Kết quả đạt được : Sau khi nghiên cứu và áp dụng vào quá trình tổ chức các hoạt động dạy học giờ Tiếng Việt cho học sinh lớp 6 trường THCS Vân Du, tôi thấy tổ chức hoạt động dạy học tốt [r]
Trang 1Đặt vấn đề
I Lời mở đầu:
Trong quá trình đổi mới giáo dục cấp THCS nói chung và môn Ngữ văn nói riêng, mục tiêu, nội dung giáo dục đã được đổi mới, đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế xã hội đang phát triển Người thầy đã và đang vận dụng những phương pháp dạy học tích cực để giúp học sinh học tốt và yêu thích môn Ngữ văn Gần đây nhất, năm học 2010- 2011, giáo viên được tiếp thu các chuyên
đề: Đổi mới kiểm tra đánh giá; Dạy học bám chuẩn kiến thức- kĩ năng; Các phương pháp/ kĩ thuật dạy học tích cực; Tích hợp giáo dục các kĩ năng sống… là những định hướng để người dạy phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện
Trong nhà trường, dạy học là hoạt động trọng tâm để giáo viên thực hiện nhiệm vụ được giao, thực hiện sứ mệnh “ trồng người” Hoạt động dạy học chỉ đạt hiệu quả cao khi người dạy tạo lập được môi trường sư phạm lành mạnh, không khí giờ học thân thiện, phát huy vai trò tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh Do đó, cách tổ chức các hoạt động dạy học được coi là nhân tố mới, là con đường để kích thích, điều khiển các em lĩnh hội kiến thức hiệu quả nhất
Hiện nay, các nhà cách tân đã nâng cao vị trí của môn Tiếng Việt ở trường THCS, phân môn có số tiết tương đương với giờ Văn Mục đích của phân môn yêu cầu một cách toàn diện: Nâng cao ý thức gìn giữ sự giàu đẹp của Tiếng Việt; xây dựng hứng thú và thái độ nghiêm túc trong học tập; có ý thức và biết cách ứng xử, giao tiếp trong trường học và ngoài xã hội… Nhiệm vụ của phân môn lại đặt trọng tâm là rèn cho các em kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết và khả năng thực hành Vì vậy, để giáo viên giảng dạy một tiết Tiếng Việt không phải là khó nhưng cần chính xác, bài bản
Trước những yêu cầu cấp thiết như trên, không ít thầy cô luôn trăn trở, tìm tòi sáng tạo, đổi mới cách dạy cho từng giờ học tiếng Việt sao cho có hiệu quả và được các học sinh yêu thích, say mê, hứng thú học như các môn học khác Đặc biệt, người thầy phải tìm ra được con đường hướng dẫn, điều khiển các em học tập thật sôi nổi, hiệu quả thì không hề đơn giản Tuy nhiên, khi trực tiếp giảng dạy những đơn vị bài học trong chương trình SGK Ngữ văn do
Bộ giáo dục qui định, người dạy gặp không ít khó khăn để tìm ra cách tổ chức giờ học đạt hiệu quả Chọn đề tài “ Tổ chức các hoạt động dạy học giờ Tiếng Việt có hiệu quả cho học sinh lớp 6 ” tôi mong muốn đóng góp
Trang 2một phần nhỏ hiểu biết và công sức của mình để gây hứng thú học tập ở học sinh, tiến tới nâng cao chất lượng dạy học Ngữ văn ở trường THCS
II Thực trạng của vấn đề:
1 Thực trạng:
Từ thực tế giảng dạy của bản thân và dự giờ đồng nghiệp, tôi thấy một số vấn đề còn tồn tại như sau:
*Về phía người dạy:
Thứ nhất: ở các tiết Tiếng Việt, giáo viên thường tiến hành các hoạt động một cách dập khuôn: Kiểm tra bài cũ, dạy bài mới, củng cố, dặn dò Cách kiểm tra bài cũ ở 5 phút đầu giờ liên tục như vậy, đôi khi gây sự căng thẳng cho học sinh, chưa tạo được tâm thế chủ động, sự khám phá kiến thức cho các em
Thứ hai: Thông thường giáo viên nghĩ: học sinh THCS còn ngoan, dễ bảo, nói gì nghe nấy nên cứ dạy theo các câu hỏi SGK và tiến hành làm xong bài tập là được, tổ chức giờ Tiếng Việt chủ yếu là vấn đáp Cách nghĩ, cách dạy như vậy khiến các tiết học nặng nề, nhàm chán
Thứ ba: Nhiều giáo viên nghĩ: Dạy Tiếng Việt dễ hơn dạy Văn và Tập làm văn nên chưa thật sự đầu tư cho bài dạy
Thứ tư: Hiện nay, các trường THCS đã có phương tiện dạy học hiện đại phần nào đáp ứng được nhu cầu sử dụng công nghệ thông tin Song thiết bị còn hạn chế, lắp đặt còn cồng kềnh, chưa thuận lợi để mỗi giáo niên áp dụng cho tất cả các giờ dạy Tiếng Việt
*Về phía người học:
Trước hết, học sinh lớp 6 vừa thay đổi cấp học, phương pháp học Các em chưa quen với việc học nhiều môn với mức độ kiến thức khó hơn Học sinh chuẩn bị bài ở nhà chủ yếu là các tiết văn bản hoặc giờ ôn tập, luyên tập Giờ Tiếng Việt các em chuẩn bị sơ sài, đối phó
Thứ 2: Do điều kiện kinh tế xã hội phát triển, do sức ép của gia đình nên một bộ phận học sinh chưa thật sự quan tâm đến môn học xã hội, đặc biệt là môn Ngữ văn Các em quan tâm đến việc học tiếng Anh hơn học tiếng Việt Thứ ba: Học sinh THCS không còn hứng thú học tập với giờ Tiếng Việt như ở tiểu học vì khả năng ghi nhớ kiến thức, vận dụng để làm bài tập còn yếu Bên gạnh đó, các em có thể làm tốt bài tập nhận diện còn những bài tập vận dụng, thực hành sáng tạo còn rất non yếu
Thứ tư: Trong thực tế, học sinh giao tiếp, ứng xử còn vụng về, hạn chế Đó chính là kĩ năng sống của các em ở trong và ngoài trường học chưa được chú
ý đúng mức
2 Kết quả của thực trạng:
Qua khảo sát giờ học Tiếng Việt của 2 lớp 6A, 6B trường THCS Vân Du ở
đầu học kì I năm học 2011- 2012, tôi thu được kết quả như sau:
Trang 3A Giải quyết vấn đề I.Các giải pháp thực hiện:
1 Đổi mới nội dung, hình thức kiểm tra bài cũ để kích thích tư duy của học sinh
2. Vận dụng hiệu quả các phương pháp dạy học đặc trưng bộ môn
3 Tổ chức đa dạng các hoạt động dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ
động, sáng tạo của học sinh
4 Tích hợp giáo dục các kĩ năng sống cho học sinh
II Các biện pháp tổ chức thực hiện.
1 Đổi mới nội dung, hình thức kiểm tra bài cũ để kích thích tư duy của học sinh.
Thông thường, kiểm tra bài cũ là hoạt động bắt buộc và quen thuộc đối với tất cả giáo viên khi lên lớp Phần lớn giáo viên đều quan niệm và thực hiện
cứ hỏi kiến thức cũ, nhận xét, ghi điểm là xong Tuy nhiên, để đáp ứng những mục tiêu mới của giáo dục, việc đổi mới kiểm tra đánh giá cũng phải theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh nhằm phát triển trí thông minh, khuyến khích khả năng vận dụng của các em Trước yêu cầu phải đổi mới kiểm tra đánh giá để nâng cao chất lượng giáo dục, tôi mạnh dạn áp dụng các nội dung, hình thức kiểm tra bài cũ như sau:
1.1 Kiểm tra bài cũ ở 5 phút đầu giờ:
1.1.1 Kiểm tra kiến thức cũ và kiến thức liên quan bài mới.
Ngoài kiểm tra kiến thức vừa học, với những bài mới là những kiến thức đã quen thuộc hoặc học sinh đã được tiếp cận ở Tiểu học, tôi kiểm tra cả nội dung liên quan đến bài học mới để kích thích tư duy, sáng tạo cho học sinh
Ví dụ ở tiết 91:Nhân hoá Tôi đã kiểm tra bài cũ ở học sinh như sau:
Giáo viên chiếu đoạn văn:
“ Cái anh chàng Dế Choắt, người gầy gò và dài lêu nghêu như một gã nghiện thuốc phiện Đã thanh niên rồi mà cánh chỉ ngắn củn đến giữa lưng, hở cả mạng sườn như người cởi trần mặc áo gi-lê Đôi càng bè bè, nặng nề trông
Trang 4đến xấu Râu ria gì mà cụt có một mẩu và mặt mũi thì lúc nào cũng ngẩn ngẩn ngơ ngơ.”
( Bài học đường đời đầu tiên- Tô Hoài)
Sau khi gọi một học sinh đọc đoạn văn, tôi nêu yêu cầu:
? Tìm phép so sánh, kiểu so sánh trong đoạn văn trên?
? Dựa vào kiến thức về nhân hoá đã học ở Tiểu học, tìm phép nhân hoá? Tôi gọi 2 học sinh lên bảng làm, sau đó cho bạn nhận xét, đánh giá Như vậy các em đã tìm ra phép nhân hoá, giáo viên dễ dàng dẫn dắt vào bài mới
1.1.2 Tăng cường kiểm tra thực hành.
Tôi tăng cường kiểm tra việc vận dụng lí thuyết của học sinh vào thực tế, nhằm hạn chế được phương pháp học vẹt Đó là, giáo viên cho một số học sinh vận dụng kiến thức đã học để làm bài tập trên bảng Trong thời gian đó, tôi kiểm tra sự chuẩn bị bài của học sinh hoặc hỏi những câu hỏi ngắn về lí thuyết để các đối tượng làm việc được nhiều hơn giảm sự căng thẳng cho người lên bảng, tạo sự gần gũi, thân thiện giữa giáo viên, học sinh trong lớp học
Ví dụ ở tiết 26: Chữa lỗi dùng từ ( Tiếp theo) Tôi yêu cầu 2 học sinh vận
dụng kiến thức đã học về lỗi dùng từ, gọi 3 học sinh lên bảng phát hiện và chữa lỗi dùng từ trong các trường hợp sau:
a.Cảnh ngày mùa ở quê em đẹp như một bức tranh quê
b Chị Lan ngồi dậy cho dễ dàng
c Thầy giáo đã truyền tụng cho chúng em rất nhiều kiến thức
Thời gian các em làm trên bảng, tôi xuống lớp kiểm tra sự chuẩn bị bài ở nhà của một số học sinh để tạo không khí gần gũi, thân thiện
Hay ở tiết 86: So sánh ( tiếp theo)
Giáo viên gọi 2 học sinh lên bảng,
- 1 em tìm phép so sánh trong bài: Vượt thác( Võ Quảng).
- 1 em tìm phép so sánh trong bài: Bức tranh của em gái tôi( Tạ Duy Anh)
Thời gian học sinh làm trên bảng, tôi có thể đi xuống lớp gọi học sinh nhắc lại khái niệm so sánh là gì? Nêu tác dụng của so sánh?
Dựa vào lí thuyết vừa trả lời, tôi cho học sinh nhận xét bài làm của bạn, đánh giá bài làm, cho điểm bạn
1.2 Thực hiện linh hoạt trong tiết dạy bài mới.
Tôi có thể kiểm tra bài cũ vào bất cứ thời điểm nào khi lên lớp nhằm phục
vụ cho việc khám phá giờ học mới
1.2.1 Vận dụng kiểm tra bài cũ khi khai thác nội dung bài học.
Ví dụ ở tiết 52: Số từ và lượng từ Bài học trước đó là Kiểm tra Tiếng Việt,
Viết bài Tập làn văn số 3 nên giáo viên không kiểm tra bài cũ ở 5 phút đầu giờ, mà khi tìm hiểu phần I Số từ
Giáo viên đưa ví dụ SGK trên máy chiếu, yêu cầu học sinh đọc
Trang 5a Hai chàng tâu hỏi đồ sính lễ cần sắm những gì, vua bảo: “ Một trăm ván cơm nếp, một trăm nệp bánh chưng và voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao, mỗi thứ một đôi.”
( Sơn Tinh, Thuỷ Tinh)
b Tục truyền đời Hùng Vương thứ sáu, ở làng Gióng có hai vợ chồng ông
lão chăm chỉ làm ăn và có tiếng là phúc đức
( Thánh Gióng)
Tôi hỏi: Các từ in đậm trong ví dụ bổ sung ý nghĩa cho những từ nào?
Giáo viên ghi nhanh các từ học sinh tìm được lên bảng nháp:
hai chàng
một trăm ván cơm nếp
một trăm nệp bánh chưng
chín ngà
chín cựa
chín hồng mao
một đôi
Hùng Vương thứ sáu
Lúc này tôi kiểm tra bài cũ bằng cách sẽ hỏi: Những từ gạch chân thuộc
từ loại gì mà các em đã học? Nếu học sinh trả lời đúng là danh từ, tôi tiếp tục hỏi: Vì sao em cho đó là danh từ? Như vậy các em được kiểm tra kiến thức
về danh từ
Hoặc ở tiết 66: Ôn tập tiếng Việt, giáo viên có thể kiểm tra bài cũ học sinh ở
mục 5 Từ loại và cụm từ Đó là yêu cầu học sinh tìm cụm danh từ, cụm tính
từ trong văn bản: Thầy bói xem voi Giáo viên tổ chức cho học sinh thi viết
trên bảng về các cụm danh từ, cụm tính từ Qua hoạt động này, các em vừa
được củng cố kiến thức, được thực hành và được rèn kĩ năng ‘viết tích cực’’
1.2.2 Kiểm tra kiến thức đã học từ lâu có liên quan đến bài mới.
Ngoài kiểm tra bài cũ vừa học ở tiết trước, tôi còn kiểm tra kiến thức cũ, thậm chí kiến thức đã học từ rất lâu để phục vụ cho việc tìm hiểu bài mới Việc làm này buộc các em tự học, nắm vững kiến thức về mặt bản chất
Ví dụ ở tiết 106: Các thành phần chính của câu
Khi tìm hiểu phần I Phân biệt thành phần chính và thành phần phụ, trước
khi tìm hiểu ví dụ SGK, tôi yêu cầu học sinh kể tên các thành phần câu đã học ở Tiểu học? (Trạng ngữ, Chủ ngữ, Vị ngữ) từ kiến thức vừa được củng
cố, giáo viên yêu cầu học sinh xác định các thành phần câu dữ liệu mẫu Học sinh làm tốt, giáo viên khuyến khích, ghi điểm
1.2.3 Kiểm tra bài cũ ở phần củng cố bài dạy.
Giáo viên còn có thể kiểm tra bài cũ ở phần củng cố bài dạy nhằm xâu chuỗi kiến thức đã học ở các tiết trước
Trang 6Ví dụ ở tiết 118: Câu trần thuật đơn không có từ là
Sau khi hướng dẫn, diều khiển học sinh thực hiện xong bài tập 1,2 SGK, giáo viên dùng bảng phụ lập bảng hệ thống sau, yêu cầu học sinh lên bảng hoàn thiện các cột 2, 3, 4
(1)Loại câu (2)Đặc điểm (3)Phân loại (4)Ví dụ minh hoạ
Câu trần thuật
đơn có từ là
Câu trần thuật
đơn không có
từ là
Khi học sinh làm xong, giáo viên cho học sinh nhận xét, bổ sung, giáo viên ghi điểm
1.3 Sử dụng nhiều hình thức kiểm tra bài cũ.
1.3.1 Kiểm tra bài cũ xen lẫn tự luận và trắc nghiệm.
Ngoài hình thức kiểm tra bài cũ bằng cách vấn đáp, vận dụng làm bài tập như ở phần1.1; 1.2 ở trên, tôi còn sử dụng hình thức kiểm tra trắc nghiệm
và xen lẫn cả tự luận để học sinh làm được nhiều bài tập hơn
Ví dụ ở tiết 61: Cụm động từ
Trước tiên tôi kiểm tra 1 học sinh bằng cách hỏi như sau:
? Động từ là gì? Trình bày đặc điểm của động từ?
Tiếp theo, tôi cho học sinh đọc kĩ câu văn sau đây trên máy chiếu và trả lời câu hỏi:
“ Thấy một con hổ cái đang lăn lộn, cào đất, bà cho là hổ định ăn thịt mình, run sợ không dám nhúc nhích.”
( Con hổ có nghĩa)
1 Từ lăn lộn trong trường hợp trên thuộc:
A Từ nhiều nghĩa B Từ láy C Từ ghép
2 Từ: ăn trong câu trên thuộc loại động từ nào?
A Động từ chỉ hành động
B Động từ chỉ trạng thái
C Động từ tình thái
3 Động từ: dám, định ở trường hợp trên có đặc điểm gì?
A Kết hợp với các từ đã, sẽ, đang.
B Thường trả lời cho câu hỏi làm gì?
C Thường đòi hỏi động từ khác đi kèm
1.3.2 Sử dụng trò chơi dân gian: hái hoa dân chủ
Trang 7Việc kiểm tra bài cũ là giúp học sinh củng cố, thực hành đơn vị kiến thức
đã học một cách tích cực Ngoài ra, kiểm tra bai cũ còn để định hướng, gợi kiến thức liên quan ở bài mới Chính vì vậy, tôi đã sử dụng hình thức trò chơi dân gian đơn giản ở 5-7 phút đầu giờ Giáo viên dùng 4 bông hoa, trong đó
có 4 câu hỏi, gọi 4 học sinh, mỗi em chọn 1 bông hoa và làm theo yêu cầu khi mở bông hoa ra
Ví dụ ở tiết 44: Cụm danh từ
Tôi làm 4 bông hoa có 4 câu hỏi sau:
1 Đặt 1 câu có danh từ kết hợp với một trong những từ sau: ấy, này, nọ
2 Đặt 1 câu có danh từ làm vị ngữ ( gạch chân vị ngữ)
3 Tìm 5 danh từ chỉ đơn vị tự nhiên
4 Đặt 1 câu có danh từ chỉ người
Sau khi chọn hoa, các em thực hiện yêu cầu trên bảng đen Hết thời gian qui định, tôi cho học sinh nhận xét, bổ sung, ghi điểm
Trường hợp 1 nếu học sinh làm đúng, tôi giữ lại trên bảng nháp để phục vụ cho việc chuẩn xác kiến thức về cụm danh từ
1.3.3 Sử dụng tranh ảnh, đoán nội dung.
Ví dụ ở tiết 110: Câu trần thuật đơn
Giáo viên chiếu 3 bức tranh sau trên máy chiếu:
Tranh thứ nhất: Luỹ tre xanh
Tranh thứ 2: Hình ảnh chú bé Lượm đi liên lạc
Tranh thứ 3: Hình ảnh đảo Cô Tô
Tôi yêu cầu học sinh đoán nội dung bức tranh Các em đã đoán đúng, tôi yêu cầu học sinh đặt câu có nội dung trên Các em đã lần lượt đặt câu, giáo viên ghi nhanh lên bảng
(1) ở đầu làng, bụi tre toả bóng mát rượi
(2) Chú bé Lượm rất đáng yêu
(3) Cô Tô là huyện đảo của tỉnh Quảng Ninh
Lúc này, giáo viên yêu cầu 1 học sinh lên bảng xác định các thành phần chính của câu đó, yêu cầu các em nhận xét chéo, đánh giá Giáo viên giữ nguyên ba câu văn mà các em vừa đặt trên bảng nháp và dẫn dắt 3 câu văn thuộc kiểu câu trần thuật đơn Cô và các em sẽ tìm hiểu ở bài học hôm nay Như vậy, thông qua hình thức đoán nội dung những bức tranh cho sẵn, đặt câu tương ứng, xác định thành phần chính của câu, giáo viên vừa kiểm tra kiến thức cũ phù hợp vừa gây hứng thú cho học sinh
Hoặc ở tiết 41: Danh từ
Tôi sử dụng 2 bức tranh trên máy chiếu :
Tranh thứ nhất : Hình ảnh cô giáo đang giảng bài
Tranh thứ 2: Chiếc bút máy
Tôi nêu câu hỏi : ? Hai bức tranh có nội dung chỉ những đối tượng nào ?
Trang 8Học sinh đoán được là chỉ người, đồ vật
Tôi tiếp tục yêu cầu: Viết câu văn có chứa nội đung trên ?
Học sinh đặt được 2 câu văn sau :
(1) Mẹ em là cô giáo
(2) Chiếc bút máy rất đẹp
Tôi cho học sinh tự nhận xét, đánh giá Giáo viên dẫn dắt : Những từ chỉ người, chỉ đồ vật mà các em vừa tìm chính là danh từ Vậy danh từ có đặc
điểm gì, cô và cá em sẽ tìm hiểu kĩ hơn ở bài học hôm nay
Tôi giữ nguyên hai câu văn mà học sinh vừa đặt trên bảng nháp Khi giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu xong phần I Đặc điểm của danh từ
Tôi yêu cầu học sinh tìm danh từ ở 2 câu văn trên bảng và xác định chức
vụ ngữ pháp của danh từ
Thông qua ví dụ trên, các em dễ dàng nhận ra: Danh từ thường làm chủ ngữ Khi làm vị ngữ , danh từ cần có từ là đứng trước.(câu 1)
2 Vận dụng hiệu quả các phương pháp dạy học đúng đặc trưng bộ môn
2.1 Sử dụng phương pháp phân tích dữ liệu mẫu.
Thông thường, tôi đưa dữ liệu mẫu lên máy chiếu và khi dạy các tiết lí thuyết hình thành khái niệm, giáo viên dùng phương pháp qui nạp Vì thế, dữ liệu mẫu của giờ Tiếng Việt phải chính xác, khoa học và đặc biệt, dữ liệu mẫu phải đủ để khai thác các đơn vị kiến thức Trong quá trình phân tích dữ liệu mẫu, nếu ví dụ SGK chưa đủ để làm rõ khái niệm, tôi thường dùng lấy thêm ví dụ phù hợp Khi khai thác mẫu, giáo viên thường sử dụng câu hỏi
đàm thoại
2.1.1 Khai thác triệt để dữ liệu mẫu SGK
Ví dụ: Khi dạy tiết 110: Câu trần thuật đơn.
Giáo viên sử dụng phương pháp phân tích dữ liệu mẫu ở phần I Câu trần thuật đơn là gì? tôi chiếu đoạn văn sau trên máy chiếu:
“ Chưa nghe hết câu, tôi đã hếch răng lên, xì một hơi rõ dài(1) Rồi, với điệu
bộ khinh khỉnh, tôi mắng(2)
- Hức!(3) Thông ngách sang nhà ta?(4) Dễ nghe nhỉ!(5) Chú mày hôi như
cú mèo thế này, ta nào chịu được.(6) Thôi im cái điệu hát mưa dầm sùi sụt
ấy đi.(7) Đào tổ nông thì cho chết!(8)
Tôi về, không một chút bận tâm.”(9)
( Tô Hoài)
Sau khi gọi 1 học sinh đọc đoạn văn , giáo viên hỏi: ? ở Tiểu học,các em đã
được tìm hiểu câu chia theo mục đích nói gồm những loại câu nào? Các em
đã chỉ ra: - Câu cầu khiến
- Câu nghi vấn
- Câu cảm thán
- Câu trần thuật
Trang 9? Vậy trong đoạn văn trên, câu văn nào dùng để cầu khiến: câu 7
? Câu văn nào dùng để hỏi: câu 4
? Những câu văn nào dùng để bộc lộ cảm xúc: câu 3, 5, 8
? Vậy những câu văn nào dùng để trần thuật: Câu 1, 2, 6, 9
Tôi tiếp tục yêu cầu học sinh xác định các thành phần chính của câu ở câu 1, câu 2, câu 6, câu 9 và chỉ ra điểm giống nhau và khác nhau giữa của các câu
về cấu tạo ngữ pháp như sau:
(1)Chưa nghe hết câu, tôi đã hếch răng lên, xì một hơi rõ dài.->1cặp C- V
CN VN1 VN2
(2) Rồi, với điệu bộ khinh khỉnh, tôi mắng -> 1 cặp C- V
CN VN
(6) Chú mày hôi như cú mèo thế này, ta nào chịu được -> 2 cặp C- V
CN VN CN VN
(9)Tôi về, không một chút bận tâm ->1 cặp C- V
CN VN1 VN2
GV: Vậy câu 1, câu 2, câu 9 gọi là câu trần thuật đơn
Giáo viên hỏi: Câu trần thuật đơn là gì? Là câu do một cụm C-V tạo thành
? Phần vị vgữ của câu 1 diễn đạt nội dung gì?
? Phần vị vgữ của câu 2 diễn đạt nội dung gì?
? Phần vị vgữ của câu 9 diễn đạt nội dung gì?
2.1.2 Lấy thêm ví dụ mẫu ở ngoài để khai thác kiến thức.
Tiếp tục tìm hiểu ví dụ trên khi dạy bài câu trần thuật đơn, các em mới rút ra
được câu trần thuât đơn dùng để kể, tả, chưa đủ dữ liệu để khai thác kiến
thức tiếp theo, tôi sử dụng 3 câu văn mà học sinh vừa đặt ở phần kiểm tra bài
cũ mục 1.3.3 và hỏi: ? Vị ngữ của các câu văn trên bảng diễn đạt nội dung
gì?
(1) ở đầu làng, bụi tre toả bóng mát rượi -> Dùng để tả
(2) Chú bé Lượm thật đáng yêu -> Dùng để nêu ý kiến
(3) Cô Tô là huyện đảo của tỉnh Quảng Ninh.-> Dùng để giới thiệu
Đến đây tôi yêu cầu các em chỉ ra mục đích của câu trần thuật đơn? Học sinh đã dễ dàng rút ra : Câu trần thuật đơn đùng để giới thiệu, kể hoặc tả, nêu
ý kiến
Hoặc ở tiết 91: Nhân hoá
Khi tìm hiểu phần I Nhân hoá là gì ? Căn cứ vào ví dụ SGK chúng ta
mới tìm hiểu đối tượng được nhân hoá là: trời, con kiến, cây mía Khái niệm
còn có đồ vật được nhân hoá Vì thế, dữ liệu mẫu chưa đủ để khai thác kiến
thức Giáo viên phải lấy thêm ví dụ khác ở ngoài
Cái trống trường em
Mùa hè cũng nghỉ
Suốt ba tháng liền
Trang 10Trống nằm ngẫm nghĩ
Buồn không hả trống !
(Thanh Hào)
Như vậy, ở ví dụ SGK các em sẽ tìm được con vật, cây cối được nhân hoá,
ở ví dụ này, các em sẽ chỉ ra được cái trống là đồ vật đựơc nhân hoá qua các
từ : nghỉ, ngẫm nghĩ, buồn, hả trống ?
Khi tìm hiểu về tác dụng của nhân hoá, ví dụ SGK lại cũng mới giúp
các em tìm hiểu được: Nhân hoá làm cho thế giới loài vật, cây cối, đồ vật trở
nên gần gũi với con người Giáo viên tiếp tục cho học sinh tìm hiểu dữ liệu
mẫu tôi đã lấy thêm như sau :
? Các từ nghỉ, ngẫm nghĩ, buồn Thường được dùng để chỉ hoạt động, tình
cảm của đối tượng nào ? ( con người)
? Vậy một đồ vật vô tri vô giác như cái trống có biết suy nghĩ và có tình cảm
như vậy không ? ( không)
? Như vậy, tác giả sử dụng phép nhân hoá trong đoạn thơ còn có tác dụng
gì ?
Học sinh dễ dàng rút ra kết luận: Nhân hoá biểu thị được những suy nghĩ,
tình cảm của con người.
2.2 Sử dụng phương pháp phân tích ngôn từ.
Do đặc thù của giờ Tiếng Việt cần độ chính xác, khoa học nên khi dạy từ
ngữ, tôi thường cho các em giải nghĩa thông qua triết tự từ
Ví dụ ở bài : Nhân hoá, khi đã rút ra được khái niệm Giáo viên có thể chỉ
lên bảng và giới thiệu: Nhân hoá là một từ Hán Việt
? Bạn nào có thể giải được nghĩa của từ nhân hoá ?
Tôi gọi 2-3 học sinh giải triết tự từ, có em giải nghĩa như sau: ‘‘ Nhân là
người, hoá là biến hoá’’
Lúc này, tôi sẽ nhận xét: các em giải thích như vậy là đúng nhưng Nhân hoá
trong Tiếng Việt là một thuật ngữ Vì vậy chúng ta cần hiểu: Nhân hoá là
gọi hoặc tả con vật, cây cối, đồ vật bằng những từ ngữ vốn được dùng để
gọi hoặc tả con người.
Tương tự như vậy, tôi có thể áp dụng cách giải nghĩa triết tự từ ở các bài
học khác
3 Tổ chức đa dạng các hoạt động dạy học nhằm phát huy tính tích cực,
chủ động, sáng tạo của học sinh.
3.1 Tổ chức các hoạt động nhóm có sử dụng kĩ thuật dạy học tích cực
Trước hết, khi soạn bài, bản thân tôi chọn vấn đề có thể thảo luận nhóm: Đó
là những nội dung mới và khó, cần sự hợp tác của nhiều người Sau khi chọn
được nội dung, giáo viên sẽ thiết kế nội dung hoạt động nhóm và hình thức
nhóm