Luận văn, khóa luận, chuyên đề, cao học, thạc sĩ, tiến sĩ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
Chuyên ngành : Chăn nuôi
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Hoàng Văn Tiệu
TS Bùi Hữu ðoàn
HÀ NỘI - 2010
Trang 2LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan ñây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng ñược ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam ñoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn ñều ñã ñược chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả
Phạm Thị Bích Hường
Trang 3LỜI CÁM ƠN
để hoàn thành bản luận văn thạc sỹ này, tôi xin cảm ơn Trung tâm nghiên cứu và Bảo tồn vật nuôi, các cán bộ - công nhân viên thuộc Viện Chăn nuôi Quốc gia ựã giúp ựỡ, tạo ựiều kiện thuận lợi ựể tôi thực hiện ựề tài nghiên cứu khoa học
Xin chân thành cảm ơn PGS TS Hoàng Văn Tiệu Ờ Viện trưởng Viện Chăn nuôi và TS Bùi Hữu đoàn Ờ Trưởng bộ môn chăn nuôi chuyên khoa, các thầy cô giáo trong Khoa Chăn nuôi và Nuôi trồng thủy sản, Viện đào tạo sau ựại học - Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội ựã tận tình giảng dạy, giúp ựỡ và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Xin cảm ơn gia ựình, người thân và bạn bè, ựồng nghiệp ựã ựộng viên, khắch lệ và giúp ựỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu khoa học và hoàn thiện luận văn
Tác giả luận văn
Phạm Thị Bắch Hường
Trang 44.4 Kết quả về khối lượng cơ thể và lượng thức ăn tiêu thụ giai ñoạn
Trang 54.3.1 Khối lượng cơ thể gà hậu bị 50
4.5 Kết quả về khả năng sinh sản và lượng thức ăn tiêu thụ giai ñoạn
4.5.3 Khối lượng trứng và chất lượng trứng của gà Ai cập, gà
4.5.4 Kết quả về tỷ lệ ấp nở của gà Ai cập, gà VCN-G15 và con lai AVG 64 4.5.6 Lượng thức ăn tiêu thụ ñối với gà sinh sản Ai Cập, VCN-G15 và
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
(Food and Agricultural Organization)
và PTNT công nhận là giống gốc và ñặt tên lại là gà VCN-G15)
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
3.1 Bố trí thí nghiệm nuôi gà sinh sản gà Ai Cập, VCN-G15, và con
3.2 Chế ñộ dinh dưỡng cho gà mái nuôi sinh sản theo các giai ñoạn nuôi 36 4.1 ðặc ñiểm ngoại hình của gà Ai Cập, gà VCN-G15 và con lai
4.2 ðặc ñiểm ngoại hình của gà Ai Cập, gà VCN-G15 và con lai
4.5 Khối lượng cơ thể gà của gà Ai Cập, gà VCN-G15 và con lai
4.6 Lượng thức ăn thu nhận giai ñoạn nuôi hậu bị của gà Ai Cập, gà
4.7 Tuổi thành thục sinh dục và khối lượng cơ thể của gà Ai Cập, gà
Trang 84.10 Khối lượng trứng của gà Ai Cập, gà VCN-G15 và con lai AVG
4.11 Một số chỉ tiêu chất lượng trứng của gà Ai Cập, gà VCN-G15 và
4.13 Hiệu quả sử dụng thức ăn giai ñoạn ñẻ trứng (kg TA/10 quả trứng)
Trang 9DANH MỤC CÁC ðỒ THỊ
4.1 Khối lượng cơ thể của gà Ai Cập, gà VCN-G15 và con lai AVG từ
Trang 10MỞ ðẦU
1.1 Tính cấp thiết của ñề tài
Mức tiêu thụ thịt, trứng và sữa bình quân ñầu người là một trong những chỉ tiêu quan trọng ñánh giá ñời sống của nhân dân ở mỗi quốc gia Từ 1990 -
2005, sản lượng trứng của toàn thế giới ñã tăng gấp ñôi, ñạt 64 triệu tấn Hiện nay, toàn thế giới ñang nuôi khoảng 4,93 tỷ con gà ñẻ, năng suất trung bình
là 300 trứng/năm Theo dự kiến của FAO, ñến năm 2015, thế giới sẽ sản xuất
72 triệu tấn trứng
Theo tổng cục thống kê, năm 2009, mức tiêu thụ trứng bình quân ñầu người của nước ta mới chỉ ñạt khoảng 90 quả trứng/ñầu người, chỉ mới bằng 1/3 so với các nước phát triển Trong chiến lược phát triển chăn nuôi ñến năm
2020 của Thủ tướng Chính phủ (Quyết ñịnh số 10/2008/Qð-TTg) dự kiến ñến năm 2015 chúng ta sẽ sản xuất ñược khoảng 11 tỷ quả trứng và 700 ngàn tấn thịt gia cầm; ñến năm 2020: khoảng 14 tỷ quả và trên 1.000 ngàn tấn Tính bình quân sản phẩm trứng tiêu thụ/người: ñến năm 2010 ñạt 92 quả trứng; dự kiến ñến năm 2015 ñạt 116 quả trứng, và ñến năm 2020 ñạt trên 140 quả Trước nhu cầu ñòi hỏi cấp bách của thị trường, ngành chăn nuôi gia cầm
ở nước ta trong những năm gần ñây ñã có tốc ñộ phát triển tương ñối nhanh Nhiều giống gà chuyên trứng ñã ñược nhập vào nước ta như Hyline, ISA BROWN, Hisex Whiter Sau thời gian nuôi dưỡng các giống gà nhập nội này chứng tỏ chúng thích nghi tốt với ñiều kiện môi trường sinh thái tại Việt Nam, qua chọn lọc ñã có một số ưu ñiểm nổi trội là dễ nuôi, cho năng suất trứng cao, tiêu tốn thức ăn/1 kg trứng thấp Gà Hisex Whiter (HW) là giống
gà mới nhập nội vào nước ta Tháng 6 năm 2010, gà HW ñã chính thức ñược
Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận giống và ñược ñặt tên lại là gà G15, ñây là giống gà hướng trứng, có lông màu trắng, mào ñơn to, thân mình
Trang 11VCN-thanh tú, nhanh nhẹn, chân cao, da chân màu vàng Gà VCN-G15 có sức sống tốt và khả năng ñẻ trứng cao, năng suất trứng/mái/52 tuần ñẻ có thể ñạt 270 –
280 quả, tiêu tốn thức ăn/10 trứng 1,7kg, khối lượng trứng trung bình ñạt 59,5g, tỷ lệ lòng ñỏ ñạt 28,5% (Phạm Công Thiếu và cs., 2009) [40] Tuy nhiên giống gà này có nhược ñiểm là quả trứng to, vỏ trứng có màu trắng, chưa phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng ở Việt Nam, giá thành/quả trứng còn thấp so với một số giống gà khác, nên lợi nhuận chăn nuôi từ giống
gà này chưa cao
Gà Ai cập (nguồn gốc Ai cập) nhập vào nước ta từ năm 1997, có ñặc ñiểm chịu nóng tốt, là giống gà thả vườn có năng suất trứng cao dao ñộng 175,36 quả/mái/61 tuần tuổi, sức ñề kháng tốt, tỷ lệ nuôi sống cao 97-98%, tiêu tốn thức ăn/10 trứng 1,9-2,0kg, chất lượng trứng tốt, thơm ngon ñược người tiêu dùng ưa thích (Phùng ðức Tiến và Nguyễn Thị Mười, 2000) [43] Giống gà này thích nghi với nhiều vùng sinh thái khác nhau, các ñiều kiện chăm sóc khác nhau và ñặc biệt giá trứng luôn cao hơn 1,2-1,5 lần so với giá trứng gà công nghiệp khác Khối lượng trứng trung bình 46,0g, tỷ lệ lòng ñỏ ñạt từ 31,5 -32,0%, vỏ trứng màu trắng hồng nên ñược người tiêu dùng rất ưa thích
Một số kết quả nghiên cứu gần ñây cho thấy hiệu quả của một số tổ hợp lai giữa gà Ai Cập với một số giống gà nhập nội Kết quả nghiên cứu chọn tạo dòng gà hướng trứng HA2 từ trống Ai cập và mái Hyline cho kết quả con lai
có tỷ lệ nuôi sống cao 98%, năng suất trứng ñạt 229 quả/mái, chất lượng
trứng gần tương ñương với trứng của gà Ai Cập (Phùng ðức Tiến và cs.,
2008) [47] Kết quả nghiên cứu khả năng sản xuất của con lai giữa trống
Goldline và mái Ai Cập, nhóm tác giả Phùng ðức Tiến và cs., (2006) [45]
thấy rằng gà lai F1 có năng suất trứng/mái là 210 quả, chất lượng trứng thơm ngon ñáp ứng yêu cầu người tiêu dùng Nhằm tiếp tục phát huy ưu ñiểm của
Trang 12giống gà Ai Cập và gà VCN-G15, ñánh giá và phát huy ñược ưu thế lai của con lai, và góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi, chúng tôi ñã tiến hành
nghiên cứu ñề tài: "Nghiên cứu khả năng sản xuất của tổ hợp lai giữa gà trống Ai Cập với gà mái VCN-G15”
1.2 Mục tiêu của ñề tài
Tạo tổ hợp lai từ gà trống Ai Cập và gà mái VCN-G15 cho năng suất trứng cao, chât lượng trứng tốt, khối lượng trứng nhỏ ñáp ứng thị hiếu người tiêu dùng, góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Trên cơ sở lý luận về ưu thế lai, nghiên cứu ñã tiến hành lai tạo nhằm tạo con lai có ñặc ñiểm ưu việt của cả hai giống gà VCN-G15 và gà Ai Cập, cho sản phẩm trứng có màu sắc ñẹp, khối lượng vừa phải, chất lượng rất thơm ngon phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng trong nước
1.4 Những ñóng góp mới của luận văn
Luận văn là một công trình nghiên cứu có hệ thống về ñặc ñiểm ngoại hình và khả năng sản xuất của gà lai giữa gà trống Ai Cập và mái VCN-G15 Các số liệu nghiên cứu của luận văn là tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu, giảng dạy và học tập thuộc ngành chăn nuôi
Kết quả xác ñịnh ñược năng suất chất lượng của gà lai, góp phần làm ña dạng các giống gà hướng trứng và góp phần tăng thu nhập cho người chăn nuôi
Trang 132 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học của ñề tài
2.1.1 Một số ñặc ñiểm ngoại hình của gia cầm
Tuỳ mục ñích sử dụng, các dòng gà ñược chia thành 3 loại hình: hướng trứng, hướng thịt và hướng kiêm dụng Gà hướng trứng có thân hình thon nhỏ, cổ dài, nhẹ cân, dáng nhanh nhẹn Gà kiêm dụng có hình dáng trung gian, cơ thể có hướng kiêm dụng trứng thịt hoặc thịt trứng Theo kết quả
nghiên cứu của Phùng ðức Tiến và Nguyễn Thị Mười (2000) [43]; Nguyễn Huy ðạt và cs (2006) [8] thì gà Ai Cập thuần lúc 01 ngày tuổi có màu lông
xám nhạt, lưng có 2 sọc nâu thẫm, lông cổ màu trắng, chân màu chì ðến 19 tuần tuổi gà Ai Cập có tiết diện hình nêm, mào ñơn, tích ñỏ, lông ñầu và cổ màu trắng, lông thân ñốm màu trắng ñen, lông ñuôi ñen tuyền, cong và dài, chân cao và có màu ñen chì Theo tác giả Phạm Công Thiếu và cs (2008) [39] thì gà Hisex White (HW) ở thế hệ xuất phát có lông màu trắng, mào ñơn to, thân mình thanh tú, nhanh nhẹn, chân cao, da chân màu vàng Gà HW nuôi qua ba thế hệ thể hiện tính ñồng nhất về ñặc ñiểm ngoại hình về màu lông, màu chân và kiểu mào; có ñặc ñiểm ñặc trưng của ngoại hình gà hướng trứng (Phạm Công Thiếu và cs., 2009) [40] Các tác giả này cũng báo cáo rằng kích thước các chiều ño của giống gà HW cho thấy gà mái có vòng ngực nhỏ là 22
cm, dài lưng và dài lườn lớn (18 cm và 10 cm), và cao chân là 7,5 cm, trong khi ñó của gà trống tương ứng là 26 cm, 20 cm và 15,4 cm
2.1.2 Tính trạng sản xuất của gia cầm
2.1.2.1 Bản chất di truyền của các tính trạng sản xuất
Khi nghiên cứu các tính trạng về tính năng sản xuất của gia cầm, ñược nuôi trong ñiều kiện cụ thể, thực chất là nghiên cứu các ñặc ñiểm di truyền số
Trang 14lượng và ảnh hưởng của những tác ựộng môi trường lên các tắnh trạng ựó Hầu hết các tắnh trạng về năng suất của gia súc, gia cầm như sinh trưởng, sinh sản, mọc lông, tăng trưởng thịt, ựẻ trứng ựều là các tắnh trạng số lượng Cơ sở
di truyền của các tắnh trạng số lượng cũng là do các gen nằm trên nhiễm sắc thể qui ựịnh Theo Nguyễn Ân và cs., (1983) [2] các tắnh trạng sản xuất là các tắnh trạng số lượng, thường là các tắnh trạng ựo lường như khối lượng cơ thể, kắch thước các chiều ựo, sản lượng trứng, khối lượng trứng,
Các tắnh trạng số lượng thường bị chi phối bởi nhiều gen Các gen này hoạt ựộng theo ba phương thức:
- Cộng gộp (A) hiệu ứng tắch luỹ của từng gen
- Trội (D) hiệu ứng tương tác giữa các gen cùng một lô cút
- Át gen (I) hiệu ứng do tương tác, của các gen không cùng một lô cút Hiệu ứng cộng gộp A là các giá trị giống thông thường (general breeding value) có thể tắnh toán ựược, có ý nghĩa trong chọn lọc nhân thuần Hiệu ứng trội D và át gen I là những hiệu ứng không cộng tắnh và là giá trị giống ựặc biệt (special breeding value) có ý nghĩa ựặc biệt trong các tổ hợp lai Ở các tắnh trạng số lượng giá trị kiểu hình cũng do giá trị kiểu gen (kiểu di truyền)
và sai lệch môi trường qui ựịnh, nhưng giá trị kiểu gen của tắnh trạng số lượng
do nhiều gen có hiệu ứng nhỏ (minor gen) cấu tạo thành đó là các gen mà hiệu ứng riêng biệt của từng gen thì rất nhỏ, nhưng tập hợp lại sẽ ảnh hưởng rất rõ rệt tới tắnh trạng nghiên cứu, tắnh trạng sinh sản là một vắ dụ (Nguyễn Văn Thiện, 1996) [38])
Khác với các tắnh trạng chất lượng, tắnh trạng số lượng chịu ảnh hưởng rất lớn bởi các yếu tố tác ựộng của ngoại cảnh Tuy các ựiều kiện bên ngoài không thể làm thay ựổi cấu trúc di truyền, nhưng nó tác ựộng làm phát huy hoặc kìm hãm việc biểu hiện các hoạt ựộng của các gen Các tắnh trạng số lượng ựược qui ựịnh bởi kiểu gen và chịu ảnh hưởng nhiều của ựiều kiện
Trang 15ngoại cảnh, mối tương quan ñó ñược biểu thị như sau:
Ngoài ra các tính trạng số lượng còn chịu ảnh hưởng nhiều của môi trường Có hai loại môi trường chính:
- Sai lệch môi trường chung (Eg) là sai lệch do các yếu tố môi trường tác ñộng lên toàn bộ các cá thể trong nhóm vật nuôi Loại yếu tố này có tính chất thường xuyên như: thức ăn, khí hậu,
- Sai lệch môi trường riêng (Es) là sai lệch do các yếu tố môi trường tác ñộng riêng rẽ lên từng cá thể trong nhóm vật nuôi, hoặc ở một giai ñoạn nhất ñịnh trong cuộc ñời con vật Loại này có tính chất không thường xuyên Nếu
bỏ qua mối tương tác giữa di truyền và ngoại cảnh thì quan hệ của kiểu hình (P), kiểu gen (G) và môi trường (E) của một cá thể biểu thị cụ thể:
P = A + D + I + Eg + Es
Qua phân tích cho thấy các giống gia cầm, cũng như các giống sinh vật khác, con cái ñều nhận ñược ở bố mẹ một số gen quy ñịnh tính trạng số lượng nào ñó Tính trạng ñó ñược xem như nhận từ bố mẹ một khả năng di truyền, nhưng khả năng ñó phát huy ñược hay không còn phụ thuộc vào môi trường sống như: chế ñộ chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý,
Người ta có thể xác ñịnh các tính trạng số lượng qua mức ñộ tập trung
Trang 16(Χg), mức ựộ biến dị (Cv%), hệ số di truyền của các tắnh trạng (h2), hệ số lặp lại của các tắnh trạng (R), hệ số tương quan (r) giữa các tắnh trạng,
2.1.2.2 Sức sống và khả năng kháng bệnh của gà
Tỷ lệ sống của gà con khi nở là chỉ tiêu chủ yếu ựánh giá sức sống của gia cầm, ở giai ựoạn hậu phôi, sự giảm sức sống ựược thể hiện ở tỷ lệ chết cao qua các giai ựoạn sinh trưởng (Brandsch và Biilchel, 1978 [4]) Tỷ lệ sống ựược xác ựịnh bằng tỷ lệ phần trăm số cá thể còn sống ở cuối giai ựoạn, so với các cá thể ở ựầu giai ựoạn Khavecman, 1972 [20] cho rằng cận huyết làm giảm tỷ lệ sống, ưu thế lai làm tăng tỷ lệ sống Có thể nâng cao tỷ lệ sống bằng các biện pháp nuôi dưỡng tốt, vệ sinh tiêm phòng kịp thời Các giống vật nuôi nhiệt ựới có khả năng chống bệnh truyền nhiễm, bệnh ký sinh trùng cao hơn các giống vật nuôi ở xứ lạnh
Tỷ lệ nuôi sống của gà con phụ thuộc vào sức sống của ựàn bố mẹ Gia cầm mái ựẻ tốt thì tỷ lệ nuôi sống của gia cầm con cao hơn so với gia cầm ựẻ kém Khả năng thắch nghi, khi ựiều kiện sống bị thay ựổi, như về thức ăn, thời tiết, khắ hậu, qui trình chăn nuôi, môi trường vi sinh vật xung quanh, của gia súc, gia cầm nói chung, gà lông màu nói riêng có khả năng thắch ứng rộng rãi hơn ựối với môi trường sống (Phan Cự Nhân và Trần đình Miên,
1998 [31])
Khi nghiên cứu về sức sống của gia cầm trong cơ sở di truyền năng suất
và chọn giống ựộng vật Hill và cs (1954) [60] ựã tắnh ựược hệ số di truyền sức sống là 6% Sức sống ựược tắnh theo các giai ựoạn nuôi dưỡng khác nhau Theo tài liệu của Gavora (1990) [58] hệ số di truyền của sức kháng bệnh là 25% Theo Robertson và Lerner (1949) [69] hệ số di truyền về tỷ lệ nuôi sống
và sức kháng bệnh thường phụ thuộc vào dòng, giống, giới tắnh Tỷ lệ nuôi sống phụ thuộc rất lớn vào yếu tố chăm sóc, nuôi dưỡng, khắ hậu thời tiết, mùa vụ,
Trang 172.1.2.3 Khả năng sinh trưởng và tiêu tốn thức ăn ở gia cầm
- Khả năng sinh trưởng
Sự sinh trưởng bao giờ cũng phải có quá trình tế bào phân chia tức là tăng số lượng tế bào, tăng thể tắch và các chất giữa tế bào, trong ựó hai quá trình ựầu là quan trọng nhất Gatner (1992, dẫn theo Trần đình Miên, và Nguyễn Kim đường, 1992 [29]) cho rằng trong quá trình sinh trưởng trước hết là kết quả của phân chia tế bào, tăng thể tắch tế bào ựể tạo nên sự sống Trong tài liệu của Chambers (1990) [54] ựịnh nghĩa sinh trưởng là tổng sự tăng trưởng của các bộ phận như thịt, xương, da
Về mặt sinh học, sinh trưởng ựược xem như quá trình tổng hợp protein, nên người ta thường lấy việc tăng khối lượng làm chỉ tiêu ựánh giá quá trình sinh trưởng Sự tăng trưởng thực chất là các tế bào của mô cơ có tăng thêm khối lượng, số lượng và các chiều, vì vậy từ khi trứng thụ tinh cho ựến khi cơ thể trưởng thành và ựược chia làm hai giai ựoạn chắnh: giai ựoạn trong thai và giai ựoạn ngoài thai đối với gia cầm là thời kỳ hậu phôi và thời kỳ trưởng thành Như vậy, cơ sở chủ yếu của sinh trưởng gồm hai quá trình, tế bào sản sinh và tế bào phát triển, trong ựó sự phát triển là chắnh, sự tắch luỹ lớn lên về mặt khối lượng của từng mô bào và của toàn bộ cơ thể do kết quả của sự tương tác giữa các gen và môi trường
Khi nghiên cứu về sinh trưởng, không thể không nói ựến phát dục Phát dục là quá trình thay ựổi về chất, tức là tăng thêm và hoàn chỉnh các tắnh chất chức năng của các bộ phận cơ thể Phát dục diễn ra từ khi trứng thụ thai, qua các giai ựoạn khác nhau ựến khi trưởng thành Sinh trưởng là một quá trình sinh học phức tạp, từ khi thụ tinh ựến khi trưởng thành để xác ựịnh chắnh xác toàn bộ quá trình sinh trưởng không phải là dễ dàng Các nhà chọn giống gia cầm có khuynh hướng sử dụng cách ựo ựơn giản và thực tế: khối lượng cơ thể
ở từng thời kỳ dù chỉ là một chỉ số sử dụng quen thuộc nhất về sinh trưởng
Trang 18(tính theo tuổi) song chỉ tiêu này không nói lên ñược mức ñộ khác nhau về tốc
ñộ sinh trưởng trong một thời gian ðồ thị khối lượng cơ thể còn gọi là ñồ thị sinh trưởng tích luỹ Sinh trưởng tích luỹ là khả năng tích luỹ các chất hữu cơ
do quá trình ñồng hoá và dị hoá Khối lượng cơ thể thường ñược theo dõi theo từng tuần tuổi và ñơn vị tính là kg/con hoặc gam/con
ðể ñánh giá khả năng sinh trưởng, người ta còn sử dụng khái niệm sinh trưởng tuyệt ñối và sinh trưởng tương ñối
Sinh trưởng tuyệt ñối: là sự tăng lên về khối lượng cơ thể trong khoảng thời gian giữa hai lần khảo sát ðồ thị sinh trưởng tuyệt ñối có dạng parabon, sinh trưởng tuyệt ñối thường tính bằng gam/con/ngày hay gam/con/tuần Sinh trưởng tương ñối: là tỷ lệ phần trăm tăng lên của khối lượng cơ thể, lúc kết thúc khảo sát so với lúc bắt ñầu khảo sát ðơn vị tính là % ðồ thị sinh trưởng tương ñối có dạng hyperbon Sinh trưởng tương ñối giảm dần qua các tuần tuổi
ðường cong sinh trưởng: ñường cong sinh trưởng biểu thị tốc ñộ sinh trưởng của vật nuôi Theo tài liệu của Chambers (1990) [54] ñường cong sinh trưởng của gà có 4 ñiểm chính gồm 4 pha sau:
Pha sinh trưởng tích luỹ tăng tốc ñộ nhanh sau khi nở
ðiểm uốn của ñường cong tại thời ñiểm có tốc ñộ sinh trưởng cao nhất Pha sinh trưởng có tốc ñộ giảm dần sau ñiểm uốn
Pha sinh trưởng tiệm cận với giá trị khi gà trưởng thành
Thông thường người ta sử dụng khối lượng cơ thể ở các tuần tuổi, thể hiện bằng ñồ thị sinh trưởng tích luỹ và nó ñược biết một cách ñơn giản ñường cong sinh trưởng
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng ñến khả năng sinh trưởng của gà Các yếu
tố ñó là:
+ Dòng, giống có ảnh hưởng lớn tới quá trình sinh trưởng của gia súc,
Trang 19gia cầm Letner và Asmundsen (1938) [66] ñã so sánh tốc ñộ sinh trưởng của các giống gà Leghorn trắng và Plymouth Rock tới 24 tuần tuổi, cho rằng gà Plymouth Rock sinh trưởng nhanh hơn gà Leghorn 2-6 tuần tuổi và sau ñó không có sự khác nhau
Nguyễn Mạnh Hùng và cs (1994) [15] cho biết sự khác nhau về khối lượng giữa các giống gia cầm rất lớn, giống gà kiêm dụng nặng hơn gà hướng trứng khoảng 500-700g (13-30%) Jaap và Moris (1973) [64] ñã phát hiện những sai khác trong cùng một giống và cường ñộ sinh trưởng trước 8 tuần tuổi ở gà con của các bố mẹ khác nhau
Trần Long (1994) [24] nghiên cứu tốc ñộ sinh trưởng trên 3 dòng thuần (dòng V1, V3, V5) của giống gà Hybro HV85 cho thấy tốc ñộ sinh trưởng 3 dòng hoàn toàn khác nhau ở 42 ngày tuổi
Theo Godfrey và Joap (1952) [59] sự di truyền các tính trạng về khối lượng cơ thể do 15 cặp gen tham gia trong ñó ít nhất có một gen về sinh trưởng liên kết giới tính (nằm trên nhiễm sắc thể X) vì vậy có sự sai khác về khối lượng cơ thể giữa con trống và con mái trong cùng một giống, gà trống nặng hơn gà mái 24-32%
Ở gà, hầu hết các giống hướng trứng ñều nhẹ hơn các giống hướng thịt tới gần hai lần và giống hướng kiêm dụng 1,3 - 1,7 lần
Theo Hoàng Văn Lộc (1993) [23] gà Goldline ở 12 tuần tuổi khối lượng
cơ thể ñạt 886,0 - 917,0g/con Theo Nguyễn Thị Khanh và cs (2001) [17] gà Tam Hoàng 882 ở 12 tuần tuổi khối lượng cơ thể ñạt 1557,83g/con Theo Phùng ðức Tiến (1996) [42] gà Hybro HV85 ở 56 ngày tuổi khối lượng cơ thể ñạt 1915,38 g/con
Nguyễn Ân và cs (1983) [2] thông báo hệ số di truyền 3 tháng tuổi là 26 - 50% Theo Kushner (1978) [20] hệ số di truyền khối lượng sống của gà 1 tháng tuổi là 33%; 2 tháng tuổi là 46%; 3 tháng tuổi là 43% Cook và cs (1956) [56]
Trang 20xác ñịnh hệ số di truyền 6 tuần tuổi về khối lượng là 50%
+ Giới tính có ảnh hưởng ñến tốc ñộ sinh trưởng
Các loại gia cầm khác nhau về giới tính thì có tốc ñộ sinh trưởng khác nhau, con trống lớn nhanh hơn con mái (chim cút con trống nhỏ hơn con mái) Theo Jull (1990, dẫn theo Phùng ðức Tiến, 1996 [42]) gà trống có tốc ñộ sinh trưởng nhanh hơn gà mái 24 - 32% Tác giả cũng cho biết, sự sai khác này do gen liên kết giới tính, những gen này ở gà trống (2 nhiễm sắc thể giới tính) hoạt ñộng mạnh hơn gà mái (1 nhiễm sắc thể) North và Bell, (1990) [68] cho biết khối lượng gà con 1 ngày tuổi tương quan dương với khối lượng trứng giống ñưa vào ấp, song không ảnh hưởng ñến khối lượng cơ thể gà lúc thành thục và cường ñộ sinh trưởng ở 4 tuần tuổi Song lúc mới sinh gà trống nặng hơn gà mái 1%, tuổi càng tăng sự khác nhau càng lớn, ở 2 tuần tuổi hơn 5%; 3 tuần tuổi hơn 11%; 8 tuần tuổi hơn 27%
+ Chế ñộ dinh dưỡng ảnh hưởng tới tốc ñộ sinh trưởng
Sinh trưởng là tổng số của sự phát triển các phần của cơ thể như thịt, xương, da Tỷ lệ sinh trưởng các phần này phụ thuộc vào ñộ tuổi, tốc ñộ sinh trưởng và phụ thuộc vào mức ñộ dinh dưỡng (Chambers, 1990 [54]) Mức ñộ dinh dưỡng không chỉ ảnh hưởng tới sự phát triển các bộ phận khác nhau của
cơ thể mà còn ảnh hưởng tới sự phát triển của từng mô này ñối với mô khác Như vậy tốc ñộ sinh trưởng liên quan chặt chẽ tới ñiều kiện nuôi dưỡng ñàn
bố mẹ, chế ñộ chăm sóc nuôi dưỡng, ñiều kiện tiểu khí hậu chuồng nuôi, ñiều kiện phòng bệnh Ở nước ta ñiều kiện khí hậu ở hai vụ ñông xuân và hè thu khác nhau cũng gây ảnh hưởng tới tốc ñộ sinh trưởng Nhiệt ñộ cao làm cho khả năng thu nhận thức ăn giảm dẫn ñến tăng trọng kém
Các tác giả Lewis và cs (1992) [67] cho biết các giống khác nhau thì bị tác ñộng của thời gian chiếu sáng cũng khác nhau, ñặc biệt vào các tuần tuổi
9, 12, 15 Từ 9 tuần tuổi nếu tăng thời gian chiếu sáng sẽ làm phát dục sớm
Trang 21ăn trên kg tăng khối lượng cơ thể càng thấp thì hiệu quả kinh tế càng cao và ngược lại
Chambers và cs (1984) [55] ñã xác ñịnh ñược hệ số tương quan giữa khối lượng cơ thể và tăng khối lượng cơ thể với tiêu tốn thức ăn thường rất cao (0,5-0,9) Tương quan giữa sinh trưởng và chuyển hoá thức ăn là âm và thấp từ (-0,2 ñến -0,8) Box và Bohren (1954) [53], Willson (1969) [71] ñã xác ñịnh hệ số tương quan giữa khả năng tăng khối lượng cơ thể và hiệu quả chuyển hoá thức ăn từ 1-4 tuần tuổi là r = +0,5 Hiệu quả sử dụng thức ăn liên quan chặt chẽ ñến tốc ñộ sinh trưởng ðối với gia cầm sinh sản thường tính tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng hoặc 1 kg trứng Trước ñây khi tính toán người ta chỉ tính lượng thức ăn cung cấp trong giai ñoạn sinh sản Hiện nay nhiều cơ sở chăn nuôi trên thế giới ñã áp dụng phương pháp tính mức tiêu tốn thức ăn bằng lượng chi phí cho gia cầm từ lúc 1 ngày tuổi cho ñến kết thúc 1 năm ñẻ
Tiêu tốn thức ăn/ñơn vị sản phẩm còn phụ thuộc vào tính biệt, khí hậu, thời tiết, chế ñộ chăm sóc, nuôi dưỡng, cũng như tình hình sức khoẻ của ñàn gia cầm
Tiêu tốn thức ăn là một chỉ tiêu có ý nghĩa quyết ñịnh ñến hiệu quả kinh
tế trong chăn nuôi gà Do vậy có rất nhiều công trình nghiên cứu nhằm tạo ra
tổ hợp lai tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng cơ thể thấp
Khả năng chuyển hoá protein thức ăn của gia cầm mái cho các hoạt ñộng duy
Trang 22trì cơ thể, sản xuất nói chung và tạo trứng nói riêng là 55% Do vậy gà ñẻ 100% cần nhu cầu là 8,9g protein cho tạo trứng (Ivy và Gleaves, 1976 [63]) Khả năng chuyển hoá năng lượng theo Morris và Wasserman (1977, dẫn theo Nguyễn Duy Hoan và cs., 1999 [12]) thì chỉ 80% năng lượng của thức ăn ñược hấp thu trong ñó 25% năng lượng ñược hấp thu dùng cho tạo trứng
2.1.2.4 Khả năng sinh sản ở gia cầm
+ Cơ sở giải phẫu cơ quan sinh sản
Trứng của gia cầm nói chung và của gà nói riêng là một tế bào sinh sản khổng lồ Cấu tạo của trứng bao gồm: lòng ñỏ, lòng trắng, màng vỏ và vỏ Buồng trứng có chức năng tạo thành lòng ñỏ, còn các bộ phận khác như: lòng trắng, màng vỏ và vỏ do ống dẫn trứng tạo nên Nhiều tài liệu nghiên cứu ñều xác ñịnh ở gà mái, trong quá trình phát triển phôi hai bên phải, trái ñều có buồng trứng, nhưng sau khi nở buồng trứng bên phải mất ñi, còn lại buồng trứng bên trái (Vương ðống, 1968 [10])
Trong thời gian phát triển lúc ñầu các tế bào trứng ñược bao bọc bởi một tầng tế bào, không có liên kết gì với biểu bì phát sinh Tầng tế bào này trở thành nhiều tầng, sự tạo thêm sẽ tiến tới bề mặt buồng trứng, cấu tạo này gọi
là follicun, bên trong follicun có một khoang hở chứa ñầy một chất dịch Bề ngoài follicun trông giống như một cái túi Trong thời kỳ ñẻ trứng nhiều follicun trở nên chín làm thay ñổi hình dạng buồng trứng trông giống như
“chùm nho” Sau thời kỳ ñẻ trứng lại trở thành hình dạng ban ñầu, các follicun chín vỡ ra, tế bào trứng chín ra ngoài cùng với dịch follicun và rơi vào phễu ống dẫn trứng
Các tài liệu nghiên cứu ñều cho rằng, hầu hết vật chất lòng ñỏ trứng gà ñược tạo thành trước khi ñẻ trứng 9-10 ngày, tốc ñộ sinh trưởng của lòng ñỏ
từ 1 ñến 3 ngày ñầu rất chậm, khi ñường kính của lòng ñỏ ñạt tới 6 mm, bắt ñầu vào thời kỳ sinh trưởng cực nhanh, ñường kính có thể tăng 4 mm trong 24
Trang 23giờ, cho tới khi ñạt ñường kính tối ña 40 mm Tốc ñộ sinh trưởng của lòng ñỏ không tương quan với cường ñộ ñẻ trứng Quá trình hình thành trứng và rụng trứng là một quá trình sinh lý phức tạp, do sự ñiều khiển của hoocmon Thời gian từ lúc ñẻ quả trứng và thời gian rụng trứng sau kéo dài 15-75 phút Theo Melekhin G.P và Niagridin, 1989 (dẫn theo Ngô Giản Luyện, 1994 [26]) thì sự rụng trứng ở gà xảy ra một lần trong ngày, thường là 30 phút sau khi ñẻ trứng Trường hợp nếu trứng ñẻ sau 16 giờ thì sự rụng trứng sẽ chuyển ñến ñầu ngày hôm sau Trứng bị giữ lại trong ống dẫn trứng làm ngừng sự rụng trứng tiếp theo Nếu lấy trứng ra khỏi tử cung thì không làm tăng nhanh
sự rụng trứng ñược
Tế bào trứng rơi vào phễu và ñược ñẩy xuống ống dẫn trứng, ñây là một ống dài có nhiều khúc cuộn, bên trong có tầng cơ, trên thành ống có lớp màng nhầy lót bên trong, trên bề mặt lớp màng nhầy có tiêm mao rung ñộng Ống dẫn trứng có những phần khác nhau: phễu, phần tạo lòng trắng, phần eo, tử cung và âm ñạo Chúng có chức năng tiết ra lòng trắng ñặc, loãng, màng vỏ,
vỏ và lớp keo mỡ bao bọc ngoài vỏ trứng Thời gian trứng lưu lại trong ống dẫn trứng từ 20-24 giờ Khi trứng rụng và qua các phần của ống dẫn trứng tới
tử cung, ñầu nhọn của trứng bao giờ cũng ñi trước, nhưng khi nằm trong tử cung quả trứng ñược xoay 1 góc 1800, cho nên trong ñiều kiện bình thường
gà ñẻ ñầu tù của quả trứng ra trước
+ Cơ sở di truyền của năng suất trứng
Sinh sản là chỉ tiêu cần ñược quan tâm lâu dài trong công tác giống gia cầm, nhằm tăng số lượng và chất lượng con giống, các tính trạng sinh sản của chúng như: tuổi ñẻ trứng ñầu, năng suất trứng, khối lượng trứng, tỷ lệ ấp nở,
ở các loài gia cầm khác nhau thì những ñặc ñiểm sinh sản cũng khác nhau rất
rõ rệt
ðối với gia cầm sự di truyền về sinh sản rất phức tạp Theo các công
Trang 24trình nghiên cứu của nhiều tác giả, việc sản xuất trứng của gia cầm có thể do
5 yếu tố ảnh hưởng mang tắnh di truyền
- Tuổi thành thục về sinh dục, người ta cho rằng ắt nhất cũng có hai cặp gen chắnh tham gia vào yếu tố này: một là gen E (gen liên kết với giới tắnh) và e; còn cặp thứ hai là EỖ và eỖ Gen trội E chịu trách nhiệm tắnh thành thục về sinh dục
- Cường ựộ ựẻ: yếu tố này do hai cặp gen R và r, RỖ và rỖ phối hợp cộng lại ựể ựiều hành
- Bản năng ựòi ấp do 2 gen A và C ựiều khiển, phối hợp với nhau
- Thời gian nghỉ ựẻ (ựặc biệt là nghỉ ựẻ vào mùa ựông) do các gen M và
m ựiều khiển Gia cầm có gen mm thì về mùa ựông vẫn tiếp tục ựẻ ựều
- Thời gian kéo dài của chu kỳ ựẻ, do cặp gen P và p ựiều hành
Yếu tố thứ 5 và yếu tố thứ nhất là hai yếu tố kết hợp với nhau, cũng có nghĩa là các cặp gen Pp và Ee có phối hợp với nhau Tất nhiên ngoài các gen chắnh tham gia vào việc ựiều khiển các yếu tố trên, có thể còn có nhiều gen khác phụ lực vào
+ Tuổi ựẻ quả trứng ựầu
Là một chỉ tiêu ựánh giá sự thành thục sinh dục, cũng ựược coi là 1 yếu
tố cấu thành năng suất trứng (Khavecman, 1972 [18]) Tuổi ựẻ quả trứng ựầu ựược xác ựịnh bằng số ngày tuổi kể từ khi nở ựến khi ựẻ quả trứng ựầu
Một số tác giả khác cho rằng: có các gen trên nhiễm sắc thể giới tắnh cùng tham gia hình thành tắnh trạng này (dẫn theo Khavecman, 1972 [18]) Theo Trần đình Miên, Nguyễn Kim đường, 1992 [29] có ắt nhất hai cặp gen cùng qui ựịnh, cặp thứ nhất gen E và e liên kết với giới tắnh, cặp thứ hai gen EỖ và eỖ Có mối tương quan nghịch giữa tuổi ựẻ và năng suất trứng, tương quan thuận giữa tuổi ựẻ và khối lượng trứng Tuổi ựẻ quả trứng ựầu phụ thuộc vào bản chất di truyền, chế ựộ nuôi dưỡng, các yếu tố môi trường ựặc biệt là
Trang 25thời gian chiếu sáng, thời gian chiếu sáng dài sẽ thúc ñẩy gia cầm ñẻ sớm (Khavecman, 1972 [18])
Dickerson (1952), Ayob và Merat (1975) (dẫn theo Trần Long, 1994 [24]) ñã tính toán hệ số tương quan di truyền giữa khối lượng cơ thể gà chưa trưởng thành với sản lượng trứng thường có giá trị âm (-0,21 ñến -0,16)
+ Năng suất trứng và tỷ lệ ñẻ
Năng suất trứng là số lượng trứng một gia cầm mái sinh ra trên một ñơn
vị thời gian ðối với gia cầm ñẻ trứng thì ñây là chỉ tiêu năng suất quan trọng nhất, nó phản ánh trạng thái sinh lý và khả năng hoạt ñộng của hệ sinh dục Năng suất trứng là một tính trạng số lượng nên nó phụ thuộc nhiều vào ñiều kiện ngoại cảnh Năng suất trứng phụ thuộc nhiều vào loài, giống, hướng sản xuất, mùa vụ, ñiều kiện dinh dưỡng, chăm sóc và ñặc ñiểm của cá thể
Hutt F.B, 1978 [16] ñề nghị tính sản lượng trứng từ khi gia cầm ñẻ quả trứng ñầu tiên, còn Brandsh và Biilchel (1978) [4] cho biết sản lượng trứng ñược tính ñến 500 ngày tuổi Theo các tác giả trên sản lượng trứng cũng ñược tính theo năm sinh học 365 ngày, kể từ ngày ñẻ quả trứng ñầu tiên Trong thời gian gần ñây, sản lượng trứng ñược tính theo tuần tuổi Nhiều hãng gia cầm nổi tiếng như Shaver (Canaña), Lohmann (ðức), sản lượng trứng ñược tính ñến 70-80 tuần tuổi
Năng suất trứng là tính trạng có mối tương quan nghịch chặt chẽ với tốc
ñộ sinh trưởng sớm, do vậy trong chăn nuôi gà sinh sản, cần chú ý cho gà ăn hạn chế trong giai ñoạn gà con, gà dò, gà hậu bị ñể ñảm bảo năng suất trứng trong giai ñoạn sinh sản Năng suất trứng phụ thuộc nhiều vào số lượng và chất lượng thức ăn, phụ thuộc vào mức năng lượng, hàm lượng protein và các thành phần khác trong khẩu phần thức ăn (Bùi Thị Oanh, 1996 [32]) Năng suất trứng có hệ số di truyền không cao, dao ñộng lớn Theo Nguyễn Văn Thiện, (1995) [37] hệ số di truyền năng suất trứng của gà là 12- 30%
Trang 26Về tỷ lệ ñẻ gà chăn thả có tỷ lệ ñẻ thấp trong mấy tuần ñầu của chu kỳ ñẻ, sau ñó tăng dần và ñạt tỷ lệ cao ở những tuần tiếp theo rồi giảm dần và ñạt tỷ lệ
ñẻ thấp ở cuối thời kỳ sinh sản Sản lượng trứng/năm của một quần thể gà mái cao sản, ñược thể hiện theo qui luật cường ñộ ñẻ trứng cao nhất vào tháng thứ hai, thứ ba sau ñó giảm dần ñến hết năm ñẻ ðể tiến hành chọn giống về sức ñẻ trứng Hutt (1978) [16] ñã áp dụng ổ ñẻ có cửa sập tự ñộng ñể kiểm tra số lượng trứng của từng gà mái Các tác giả cho rằng sản lượng trứng 3 tháng ñẻ ñầu và sản lượng trứng cả năm có tương quan di truyền chặt chẽ (0,7-0,9)
+ Khối lượng trứng
Theo Roberts, (1998) [33] giá trị trung bình khối lượng quả trứng ñẻ ra trong một chu kỳ, là một tính trạng do nhiều gen có tác ñộng cộng gộp qui ñịnh, nhưng hiện còn chưa xác ñịnh rõ số lượng gen qui ñịnh tính trạng này Sau sản lượng trứng, khối lượng trứng là chỉ tiêu quan trọng cấu thành năng suất của ñàn gà bố mẹ Khi cho lai hai dòng gia cầm có khối lượng trứng lớn
và bé, trứng của con lai thường có khối lượng trung gian, nghiêng về một phía (Khavecman, 1972 [18])
Tính trạng này có hệ số di truyền cao, do ñó có thể ñạt ñược nhanh chóng thông qua con ñường chọn lọc (Kushner, 1974 [19]) Ngoài các yếu tố
về di truyền, khối lượng trứng còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố ngoại cảnh như chăm sóc, nuôi dưỡng, mùa vụ, tuổi gia cầm Trứng của gia cầm mới bắt ñầu
ñẻ nhỏ hơn trứng gia cầm trưởng thành 20-30% Khối lượng trứng mang tính ñặc trưng của từng loài và mang tính di truyền cao Hệ số di truyền của tính trạng này 48-80% (Brandsch và Biilchel, 1978 [4]) Theo Nguyễn Văn Thiện (1995) [37] hệ số di truyền về khối lượng trứng của gà là 60-74% Ý kiến của nhiều tác giả cho rằng trong cùng một giống, dòng, cùng một ñàn, nhóm trứng
có khối lượng lớn nhất hoặc bé nhất ñều cho tỷ lệ nở thấp Trứng gia cầm non cho tỷ lệ nở thấp, khối lượng trứng cao thì sẽ kéo dài thời gian ấp nở Cứ tăng
Trang 27thêm 2,5 g từ 50 gam trở lên thì thời gian ấp nở tăng thêm 30 phút (Lange và cs., 2000 [65]) Khối lượng gia cầm mới nở thường bằng 62-78% khối lượng trứng ban ñầu
Nhiều tác giả cho rằng, giữa khối lượng trứng và sản lượng trứng có tương quan nghịch, Bùi Quang Tiến và cs., (1985) [41] nghiên cứu trên gà Rhoderi là -0,33
+ Chất lượng trứng
Trứng gà gồm 3 phần cơ bản vỏ, lòng ñỏ và lòng trắng Theo Vương ðống, 1968 [10] tỷ lệ các phần so với khối lượng trứng thì vỏ chiếm 10-11,6%; lòng trắng 57-60%; lòng ñỏ 30-32% Thành phần hoá học của trứng không vỏ: nước chiếm 73,5-74,4%; protein 12,5-13%; mỡ 11-12%; khoáng 0,8-1,0%
+Màu sắc trứng
Màu sắc trứng không có ý nghĩa lớn trong ñánh giá chất lượng trứng, nhưng có giá trị trong kỹ thuật và thương mại Màu sắc trứng là tính trạng ña gen, ở gà khi lai dòng trứng vỏ trắng với dòng trứng vỏ màu, gà lai sẽ có trứng vỏ màu trung gian Theo Anderson có thể tạo gia cầm ñẻ trứng vỏ màu bằng cách chọn lọc những gia cầm có trứng vỏ màu sẫm hơn (dẫn theo Khavecman, 1972 [18]) Theo Brandsh và Biilchel (1978) [4] hệ số di truyền tính trạng này là 55 -75%
+Bề mặt vỏ trứng
Thông thường trứng gia cầm ñẻ ra có bề mặt trơn, ñều, song bên cạnh ñó cũng có một số cá thể thường ñẻ ra những trứng có bề mặt xấu, xù xì, có vệt canxi hay ñường gờ lượn sóng, loại trứng này có ảnh hưởng xấu ñến
tỷ lệ ấp nở cũng như thị hiếu của người tiêu dùng (Schuberth và Ruhland (1978) [34])
Trang 28+ Chỉ số hình thái
Trứng gia cầm bình thường có hình ô van và chỉ số này không biến ñổi theo mùa Người ta ñã tính ñược chỉ số hình dạng của trứng thông qua phương pháp toán học, chỉ số hình dạng có thể tính bằng hai cách:
Tỷ số giữa chiều dài và chiều rộng trứng hoặc tỷ lệ phần trăm giữa chiều rộng so với chiều dài của trứng
Trong chăn nuôi gia cầm sinh sản, thì chỉ số hình dạng là một chỉ tiêu ñể xem xét chất lượng của trứng ấp Trong thực tế sản xuất cho thấy, những quả trứng dài hoặc quá tròn ñều có tỷ lệ ấp nở thấp Trứng của mỗi giống gia cầm ñều có chỉ số hình thái riêng, chỉ số này ở gà 1,34 - 1,36 Nếu lệch quá tiêu chuẩn này sẽ ảnh hưởng ñến tỷ lệ nở và khó khăn trong lúc bao gói vận chuyển (Nguyễn Hoài Tao và cs., 1984 [36])
+ ðộ dày và ñộ bền của vỏ trứng
ðộ dày, ñộ bền hay ñộ chịu lực của vỏ trứng biểu hiện nguồn dự trữ khoáng Là một trong những chỉ tiêu quan trọng của trứng ấp, ảnh hưởng nhiều trong quá trình bao gói vận chuyển
ðộ dày vỏ trứng ñược xác ñịnh bằng thước ño ñộ dày khi ñã bóc vỏ dai, ở
gà ñộ dày vỏ bằng 0,32mm Theo Auaas và Wilke R, 1978 [1]) thì ñộ dày vỏ trứng chịu ảnh hưởng của yếu tố di truyền dao ñộng trong khoảng giới hạn lớn Theo Nguyễn Văn Thiện, 1995 [37] hệ số di truyền ñộ dày vỏ trứng là 30% Ngoài ra ñộ dày vỏ trứng còn chịu tác ñộng của môi trường như: thức ăn, tuổi gà, nhiệt ñộ xung quanh, stress và nhiều yếu tố khác
ðộ chịu lực của vỏ trứng ñược xác ñịnh bằng lực kế ép của Nhật Bản
+ Chỉ số lòng ñỏ, lòng trắng và ñơn vị Haugh
Khi ñánh giá chất lượng trứng, cần ñặc biệt chú ý ñến chỉ số lòng ñỏ, lòng trắng và ñơn vị Haugh Các chỉ số này càng cao thì tỷ lệ nở càng lớn và chất lượng trứng càng tốt (Tạ An Bình, 1973 [3])
Trang 29Chỉ số lòng ñỏ: chất lượng lòng ñỏ ñược xác ñịnh bởi chỉ số lòng ñỏ Chỉ
số lòng ñỏ là tỷ số giữa chiều cao lòng ñỏ so với ñường kính của nó Chỉ số lòng ñỏ của trứng gà tươi nằm giữa 0,40 - 0,42 Trứng có chỉ số lòng ñỏ càng lớn thì chất lượng trứng càng tốt
Chỉ số lòng trắng: là chỉ tiêu ñánh giá chất lượng lòng trắng, chỉ số này ñược tính bằng tỷ lệ giữa chiều cao lòng trắng ñặc so với trung bình cộng ñường kính lớn và ñường kính nhỏ của nó Chỉ số này càng lớn, chất lượng lòng trắng càng cao Khi nghiên cứu trên gà chỉ số này về mùa ñông cao hơn mùa xuân và mùa hè, giống gà nhẹ cân chỉ số này không dưới 0,09 và giống kiêm dụng 0,08; chỉ số này cao cho tỷ lệ ấp nở cao Như vậy chỉ số lòng trắng
bị ảnh hưởng bởi giống, tuổi và chế ñộ nuôi dưỡng
ðơn vị Haugh: ñơn vị Haugh ñược Haugh R xây dựng, sử dụng ñể ñánh giá chất lượng trứng, nó phụ thuộc vào khối lượng và chiều cao lòng trắng ñặc ðơn vị Haugh càng cao thì chất lượng trứng càng tốt Theo Uyterwal (2000) [70] ñơn vị Haugh bị ảnh hưởng bởi các yếu tố: thời gian bảo quản trứng, tuổi gia cầm mái (gà càng già ñơn vị Haugh càng thấp), bệnh tật, nhiệt
ñộ, giống gia cầm, Theo Peniond Jkevich và cộng sự (dẫn theo Bạch Thị Thanh Dân, 1999) [6], chất lượng trứng rất tốt có chỉ số Haugh 80-100, tốt: 79-65, trung bình: 64-55 và xấu < 55
Trịnh Xuân Cư và cs (2001) [5], nghiên cứu chất lượng của trứng gà Mía thu ñược kết quả lúc 38 tuần tuổi có chỉ số Haugh 87,4 Trứng gà Lương Phượng có chỉ số Haugh ở 38 tuần tuổi ñạt 94,4 và 60 tuần tuổi ñạt 91,1 (Nguyễn Huy ðạt và cs (2001) [7])
+ Khả năng thụ tinh và ấp nở
Kết quả thụ tinh là một chỉ tiêu quan trọng ñể ñánh giá về khả năng sinh sản của con trống và con mái Tỷ lệ thụ tinh phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tuổi, tỷ lệ trống mái, mùa vụ, dinh dưỡng, chọn ñôi giao phối,
Trang 30Tỷ lệ nở là một chỉ tiêu ựánh giá sự phát triển của phôi, sức sống của gia cầm non đối với những trứng có chỉ số hình dạng chuẩn, khối lượng trung bình của giống sẽ cho tỷ lệ ấp nở cao nhất
Chế ựộ ấp nở có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng ựến như chất lượng trứng, thời gian và chế ựộ bảo quản trứng, chế ựộ máy ấp, chế ựộ máy nở (nhiệt ựộ,
ẩm ựộ, thông thoáng, ựảo trứng, ) Hệ số di truyền về tỷ lệ trứng thụ tinh 13%, hệ số di truyền của tỷ lệ ấp nở 10-14% (Nguyễn Văn Thiện, 1995 [37])
11-2.1.3 Cơ sở khoa học của công tác lai tạo
2.1.3.1 Cơ sở khoa học của việc lai kinh tế
Lai kinh tế là lai giữa hai cơ thể thuộc hai dòng khác nhau cùng giống, khác giống hoặc thuộc hai giống khác loài Con lai này không ựể làm giống,
mà chỉ ựể lấy sản phẩm như thịt, sữa, trứng Lai kinh tế còn ựược gọi là lai công nghiệp vì chỉ dùng F1 làm sản phẩm, nên sản phẩm có thể sản xuất nhanh hàng loạt, có chất lượng, lại quay vòng ngắn (Trần đình Miên và Nguyễn Văn Thiện, 1995 [30]) Người ta tiến hành lai kinh tế là ựể sử dụng
ưu thế lai làm tăng nhanh mức ựộ trung bình tắnh trạng giữa hai giống gốc, hai dòng thuần Con lai có thể mang những ựặc tắnh trội của giống gốc bố, mẹ hoặc cũng có thể phối hợp ựược những ựặc tắnh của hai giống ựó
Năng suất vật nuôi phụ thuộc vào hai yếu tố, ựó là bản chất di truyền và ngoại cảnh Do vậy trong chăn nuôi có hai hướng chủ yếu ựể nâng cao năng suất vật nuôi là cải tiến bản chất di truyền của vật nuôi và cải tiến phương pháp chăn nuôi
Bên cạnh việc chọn lọc, nhân giống thuần chủng, lai tạo cũng là phương pháp cải tiến di truyền có hiệu quả cao và nhanh Trong công tác giống kể từ những giống vật nuôi ựầu tiên ựược tạo ra từ cuối thế kỷ XVIII, các giống mới thường cũng ựược hình thành qua con ựường lai tạo sau ựó mới ựược chọn lọc củng cố, ổn ựịnh tắnh trạng trở thành các dòng thuần Những giống
Trang 31gốc ban ựầu ắt nhiều có pha máu của nhiều giống khác nhau Cho ựến nay việc tạo ra sản phẩm phần lớn cũng ựều ựược thông qua lai tạo và việc lai tạo cũng ựã có ảnh hưởng tốt ựến sản lượng và chất lượng sản phẩm Các giống, dòng càng thuần bao nhiêu thì con lai càng có ưu thế lai cao bấy nhiêu (Trần đình Miên, Nguyễn Văn Thiện, 1995 [30])
Trong quá trình nghiên cứu di truyền, nguyên tắc hoàn toàn mới ựược Mendel ựưa vào ựể nghiên cứu, ựó là phương pháp lai, liên quan ựến việc nghiên cứu này ông ựã phát hiện và hình thành nên những qui luật cơ bản của di truyền Theo Trần đình Miên và Nguyễn Kim đường (1992) [29] căn cứ vào mục ựắch của lai tạo, người ta thường áp dụng những phương pháp lai khác nhau như lai kinh tế, lai luân chuyển, lai cải tiến (lai pha máu), lai cải tạo, lai phối hợp (lai tạo thành) Lai kinh tế là phương pháp phổ biến nhất
Muốn lai kinh tế có hiệu quả phải chọn lọc tốt các dòng thuần, trong ựó các cá thể dị hợp tử sẽ giảm ựi và các cá thể ựồng hợp tử sẽ tăng lên (Nguyễn
Ân và cs., 1983 [2] Giống gia súc, gia cầm là một quần thể gia súc, gia cầm Trong giống bao gồm các dòng, mỗi dòng có ựặc ựiểm chung của giống, nhưng lại có ựặc ựiểm di truyền riêng biệt Sự khác biệt mỗi dòng về kiểu gen chắnh là yếu tố quyết ựịnh sẽ làm xuất hiện ưu thế lai Người ta cho lai các dòng gà khác biệt về kiểu gen nhưng lại có khả năng kết hợp ựược trong cùng một cơ thể sinh vật Vì vậy phải chọn lọc các dòng gà trong các giống hoặc các dòng gà trong cùng một giống có khả năng kết hợp
Gia cầm lai không những chỉ thể hiện ựược chất lượng tổ hợp của những dòng thuần mà còn ựạt ựược hiệu quả của ưu thế lai 5-20% Có thể nói ựây là
sự ưu ựãi của thiên nhiên mà con người có thể sử dụng tốt, nếu nắm ựược qui luật của phương pháp này và biết cách tổ chức sản xuất, sử dụng các gia cầm lai giữa các dòng là một trong những vấn ựề quan trọng nhất (Hoàng Kim Loan, 1973 [22])
Trang 32Giangmisengu (1983) [11] cho rằng, người ta có thể dùng phép lai giữa các loài, hay tạo ra những dòng ñồng huyết và cho chúng lai với nhau
Trong những năm gần ñây, ngành chăn nuôi gia cầm trên thế giới ñang
có những thay ñổi cơ bản, những thay ñổi này liên quan tới việc áp dụng phương pháp sản xuất sản phẩm Bằng cách phối hợp tốt những dòng ñã ñược quy ñịnh và thông qua phương pháp lai, sẽ ñạt ñược hiệu quả ưu thế lai ở thế
hệ sau Trong chăn nuôi gia cầm khi lai kinh tế có thể lai ñơn hoặc lai kép
- Lai ñơn: là phương pháp lai kinh tế ñể sử dụng ưu thế lai Lai ñơn thường ñược dùng khi lai giữa giống ñịa phương và/hoặc các giống nhập nội cao sản Phương pháp này phổ biến và ñược sử dụng nhiều trong sản xuất gà kiêm dụng trứng thịt hoặc thịt trứng Nhằm tận dụng khả năng dễ nuôi, sức chống chịu cao của gà ñịa phương và khả năng lớn nhanh, sức ñẻ cao, ấp nở tốt, khối lượng trứng cao của gà nhập nội, gà Rhode Island Red, gà Leghorn ñược lai với gà Ri (Tạ An Bình, 1973 [3], Bùi Quang Tiến và cs., 1985 [41]) kết quả gà lai cho khối lượng cơ thể, sản lượng trứng, khối lượng trứng cao hơn gà Ri Thành công này ñã chứng minh hiệu quả của phương pháp lai ñơn
- Lai kép: là phương pháp lai phổ biến ñể tạo gà thương phẩm và ñược
sử dụng nhiều trong chăn nuôi gà công nghiệp, phương pháp này ngày càng ñược áp dụng nhiều trong việc tạo ra gà thương phẩm phù hợp với phương thức nuôi tập trung hoặc bán chăn thả
Hiện nay nghiên cứu và sử dụng ưu thế lai trong sản xuất, thực sự là ñòn bẩy ñể nâng cao năng suất Sự biểu hiện ưu thế lai rất ña dạng, phụ thuộc vào bản chất di truyền từng cặp lai và ñiều kiện môi trường Muốn sử dụng tốt ưu thế lai cần phải có những thử nghiệm nghiêm túc trong ñiều kiện cụ thể, ñối với từng cặp lai cụ thể
Trang 332.1.3.2 Cơ sở khoa học của ưu thế lai
- Lược sử và khái niệm về ưu thế lai:
Hiện tượng ưu thế lai ựã ựược biết và vận dụng từ lâu điển hình là việc
tạo con La, kết quả lai khác loài giữa ngựa cái (Equus caballus) và lừa ựực (Equus asinus) Con La nổi tiếng về sức khoẻ, sức dẻo dai và khả năng chịu
nóng (Hutt, 1978 [16], Trần đình Miên, 1994 [28]) Tuy nhiên việc nghiên cứu các hiện tượng trên một cách có hệ thống mới bắt ựầu từ hơn 200 năm nay Theo Nguyễn Ân và cs (1983) [2]) thì với công trình ỘTác dụng của giao phấn và tự thụ phấn trong giới thực vậtỢ của Darwin năm 1876 ựã chứng minh lợi ắch của tạp giao và tác hại của giao phối cận huyết
Tác giả Shull (1914, dẫn theo Vũ Kắnh Trực, 1992 [48]) ựưa ra thuật ngữ
Ộưu thế laiỢ (Heterosis) Briles và cs (1967, dẫn theo Nguyễn Ân và cs 1983
[2]) xác ựịnh ưu thế lai trên gà, tất cả ựều ựi ựến kết luận con lai có ưu thế hơn
bố mẹ về nhiều ựặc tắnh sản xuất quan trọng
Trong công tác giống, bên cạnh việc chọn lọc và nhân giống thuần chủng qua nhiều ựời ựể cải tiến bản chất di truyền của vật nuôi, thì thông qua con ựường lai tạo sẽ ựem lại hiệu quả trong thời gian ngắn hơn Ngày nay việc tạo
ra các loại sản phẩm phần lớn ựều ựược thông qua lai tạo và việc lai tạo ựã ảnh hưởng tốt ựến sản lượng và chất lượng của sản phẩm (Trần đình Miên,
1994 [28])
Trong lịch sử nghiên cứu về lai tạo, Darwin là người ựầu tiên ựã nêu lên lợi ắch của việc lai giống ựã ựi ựến kết luận Ộlai có lợi - tự giao là có hại ựối với ựộng vậtỢ Lai giống còn nhằm sử dụng hiện tượng sinh học quan trọng
ựó là ưu thế lai Lê đình Lương và Phan Cự Nhân (1994) [25] cho rằng có hai cách lớn nhất ựể nâng cao (cải tiến) bản chất di truyền mặc dù chúng ựều là thành phần và ựều có thể tiến hành ựồng thời cùng một lúc, ựó là chọn lọc nhân thuần và lai tạo giữa các giống, dòng
Trang 34Sự lai tạo ựược sử dụng rất nhiều trong chăn nuôi gia súc, gia cầm, nhằm khai thác thế mạnh của con lai, nên nó ựược áp dụng nhiều trong chăn nuôi gà công nghiệp, gà bán công nghiệp ở các nước ựang phát triển Chắnh là lai giữa các giống khác nhau ựã giúp cho việc quyết ựịnh chiến lược thắch hợp về công tác giống (Flock, 1996 [57])
Bouwman (2000) [52] cho rằng ắch lợi to lớn của lai giống là xuất hiện sức mạnh ở con lai còn gọi là ưu thế lai Con lai thường có sức chống chịu bệnh tật khoẻ hơn, sức sản xuất tốt hơn Mặc dù vậy, ưu thế lai không thể ựoán trước Sự khác biệt giữa hai giống càng lớn thì ưu thế lai càng lớn Ưu thế lai chỉ có thể xảy ra ở một công thức lai nào ựó, vì thế phải tiến hành nhiều công thức lai khác nhau, ưu thế lai không di truyền, nếu tiếp tục cho giao phối ựời con với nhau thì kết quả sẽ làm giảm ưu thế lai và giảm sự ựồng ựều Trong công tác lai tạo, người ta lại còn quan tâm rất nhiều ựến khả năng phối hợp, ựó là cách chọn những con giống gốc lai phù hợp với nhau nhằm tạo nên những tổ hợp gen mới, bao gồm các tắnh trạng vốn có ở giống gốc nhưng ở mức ựộ cao hơn theo mục ựắch (Trần đình Miên và Nguyễn Kim đường, 1992 [29]) Con lai F1 vượt hơn bố mẹ về sức sống, sự sinh trưởng, phát triển, khả năng sản xuất, sức chống chịu cũng như khả năng sử dụng các chất dinh dưỡng (Trần đình Miên và Nguyễn Văn Thiện, 1995 [30])
- Sự biểu hiện của ưu thế lai trong chăn nuôi:
Sự biểu hiện ưu thế lai trên cơ thể lai trong chăn nuôi rất ựa dạng, khác nhau ở các tắnh trạng Sự ưu việt của con lai không chỉ biểu hiện bằng sự lớn hơn về giá trị của tắnh trạng so với trung bình bố mẹ, mà còn biểu hiện bằng mức ựộ tối ưu của tắnh trạng, sự biểu hiện ưu thế lai có thể phân làm các loại sau (Nguyễn Ân và cs., 1983 [2], Kushner, 1974 [19], Trần đình Miên và Nguyễn Văn Thiện, 1995 [30]):
+ Con lai F1 của những công thức lai xa khác giống vượt bố mẹ về thể
Trang 35chất, tuổi thọ, sức làm việc, nhưng mất một phần hay mất hoàn toàn khả năng sinh sản ðiển hình là trường hợp con La như ñã nêu trên hay con Mullard (lai giữa vịt và ngan)
+ Con lai F1 vượt hơn trung bình của bố mẹ về khối lượng cơ thể và sức sống, có khả năng sinh sản bình thường hoặc tốt hơn bố mẹ ðiển hình là trường hợp lai giữa một số giống bò thịt hoặc một số giống lợn mà ở nước ta nhiều nhà khoa học ñã thực hiện
+ Con lai F1 có khối lượng cơ thể chỉ ở mức trung gian, song khả năng sinh sản, mức sống cao hơn hẳn bố mẹ ðiển hình là trường hợp lai giữa gà Leghorn trắng và gà New Hampshire, gà Plymouth Rock và gà Australorp + Con lai F1 biểu hiện ưu thế lai ñặc biệt là trường hợp nếu xét về một tính trạng riêng lẻ thì có kiểu di truyền trung gian nhưng sản phẩm cuối cùng một mặt nào ñó lại vượt hơn trung bình bố mẹ Trường hợp này có thể xẩy ra
ở bò, lợn, gà
Tóm lại: trên cơ thể lai, ưu thế lai không biểu hiện ñồng loạt ở tất cả các tính trạng, trên tất cả các giai ñoạn Sự biểu hiện này còn phụ thuộc vào từng cặp lai cụ thể, các yếu tố ngoại cảnh, giai ñoạn phát triển và từng cá thể
- Bản chất di truyền của ưu thế lai
Bản chất di truyền của ưu thế lai là trạng thái dị hợp tử ở con lai, từ ñó người ta nêu 3 giả thiết ñể giải thích về ưu thế lai (Nguyễn Ân và cs., 1983 [2], Lê Thị Ánh Hồng và cs., 1995 [13], Nguyễn Văn Thiện, 1995 [37])
+ Thuyết tập trung các gen trội có lợi
Trong quá trình tiến hoá, dưới áp lực của chọn lọc tự nhiên, các gen trội bất lợi bị ñào thải, gen trội có lợi ñược nhân lên Trong khi ñó các gen lặn bất lợi vẫn tồn tại ở trạng thái dị hợp, bên cạnh các gen trội có lợi Khi giao phối cận huyết, các quần thể sẽ phân hoá thành các dòng khác nhau ở trạng thái ñồng hợp theo các gen trội có lợi khác nhau Khi lai các dòng này với nhau
Trang 36dẫn ñến con lai F1 tập hợp ñược các gen trội có lợi ở các bố và các mẹ làm xuất hiện ưu thế lai Ví dụ có 5 locus gen cùng tham gia hình thành một tính trạng kinh tế Người ta cho rằng mỗi gen trội hoặc mỗi ñôi gen dị hợp tử Aa
có giá trị tính trạng là 2 ñơn vị (AA = Aa = 2) Mỗi ñôi gen lặn chỉ làm tăng giá trị tính trạng lên 1 ñơn vị (aa =1), ta có AA = Aa > aa Khi lai hai dòng cận huyết, con lai F1 có các tính trạng kinh tế cao hơn cả bố và mẹ, xuất hiện
Cặp nhiễm sắc thể tương ñồng ở mẹ (P1) A b C d E
A b C d E Cặp nhiễm sắc thể tương ñồng ở bố (P2) a B c D e
+ Thuyết dị hợp và siêu trội
Thuyết dị hợp: chính sự dị hợp của nhiều gen làm xuất hiện ưu thế lai Các gen khác nhau ở cùng một locus tổng hợp các protein chức năng khác
Trang 37nhau trong quá trình phát triển, nhờ vậy chúng bổ sung cho nhau làm xuất hiện ưu thế lai
Thuyết siêu trội: dựa vào thuyết dị hợp phát triển thêm, các gen ở trạng thái dị hợp có sự tương tác với nhau mạnh hơn so với các gen ựồng hợp Kết quả làm xuất hiện ưu thế lai ở F1: Aa > AA > aa
Có thể minh hoạ thuyết dị hợp và siêu trội, giải thắch ưu thế lai như sau: giả sử có 5 cặp gen tham gia xác ựịnh một tắnh trạng kinh tế Các kiểu gen ựồng hợp lặn ựóng góp 1 ựơn vị tắnh trạng, các kiểu gen ựồng hợp trội cho 1,5 ựơn vị tắnh trạng, các kiểu gen dị hợp sẽ cho 2 ựơn vị tắnh trạng
Giá trị kiểu hình: 1,5+1+1,5+1+1,5 = 6,5 1+1,5+1+1,5+1=6,0
+ Thuyết gia tăng tác ựộng tương hỗ của các gen không cùng locus
Cơ thể lai do có bản chất dị hợp mà sự tác ựộng tương hỗ giữa các gen không cùng một locus (I) ựược tăng lên, nhờ vậy tăng hiệu quả tác dụng ưu thế lai Vắ dụ ở các cơ thể ựồng hợp AABB thì chỉ xuất hiện một loại tác ựộng tương hỗ giữa A và B (A-B) Nhưng ở thể dị hợp AaBb có 6 loại tác ựộng tương hỗ: A-a; B-b; A-B; A-b; a-B và a-b trong ựó A-a và B-b là tác ựộng tương hỗ giữa các gen trên cùng alen, 4 loại còn lại là tác ựộng tương hỗ giữa các gen không cùng alen Ngoài ra có thể có thêm các loại tác ựộng tương hỗ cấp 2 như: Aa-B; Aa-b và các loại tác ựộng tương hỗ cấp 3 như Aa-Bb; Aa-bb Kết quả làm nâng giá trị kiểu hình, làm tăng hiệu quả ưu thế lai
Dựa trên sự kết hợp các giả thuyết, ựưa ra quan ựiểm về sự thay ựổi trạng thái hoạt ựộng của hệ thống enzym trong cơ thể sống là quá trình dị hợp
và tương tác với nhau của các cặp gen, mới có ưu thế lai Trần đình Miên và Nguyễn Kim đường (1992) [29] cho biết ưu thế lai phụ thuộc vào 2 yếu tố:
Trang 38trạng thái hoạt ñộng của dị hợp tử (d) và sự khác nhau của 2 quần thể xuất phát (y)
1 3
1 2
ở các tính trạng số lượng, còn tính trạng chất lượng thì ít ñược thể hiện Các tính trạng có hệ số di truyền cao (như tốc ñộ mọc lông, thành phần hoá học của thịt ) thì ít chịu ảnh hưởng của ưu thế lai
Theo Kushner (1978) [19] nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới ñã cho rằng, khi chọn ñúng cặp bố mẹ cho giao phối, con lai
có sức sống phôi và hậu phôi, sản lượng trứng tăng và chi phí thức ăn giảm Cho nên ñể có ưu thế lai thì phải chọn cặp bố, mẹ có khả năng phối hợp Bởi
vì khả năng ñó có sẵn ở gen con trống, con mái và phải ñược các nhà chọn giống có nhiều kinh nghiệm phát hiện và chọn phối
- Một số yếu tố ảnh hưởng ñến ưu thế lai
Mức ñộ biểu hiện của ưu thế lai phụ thuộc vào 4 yếu tố (Nguyễn Văn Thiện, 1995 [37]) Các yếu tố ñó là:
+ Nguồn gốc di truyền của bố mẹ: bố mẹ có nguồn gốc càng xa nhau thì
ưu thế lai càng cao và ngược lại
+ Tính trạng nghiên cứu: các tính trạng có hệ số di truyền thấp thì ưu thế lai cao và ngược lại
+ Công thức giao phối: ưu thế lai còn phụ thuộc vào việc sử dụng con
Trang 39vật nào làm bố và con vật nào làm mẹ
+ ðiều kiện nuôi dưỡng: nếu nuôi dưỡng kém thì ưu thế lai thấp và ngược lại
Theo Hull và Cole (1973) [62] mức ñộ biểu hiện của ưu thế lai bị ảnh hưởng bởi môi trường sống như ñịa ñiểm nuôi, chế ñộ dinh dưỡng, vị trí ñịa
lý Theo Blyth và Sang (1960) [51], Aggarwal và cs (1979) [50] và Horn và Kalley (1980) [61] ưu thế lai không những bị ảnh hưởng của chế ñộ chăm sóc, chuồng trại mà còn ảnh hưởng của mùa vụ ấp nở trong năm và nhiệt ñộ của môi trường
2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước
2.2.1 Tình hình nghiên cứu và phát triển chăn nuôi gia cầm trên thế giới
Do ñược quan tâm nên số ñầu con gia cầm của các nước ñang phát triển tăng nhanh từ năm 2000-2003 (Bảng 1.1)
Bảng 1.1 Số lượng gà ở các nước ñang phát triển
Sản lượng trứng gà trên toàn thế giới năm 2003 ñạt 55,8 triệu tấn; châu
Á là khu vực ñạt sản lượng cao nhất 33 triệu tấn (chiếm 59,14%), tiếp ñến là châu Âu 9,8 triệu tấn (chiếm 17,56%), khu vực Bắc Mỹ 7,9 triệu tấn, khu vực
Trang 40Trung Mỹ 2,9 triệu tấn; châu Phi 2,1 triệu tấn và thấp nhất là châu ðại Dương 0,2 triệu tấn Châu Á có mức tăng trưởng cao nhất, ñặc biệt Trung Quốc luôn
là nước ñứng ñầu thế giới về sản lượng trứng năm 2003 ñạt 22,332 triệu tấn chiếm 40,02% sản lượng trứng của toàn thế giới
Trên thế giới có 7 nước ñạt sản lượng trứng gà trên 1 triệu tấn: Trung Quốc 22,332 triệu tấn; Mỹ 5,123 triệu tấn; Nhật Bản 2,5 triệu tấn; Ấn ðộ 2,200 triệu tấn; Nga 2,04 triệu tấn; Mexico 1,882 triệu tấn; Brazil 1,55 triệu tấn Trong khi ñó Việt Nam là 0,2345 triệu tấn trứng gà ñứng thứ 30 trên thế giới
Mức tiêu thụ trứng gà/người/năm bình quân thế giới năm 2002 là 8,4 kg; cao nhất là Nhật Bản 19,1 kg; thấp nhất là Tadikistan 0,5 kg và ở Việt Nam là 2,6 kg
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Ngành chăn nuôi nói chung, chăn nuôi gia cầm nói riêng có những bước phát triển ñáng khích lệ, ñặc biệt từ những năm 90 trở lại ñây Theo số liệu của Tổng cục Thống kê về số lượng và sản lượng thịt gia cầm cho thấy ở bảng Bảng 2.2
Bảng 2.2 Số lượng ñàn gia cầm và sản lượng trứng, thịt gia cầm (Số liệu
thống kê, 2003) [35]
STT Diễn giải ðVT 2006 2007 2008 2009
Số lượng ñàn gia cầm triệu con 214,6 226,0 248,3 280,2
I
Số lượng ñàn thuỷ cầm triệu con 62,6 68,0 63,5 73,5
II Trứng gia cầm triệu quả 3.969,5 4.465,8 4.937,6 5.419,4
Từ 218 triệu con năm 2001 tăng lên 254 triệu con vào năm 2003 (tốc ñộ tăng ñàn giai ñoạn 2001-2003 là 8,5%/năm); từ cuối năm 2003 do ảnh hưởng dịch cúm gia cầm nên ñã làm giảm tổng ñàn gia cầm xuống còn 214,5 triệu con