửa hội nhập và xây dựng nhà nước pháp quyền, việc đàm phán, ký kết và phê chuẩn các điều ước quốc tế cũng nảy sinh nhu cầu bức thiết phải nghiên cứu, tìm hiểu, so sánh và tham khảo pháp luật của các quốc gia trên thế giới có nền pháp luật văn minh, tiến bộ Theo đó, việc