Luận văn, khóa luận, chuyên đề, cao học, thạc sĩ, tiến sĩ
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học nông nghiệp hà nôi
-
Đỗ trọng dũng
Đánh giá hiệu quả kinh tế nuôi trồng thủy sản
ở các hộ nông dân huyện tiên du, tỉnh bắc ninh
Trang 2LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam đoan rằng: số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và ch−a đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng: mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đ1
đ−ợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đ1 đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, 2010
Đỗ Trọng Dũng
Trang 3Lời cảm ơn
Sau hai năm học tập tại trường Đại học Nông nghiệp - Hà Nội đến nay khoá học 2008 - 2010 sắp kết thúc Để vận dụng kiến thức đ1 học vào thực tiễn và làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, được phép của Nhà trường, khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, bộ môn Kinh tế nông nghiệp, tôi tiến hành thực hiện đề tài:
"Đánh giá hiệu quả kinh tế nuôi trồng thủy sản ở các hộ nông dân huyện Tiên Du - tỉnh Bắc Ninh"
Nhân dịp này cho tôi được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến:
- Ban giám hiệu, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, tập thể các thầy, cô giáo trong bộ môn Kinh tế nông nghiệp Trường Đại học Nông nghiệp - Hà Nội đ1 tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này;
- Thầy giáo GS -TS Đỗ Kim Chung, người đ1 trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
- Tập thể Viện Sau Đại học, Trường Đại học Nông nghiệp - Hà Nội, đ1 tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành khóa học và thực hiện luận văn
- Các cán bộ Cục thống kê, Chi Cục thủy sản tỉnh Bắc Ninh, Huyện ủy, UBND, Phòng NN&PTNT, Phòng thống kê huyện Tiên Du, l1nh đạo các x1 và các
hộ nông dân nuôi trồng thủy sản huyện ở huyện đ1 tạo điều kiện giúp đỡ cho tôi thu thập số liệu để tiến hành nghiên cứu và hoàn thành luận văn
- Tôi xin chân thành cảm ơn các nhà khoa học Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I, Trường CĐ thủy sản, các đồng nghiệp, người thân và bạn bè đ1 luôn ở bên tôi, động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện cả về vật chất lẫn tinh thần để tôi học tập và hoàn thành tốt luận văn
Hà Nội, 2010
Đỗ Trọng Dũng
Trang 4Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt và ký hiệu vi
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
2 Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế nuôi trồng thủy
3 Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu 31 3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 31
Trang 54 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 45 4.1 Thực trạng phát triển nuôi thuỷ sản huyện Tiên Du 45 4.1.1 Tình hình sử dụng diện tích mặt nước cho nuôi trồng thuỷ sản của huyện 45 4.1.2 Tình hình nuôi thuỷ sản của huyện Tiên Du 48 4.2 Hiệu quả kinh tế nuôi thuỷ sản ở các hộ nông dân huyện Tiên Du 60 4.2.1 Hiệu quả kinh tế nuôi thuỷ sản ở các hộ nông dân huyện Tiên Du theo
4.2.2 Đánh giá hiệu quả kinh tế nuôi thuỷ sản của các hộ nông dân huyện
Tiên Du theo quy mô diện tích 96 4.2.3 Hiệu quả kinh tế nuôi thuỷ sản của các hộ nông dân huyện Tiên Du
4.3 So sánh hiệu quả NTTS với hiệu quả trồng lúa trên ruộng trũng 107 4.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế nuôi thuỷ sản của các hộ 110 4.4.1 Trình độ kiến thức của nông hộ 110 4.4.2 Phương thức nuôi và loài nuôi 113 4.4.3 Kinh nghiệm nuôi trồng thủy sản của nông hộ 114
4.4.6 Quy mô diện tích nuôi 117
4.4.9 Thị trường tiêu thụ 120 4.5 Một số biện pháp nâng cao hiệu quả nuôi trồng thuỷ sản ở các hộ nông
4.5.1 Biện pháp nâng cao trình độ kiến thức về kỹ thuật nuôi trồng thủy sản
và tổ chức quản lý sản xuất của các nông hộ 122 4.5.2 Biện pháp lựa chọn phương thức nuôi và loài nuôi cho hiệu quả kinh tế cao 123
4.5.4 Biện pháp về thức ăn cho nuôi thủy sản 123 4.5.5 Biện pháp về môi trường ao nuôi 124
Trang 64.5.6 BiÖn ph¸p sö dông hiÖu qu¶ nguån vèn vµ tiÕt kiÖm chi phÝ 125 4.5.7 BiÖn ph¸p tiªu thô s¶n phÈm 126
Trang 7Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t vµ ký hiÖu
UBND ñy ban nh©n d©n
VAC V−ên- Ao- Chuång
XD X©y dùng
XDCB X©y dùng c¬ b¶n
Trang 8Danh mục các bảng
2.1 Diện tích và sản lượng nuôi trồng thuỷ sản thực tế năm 2005-2009 27 3.1 Giá trị sản xuất các ngành kinh tế huyện Tiên Du từ 2005 - 2008 36 3.2 Số hộ điều tra ở từng x1 39 4.1 Tình hình diện tích nuôi trồng thủy sản giai đoạn từ năm 2007-2009 46 4.2 Cơ cấu diện tích mặt nước NTTS của huyện Tiên Du giai đoạn 2007 - 2009 47 4.3 Số hộ và lao động NTTS huyện Tiên Du năm 2009 49 4.4 Độ tuổi và giới tính của các chủ hộ NTTS 50 4.5 Trình độ văn hóa của chủ hộ 50 4.6 Số năm NTTS của các chủ hộ 51 4.7 Công tác chuẩn bị ao nuôi 53 4.8 Các phương thức nuôi và mức độ thâm canh của các hộ NTTS 55 4.9 Cơ cấu nguồn vốn sản xuất của các hộ nuôi trồng thủy sản 57 4.10 Kết quả NTTS của huyện Tiên Du giai đoạn 2007 - 2009 59 4.11 Sản lượng nuôi thuỷ sản theo đối tượng nuôi huyện Tiên Du 59 4.12 Các loài cá, cỡ cá và cơ cấu thả bình quân cho 1 ha 62 4.13 Các loài cá và cơ cấu thả theo đối tượng nuôi chính 63 4.14 Tổng hợp chi phí cho 1 ha nuôi ghép cá ở Tiên Du 63 4.15 Sản lượng và giá trị thu được cho 1 ha nuôi ghép cá ở Tiên Du 64 4.16 Năng suất bình quân 1 ha nuôi ghép cá ở Tiên Du 64 4.17 Hiệu quả kinh tế mô hình nuôi ghép các loài cá trong ao tính cho 1 ha 65 4.18 Các loài cá và cơ cấu thả trong ao tính cho 1 ha ao kết hợp nuôi vịt 66 4.19 Tổng hợp chi phí NTTS cho 1 ha ao kết hợp nuôi vịt 67 4.20 Hiệu quả kinh tế NTTS cho 1 ha ao kết hợp nuôi vịt 67 4.21 Tổng hợp chi phí cho 1 ha kết hợp nuôi tôm càng xanh và trồng lúa 70 4.22 Hiệu quả kinh tế cho 1 ha kết hợp nuôi tôm càng xanh và trồng lúa 71 4.23 Tổng hợp chi phí cho 1 ha kết hợp nuôi cá và trồng lúa 73 4.24 Hiệu quả kinh tế cho 1 ha kết hợp nuôi cá và trồng lúa 74 4.25 Tập hợp chi phí cho 1 ha nuôi cá rô phi đơn tính 77 4.26 Hiệu quả kinh tế cho 1 ha nuôi cá rô phi đơn tính 78
Trang 94.27 Tập hợp chi phí cho 1 ha nuôi cá rô đồng 80 4.28 Hiệu quả kinh tế cho 1 ha nuôi cá rô đồng 81 4.29 Mật độ ương cá giống các loài 82 4.30 Chi phí 1 ha ương cá giống các loài 83 4.31 Hiệu quả kinh tế 1 ha ương cá giống các loài 84 4.32 Các chỉ tiêu kết quả và hiệu quả của các mô hình NTTS 85 4.33 So sánh kết quả và hiệu quả kinh tế phương thức nuôi đơn và nuôi
truyền thống trong ruộng trũng 96 4.38 Kết quả và hiệu quả kinh tế của các mô hình NTTS quy mô nhỏ 98 4.39 Kết quả và hiệu quả kinh tế của các mô hình NTTS quy mô vừa 100 4.40 Kết quả và hiệu quả kinh tế của các mô hình NTTS quy mô lớn 102 4.41 Chi phí sản xuất bình quân 1 ha của hộ NTTS theo mức độ đầu tư 104 4.42 Kết quả và hiệu quả kinh tế bình quân 1 ha của hộ NTTS theo mức độ
4.43 Tập hợp chi phí trồng lúa trên 1 ha ruộng trũng 108 4.44 Hiệu quả kinh tế trồng lúa trên 1 ha ruộng trũng 108 4.45 Hiệu quả kinh tế của các mô hình NTTS và trồng lúa 109 4.46 ảnh hưởng của trình độ văn hóa đến thu nhập của hộ 111 4.47 ảnh hưởng của việc tập huấn đến thu nhập của hộ 112 4.48 ảnh hưởng của kinh nghiệm nuôi trồng thủy sản đến thu nhập của hộ 115 4.49 ảnh hưởng của chất lượng giống đến năng suất và thu nhập 116 4.50 Chất lượng thức ăn ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế nuôi trồng thủy sản 117 4.51 ảnh hưởng của quy mô diện tích nuôi đến thu nhập của hộ 118 4.52 ảnh hưởng của môi trường ao nuôi đến thu nhập của hộ 119 4.53 ảnh hưởng của thị trường đến thu nhập của hộ 121
Trang 10Danh mục các biểu đồ
Trang 111.Mở đầu
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một trong những quốc gia trên thế giới có nghề nuôi trồng thủy sản phát triển và cũng là nước có lịch sử nuôi trồng thủy sản lâu đời Trải qua hàng ngàn năm lịch sử cho đến nay nuôi trồng thủy sản đ1 trở thành một bộ phận quan trọng đóng góp không nhỏ cho nền kinh tế quốc dân Nuôi trồng thủy sản đ1 trở thành một hoạt động sản xuất chủ yếu đối với rất nhiều ngư dân ở Việt Nam Nuôi trồng thủy sản không những là nhân tố đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển nông nghiệp nông thôn mà còn đóng một số vai trò nhất định trong nền kinh tế quốc dân, cung cấp thực phẩm hàng ngày cho nhân dân, cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến, ngành y, góp phần tăng tích lũy vốn, xuất khẩu thu về ngoại tệ cho nhà nước, tạo việc làm cho người lao động, góp phần vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Với hơn 3260 km bờ biển, 12 đầm phá và eo vịnh, 112 cửa sông, lạch, hàng ngàn đảo lớn nhỏ ven biển, hàng triệu ha vùng triều, lại thêm hệ thống sông, ngòi, kênh rạch chằng chịt cùng với các ao hồ tự nhiên, hồ thủy lợi, thủy điện, có khả năng nuôi trồng thủy sản Hơn nữa còn có hàng triệu ha ruộng trũng nếu chuyển đổi sang nuôi trồng thủy sản sẽ có hiệu quả cao hơn so với trồng lúa Tiềm năng đó cho phép nước ta phát triển nghề nuôi trồng thủy sản Trong 15 năm gần đây (1999- 2005) diện tích nuôi trồng thủy sản đ1 phát triển cả ba vùng nước: lợ, mặn, ngọt,
đang mở rộng ở nước lợ và vươn ra biển, với tốc độ nhanh bình quân khoảng 4- 5 % năm [5] Trong nuôi trồng thủy sản, đối tượng nuôi phong phú, hình thức nuôi đa dạng Nhiều giống loài thủy sản nuôi có giá trị kinh tế cao Nhiều hình thức nuôi như bán thâm canh, thâm canh xuất hiện đ1 trở thành mô hình sản xuất tiên tiến, đ1
và đang được mở rộng trong cả nước Trong những năm qua, phát triển nuôi trồng thủy sản đ1 được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm Sự quan tâm đó đ1 được thể hiện trong nội dung các văn kiện Đại hội Đảng, các quyết định của Chính Phủ,
Bộ, các Ngành và thực tiễn phát triển của nghề nuôi trồng thủy sản Đảng cộng sản Việt Nam (2001) đ1 nhấn mạnh: “Huy động các nguồn lực cần thiết để đẩy nhanh
Trang 12công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Tiếp tục phát triển và đưa nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp lên một trình độ mới Trong đó, phát huy lợi thế về thủy sản, tạo thành một ngành kinh tế mũi nhọn, vươn lên hàng đầu trong khu vực Phát triển mạnh nuôi trồng thủy sản nước ngọt, nước lợ, mặn, nhất là nuôi tôm theo phương thức tiến bộ, hiệu quả và bền vững môi trường” [ 15] Trong quyết định phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển ngành thuỷ sản đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 của Thủ tướng Chính Phủ, quan điểm phát triển là: “Phát triển ngành thuỷ sản thành một ngành sản xuất hàng hoá lớn, có năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh cao, có cơ cấu sản phẩm đa dạng, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng trong nước, đồng thời đẩy mạnh xuất khẩu, tiếp tục giữ vững là ngành có kim ngạch xuất khẩu cao và có tỷ trọng GDP đáng kể trong các ngành nông, lâm, ngư nghiệp trong các năm tới Phát triển ngành thủy sản nhanh và bền vững trên cơ sở khai thác, sử dụng tốt mọi tiềm năng về đất đai, mặt nước và lao
động, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; áp dụng nhanh các tiến bộ khoa học
- công nghệ sản xuất; tiếp tục chuyển dịch cơ cấu các ngành nghề sản xuất, kinh doanh, có cơ cấu hợp lý giữa khai thác với nuôi trồng, gắn sản xuất với chế biến, tiêu thụ sản phẩm và bảo vệ môi trường sinh thái ” [33]
Thực tiễn những năm qua, ngành thuỷ sản đ1 góp phần đáng kể vào việc tăng trưởng kinh tế của đất nước, đ1 tạo ra nhiều công ăn, việc làm tăng thu nhập cho nhiều người dân và mở ra hướng làm ăn đầy triển vọng góp phần xoá đói, giảm nghèo, chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn Vì vậy, phát triển nuôi trồng thủy sản đ1 trở thành nhu cầu bức thiết của cả nước nói chung và cảu các địa phương nói riêng nhằm tăng thu nhập trên một đơn vị diện tích canh tác,cải thiện cuộ sống và làm giàu cho nhân dân
Tiên Du là một huyện của tỉnh Bắc Ninh, thuộc khu vực đồng bằng Bắc Bộ,
có một tiềm năng lớn về diện tích mặt nước và diện tích ruộng trũng trồng lúa một
vụ, có năng suất thấp, có thể chuyển sang nuôi trồng thủy sản Đây là điều kiện phát triển nuôi trồng thuỷ sản Trong những năm qua, đặc biệt từ khi có chính sách chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp, huyện Tiên Du được đánh giá là một trong những địa phương đi đầu của tỉnh Bắc Ninh trong việc thực hiện các giải pháp lớn
Trang 13như: quy hoạch vùng sản xuất; hỗ trợ đất đai, vốn, đưa công nghệ mới vào sản xuất, góp phần giúp bà con đầu tư, khai thác hiệu quả diện tích nuôi trồng thủy sản, phát triển nuôi thuỷ sản theo hướng hàng hoá với mục tiêu tăng giá trị lên 2 - 4 lần so với
độc canh cây lúa Đến năm 2009, toàn huyện đ1 có trên 500 ha diện tích mặt nước, trong đó trên 390 ha ruộng trũng được chuyển đổi sang nuôi thả cá các loại, có 78
ha nằm trong các dự án đ1 được phê duyệt, tạo ra nhiều vùng sản xuất thuỷ sản tập trung, có giá trị kinh tế cao, thu hút nhiều lao động nông thôn Nhiều hộ có diện tích nuôi thả lớn, đạt thu nhập 60 - 100 triệu đồng/năm [27]
Cho đến nay, nuôi trồng thủy sản trên địa bàn huyện vẫn phát triển, đặc biệt ở các x1 có nhiều diện tích đất trũng, hiệu quả trồng lúa thấp ở các hình thức nuôi trồng thủy sản, với sự đầu tư cũng như trình độ thâm canh khác nhau, hiệu quả nuôi trồng khác nhau Do vậy vấn đề đặt ra là thực trạng NTTS ở các hộ nông dân huyện Tiên Du đang diễn ra như thế nào? Hiệu quả ra sao? Những nhân tố nào ảnh hưởng
đến hiệu quả NTTS? Nên lựa chọn mô hình nuôi thuỷ sản nào, ở qui mô nào thì có hiệu quả? Biện pháp nào cần tác động để nâng cao hiệu quả kinh tế của nuôi thuỷ sản? Đây là những vấn đề được các cấp uỷ Đảng, chính quyền đoàn thể và các hộ nông dân nuôi trồng thủy sản hết sức quan tâm
Để góp phần nhỏ của mình vào việc phát triển nghề nuôi trồng thuỷ sản của huyện Tiên Du Được sự nhất trí của Khoa kinh tế, Viện đào tạo sau đại học Trường
Đại học nông nghiệp Hà Nội và giáo viên hướng dẫn, tôi lựa chọn đề tài: "Đánh giá hiệu quả kinh tế nuôi thuỷ sản ở các hộ nông dân huyện Tiên Du - tỉnh Bắc Ninh" làm luận văn thạc sĩ kinh tế
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
* Mục tiêu chung
Đánh giá đúng hiệu quả kinh tế nuôi thuỷ sản ở các hộ nông dân huyện Tiên
Du, tỉnh Bắc Ninh, từ đó đưa ra biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế nuôi trồng thuỷ sản ở các hộ trên địa bàn huyện
* Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế trong nuôi trồng thuỷ sản ở các hộ nông dân
Trang 14- Tìm hiểu thực trạng phát triển nghề nuôi trồng thủy sản của huyện Tiên Du trong những năm qua
- Đánh giá thực trạng hiệu quả kinh tế và xác định những nhân tố ảnh hưởng
đến hiệu quả kinh tế nuôi trồng thuỷ sản ở các hộ nông dân của huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh
- Đề xuất một số biện pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế nuôi trồng thuỷ sản ở các hộ nông dân huyện Tiên Du trong các năm tới
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề kinh tế - kỹ thuật liên quan đến các phương thức nuôi trồng thủy sản và hiệu quả kinh tế nuôi trồng thuỷ sản huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh
- Đối tượng nghiên cứu là các hộ nông dân đang nuôi trồng thủy sản, ở các x1 của huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: đánh giá hiệu quả kinh tế nuôi trồng thuỷ sản ở các hộ nông dân theo các phương thức nuôi, quy mô diện tích nuôi và mức độ đầu tư trong vùng nghiên cứu
- Về không gian: đề tài tiến hành nghiên cứu trên địa bàn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh
- Về thời gian: nghiên cứu thực trạng phát triển nuôi thuỷ sản tại huyện Tiên
Du qua các năm 2007 - 2009, kết quả nuôi trồng thủy sản của các hộ năm 2009 Từ
đó đưa ra một số biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế nuôi thuỷ sản của vùng này trong thời gian tiếp theo
Trang 152 Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế nuôi trồng thủy sản ở hộ nông dân
2.1 Khái niệm về hiệu quả kinh tế nuôi trồng thủy sản ở các hộ nông dân
Hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ đang quá độ sang sản xuất hàng hóa Trong kinh tế hộ [22], nông dân là chủ thể sản xuất đồng thời là chủ thể lợi ích, các thành viên trong hộ làm việc một cách tự chủ, tự nguyện vì lợi ích kinh tế của bản thân và gia đình mình, nên đ1 tạo ra động lực thúc đẩy nền nông nghiệp chuyển sang sản xuất hàng hóa Kinh tế hộ nông dân NTTS là hình thức tổ chức sản xuất NTTS trong nông nghiệp nông thôn của nước ta [43] Vì vậy, việc nghiên cứu hiệu quả kinh tế NTTS của hộ nông dân là nghiên cứu hiệu quả kinh tế của hình thức tổ chức sản xuất NTTS trong nông nghiệp Việc nghiên cứu, đánh giá hiệu quả kinh
tế NTTS của hộ nông dân là nghiên cứu đánh giá nó một cách đúng đắn có ý nghĩa quan trọng để chúng ta xem xét vai trò và tác dụng của kinh tế NTTS đối với việc phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn nói riêng và phát triển kinh
tế Việt Nam nói chung Muốn đánh giá đúng hiệu quả kinh tế NTTS của hộ nông dân một cách toàn diện, chúng ta không căn cứ vào một chỉ tiêu nào đó mà cần phải thiết lập một hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế NTTS cho phù hợp với đặc điểm NTTS của hộ Từ quan điểm đó, để đánh giá hiệu quả kinh tế NTTS của hộ nông dân, theo tôi cần đánh giá trên các góc độ sau:
Kết quả sản xuất kinh doanh NTTS của hộ nông dân là những gì thu được sau một quá trình sản xuất kinh doanh NTTS (thường tính là một năm), đó là sản lượng sản phẩm thủy sản nuôi trồng, giá trị sản xuất, thu nhập mà các hộ thu được sau khi
sử dụng các nguồn lực của mình như đất đai, mặt nước, lao động, tiền vốn hay nói cách khác là chi phí sản xuất Kết quả cao hay thấp, một mặt phụ thuộc nhiều đến chất lượng nguồn lực như độ màu mỡ, pH của môi trường nuôi còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như trình độ sử dụng các nguồn lực, sự hiểu biết kỹ thuật NTTS, khả năng tổ chức sản xuất, kinh nghiệm, v.v của chủ hộ
Trong điều kiện nguồn lực để NTTS có hạn của hộ nông dân, vấn đề đặt ra
là làm sao sử dụng các nguồn lực một cách tiết kiệm, mang lại kết quả cao hơn
Trang 16bằng các biện pháp kỹ thuật, kỹ thuật thâm canh, hình thức nuôi, cách thực hiện quy trình kỹ thuật nuôi, cách tổ chức quản lý sản xuất v.v Đó chính là hiệu quả kinh tế của hộ nông dân Nếu nói kết quả phản ánh quy mô của cái “được” thì hiệu quả phản ánh trình độ tận dụng các nguồn lực của hộ nông dân để tạo ra cái
“được” đó Vì vậy, hiệu quả kinh tế NTTS của các hộ là so sánh các phương án
sử dụng nguồn lực của các hộ đó [35] Cùng một điều kiện NTTS hay cùng một loại sản phẩm đầu ra nhưng mỗi hộ nông dân tạo ra kết quả khác nhau Như vậy,
so sánh các phương án hay so sánh các kết quả khác nhau trong cùng một điều kiện NTTS đó chính là hiệu quả kinh tế NTTS
* Khi đề cập tới hiệu quả các nguồn lực, thông thường người ta nói tới hiệu quả kinh
tế và việc sử dụng các nguồn lực đó Hiệu quả sản xuất đ+ được nhiều nhà kinh tế bàn tới và đều thống nhất là phải phân biệt rõ 3 khái niệm cơ bản về hiệu quả
- Hiệu quả kỹ thuật: là số lượng sản phẩm có thể đạt được trên 1 chi phí đầu vào hay nguồn lực sử dụng trong sản xuất với những điều kiện cụ thể về kỹ thuật hay công nghệ áp dụng vào sản xuất hiệu quả kỹ thuật thường được phản ánh trong mối quan hệ về hàm sản xuất, nó liên quan tới phương tiện vật chất của sản xuất, chỉ ra rằng một đơn vị nguồn lực dùng vào sản xuất đem lại bao nhiêu đơn vị sản phẩm hoặc tăng thêm bao nhiêu đơn vị sản phẩm
- Hiệu quả phân bổ: là chỉ tiêu hiệu quả trong đó các yếu tố giá sản phẩm và giá đầu vào được đưa vào tính toán, để phản ánh giá trị sản phẩm thu trên một đơn vị chi phí thêm về đầu vào hay nguồn lực Thực chất của hiệu quả phân bổ là hiệu quả
kỹ thuật có tính đến các yếu tố về giá đầu vào và giá đầu ra Việc xác định hiệu quả phân bổ giống như xác định các điều kiện về lý thuyết biên để tối đa hoá lợi nhuận,
có nghĩa là giá trị biên của sản phẩm phải bằng giá trị biên của nguồn lực sử dụng vào sản xuất
- Hiệu quả kinh tế: là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt cả hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ Điều đó có nghĩa là các yếu tố hiện vật và yếu tố giá trị
đều tính đến khi xem xét viiệc sử dụng nguồn lực Chỉ khi nào việc sử dụng nguồn lực đạt cả hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ thì khi đó sản xuất mới đạt hiệu
Trang 17quả kinh tế Sự khác nhau về hiệu quả kinh tế của các doanh nghiệp có thể do sự khác nhau giữa hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ (xem đồ thị 2.1)
Đồ thị 2.1: Quan hệ giữa hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ
Trong đó: PPE là đường giới hạn khả năng sản xuất
Hiệu quả kỹ thuật (TE) =
1Y Y2
Hiệu quả phân bổ (AE) = 1*
Y Y
Hiệu quả kinh tế (EE) =
1Y
- Quan hệ giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả kỹ thuật :
Hiệu quả kỹ thuật là chỉ hiệu quả kinh tế đạt được sau khi ứng dụng kỹ thuật mới vào sản xuất Trong nuôi trồng thủy sản có sự kết hợp chặt chẽ giữa quá trình tái sản xuất tự nhiên và quá trình tái sản xuất kinh tế Vì vậy, hiệu quả kỹ thuật nuôi
Trang 18trồng thủy sản ngoài trình độ khoa học kỹ thuật quyết định còn chịu ảnh hưởng nhiều của điều kiện tự nhiên Kỹ thuật chính là sức sản xuất trực tiếp, bất kỳ một hoạt động sản xuất nào cũng phải áp dụng một biện pháp kỹ thuật nhất định Việc sử dụng bất kỳ các biện pháp kỹ thuật cần thiết nào cũng tiêu hao nguồn nhân lực, vật lực, tài lực và tài nguyên thiên nhiên nhất định Vì vậy, việc áp dụng hay không áp dụng một biện pháp kỹ thuật nào đó, không những cần xem xét biện pháp kỹ thuật
đó tốt hay kém, mà còn phải xem nó có phù hợp với điều kiện kinh tế của chủ thể sản xuất hay không Đây chính là điều khẳng định trong sản xuất, kỹ thuật không thể tách rời kinh tế và ngược lại kinh tế không thể tách rời kỹ thuật Kỹ thuật đơn thuần hay kinh tế đơn thuần đều không thể tồn tại Quan hệ giữa kỹ thuật và kinh tế trong sản xuất kinh doanh chuyển thành quan hệ giữa hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả kinh tế Hiệu quả kỹ thuật là cơ sở cho hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế là biểu hiện cuối cùng của hiệu quả kỹ thuật
Đối với huyện Tiên Du, các hộ NTTS là các hộ nông dân, họ vừa làm nông nghiệp, vừa NTTS và các hộ chuyên NTTS, nên khi nghiên cứu, đánh giá hiệu quả kinh tế NTTS, tôi chỉ nghiên cứu, đánh giá hiệu quả kinh tế NTTS của các hộ ở huyện, còn hiệu quả từ các hoạt động sản xuất kinh doanh khác của nông hộ không
đề cập đến trong nghiên cứu này
2.2 Bản chất và ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả kinh tế nuôi trồng thủy sản
ở hộ nông dân
Bản chất của hiệu quả kinh tế là sự thoả m1n mục đích của các hoạt động sản xuất kinh doanh trong những điều kiện nhất định của đơn vị sản xuất nói riêng hay của nền kinh tế nói chung
Bất kỳ một quốc gia nào hay một đơn vị nào khi đi vào hoạt động sản xuất
đều mong muốn với nguồn lực có hạn có thể tạo ra được lượng sản phẩm nhiều nhất, với giá trị và chất lượng cao nhất để từ đó thu được lợi nhuận lớn nhất Nâng cao hiệu quả kinh tế là cơ hội để tăng được lợi nhuận từ đó làm cơ sở để nhà sản xuất, tích luỹ vốn và tiếp tục đầu tư tái sản xuất mở rộng, cải thiện thu nhập của người lao động
Trang 19Nâng cao hiệu quả kinh tế là quá trình tất yếu của sự phát triển x1 hội, tuy nhiên
ở các vị trí khác nhau thì có mục đích khác nhau Đối với người sản xuất, tăng hiệu quả chính là tăng lợi nhuận, đối với người tiêu dùng thì tăng hiệu quả chính là khi họ nâng cao được độ thoả dụng khi sử dụng hàng hoá[ 8] Như vậy nâng cao hiệu quả kinh tế là làm cho cả x1 hội có lợi, bởi lẽ lợi ích của cả người sản xuất và người tiêu dùng đều
được nâng lên
Vào những năm đổi mới của đất nước, do kinh tế phát triển, thu nhập bình quân của người dân được nâng cao, nhu cầu về sản phẩm thủy sản tăng, do đó cung không đáp ứng đủ cầu Việc suy giảm về sản lượng đánh bắt cũng làm tăng thêm mâu thuẫn Vì vậy, Nhà nước đ1 ban hành một loạt các chính sách ưu đ1i nhằm phát triển ngành nghề nuôi trồng thủy sản như đầu tư cơ sở hạ tầng, cho vay vốn với l1i suất thấp, miễn thuế Nhờ đó đ1 thúc đẩy ngành nuôi trồng thủy sản phát triển nhanh chóng Tuy nhiên, nuôi trồng thủy sản ở một số nơi đ1 dẫn đến xu hướng thiên về tốc độ và sản lượng Một vài nơi bất chấp thực tế khách quan đ1 áp dụng kỹ thuật nuôi trồng thiếu khoa học, làm cho hiệu quả kinh tế giảm, thậm chí bị thua lỗ kéo dài Vì vậy, làm thế nào để xử lý tốt mối quan hệ giữa tốc độ phát triển của nuôi trồng thủy sản và hiệu quả Việc căn cứ vào điều kiện sản xuất từng vùng để lựa chọn kỹ thuật nuôi trồng thủy sản mang một ý nghĩa thực tiễn hết sức quan trọng
Mặt khác, để tận dụng tối đa diện tích mặt nước cần nuôi trồng thủy sản đa canh nhiều đối tượng, với nhiều chủng loại và kích cỡ khác nhau trong một môi trường nước Trong điều kiện sản xuất hiện đại, đối với từng loại kỹ thuật nuôi trồng, rất khó phân biệt và thử nghiệm ảnh hưởng của chúng đến kích cỡ và chủng loại sản phẩm, cũng như mức độ ảnh hưởng của chúng Điều đó đòi hỏi chúng ta phải tăng cường nghiên cứu và tìm kiếm các giải pháp kinh tế- kỹ thuật nuôi trồng nhằm đưa ra phương pháp đánh giá khách quan đối với hiệu quả kinh tế của các biện pháp kỹ thuật nuôi trồng, nâng cao sức sản xuất của các hộ
Trong nền kinh tế thị trường x1 hội chủ nghĩa, sự chuyển nhượng và sử dụng
kỹ thuật đều mang tính hoàn lại Như vậy, trong nuôi trồng thủy sản việc áp dụng biện pháp kỹ thuật nào, hình thức nuôi nào đều phải suy tính đến hiệu quả kinh tế, tính toán đến lợi ích kinh tế mà kỹ thuật đem lại và chi phí bỏ ra đầu tư Vì vậy, cần
Trang 20tiến hành phân tích và đánh giá hiệu quả kinh tế đối với từng biện pháp kỹ thuật nuôi trồng nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế
Như vậy, nghiên cứu hiệu quả kinh tế trong nuôi trồng thuỷ sản, có vai trò:
- Góp phần giảm chi phí và phát triển sản xuất cho ổn định và phát triển NTTS, tận dụng tối đa diện tích hiện có, làm tăng giá trị cho tài nguyên đất, góp phần phát triển cân đối bền vững và ổn định trong sản xuất ở nông thôn vùng đất trũng
- Nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất trũng thông qua chuyển đổi phương thức sản xuất phù hợp
- Hiệu quả sử dụng các yếu tố sản xuất và áp dụng tiến bộ khoa học trong nuôi trồng thủy sản
- Hiệu quả x1 hội: tạo việc làm, tăng thu nhập và làm giàu cho nông dân, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế
- Hiệu quả môi trường: giảm ô nhiễm môi trường
* Hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp tại các vùng đất trũng
Thực tế ở nước ta cho thấy tại các vùng úng trũng, việc sử dụng đất nông nghiệp cho hiệu quả kinh tế thường thấp hơn những vùng khác, đặc biệt khi chưa có
sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi mà chỉ độc canh cây lúa
Trong những năm gần đây, Nhà nước có chủ trương thực hiện chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên những vùng đất trũng từ đó hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp ở những nơi này cũng được nâng lên rõ rệt [23]
Tóm lại: nâng cao hiệu quả kinh tế nuôi trồng thủy sản ở hộ nông dân có ý nghĩa rất quan trọng Nó giúp các địa phương cung như nông dân sử dụng đất đai diện tích mặt nước và các nguồn lực cho sản xuất nuôi trồng thủy sản một cách tiết kiệm và hiệu quả, nâng cao thu nhập cho các nông hộ nói riêng và cho cộng đồng nói chung
2.3 Nội dung nghiên cứu hiệu quả kinh tế nuôi trồng thủy sản ở các hộ nông dân
Để đánh giá được hiệu quả kinh tế cần dựa vào hệ thống chỉ tiêu, hệ thống chỉ tiêu đánh giá, hiệu quả kinh tế phải xuất phát từ bản chất của hiệu quả và phải
đáp ứng được các yêu cầu sau [23]:
Trang 21- Phải đảm bảo tính thống nhất về nội dung với hệ thống chỉ tiêu của nền kinh tế quốc dân nói chung và ngành nông nghiệp nói riêng
- Phải đảm bảo tính toàn diện và tính hệ thống, tính toàn diện thể hiện ở chỗ phải có đầy đủ các chỉ tiêu tổng quát, chỉ tiêu bộ phận, chỉ tiêu chủ yếu, chỉ tiêu bổ sung; tính hệ thống thể hiện ở chỗ, nó phải là một bộ phận thống nhất của hệ thống chỉ tiêu cùng loại trong hệ thống chỉ tiêu của nền kinh tế quốc dân
Phương pháp tính hiệu quả kinh tế nuôi trồng thủy sản ở hộ nông dân phải nhất quán đảm bảo có thể so sánh được hiệu quả kinh tế ở các vùng khác nhau, các
hộ khác nhau và có khả năng so sánh giữa các phương thức hay loài nuôi khác nhau
Hệ thống chỉ tiêu hiệu quả kinh tế nuôi trồng thủy sản ở các hộ nông dân bắt nguồn từ đặc điểm bản chất hiệu quả kinh tế nuôi trồng thủy sản ở hộ Đó là mối quan
hệ giữa các yếu tố đầu vào và đầu ra [8] và được xác định bằng các chỉ tiêu cơ bản sau :
* Chỉ tiêu thu nhập :
Thu nhập = Kết quả thu được - Chi phí bỏ ra Công thức này cho ta nhận biết qui mô hiệu quả nuôi trồng thủy sản của các hộ nông dân Kết quả thu được từ hoạt động sản xuất nuôi trồng thủy sản của các hộ
được xác định theo chỉ tiêu tổng giá trị sản xuất NTTS
+ Tổng giá trị sản xuất nuôi trồng thủy sản là toàn bộ giá trị sản phẩm nông nghiệp, thuỷ sản nuôi trồng sản xuất ra trong năm theo giá bán thực tế kể cả sản phẩm chính và sản phẩm phụ Trong nuôi trồng thủy sản, sản phẩm là số lượng sản phẩm thu hoạch trong cả một năm, không phải chỉ là số lượng sản phẩm thu hoạch trong một vụ sản xuất [34] Vì chỉ số lượng sản phẩm thu hoạch trong 1 năm mới nêu được thành tích nơi đ1 đầu tư khoa học kỹ thuật, cơ sở hạ tầng, giống, để tăng
vụ sản xuất trong một năm, làm ra nhiều sản phẩm hơn trên diện tích đ1 có Sản phẩm nuôi trồng thuỷ sản chỉ có tính theo giá bán của người sản xuất, giá thực tế mới phản ảnh được sản phẩm đó có thích hợp với nhu cầu thị trường hay không, thích hợp đến mức độ nào Sản phẩm sản xuất phù hợp với thị trường mới bán được
và bán với giá hợp lý Như vậy, sản phẩm được tính theo giá bán của người sản xuất, giá bán thực tế là hoàn toàn đúng đắn Số lượng sản phẩm sản xuất được người sản xuất tiêu dùng, hay cho, biếu cũng tính theo giá sản phẩm người sản xuất bán
Trang 22+ Chi phí sản xuất bỏ ra [34], có thể biểu hiện theo các phạm vi tính toán sau:
- Chi phí bằng tiền: Là toàn bộ các khoản chi phí thường xuyên bằng tiền mà nông hộ bỏ ra để mua và thuê các yếu tố đầu vào và chi phí dịch vụ trong thời kỳ sản xuất ra tổng sản phẩm đó
- Tổng chi phí vật chất: Là toàn bộ các khoản chi phí chi phí vật chất tính bằng tiền, gồm chi phí bằng tiền cộng với khoản chi phí khấu hao tài sản cố
định, khoản tiền thuế và chi phí tài chính khác trong quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm đó
- Tổng chi phí sản xuất: Là tổng hao phí tính bằng tiền của các nguồn tài nguyên và các chi phí dịch vụ vật chất khác tham gia vào quá trình sản xuất ra tổng sản phẩm đó Trong nuôi trồng thủy sản, chi phí sản xuất bao gồm tất cả chi phí vật chất (như giống, thức ăn, phân bón, công cụ dụng cụ, thuốc phòng trừ dịch bệnh.v.v ,) để sản xuất ra sản phẩm và tiền công trả cho lao động thuê ngoài, không tính lao động của người chủ sản xuất và gia đình họ
Chỉ tiêu thu nhập cho chúng ta biết được mức thu nhập của hộ lớn hay nhỏ nhưng lại không phản ánh được hiệu quả của một đồng vốn đầu tư
* Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng các nguồn lực:
Để có sự so sánh một cách xác đáng hơn người ta thường dùng kết hợp với chỉ tiêu tương đối Chỉ tiêu này cho ta biết mức độ hiệu quả của đầu tư và được dùng khá phổ biến trong so sánh và đánh giá hiệu quả kinh tế
Kết quả thu được Hiệu quả =
Chi phí bỏ ra
Công thức này phản ánh rõ hiệu quả sử dụng các nguồn lực sản xuất Từ công thức chung này, ta có thể tính được các chỉ tiêu như: tỷ suất giá trị sản xuất tính theo tổng chi phí, chi phí một đầu vào cụ thể nào đó
Trong nuôi trồng thủy sản, người ta thường dùng các chỉ tiêu chủ yếu sau : + Chỉ tiêu giá trị sản xuất nuôi trồng thủy sản trên một đơn vị diện tích: Giá trị sản xuất nuôi trồng thủy sản trên một đơn vị diện tích là toàn bộ giá trị sản phẩm thuỷ sản nuôi trồng sản xuất ra trong năm theo giá bán thực tế trên một
Trang 23+ Giá trị sản xuất / tổng chi phí: chỉ tiêu này cho biết một đồng chi phí bỏ ra
đem lại bao nhiêu đồng giá trị sản xuất
+ Thu nhập / tổng chi phí: chỉ tiêu này cho biết một đồng chi phí bỏ ra đem lại bao nhiêu đồng thu nhập
+ Giá trị sản xuất/ lao động gia đình: chỉ tiêu này cho biết một công lao động gia đình đem lại bao nhiêu đồng giá trị sản xuất
+ Thu nhập /lao động gia đình: chỉ tiêu này cho biết một công lao động gia
đình đem lại bao nhiêu đồng thu nhập
Trong thực tiễn, khi đánh giá hiệu quả kinh tế người ta thường dùng kết hợp cả 2 chỉ tiêu tương đối và tuyệt đối, hai chỉ tiêu này bổ sung cho nhau cho ta đánh giá hiệu quả kinh tế một cách đầy đủ và chính xác hơn
2.4 Đặc điểm hiệu quả kinh tế nuôi trồng thủy sản ở các hộ nông dân
a Biểu hiện của quy luật giảm dần về chi phí sản xuất là không rõ rệt:
Bất kỳ một hoạt động kinh tế nào cũng theo đuổi mục đích: sản lượng lớn nhất, lợi nhuận cao nhất, giá thành sản phẩm nhỏ nhất Sản lượng chính là cơ sở của hiệu quả, không có sản lượng thì không có hiệu quả Nhưng đối tượng nuôi trồng thủy sản là động thực vật thủy sản có giá trị kinh tế sinh sống trong môi trường nước, là những cơ thể sống, biểu hiện của quy luật giảm dần về chi phí sản xuất là không rõ rệt, tức là sản lượng tối đa nhưng hiệu quả không nhất thiết là tối đa Hơn nữa, sản lượng trong điều kiện kỹ thuật nhất định cũng không thể tăng lên một cách
Trang 24vô hạn Hệ số sử dụng thức ăn tăng, dẫn đến hiệu quả kinh tế giảm xuống Cùng một sản lượng, nhưng do cơ cấu sản phẩm và kích cỡ sản phẩm khác nhau dẫn tới doanh thu và giá thành sản phẩm cũng khác nhau, hiệu quả kinh tế khác nhau Có phương thức nuôi trồng, tuy tỷ lệ lợi nhuận trên giá thành sản phẩm rất cao, nhưng sản lượng không đáp ứng được nhu cầu thị trường Vì vậy, trong thực tế nuôi trồng thủy sản, sản lượng, chất lượng, giá thành sản phẩm, hiệu quả kinh tế, trên lý luận đều có một giới hạn nhất định, cần phải tiến hành xây dựng các luận chứng kinh tế kỹ thuật cụ thể đối với các biện pháp nuôi trồng [7 ]
b Khó xác định được hiệu quả kinh tế của từng loài nuôi:
Trong một thủy vực, có thể nuôi ghép nhiều đối tượng thủy sản khác nhau Qua sản xuất, người lao động đ1 thấy rằng giữa các loài cá nuôi có mối quan hệ tương hỗ, nuôi ghép nhiều loài có thể tận dụng được diện tích mặt nước và thức ăn trong thủy vực, tăng mật độ giống nuôi thả Đây chính là một biện pháp nhằm nâng cao sản lượng nuôi trồng thủy sản Các loài cá nuôi ở Việt Nam gồm rất nhiều loại, kích cỡ khác nhau vì vậy khi nuôi thả, cần nuôi ghép các loài có phổ thức ăn khác nhau, có kích cỡ khác nhau nhằm tận dụng được nguồn thức ăn của vùng nước để nâng cao năng suất và sản lượng các đối tượng nuôi trồng
Một nhân tố quan trọng trong nuôi trồng thủy sản là thức ăn Trong nuôi trồng thủy sản, ngoài việc sử dụng các loại thức ăn tự nhiên, còn phải sử dụng thức
ăn nhân tạo Có như vậy mới có thể đáp ứng được nhu cầu của đối tượng nuôi trồng Mật độ nuôi thả tăng, số lượng thức ăn cho ăn tăng, tỷ lệ chi phí thức ăn so với tổng chi phí sản xuất tăng lên, sản lượng sản phẩm sản xuất tăng, hiệu quả sản xuất tăng Mặt khác, nếu cung cấp thức ăn không đầy đủ, sản lượng sản phẩm sản xuất giảm, hiệu quả sản xuất giảm
Ngoài chi phí thức ăn, trong ao nuôi các hộ nông dân còn phải bỏ vào nhiều chi phí khác như phân bón, điện nước, khấu hao ao Tất cả các chi phí bỏ ra được tính cho cả ao nuôi hay cho tất cả các loài nuôi trong ao Người dân không thể xác
định được mỗi loài nuôi sử dụng hết bao nhiêu chi phí Về sản lượng hay giá trị sản lượng có thể xác định được cho từng loài nhưng không xác định được chi phí tiêu hao cho từng loài đó, vì vậy việc xác định hiệu quả kinh tế cho từng loài trong ao
Trang 25nuôi ghép nhiều loài khó xác định được
c Khó xác định được hiệu quả kinh tế cho từng vụ hay sau mỗi lần thu hoạch:
Do đặc điểm của sản xuất nuôi trồng thủy sản là lệ thuộc rất nhiều vào điều kiện khí hậu và tự nhiên Trong nuôi trồng thủy sản ngoài sự tác động trực tiếp của con người, các đối tượng nuôi còn chịu sự tác động của môi trường tự nhiên Trong nuôi trồng thủy sản, quá trình tái sản xuất kinh tế xen kẽ với quá trình tái sản xuất tự nhiên, do đó nuôi tồng thủy sản mang tính thời vụ rõ rệt Hay nói cách khác thời gian sản xuất nuôi trồng thủy sản diễn ra theo mùa vụ Mỗi đối tượng nuôi trồng, các giai đoạn sinh trưởng, phát triển diễn ra trong các khoảng thời gian khác nhau của mùa vụ sản xuất, bởi vậy việc thu hoạch và tiêu thụ diễn ra trong các thời gian khác nhau trong thời gian sản xuất Bởi vậy, có thời gian nông hộ chỉ bỏ chi phí mà không có thu, có thời gian có thu hoạch nhưng doanh thu không đủ bù đắp chi phí Chính vì vậy, việc tính toán các khoản chi phí, phân bổ chi phí cố định cho vụ, từng lần thu hoạch khó xác định, từ đó khó xác định được hiệu quả kinh tế của từng vụ hay sau mỗi lần thu hoạch trong năm nuôi trồng
d Việc tính toán và phân bổ chi phí khấu hao tài sản cố định khó xác định cho các đối tượng nuôi:
Trong nuôi trồng thủy sản, hệ thống cơ sở hạ tầng, các công trình phục vụ rất khác nhau, đa dạng như hệ thống ao nuôi, máy, thiết bị, đường ống cấp thoát nước v.v có vai trò quan trọng đối với sản xuất nuôi trồng thủy sản Đặc điểm chung ở các nông hộ, ngoài nuôi trồng thủy sản, họ còn tiến hành nhiều hoạt động sản xuất nông nghiệp như trồng lúa, trồng trọt các loại cây phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của gia đình, chân nuôi nên nhiều tài sản cố định được sử dụng cho nhiều hoạt động Chính vì vậy việc tính toán chi phí khấu hao hay phân bổ chi phí khấu hao tài sản cố
định gặp nhiều khó khăn Do đó riêng trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản của nông
hộ, chỉ tính toán chi phí khấu hao đối với tài sản cố định trực tiếp và chỉ dùng cho nuôi trồng thủy sản như khấu hao ao Mặt khác, ngay trong một ao nuôi, các hộ nuôi nhiều đối tượng, thời gian thu hoạch có thể nhiều lần trong năm nên khó xác định chi phí khấu hao cho các đối tượng nuôi
Trang 26e Đòi hỏi phải có sự ghi chép về giá bán để xác định hiệu quả sau một năm nuôi trồng thủy sản
Do đặc điểm nghề nuôi trồng thủy sản mang tính thời vụ, sản phẩm nuôi là những cơ thể sống có đặc điểm sinh trưởng phát triển khác nhau giữa các loài và phụ thuộc nhiều vào điều kiện môi trường, thời gian đưa vào nuôi nên việc thu hoạch sản phẩm và tiêu thụ được thực hiện nhiều lần (hình thức ” đánh tỉa thả bù”) Mỗi lần thu giá bán có thể khác nhau, vì vậy để tính giá nào cho hiệu quả thì phải có sự ghi chép giá bán sau mỗi lần thu hoạch
f ở mỗi phương thức nuôi trồng khác nhau hiệu quả kinh tế có sự khác nhau:
Do điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế x1 hội ở các nơi khác nhau, điều kiện áp dụng, chuyển giao công nghệ, kỹ thuật nuôi trồng thủy sản và dịch vụ thủy sản như cung cấp con giống, chất lượng giống khác nhau, mức đầu tư chi phí khác nhau dẫn đến phương thức nuôi trồng khác nhau và hiệu quả kinh tế khác nhau Trong nuôi trồng thủy sản có thể nuôi từng cá thể hay cả quần thể với nhiều hình thức nuôi theo các mức độ thâm canh khác như quảng canh, bán thâm canh và thâm canh Quảng canh là hình thức canh tác ở mức độ đầu tư thấp, bán thâm canh là hình thức canh tác ở mức độ đầu tư trung bình, thâm canh là hình thức nuôi với mức độ
đầu tư tương đối cao Trên phương diện chi phí hay giá thành sản phẩm thì quảng canh lại có hiệu quả cao, trên phương diện thu nhập hay lợi nhuận thì thâm canh lại
đem lại hiệu quả cao
g ở các hộ nông dân thường không có sự ghi chép hạch toán:
Trong quá trình sản xuất nuôi trồng thủy sản, các hộ nông dân vẫn còn mang nặng tính chất làm ăn nông nghiệp của người dân Với cơ sở sản xuất, tiền vốn là của gia đình nên phần lớn các hộ chỉ quan tâm đến thu nhập sau một năm sản xuất Các hộ thường không ghi chép hạch toán cụ thể theo các ngành hay lĩnh vực sản xuất của họ Việc cho ăn, chăm sóc quản lý ao nuôi, có hộ ghi chép song cũng không thường xuyên Vì vậy việc xác định hiệu quả kinh tế của hộ thường mang tính tương đối Do đó để nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế nuôi trồng thủy sản của hộ nông dân cần có phương pháp thích hợp
Trang 272.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế nuôi trồng thủy sản
điều kiện kinh tế kỹ thuật của gia đình có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh tế nuôi Các đối tượng nuôi cho năng suất cao sẽ cho sản lượng lớn, đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao sẽ có giá bán cao, ngoài đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nội địa còn có thể xuất khẩu mang lại hiệu quả kinh tế cao Nhiều đối tượng nuôi thuộc nhóm ăn thực vật, ăn tạp như các loài cá họ cá chép, nên nuôi những đối tượng này mức đầu tư thấp phù hợp với người dân lao động Có những đối tượng nuôi thuộc nhóm ăn động vật như cá quả, ba ba, cá hồi , đòi hỏi nuôi có sự đầu tư chi phí cao
2.5.2 Chất lượng giống
Trong NTTS tỷ lệ sống của con giống phụ thuộc rất lớn vào trình độ, kĩ thuật của người nuôi và chất lượng con giống cung cấp Đặc biệt với loại giống nuôi thả trong vùng ven biển, độ nhạy cảm rất cao nên tỷ lệ sống của chúng còn thấp nên ta phải quan tâm đến khâu giống và kĩ thuật nuôi Con giống đưa vào nuôi trồng nếu
đảm bảo về chất lượng như đ1 thuần chủng, được luyện, không dịch bệnh, loài giống
có giá trị kinh tế cao và khả năng kháng bệnh tốt sẽ có tốc độ sinh trưởng, phát triển tốt, tỷ lệ sống cao dẫn đến cho năng suất và sản lượng cao Ngược lại, nếu con giống không đảm bảo chất lượng sẽ dẫn đến tỷ lệ sống thấp, thoái hóa, sinh trương , phát triển chậm và như vây năng suất thấp, chất lượng sản phẩm giảm thấp, kéo dài thời gian thu hoạch, giá bán thấp Tuy nhiên chi phí giống sẽ phụ thuộc vào chất
Trang 28lượng giống Các loại giống tốt, giống lớn thường có giá cao Ngoài ra, còn các yếu
tố ảnh hưởng đến chi phí giống như: điều kiện tự nhiên của kỳ thu mua, đối tượng cung cấp, hình thức vận chuyển
2.5.3 Phương thức nuôi
Các phương thức nuôi trồng thủy sản khác nhau sẽ mang lại hiệu quả kinh
tế khác nhau Quảng canh là hình thức canh tác ở mức độ đầu tư thấp, nguồn giống
và thức ăn dinh dưỡng chỉ trông vào tự nhiên Do đó, hiệu quả kinh tế của phương thức nuôi này xét về thu nhập thường thấp, sản lượng phụ thuộc chủ yếu vào điều kiện tự nhiên Tuy nhiên, do đầu tư thấp nên hiệu quả lại cao Đối với các hộ nuôi trồng thủy sản không dựa vào nguồn giống tự nhiên, họ phải đầu tư con giống, thức ăn phân bón cho đối tượng nuôi Mức đầu tư chi phí, trong đó chi phí thức ăn càng cao, mật độ thả cao, kỹ thuật đòi hỏi cao hay nói cách khác mức độ thâm canh càng cao thì chi phí càng lớn, do đó hiệu quả sản xuất càng cao và đem lại thu nhập cao cho hộ
- Nuôi chuyên canh (nuôi đơn) là hình thức nuôi chỉ với một loại cá có khả năng cho hiệu quả kinh tế cao, người nuôi thường thả mật độ cao và tạo điều kiện thuận lợi nhất về thức ăn, phân bón cho chúng để thu hoạch với năng suất cao nhất có thể đạt được
- Nuôi kết hợp (nuôi bền vững) là hình thức nuôi mà chất thải của quá trình này là chất dinh dưỡng cung cấp cho quá trình kia, như nuôi theo hệ VAC, nuôi với công thức cá - vịt hoặc nuôi cá, tôm trong ruộng cấy lúa
- Nuôi luân canh là hình thức sử dụng nhiều vụ nối tiếp nhau, đối tượng nuôi
vụ sau sử dụng chất thải hay vật chất còn lại của đối tượng nuôi vụ trước, như lúa
Trang 29(vụ xuân) + cá (vụ mùa)
Các hình thức nuôi ghép, nuôi kết hợp hay luân canh thường đầu tư chi phí thức ăn thấp hơn hình thức nuôi đơn, sản phẩm nhiều loại có thể cung cấp cho thị trường Tuy nhiên, những hình thức nuôi này thường cho năng suất cũng như sản lượng thấp hơn so với nuôi đơn Đối với hình thức nuôi đơn, chi phí đầu tư lớn nhưng mang lại hiệu quả kinh tế cao
2.5.5 Chất lượng môi trường ao nuôi
Đối tượng sản xuất của ngành nuôi trồng thủy sản là các loài động vật máu lạnh, sống trong môi trường nước, chịu ảnh hưởng trực tiếp của rất nhiều yếu tố môi trường như thủy lý, thủy hóa, thủy sinh Hơn nữa, hoạt động nuôi trồng thủy sản là hoạt động sản xuất ngoài trời, các điều kiện sản xuất như khí hậu, thời tiết, các yếu
tố môi trường và sinh vật có ảnh hưởng, tác động qua lại lẫn nhau, đồng thời luôn có
sự biến đổi khôn lường Trong điều kiện môi trường ao nuôi thuận lợi cho đối tượng nuôi thì đối tượng nuôi trồng sẽ sinh trưởng, phát triển tốt và tác động tích cực đến năng suất, sản lượng Ngược lại, chỉ cần sự biến đổi của một yếu tố môi trường không phù hợp với đối tượng nuôi đ1 gây nên những thiệt hại khôn lường như đối tượng nuôi có thể chết hàng loạt Vì vậy, chất lượng nước hay môi trường ao nuôi
ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh tế nuôi trồng thủy sản Các biện pháp kỹ thuật sản xuất chỉ khi nào phù hợp với các yêu cầu sinh thái, phù hợp với quy luật sinh trưởng, phát triển của các đối tượng nuôi trồng đồng thời thời tiết thuận lợi, môi trường nước ao nuôi đảm bảo thì mới giúp đối tượng nuôi phát triển tốt, đạt được năng suất, sản lượng cao và ổn định, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế
2.5.6 Cơ sở hạ tầng phục vụ nuôi trồng thủy sản
Trong nuôi trồng thủy sản, việc xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình phục
vụ, tối ưu hóa hệ thống máy, thiết bị có vai trò quan trọng đối với sản xuất Hệ thống công trình phục vụ cho nuôi trồng thủy sản như hệ thống thủy lợi, các kênh tiêu thoát nước đóng vai trò quan trọng cho sản xuất nuôi trồng thủy sản Chất lượng nước cung cấp cho ao nuôi bảo đảm sạch (không bị ô nhiễm) góp phần cho đối tượng nuôi trồng phát triển thuận lợi Hệ thống cung cấp và tiêu thoát nước thuận lợi, gần các ao nuôi cũng góp phần giảm chi phí cho sản xuất Các công trình phục
Trang 30vụ cho nuôi trồng thủy sản như hệ thống ao, kè, đập, bờ góp phần cho hoạt động nuôi trồng được thuận lợi, giảm được thất thoát do các loài địch hại hay giảm thiểu thiệt hại trong mùa mưa lũ Việc trang bị các thiết bị chuyên dùng, ao lắng, ao chứa cho sản xuất nhất là trong nuôi thâm canh cao sản làm cho môi trường nước đảm bảo, giảm bớt thiệt hại do dịch bệnh gây nên Trang bị và sử dụng hợp lý, hiệu quả các công trình phục vụ cho nuôi trồng thủy sản góp phần làm tăng năng suất nuôi, tăng sản lượng, tuy nhiên phải đầu tư chi phí, vì vậy ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế nuôi trồng
2.5.7 Trình độ năng lực của người nuôi
Đối tượng sản xuất của ngành nuôi trồng thủy sản là những cơ thể sống, là các loại động thực vật thủy sản chúng sinh trưởng, phát sinh, phát triển theo các quy luật sinh học nên con người phải tạo được môi trường sống phù hợp cho từng đối tượng mới có thể thúc đẩy khả năng sinh trưởng và phát triển của nó Các biện pháp
kỹ thuật sản xuất của con người chỉ khi nào phù hợp với quy luật sinh trưởng, phát triển và sinh sản của động thực vật thủy sản mới có thể thu được năng suất và sản lượng cao Vì vậy, để nuôi trồng thủy sản đạt hiệu quả cao, sự hiểu biết về kỹ thuật nuôi thuỷ sản và việc tổ chức sản xuất nuôi trồng thủy sản theo các quy trình kỹ thuật đóng vai trò rất quan trọng Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường, khi mà người nuôi bỏ vốn vào sản xuất nuôi trồng, nếu không có sự hiểu biết hay trình độ nhất định về nghề, họ sẽ gặp nhiều khó khăn và hiệu quả sản xuất có thể không cao Người nuôi không có trình độ năng lực về kỹ thuật nuôi, năng lực tổ chức sản xuất
mà chỉ dựa vào kinh nghiệm thường bảo thủ, kém thích ứng với sự tiến bộ kỹ thuật, cơ chế thị trường Có kinh nghiệm trong nuôi trồng cũng quan trọng, song kinh nghiệm đôi khi không giải quyết được những vẫn đề kỹ thuật nảy sinh, những sự cố trong qúa trình nuôi như xử lý bệnh cá, môi trường, các vấn đề kỹ thuật nuôi cần tuân thủ Khi người nuôi có trình độ năng lực, họ biết nghiên cứu thị trường, biết xác
định loài nuôi, hiểu biết về kỹ thuật và biết áp dụng kỹ thuật vào sản xuất, biết tổ chức quá trình sản xuất, biết xử lý môi trường ao nuôi, xử lý bệnh cá.v.v kết quả sản xuất nuôi trồng sẽ đạt hiệu quả kinh tế cao
Trang 312.5.8 Khả năng tiếp cận công tác khuyến ngư
Khuyến ngư được xem là một hình thức đào tạo không chính quy để nâng cao kiến thức và kỹ thuật nghề cá cho nông dân, ngư dân và cung cấp thông tin toàn diện cho nông ngư dan về chủ trương, chính sách, định hướng phát triển nghề cá, thị trường tiêu thụ sản phẩm, tạo nguyên liệu cho xuất khẩu và góp phần cải thiện, nâng cao đời sống nhân dân Vì vậy, đối với các nông hộ nuôi trồng thủy sản được tiếp cận với công tác khuyến ngư có ý nghĩa quan trọng, là cơ hội để họ nuôi trồng thủy sản cho hiệu quả kinh tế cao, đặc biệt khi trình độ hiểu biết kỹ thuật của nông dân còn hạn chế Được tiếp cận với công tác khuyến ngư, nông dân được tập huấn, tiếp cận với những tiến bộ kỹ thuật cũng như những công nghệ về nuôi trồng và những kinh nghiệm điển hình sản xuất giỏi, có hiệu quả kinh tế Thông qua khuyến ngư, nông dân cũng được bồi dưỡng, phát triển kỹ năng kiến thức quản lý kinh tế và được cung cấp những thông tin cần thiết để bố trí sản xuất kinh doanh có hiệu quả kinh tế cao Nông dân cũng có thể được tham gia thực hiện các mô hình trình diễn tập trung vào những đối tượng nuôi trồng có giá trị kinh tế cao
2.5.9 Thức ăn
Trong nuôi trồng thủy sản, thức ăn là một trong những nhân tố quan trọng góp phần nâng cao năng suất nuôi trồng Việc sử dụng thức ăn cho nuôi trồng thủy sản có những tác động đến hiệu quả kinh tế nuôi trồng Thức ăn cho đối tượng nuôi bảo đảm chất lượng, đủ hàm lượng các thành phần dinh dưỡng, cho ăn đảm bảo kỹ thuật sẽ giúp cho đối tượng nuôi sinh trưởng, phát triển tốt, người nuôi sẽ thu được hiệu quả cao Ngược lại, thức ăn tươi sống, thức ăn không đảm bảo chất lượng, cho
ăn không đúng kỹ thuật, không những đối tượng nuôi phát triển chậm, tỷ lệ sống thấp, gây ô nhiễm và bệnh dịch ở tôm cá mà còn gây l1ng phí chi phí, hiệu quả kinh
tế thấp Thực tế hiện nay ở Việt Nam, nuôi trồng thủy sản có xu hướng chuyển mạnh sang nuôi bán thâm canh và thâm canh, thức ăn là thức ăn công nghiệp Tuy nhiên, trên thị trường thức ăn công nghiệp hầu như chưa có sự kiểm soát về chất lượng, những loại thức ăn được kiểm chứng và có chất lượng cao nhưng giá thành lại cao, nhiều nông dân không dám dùng vì tính toán là không có hiệu quả Cũng có những cơ sở nuôi sử dụng thức ăn tăng trọng mang lại hiệu quả kinh tế cao nhưng có
Trang 32thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho người tiêu dùng Việc dùng thức ăn tự chế có giá thành rẻ hơn cũng là biện pháp giảm thấp chi phí, nâng cao hiệu quả kinh
tế nuôi trồng
2.5.10 Giá
Hiệu quả kinh tế nuôi trồng thủy sản đối với các hộ nông dân được xác định băng kết quả thu được trừ chi phí đầu vào Kết quả thu được, ngoài nhân tố sản lượng, nhân tố giá bán có ảnh hưởng trực tiếp Giá bán sản phẩm của hộ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như chủng loại và chất lượng sản phẩm, thị trường tiêu thụ, mùa
vụ, thị yếu người tiêu dùng, sự thỏa thuận với tư thương…
Giá cả của các yếu tố đầu vào cũng là nhân tố ảnh hưởng lớn đến chi phí Để tiến hành sản xuất nuôi trồng thủy sản, người nông dân phải bỏ ra nhiều tiền để mua các nguồn lực đầu vào như con giống, thức ăn, phân bón, nguồn năng lượng, sức lao
động, vật tư thiết bị.v.v., vì vậy giá phụ thuộc vào giá cả thị trường và nhà cung cấp Tuy nhiên chi phí cho mỗi nguồn lực lại chịu sự ảnh hưởng của rất nhiều các yếu tố khác, cụ thể là:
+ Các yếu tố ảnh hưởng đến chi phí nguyên vật liệu như: giá mua, điều kiện
tự nhiên của kỳ thu mua, đối tượng cung cấp, hình thức vận chuyển
+ Các yếu tố ảnh hưởng đến khấu hao tài sản cố định như: Đất, mức độ đầu tư xây dựng công trình nuôi, trang thiết bị, giá thành lắp đặt, thời gian sử dụng
+ Chi phí lao động phục vụ sản xuất nuôi trồng thủy sản chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố như: sức lao động, trình độ lao động, thị trường sức lao động
+ Chi phí thuế chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố như: chính sách thuế nông nghiệp của Chính phủ
Như vậy, có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế nuôi trồng thủy sản Tuy nhiên mức độ tác động của các yếu tố này khác nhau tuỳ thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế - x1 hội, trình độ và năng lực của người nuôi và lực lượng lao
động, mức độ phát triển và áp dụng khoa học công nghệ, kỹ thuật nuôi trồng, tập quán tiêu dùng
Trang 332.6 Tình hình hiệu quả kinh tế nuôi trồng thủy sản ở một số nước và Việt Nam
2.6.1 Tình hình hiệu quả kinh tế nuôi trồng thủy sản ở một số nước
Trên thế giới, sự phát triển nhanh chóng của nghề nuôi thủy sản được bắt đầu
từ những năm thập niên 1970 Nghề nuôi trồng thủy sản đ1 mang lại cho nhiều quốc
gia nguồn thu nhập ngoại tệ lớn và thu nhập cao cho nông ngư dân Theo thống kê
của FAO, tỷ lệ tăng bình quân hàng năm của nuôi trồng thủy sản tính từ năm 1990
đến nay là 8,9%, trong khi đó tỷ lệ tăng của thuỷ sản khai thác là 1,4% và của thịt
sản phẩm gia súc chăn nuôi là 2,8% Sản lượng nuôi trồng thủy sản thế giới năm
2001 đạt 48,42 triệu tấn, trong đó động vật thủy sản 37,85 triệu tấn và thực vật thuỷ
sinh đạt 10,56 triệu tấn [20]
Đến nay, nghề nuôi thủy sản vẫn liên tục phát triển đa dạng lẫn thâm canh hóa, Nếu như năm 1970, tốc độ tăng trưởng hằng năm về sản lượng là 3,9%, thì năm 2006 tốc độ tăng trưởng là 36% Sự phát triển nhanh chúng của nghề nuôi đó góp phần
tăng tỷ lệ tiêu dùng sản phẩm thủy sản nuôi trồng từ 0,7 kg/người/năm vào năm
1970 lên 7,8 kg/người/năm vào năm 2006 Sản phẩm thủy sản nuôi trồng chiếm 46%
tổng sản phẩm thủy sản tiêu dùng hàng năm ở Trung Quốc, tỷ lệ này là 90% [18]
Trên thế giới, Châu á cho sản lượng thủy sản nuôi trồng lớn nhất, chiếm 89%
tổng sản lượng và 77% tổng giá trị sản phẩm thủy sản nuôi trồng thế giới năm 2006
Năm 2006, tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản thế giới là 51 triệu tấn và sản lượng
khai thác là 92 triệu tấn Trong số này, Trung Quốc chiếm 66,7% tổng sản lượng
nuôi, các nước Châu á khác chiếm 22,8%, và các nước khác còn lại ở Châu Âu, Châu
Mỹ, úc, chiếm 10,5%
Mười nước đứng đầu thế giới về sản lượng nuôi trồng thủy sản theo thứ tự gồm:
Trung Quốc, ấn Độ, Việt Nam, Thái Lan, Indonesia, Bangladesh, Chile, Nhật Bản,
Na Uy và Philippines [18]
Sản lượng, giá trị sản lượng nuôi trồng thủy sản trên thế giới thể hiện qua các
biểu đồ 2.1, 2.2 [48] sau:
Trang 34Biểu đồ 2.1 Sản lượng và giá trị sản phẩm nuôi trồng thủy sản thế giới
qua các năm (FAO 2009)
Cơ cấu sản lượng Cơ cấu giá trị
Biểu đồ 2.2 Cơ cấu sản lượng và giá trị các nhóm loài thủy sản nuôi
trên thế giới 2006 (FAO 2009)
* Nuôi trồng thuỷ sản ở Trung Quốc:
Trung Quốc bắt đầu phát triển nhanh nuôi trồng thuỷ sản từ giữa những năm
80 của thế kỷ trước và nhanh nhất từ năm 1989 Đến năm 1997, Trung Quốc đạt sản lượng 19,3 triệu tấn sản phẩm Kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc đ1 vượt mức 3
tỷ USD/1 năm, thu nhập của nông ngư dân ngày càng cao [21]
Chính phủ Trung Quốc tích cực đẩy mạnh việc điều chỉnh có tính chiến lược kết cấu nghề cá, gia sức tăng thu nhập cho ngư dân, phát triển trọng điểm nghề nuôi trồng thuỷ sản, phát huy hiệu quả mặt nước nuôi trồng Theo thống kê do FAO công
Trang 35bố, năm 2005, Trung Quốc đứng đầu thế giới về khối lượng sản xuất, xuất khẩu và nhập khẩu thủy sản [21]
* Nuôi trồng thuỷ sản ở Thái Lan:
Ngành nuôi trồng thủy sản Thái Lan được xem như bắt đầu phát triển từ đầu thế kỉ 19 Nghề nuôi trồng thủy sản nước ngọt đ1 phát triển trước đó trong một thời gian dài, nhưng nghề nuôi thủy sản nước mặn ngày càng mở rộng trong thời gian gần đây và có hiệu quả kinh tế cao Trong năm 2003, sản lượng nuôi trồng thủy sản
đạt khoảng 1.064 triệu tấn và đạt giá trị 1.46 tỉ USD được tính trên 1 quý của tổng sản phẩm thủy sản Sự họat động của nghành nuôi trồng thủy sản ở Thái Lan có thể
được chia thành hai nhóm: thủy sản nước ngọt và thủy sản nước mặn
Nuôi trồng thủy sản ở Thái Lan đ1 góp một phần lớn vào sự gia tăng sản xuất của nước này Một báo cáo của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của LHQ dự báo rằng nuôi trồng thủy sản sẽ đóng góp được gần một nửa tổng sản lượng sản xuất của đất nước này vào năm 2010, so với chỉ một vài phần trăm vào năm 1990 [38]
* Nuôi trồng thuỷ sản ở Inđônêsia:
Từ năm 1994, Inđônêxia là nước đứng thứ tư trên thế giới về sản xuất cá và nhuyễn thể Cũng như Thái Lan, Inđônêsia đ1 giữ vững thứ hạng về nuôi trồng thuỷ sản trên thế giới Sản lượng nuôi trồng thuỷ sản năm 1997 đạt 754,610 tấn Trong đó phần lớn là các loài cá nước ngọt như cá chép, rô phi với tổng sản lượng 407.990 tấn thuỷ sản nước ngọt (chiếm 54% tổng sản lượng thuỷ sản) Năm 1996 và 1997, Inđônêxia trở thành nước đứng đầu về sản xuất cá măng và chỉ đứng sau Thái Lan trong sản xuất tôm sú [1]
* Nuôi trồng thuỷ sản ở Mỹ:
Nghề nuôi trồng thuỷ sản ở Mỹ mới bắt đầu khoảng 30 năm trở lại đây và
đang phát triển nhanh Nghề nuôi trồng thuỷ sản ở Mỹ chủ yếu là nuôi cá nước ngọt Sản lượng nuôi trồng thuỷ sản tăng nhanh, từ 150 nghìn tấn năm 1980 lên 315 nghìn tấn năm 1990 và 413 nghìn tấn năm 1996, đứng hàng thứ 6 trên thế giới và đứng hàng đầu Châu Mỹ (năm 1998 tụt xuống hàng thứ 8 trên thế giới) Chất lượng sản phẩm nuôi trồng thuỷ sản của Mỹ khá cao và mang lại nhiều lợi nhuận cho nhà sản xuất [37]
Trang 362.6.2 Tình hình hiệu quả kinh tế nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam
ở Việt Nam, nghề nuôi thủy sản cũng phát triển rất năng động, góp phần tích cực trong công cuộc xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống cho nhân dân, giải quyết lao động việc làm cũng như trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước ngày nay Nhân dân ta thường có câu: ˝ Nhất nuôi cá, nhì gá bạc " hay ˝ Nuôi cá, một vốn bốn lời " cũng nói lên nghề nuôi cá mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người nuôi Nghề nuôi thủy sản truyền thống ở nước ta bắt đầu từ thập niên 1960, tuy nhiên trong vòng 10 năm nay, nghề nuôi thủy sản có tốc độ phát triển rất nhanh chóng Giai đoạn 1996-2000 là thời kỳ chuyển tiếp từ một nền kinh tế nghề cá mang nặng tính tự phát, khai thác các nguồn lợi tự nhiên sang nghề cá có đầu tư Năm
2000, ngành thuỷ sản đ1 thu hút được 1.141.500 lao động, trong đó có 560.000 lao
động NTTS [4]
Theo thống kê của Bộ Thủy sản (2006) năm 2005, cả nước có gần 1.000.000
ha nuôi thủy sản, đạt sản lượng 1.437.356 tấn, trong đó, sản lượng nuôi thủy sản nước
lợ, mặn là 546.716 tấn, sản lượng nuôi nước ngọt đạt 890.650 tấn [6] Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng năm 2009 ước tính đạt 2569,9 nghìn tấn, tăng 4,2% so với năm trước, chủ yếu do các địa phương tiếp tục chuyển đổi và mở rộng diện tích nuôi trồng theo hướng kết hợp đa canh, đa con [47]
Chủ trương phát triển nghề NTTS và cho phép nông dân đổi ruộng trũng, ruộng cấy lúa đạt hiệu quả thấp sang NTTS là một chủ trương lớn, việc chuyển đổi này cần đạt được hiệu quả kinh tế cao Trong thực tế những năm qua, việc chuyển
đổi này còn có những khó khăn, lúng túng; việc chuyển đổi mang nặng tính tự phát, các vùng chuyển đổi chưa được quy hoạch hoàn chỉnh, đồng bộ; hệ thống mương máng thiếu thốn, không đảm bảo, chưa có hệ thống điện, diện tích còn manh mún, phân tán, không thể nuôi thâm canh được [11] Từ khi có chủ trương chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi trong nông nghiệp theo hướng tăng thu nhập và tăng hiệu quả trên
đơn vị diện tích canh tác, diện tích và sản lượng NTTS không ngừng được nâng cao, năm sau tăng hơn năm trước (bảng 2.1)
Trang 37Bảng 2.1 Diện tích và sản l−ợng nuôi trồng thuỷ sản
thực tế năm 2005-2009 Chỉ tiêu 2005 2006 2007 2008 2009 Diện tích (nghìn ha) 952,6 976,5 1018,8 1052,6 1065,8 Sản l−ợng (nghìn tấn) 1.547,16 1693,9 2085,2 2465,6 2569,9
(Nguồn: Trung tâm Khuyến nông -khuyến ng− Quốc gia)
Hiện nay, đối t−ợng nuôi và mô hình nuôi thủy sản ở Việt Nam khá phong phú Đ1 có nhiều kết quả nghiên cứu các mô hình nuôi trồng thủy sản cho hiệu quả kinh tế cao:
TS Ngô Đình Quế và các cộng sự đ1 xây dựng mô hình nuôi trồng thuỷ sản kết hợp dưới rừng ngập mặn tại các tỉnh ven biển phía Bắc và xây dựng mô hình lâm ngư kết hợp bền vững và có hiệu quả ở Thái Bình và khẳng ủịnh: Kết quả của việc xây dựng mô hình này có thể giúp cho các cư dân sống ven biển có thể áp dụng ủể xây dựng những mô hình nuôi tôm kết hợp với rừng ngập mặn có hiệu quả và ổn ủịnh [23]
Theo kết quả nghiên cứu của Viện kinh tế nông nghiệp (2003) [23], một số mô hình nuôi trồng thuỷ sản có hiệu quả như sau:
- Vùng ven biển chuyển đổi đất lúa sang nuôi trồng thuỷ sản ủạt 60-70 triệu ủồng/ha/năm như ở x1 Thái Đô, x1 Thái Hồng - Thái Thụy - Thái bình
- Mô hình chuyển ủổi ủất vùng trũng sang nuôi trồng thuỷ sản ở x1 Đình Bảng (Từ sơn - Bắc Ninh) ủều ủạt giá trị sản lượng trên 50 triệu ủồng/ha/năm
- Mô hình nuôi tôm thâm canh ủạt doanh thu 1 ha trên 450 triệu ủồng, chi phí vật chất tương ứng khoảng 240 triệu ủồng, thu nhập ủạt 210 triệu ủồng/ha Mô hình này hình thành ở một số huyện ven biển như Tiền Hải - Thái Bình
- Mô hình sản xuất Lúa + Cá ở x1 Tân Triều - Thanh Trì - Hà Nội, cho giá trị sản l−ợng 52,04 triệu đồng/ha/ năm và thu nhập 29,07 triệu đồng/ha/ năm (Số liệu ủiều tra ở x1 Tân Triều - Thanh Trì - Hà Nội, Nguyễn Đình Chính, 2002)
Trang 38- Mô hình nuôi cá rô phi đơn tính trong ao đất tại x1 do trường trung học Thuỷ sản 4 triển khai năm 2004 tại Đình Bảng (Từ sơn - Bắc Ninh) cho kết quả trên
1 ha ao, như sau:
Chi phí: 155.000.000 ủồng
Doanh thu: 15.600 kg x 12.500 ủồng/kg = 195.000.000 đồng
Thu nhập: 195.000.000 đồng - 155.000.000 đồng = 39.500.000 đồng
Mô hình nuôi bán thâm canh và thâm canh cá rô phí đơn tính tại huyện Tứ
Kỳ - Hải Dương của Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I (Nguyễn Huy Điền,
mà trọng tâm là các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long có đóng góp quan trọng Thực hiện Nghị quyết số 09/2000/NQ-CP của Chính Phủ và Quyết định số 224/1999/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính Phủ, thời gian qua, NTTS đ1 không ngừng phát triển ở các tỉnh Nam Bộ, mang lại hiệu quả kinh tế thiết thực Sản lượng thủy sản nuôi trong cả nước tăng nhanh Các tỉnh Nam Bộ có đối tượng nuôi tương đối đa dạng, các nhóm
đối tượng nuôi chính là tôm sú, cá tra và cá ba sa, nhuyễn thể, cá biển, tôm càng xanh Năng suất nuôi tôm sú ở Nam Bộ bình quân 561,2 kg/ha, thấp hơn so với năng suất bình quân của cả nước (577,6 kg/ha), chỉ bằng một nửa năng suất nuôi tôm ở khu vực Nam Trung Bộ Nuôi cá tra trong ao bình quân đạt năng suất 50 - 80 tấn/ha; nuôi trong ao b1i bồi đạt 100-200 tấn/ha, cá biệt với những ao có độ sâu 3-5m, thả cá giống lớn, mật độ cao, thay nước thường xuyờn và có hệ thống quạt khí
có thể đạt năng suất trên 300 tấn/ha/vụ, nếu nuôi 2 vụ 1 năm có thể đạt năng suất
600 tấn/năm Năng suất nuôi cá bè đạt 100-200 kg/m3 lồng Nuôi tôm càng xanh
Trang 39chủ yếu theo hình thức bán thâm canh, nuôi xen canh, luân canh với lúa có hiệu quả kinh tế Năng suất nuôi luân canh trên ruộng lúa đạt 500-3.000 kg/ha Nhiều hộ thu lời do nuôi tôm càng xanh từ 50 - 80 triệu đồng/ha [12]
ở nhiều địa phương cũng có nhiều cá nhân đ1 vươn lên làm giàu từ nuôi trồng thủy sản Điển hình như ở x1 An Lập- Sơn Động- Bắc Giang, phong trào nuôi cá trong ruộng trũng kết hợp trồng lúa có hiệu quả kinh tế cao, nhiều hộ đ1 có thu nhập hàng chục triệu đồng mỗi năm, tiêu biểu như hộ ông Nông Văn Thực ở thôn Mặn [9] Tại tỉnh Bắc Ninh, nhiều gia đình đ1 thoát nghèo vươn lên làm giàu nhờ chính sách chuyển đổi ruộng trũng sang nuôi trồng thủy sản, như ở huyện Tiên Du, hộ ông Nguyễn Văn Mạnh (x1 Phú Lâm) nhờ nuôi cá kết hợp nuôi vịt, riêng thu nhập từ cá cũng được trên 50 triệu đồng/ ha; ở huyện Lương Tài, bình quân thu nhập trên 1 ha nuôi trồng thủy sản đạt gần 60 triệu đồng, tiêu biểu như các hộ: Nguyễn Văn An, Phùng Thị Hải (thị trấn Thứa) có thu nhập đạt trên 100 triệu đồng/ năm [10]
2.7 Những vấn đề đặt ra cho nghiên cứu hiệu quả kinh tế nuôi trồng thủy sản ở
Tuy nhiên, trong việc phát triển NTTS thời gian qua đ1 bộc lộ một số điểm yếu như sau:
- Hầu hết các địa phương chưa có quy hoạch tổng thể vùng nuôi và các tiểu vùng nuôi, hoặc đ1 có quy hoạch nhưng không còn phù hợp với tình hình phát triển nghề NTTS hiện tại, do đó cần phải được điều chỉnh và bổ sung cho phù hợp với thực tế
- Cơ sở vật chất kỹ thuật và hạ tầng cơ sở, nhất là thuỷ lợi phục vụ việc NTTS còn yếu kém, có nơi còn chưa đầu tư gì cho việc NTTS
- Việc giao đất, mặt nước NTTS hiện nay ở một số địa phương chưa hoàn thành, gây khó khăn cho việc dùng quyền sử dụng đất làm tài sản thế chấp vay vốn
Trang 40ngân hàng, có nơi thời gian giao đất ngắn, không ổn định làm cho người dân không yên tâm đầu tư vào các công trình NTTS
- Đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật và lực lượng làm công tác khuyến ngư còn quá mỏng, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế phát triển NTTS
- Việc quản lý và tổ chức sản xuất con giống còn lỏng lẻo, có lúc có nơi xuất hiện tình trạng dư thừa một lượng lớn con giống; trong khi đó có nơi lại xảy ra tình trạng khan hiếm và thiếu con giống
- Các cơ sở sản xuất thức ăn công nghiệp phục vụ NTTS còn thiếu và yếu, chất lượng sản phẩm thấp Việc nhập khẩu nhiều loại thức ăn cho NTTS còn chưa
được quản lý chặt chẽ
- Môi trường sinh thái ở một số vùng nuôi bị nhiều tác động tiêu cực và chưa
được x1 hội quan tâm bảo vệ đ1 làm ảnh hưởng đến chất lượng nuôi trồng, nhất là gây ảnh hưởng tới việc phát triển NTTS bền vững [47]
Những tồn tại trên đây cũng là những khó khăn đối với sản xuất nuôi trồng thủy sản ở hộ nông dân ở mỗi địa phương và ảnh hưởng đến kết quả cũng như hiệu quả kinh tế nuôi trồng của các hộ Mặt khác, đối tượng sản xuất của ngành nuôi trồng thủy sản còn chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố con người cũng như môi trường tự nhiên, kinh tế - x1 hội Các hộ dân còn nhiều hạn chế trong việc hạch toán kinh tế, tổ chức quản lý và còn lúng túng trong kỹ thuật nuôi cũng như đầu tư chi phí như thế nào có hiệu quả Điều đó đặt ra cho việc nghiên cứu hiệu quả kinh tế nuôi trồng thủy sản ở hộ nông dân những vấn đề cần giải quyết, đó là :
- Khảo sát tình hình nuôi trồng thủy sản ở hộ nông dân trong phạm vi hay địa bàn nghiên cứu
- Nghiên cứu hiệu quả kinh tế nuôi trồng thủy sản ở hộ nông dân trên phương diện các mô hình sản xuất, phương thức nuôi, quy mô nuôi về diện tích và mức đầu tư chi phí thực tiễn đang diễn ra ở địa bàn nghiên cứu
- Phân tích, so sánh hiệu quả kinh tế ở các mô hình sản xuất khác nhau, các phương thức nuôi, loài nuôi cũng như hiệu quả giữa các qui mô nuôi
- Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế nuôi trồng ở hộ
- Nghiên cứu các biện pháp nâng cao hiệu quả kinh tế nuôi trồng thủy sản ở
hộ nông dân trong địa bàn nghiên cứu