1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài thu hoạch diễn án dân sự Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn giữa nguyên đơn là bà Hoàng Thị Hảo với bị đơn là ông Nguyễn Văn Nguyệt.

8 821 15

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 27,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày 26031999 bà Hoàng Thị Hảo và ông Nguyễn Văn Nguyệt tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương. Sau khi kết hôn và chung sống hạnh phúc được hai năm thì phát sinh mâu thuẫn và hai người sống ly thân. Ngày 02012016 bà Hoàng Thị Hảo nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương yêu cầu Tòa án giải quyết: + Yêu cầu ly hôn với anh Nguyệt; + Yêu cầu được nuôi 02 con chung là Nguyễn Thị Nhi sinh năm 2001 và Nguyễn Đức Anh sinh năm 2007 và không yêu cầu ông Nguyễn Văn Nguyệt cấp dưỡng. + Yêu cầu chia tài sản chung là nhà đất có số thửa 496, tờ bản đồ 01, diện tích 216m2 đất tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương. Bà Hoàng Thị Hảo yêu cầu chia đôi nhà và đất. Ngày 10012016 Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương ra thông báo thụ lý vụ án dân sự số 202016TLSTHNGĐ về việc: ly hôn, nuôi con, chia tài sản theo đơn khởi kiện của bà Hoàng Thị Hảo địa chỉ tại Thôn Nam Giàng, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương. Theo biên bản lấy lời khai của bà Hoàng Thị Hảo vào ngày 18012016, bà Hảo xác định: + Về quan hệ hôn nhân: ông Nguyệt xác định đã kết hôn với bà Hoàng Thị Hảo vào ngày 2631999. + Về con chung: có 02 con chung là Nguyễn Thị Nhi sinh năm 2001 và Nguyễn Đức Anh sinh năm 2007. Khi ly hôn bà Hảo xin nuôi cả hai con và không yêu cầu ông Nguyệt cấp dưỡng. + Về tài sản chung: có số thửa 496, tờ bản đồ 01, diện tích 216m2 đất tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương; 1965m2 đất ruộng, ao khoán có địa chỉ tại: Bãi Nam, khu dân cư số 02 Thượng Triệt, xã Thượng Đạt, TP Hải Dương sử dụng vào mục đích chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Bà Hảo yêu cầu được thuê khoán lại một nửa diện tích đất trên. + Về nợ chung: bà Hảo xác định có một khoản nợ với Ngân hàng, nhưng không nhớ cụ thể. Theo biên bản lấy lời khai của ông Nguyễn Văn Nguyệt vào ngày 18012016, ông Nguyệt xác định: + Về quan hệ hôn nhân: ông Nguyệt xác định đã kết hôn với bà Hoàng Thị Hảo vào ngày 2631999. + Về con chung: có 02 con chung là Nguyễn Thị Nhi sinh năm 2001 và Nguyễn Đức Anh sinh năm 2007. Khi ly hôn ông Nguyệt xin nuôi cả hai con và không yêu cầu bà Hảo cấp dưỡng. + Về tài sản chung: Không có tài sản chung là nhà đất có số thửa 496, tờ bản đồ 01, diện tích 216m2 đất tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương. Tài sản chung chỉ bao gồm 01 ngôi nhà 18m2 lợp ngói, 01 gian bếp và nhà vệ sinh khoảng 10m2, 01 giếng khơi, 01 bể xây gạch xi măng khoảng 1,6m3. + Về nợ chung: Khoản nợ đối với Ngân hàng Agribank, nợ gốc: 20.000.000 đồng và số tiền lãi phát sinh cho đến khi tất toán hợp đồng. Ngày 19052016 bà Hảo và ông Nguyệt hòa giải tại Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương. Tại phiên hòa giải các bên chỉ thỏa thuận được về quan hệ vợ chồng là bà Hảo và ông Nguyệt thuận tình ly hôn, về con chung, tài sản chung và nợ chung thì hai bên chưa hòa giải được. Ngày 1762016 Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương mở phiên hòa giải thứ hai, các bên thỏa thuận được với nhau về quan hệ hôn nhân và nợ chung là ông Nguyệt và bà Hảo mỗi người trả cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam là 5.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh. Không hòa giải được về con chung, tài sản chung và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyệt. Ngày 12072016 Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương mở phiên hòa giải lần thứ ba, tại phiên hòa giải các bên không thống nhất được nội dung gì. Ngày 03082017 Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương quyết định đưa vụ án ra xét xử vụ án sơ thẩm về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con, chia tài sản giữa bà Hoàng Thị Hảo và ông Nguyễn Văn Nguyệt.

Trang 1

HỒ SƠ DÂN SỰ SỐ: 07/B3.TH2-DA1/HNGĐ Nguyên đơn

Địa chỉ: Thôn Nam Giàng, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương

Bị đơn: Nguyễn Văn Nguyệt Sinh năm: 1976

Địa chỉ: Thôn Thượng Triệt I, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1 Ủy ban nhân dân thành phố Hải Dương, đại diện

Cùng địa chỉ: Khu dân cư số 2, thôn Thượng Triệt, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương

Quan hệ pháp luật tranh chấp: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly

hôn giữa nguyên đơn là bà Hoàng Thị Hảo với bị đơn là ông Nguyễn Văn Nguyệt

I TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN

Ngày 26/03/1999 bà Hoàng Thị Hảo và ông Nguyễn Văn Nguyệt tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương Sau khi kết hôn và chung sống hạnh phúc được hai năm thì phát sinh mâu thuẫn và hai người sống ly thân

Ngày 02/01/2016 bà Hoàng Thị Hảo nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương yêu cầu Tòa án giải quyết:

+ Yêu cầu ly hôn với anh Nguyệt;

+ Yêu cầu được nuôi 02 con chung là Nguyễn Thị Nhi sinh năm 2001 và Nguyễn Đức Anh sinh năm 2007 và không yêu cầu ông Nguyễn Văn Nguyệt cấp dưỡng

+ Yêu cầu chia tài sản chung là nhà đất có số thửa 496, tờ bản đồ 01, diện tích 216m2 đất tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương Bà Hoàng Thị Hảo yêu cầu chia đôi nhà và đất Ngày 10/01/2016 Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương ra thông báo thụ lý vụ án dân sự số 20/2016/TLST-HNGĐ về việc: ly hôn, nuôi con, chia tài sản theo đơn khởi kiện của bà Hoàng Thị Hảo địa chỉ tại Thôn Nam Giàng, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương Theo biên bản lấy lời khai của bà Hoàng Thị Hảo vào ngày 18/01/2016, bà Hảo xác định:

+ Về quan hệ hôn nhân: ông Nguyệt xác định đã kết hôn với bà Hoàng Thị Hảo vào ngày 26/3/1999

+ Về con chung: có 02 con chung là Nguyễn Thị Nhi sinh năm 2001 và Nguyễn Đức Anh sinh năm 2007 Khi ly hôn bà Hảo xin nuôi cả hai con và không yêu cầu ông Nguyệt cấp dưỡng + Về tài sản chung: có số thửa 496, tờ bản đồ 01, diện tích 216m2 đất tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương; 1965m2 đất ruộng, ao khoán có địa chỉ tại: Bãi Nam, khu dân

Trang 2

cư số 02 Thượng Triệt, xã Thượng Đạt, TP Hải Dương sử dụng vào mục đích chuyển đổi

cơ cấu cây trồng Bà Hảo yêu cầu được thuê khoán lại một nửa diện tích đất trên

+ Về nợ chung: bà Hảo xác định có một khoản nợ với Ngân hàng, nhưng không nhớ cụ thể Theo biên bản lấy lời khai của ông Nguyễn Văn Nguyệt vào ngày 18/01/2016, ông Nguyệt xác định:

+ Về quan hệ hôn nhân: ông Nguyệt xác định đã kết hôn với bà Hoàng Thị Hảo vào ngày 26/3/1999

+ Về con chung: có 02 con chung là Nguyễn Thị Nhi sinh năm 2001 và Nguyễn Đức Anh sinh năm 2007 Khi ly hôn ông Nguyệt xin nuôi cả hai con và không yêu cầu bà Hảo cấp dưỡng + Về tài sản chung: Không có tài sản chung là nhà đất có số thửa 496, tờ bản đồ 01, diện tích 216m2 đất tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương Tài sản chung chỉ bao gồm

01 ngôi nhà 18m2 lợp ngói, 01 gian bếp và nhà vệ sinh khoảng 10m2, 01 giếng khơi, 01 bể xây gạch xi măng khoảng 1,6m3

+ Về nợ chung: Khoản nợ đối với Ngân hàng Agribank, nợ gốc: 20.000.000 đồng và

số tiền lãi phát sinh cho đến khi tất toán hợp đồng

Ngày 19/05/2016 bà Hảo và ông Nguyệt hòa giải tại Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương Tại phiên hòa giải các bên chỉ thỏa thuận được về quan hệ vợ chồng là

bà Hảo và ông Nguyệt thuận tình ly hôn, về con chung, tài sản chung và nợ chung thì hai bên chưa hòa giải được

Ngày 17/6/2016 Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương mở phiên hòa giải thứ hai, các bên thỏa thuận được với nhau về quan hệ hôn nhân và nợ chung là ông Nguyệt và bà Hảo mỗi người trả cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam là 5.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh Không hòa giải được về con chung, tài sản chung và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyệt

Ngày 12/07/2016 Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương mở phiên hòa giải lần thứ

ba, tại phiên hòa giải các bên không thống nhất được nội dung gì

Ngày 03/08/2017 Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương quyết định đưa vụ án ra xét

xử vụ án sơ thẩm về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con, chia tài sản giữa bà Hoàng Thị Hảo

và ông Nguyễn Văn Nguyệt

II PHẦN TRÌNH BÀY YÊU CẦU KHỞI KIỆN NGUYÊN ĐƠN VÀ CHỨNG CỨ CHỨNG MINH

Kính thưa Hội đồng xét xử,

Tôi xin đại diện cho thân chủ tôi là bà Hoàng Thị Hảo xin được trình bày yêu cầu khởi kiện như sau:

Bà Hoàng Thị Hảo và ông Nguyễn Văn Nguyệt tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 26/03/1999 tại UBND xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương Sau khi kết hôn và chung sống hạnh phúc được hai năm thì phát sinh mâu thuẫn và hai người sống ly thân Ngày 02/01/2016 bà Hoàng Thị Hảo nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương yêu cầu Tòa án giải quyết

Trang 3

Từ những chứng cứ mà thân chủ tôi đã cung cấp trong hồ sơ khởi kiện, nay tôi xin

đề nghị Quý Tòa yêu cầu bà Hoàng Thị Hảo như sau:

+ Yêu cầu ly hôn với anh Nguyệt;

+ Yêu cầu được nuôi 02 con chung là Nguyễn Thị Nhi sinh năm 2001 và Nguyễn Đức Anh sinh năm 2007 và không yêu cầu ông Nguyễn Văn Nguyệt cấp dưỡng

+ Yêu cầu chia tài sản chung là nhà đất có số thửa 496, tờ bản đồ 01, diện tích 216m2 đất tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương Bà Hảo yêu cầu được chia 108m2

quyền sử dụng đất, cụ thể: chiều dài 4m, rộng 27,1m Phía bắc giáp đường đi, phía đông giáp đất của bà Nguyễn Thị Vi, phía nam giáp rãnh tiêu nước, phía tây giáp phần đất của ông Nguyệt

Xin cám ơn Hội đồng xét xử

Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện:

1 Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 26/3/1999 giữa bà Hoàng Thị Hảo và ông Nguyễn Văn Nguyệt (Bản sao);

2 Hộ khẩu gia đình số 270056469 (Bản sao);

3 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 496 đứng tên Nguyễn Văn Nguyệt và chị Hoàng Thị Hảo (Bản sao);

4 Giấy khai sinh cháu Nguyễn Thị Nhi số 73 quyển số 2014 (Bản sao);

5 Giấy khai sinh cháu Nguyễn Đức Anh số 38 quyển số 2007 (Bản sao).

III DỰ KIẾN KẾ HOẠCH HỎI TẠI PHIÊN TÒA

3.1 Hỏi bị đơn: ông Nguyễn Văn Nguyệt

1 Việc ông bà được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 496, tờ bản đồ 01, diện tích 216m2 đất tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương có ai

có ý kiến gì hay tranh chấp gì không?

2 Ông cho biết, ông bà đã thế chấp quyền sử dụng đất nêu trên ở những Ngân hàng nào?

3 Việc thế chấp quyền sử dụng đất nêu trên của ông và bà Hảo thì bà Nguyễn Thị Thoa có biết không?

4 Công việc chính của ông là gì? Lương mỗi tháng là bao nhiêu? Có ổn định không?

5 Ông có đánh đánh đập bà Hảo không?

6 Ông có thường xuyên chơi bài, uống rượu bia không?

7 Từ khi ly thân, cháu Đức Anh có được gặp mẹ không? Cháu được gặp mẹ mấy lần?

3.2 Hỏi nguyên đơn: bà Hoàng Thị Hảo

1 Bà cho biết, hiện tại bà đang làm công việc gì? Ở đâu? Mức thu nhập là bao nhiêu?

2 Bà có thường xuyên bị ông Nguyệt đánh đập không?

3 Khi bị ông Nguyệt đánh đập, bà có báo với chính quyền địa phương không?

4 Có ai chứng kiến việc ông Hảo đánh đập bà không?

5 Kể từ khi ly thân, bà có thường xuyên gặp cháu Đức Anh không?

6 Ai là người kê khai để cấp GCNQSDĐ đối với thửa số 496, tờ bản đồ 01, diện tích 216m2 đất tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương?

Trang 4

7 Kể từ khi biết ông, bà được cấp GCNQSDĐ có ai có ý kiến gì không? Có tranh chấp gì không?

8 Trong quá trình ở trên diện tích đất, anh chị đã tôn tạo và xây dựng những gì? Có

ai có ý kiến gì không?

3.3 Hỏi người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan

Hỏi bà Nguyễn Thị Thoa:

1 Việc vợ chồng ông Nguyệt, bà Hảo xây dựng nhà trên thửa đất số 496, tờ bản đồ 01, diện tích 216m2 đất tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, bà có ý kiến gì không?

2 Bà có biết việc ông Nguyệt, bà Hảo được cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất

số 496, tờ bản đồ 01, diện tích 216m2 đất tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương không?

3 Từ năm 1999 đến nay, bà có thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đất đối với thửa đất này không?

Hỏi đại diện UBND thành phố Hải Dương:

1 Việc cấp GCNQSDĐ đối với thửa số 496, tờ bản đồ 01, diện tích 216m2 đất tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương đã đúng trình tự thủ tục chưa?

2 UBND thành phố Hải Dương có nhận được đơn khiếu nại hay bất kỳ đơn thư nào

về việc tranh chấp đối với thửa đất nêu trên không?

IV LUẬN CỨ BẢO VỆ NGUYÊN ĐƠN: HOÀNG THỊ HẢO

Kính thưa Hội đồng xét xử!

Tôi là Lê Văn X, thuộc Văn phòng Y - Đoàn Luật sư tỉnh Thừa Thiên Huế, là luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là bà Hoàng Thị Hảo tranh chấp với bị đơn là ông Nguyễn Văn Nguyệt về ly hôn, tranh chấp về nuôi con và chia tài sản khi ly hôn tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, dựa trên những tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ cũng như nội dung xét hỏi tại phiên tòa hôm nay, tôi xin trình bày quan điểm bảo vệ cho nguyên đơn như sau:

4.1 Về yêu cầu ly hôn

Bà Nguyễn Thị Hảo và anh Nguyễn Văn Nguyệt đăng ký kết hôn hợp pháp với nhau trên cơ sở tự nguyện theo Giấy chứng nhận kết hôn ngày 26/3/1999 Tuy nhiên sau một thời gian chung sống, đời sống hôn nhân của bà Hảo và ông Nguyệt nảy sinh nhiều mâu thuẩn đến mức không thể hòa giải được, do ông Nguyệt thường xuyên cờ bạc, rượu chè

và đánh đập bà Hảo nên ông bà đã ly thân từ ngày 14/12/2014, ngày 02/01/2016 chị Hảo

đã nộp đơn yêu cầu ly hôn tại Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, ông Nguyệt cũng xác nhận không còn tình cảm vợ chồng và đồng ý yêu cầu ly hôn của bà Hảo

Do vậy, có thể khẳng định rằng cả hai bên không thể tiếp tục sống chung, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được Do vậy, tôi kính

đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014:

Trang 5

“Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.”

Và căn cứ vào các chứng cứ tại hồ sơ cũng như phiên tòa ngày hôm nay, nhận yêu cầu ly hôn của bà Hảo và ông Nguyệt

4.2 Về yêu cầu nuôi con chung

Thứ nhất, về yêu cầu nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Nhi

Cháu Nguyễn Thị Nhi sinh ngày 04/01/2000 là con chung của ông Nguyệt và ba Hảo trong thời ky hôn nhân Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyệt và bà Hảo đã đạt được thỏa thuận về việc bà Hảo sẽ tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nhi, thể hiện tại biên bản hòa giải ngày 19/05/2016

Cháu Nguyễn Thị Nhi cũng có đơn đề nghị được ở với mẹ thông qua Đơn đề nghị (BL 30) và khả năng kinh tế cũng như các yếu tố khác của chị Hảo để có thể đáp ứng tốt việc nuôi dạy cháu Nhi

Thứ hai, về yêu cầu nuôi dưỡng cháu Nguyễn Đức Anh

Cháu Nguyễn Đức Anh sinh ngày 13/06/2007 la con chung của anh Nguyệt và chị Hảo trong thời kỳ hôn nhân, tính đến thời điểm hiện tại cháu Đức Anh đã trên 07 tuổi Theo đơn đề nghị (BL 31) và Biên bản lấy lời khai (BL 167-168) có thể thấy được nguyện vọng của cháu Đức Anh, nếu bố mẹ ly hôn, cháu muốn được ở với mẹ Hiện nay cháu Đức Anh đã được 10 tuổi Đây là độ tuổi khá nhạy cảm dễ bị ảnh hưởng đến tâm lý

và tính cách Trong bối cảnh cha mẹ ly hôn, việc cháu ở cung với mẹ và chị gái 16 tuổi sẽ tốt hơn cho cháu va bản thân cháu cũng đã thể hiện nguyện vọng được ở với mẹ tại biên bản lấy lời khai của Tòa án ngày 05/07/2016 có sự chứng kiến của bà Nguyễn Thị Thoa là

bà nội của cháu

Về vấn đề kinh tế và khả năng nuôi dưỡng, bà Hảo đang sống tại nhà mẹ đẻ và có công việc với mức lương khá cùng với sự giúp đỡ với mẹ ruột của bà Hảo trong việc nuôi dạy các cháu Như vậy, có thể thấy bà Hảo hoàn toàn có đủ điều kiện để nuôi dưỡng cháu Nguyễn Đức Anh

Theo quy định tại khoản 3, Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình 2014:

“3 Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.”

Đối chiếu với quy định trên thì việc giao cháu Đức Anh cho ông Nguyệt nuôi dưỡng

sẽ không đảm bảo cho bà Hảo về quyền thăm non, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Đức Anh, bởi lẽ: trong thời gian cháu Nguyễn Đức Anh ở với bố, ông Nguyệt đã không cho bà Hảo gặp cháu, nếu bà Hảo gặp thì ông Nguyệt sẽ đánh cháu Điều này chính quyền

và hàng xóm láng giềng đều biết và ông Đỗ Văn Tư – cán bộ tư pháp xã Thượng Đạt cũng đã xác nhận thực tế này thông qua biên bản xác minh ngày 09/03/2016

Trang 6

4.3 Về yêu cầu chia tài sản chung

Thứ nhất, thửa đất số 496, tờ bản đồ 01, diện tích 216m 2 đất tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của bà Hảo và ông Nguyệt

Ngày 31/12/2005 UBND huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương đã cấp cho ông Nguyễn Văn Nguyệt và bà Hoàng Thị Hảo giấy Chứng nhận quyền sử dụng đối với thửa đất số

496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2 tại xã Thượng Đạt thành phố Hải Dương

Về quy trình, thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Theo công văn ngày 10/06/2016 của Phòng tài nguyên và Môi trường TP Hải Dương đã xác nhận với Quý Tòa về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 496, tờ bản đồ số

01, diện tích 216m2 tại xã Thượng Đạt thành phố Hải Dương cho ông Nguyệt và bà Hảo trong khuôn khổ cấp đồng loạt cho cả 30 hộ dân trong xã Thượng Đạt là đảm bảo đúng quy định pháp luật

Tại buổi hòa giải ngày 19/5/2016, bà Thoa nêu rằng đã biết rõ việc ông Nguyệt và

bà Hảo được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và bà Thoa và các thành viên khác trong gia đình đều không ai có ý kiến về phản đối, không ai tranh chấp gì Và tại biên bản xác minh ngày 23/6/2016 ông Bích – cán bộ địa chính xã Thượng Đạt xác nhận kể từ khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến nay ông Nguyệt và bà Hảo sử dụng ổn định

và không có tranh chấp với các hộ giáp ranh cũng như đối với ông Cang, bà Thoa và các thành viên khác trong gia đình của ông Nguyệt Hơn nữa, tại công văn ngày 10/6/2016 của Phòng Tài nguyên và Môi trường cũng nêu rõ ông Cang, bà Thoa đã biết việc ông Cang và bà Thoa đã biết rõ việc ông Nguyệt và bà Hảo được cấp Giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất nhưng tất cả đều không có ý kiến về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên và các thành viên trong gia đình ông Cang và bà Thoa không ai có tranh chấp hay ý kiến phản đối gì

Từ các tài liệu chứng cứ nêu trên cho thấy bà Thoa và ông Cang đã giao lại toàn bộ thửa đất số thửa đất số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2 tại xã Thượng Đạt thành phố Hải Dương cho vợ chồng ông Hảo bà Nguyệt sau khi hai người kết hôn vào năm 1999 Hai

vợ chồng đã xây dựng 01 nhà 18m2 lợp ngói kiên cố, 01 gian bếp, 01 nhà vệ sinh, 01 giếng khơi và 01 bể gạch xây xi măng trên thửa đất này Bà Thoa, ông Cang và các thành viên khác trong gia đình ông Nguyệt việc xây dựng này và không ai có ý kiến gì

Mặc khác, trong thời gian chung sống trên thửa đất số 496 bà Hảo đã có công tôn tạo thửa đất cùng ông Nguyệt, bỡi vì trước đây thửa đất này là đất trũng sâu mới được san lấp được một phần để xây dựng nhà và công trình phụ Hai vợ chồng ông Nguyệt và bà Hảo hằng năm đã bỏ công sức và tiền ra tôn tạo mảnh đất được như hiện nay

Trường hợp này, việc phân định thửa đất số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2 tại

xã Thượng Đạt thành phố Hải Dương có thể dẫn chiếu theo án lệ số 03/2016/AL Tôi xin được tóm lược nội dung án lệ số 03/2016/AL như sau:

“Trường hợp cha mẹ đã cho vợ chồng người con một diện tích đất và vợ chồng người con đã xây dựng, nhà kiên cố trên diện tích đất đó để làm nơi ở, khi vợ chồng người con xây dựng nhà thì cha mẹ và những người khác trong gia đình không có ý kiến phản đối gì; vợ chồng người con đã sử dụng nhà, đất liên tục, công khai, ổn định và đã

Trang 7

tiến hành việc kê khai đất, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phải xác định

vợ chồng người con đã được tặng cho quyền sử dụng đất.”

Trên cơ sở các tài liệu nêu trên thấy rằng: từ năm 1999 ông Nguyệt và bà Hảo đã được bố mẹ là ông Cang và bà Thoa cho thửa đất số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2

tại xã Thượng Đạt thành phố Hải Dương để cho hai vợ chồng xây dựng và sinh sống trên thửa đất này Trong thời điểm sinh sống cũng như thời điểm ông Nguyệt và bà Hảo được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất này thì không có bất kỳ ai có ý kiến hay tranh chấp gì, đồng thời UBND xã Thượng Đạt cũng không nhận được bất kỳ khiếu nại nào về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Hảo và bà Nguyệt Trong thời gian sinh sống, ông Nguyệt và bà Hảo là người đứng ra thực hiện các nghĩa vụ thuế đối với thửa đất này và cả hai ông bà đã cùng thực hiện việc tôn tạo thửa đất

Như vậy, theo án lệ số 03/2016/AL, vợ chồng ông Nguyệt và bà Hảo được coi là được tặng cho quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2

tại xã Thượng Đạt thành phố Hải Dương

Theo quy định tại khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014:

“1 Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.”

Như vậy thửa đất số 496 là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của ông Nguyệt và bà Hảo

Thứ hai, về yêu cầu chia 1/2 diện tích thửa đất số 496 tờ bản đồ số 01 tại xã Thượng Đạt thành phố Hải Dương của bà Hoàng Thị Hảo là hợp pháp

Theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014:

“2 Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây: a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập; c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp

để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3 Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch”

Đối chiếu với quy định thì vợ chồng bà Hảo và ông Nguyệt khi kết hôn không có thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng trong hôn nhân, cũng như không hòa giải được

Trang 8

việc phân chia tài thông qua hòa giải Vì vậy, tài sản chung là thửa đất số 496 và yêu cầu chia đôi thửa đất bằng hiện vật của bà Hảo là hoàn toàn hợp pháp và hợp lý

Từ những phân tích, đánh giá tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở tranh luận công khai tại phiên tòa hôm nay, kính đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Chấp nhận toàn

bộ yêu cầu khởi của nguyên đơn bà Hoàng Thị Hảo

Tôi xin chân thành cám ơn Hội đồng xét xử.

Luật sư

(Đã ký)

Lê Văn X

V NHẬN XÉT DIỄN ÁN: Được miễn nhận xét vì đóng vai Thư ký phiên tòa.

Ngày đăng: 31/03/2021, 14:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w