Luận văn, khóa luận, chuyên đề, cao học, thạc sĩ, tiến sĩ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
PH¹M V¡N PHóC
KHẢO SÁT MỘT SỐ NGUỒN THỨC ĂN THÔ VÀ TRỒNG KHẢO NGHIỆM MỘT SỐ GIỐNG CỎ LÀM THỨC ĂN CHO TRÂU BÒ
TẠI HUYỆN ðIỆN BIÊN - TỈNH ðIỆN BIÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành : CHĂN NUÔI
Mã số : 60.62.40
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS BÙI QUANG TUẤN
HÀ NỘI - 2010
Trang 2LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan ñây là công trình nghiên cứu của tôi, những số liệu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và kết quả nghiên cứu chưa từng ñược sử dụng
Mọi sự giúp ñỡ trong quá trình thực hiện ñề tài ñã ñược cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong báo cáo này ñã ñược ghi rõ nguồn gốc
Hà N ội, ngày 16 tháng 10 n ăm 2010
TÁC GIẢ
Phạm Văn Phúc
Trang 3LỜI CẢM ƠN
ðể hoàn thành ñề tài này, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi còn nhận ñược rất nhiều sự quan tâm giúp ñỡ của các thầy cô giáo, ñịa phương, gia ñình và ñồng nghiệp
Tr ước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc: PGS.TS Bùi Quang Tuấn,
B ộ môn Dinh dưỡng - Thức ăn chăn nuôi, Khoa Chăn nuôi và Nuôi trồng thủy
s ản, Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội, người ñã tận tình hướng dẫn, chỉ
b ảo giúp ñỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện ñề tài
Tôi xin chân thành c ảm ơn Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi và Nuôi
tr ồng thủy sản các thầy, cô giáo ñã tận tình giúp ñỡ chỉ bảo tôi trong quá
trình h ọc tập, nghiên cứu tại Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội
Tôi xin chân thành c ảm ơn UBND huyện ðiện Biên, UBND xã Thanh
Luông, Thanh N ưa huyện ðiện Biên ñã giúp ñỡ tôi trong quá trình ñiều tra,
nghiên c ứu, thực hiện thí nghiệm tại ñịa phương
Do th ời gian và kiến thức có hạn, ñề tài của tôi không tránh khỏi những
h ạn chế, thiếu sót Vì vậy rất mong nhận ñược những ý kiến ñóng góp của
th ầy cô giáo và toàn thể bạn ñọc
Xin chân thành c ảm ơn!
Hà N ội, ngày 16 tháng 10 năm 2010
Tác giả
Phạm Văn Phúc
Trang 42.1 Chăn nuôi trâu bò ở nước ta và vai trò của thức ăn thô xanh ñối
2.2 Tình hình nghiên cứu sử dụng phụ phẩm nông nghiệp làm thức
2.3 Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc ở Việt Nam 11 2.4 ðặc ñiểm của một số cây cỏ nghiên cứu và các yếu tố ảnh hưởng
3 ðỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
4.1 ðiều kiện kinh tế xã hội huyện ðiện Biên 26 4.1.1 Vị trí ñịa lý và ñịa hình của huyện ðiện Biên 26 4.1.2 ðặc ñiểm thời tiết khí hậu của huyện ðiện Biên 27
Trang 54.1.3 ðiều kiện kinh tế xã hội của huyện ðiện Biên 29 4.1.4 Tình hình sản xuất nông nghiệp của huyện ðiện Biên 30 4.2 Khảo sát một số nguồn thức ăn thô cho trâu bò tại huyện ðiện Biên 36 4.2.1 Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của một số loại phụ
4.2.2 Tỷ lệ sử dụng phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn cho trâu bò 42 4.2.3 Những khó khăn khi sử dụng phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn
4.3 Trồng khảo nghiệm một số giống cỏ làm thức ăn cho trâu bò tại
4.3.1 ðặc ñiểm khí hậu ñất ñai của ñịa ñiểm nghiên cứu 47 4.3.2 Khả năng sinh trưởng phát triển của các giống cỏ nghiên cứu 51 4.3.3 Thành phần hóa học giá trị dinh dưỡng và tỷ lệ tiêu hóa của các
Trang 6ME Năng lượng trao ñổi
NDF Xơ còn lại sau khi xử lý bằng dung môi trung tính PPNN Phụ phẩm nông nghiệp
PTNT Phát triển nông thôn
Trang 7DANH MỤC BẢNG
4.2 Số lượng ñàn gia súc, gia cầm của huyện ðiện Biên 324.3 Quy mô chăn nuôi trâu bò của 2 xã Thanh Luông và Thanh Nưa 334.4 Phương thức chăn nuôi trâu bò tại xã Thanh Luông và Thanh Nưa 354.5 Khối lượng phụ phẩm từ trồng trọt của huyện ðiện Biên năm 2009 374.6a Khối lượng phụ phẩm từ trồng trọt của xã Thanh Luông năm 2009 394.6b Khối lượng phụ phẩm từ trồng trọt của xã Thanh Nưa năm 2009 394.7 Thành phần hoá học và giá trị dinh dưỡng của một số loại phụ phẩm 404.8a Tỷ lệ sử dụng phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn cho trâu bò ở
4.10 ðiều kiện khí hậu vùng nghiên cứu trong thời gian thí nghiệm 47
4.12 Chiều cao của các giống cỏ trồng thí nghiệm 51
4.15 Năng suất protein thô của các giống cỏ 55
4.17 Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của các giống cỏ 564.18 Tỷ lệ tiêu hóa in - vitro chất hữu cơ của các giống cỏ 57
Trang 91 MỞ ðẦU
1.1 ðặt vấn đề
ðiện Biên là tỉnh thuộc vùng Tây Bắc của nước ta, với phần lớn dân số sống bằng nghề nơng Nền sản xuất nơng nghiệp của tỉnh ðiện Biên hiện nay chủ yếu vẫn là trồng trọt và chăn nuơi Trong đĩ chăn nuơi trâu bị giữ vai trị quan trọng, nhằm mục đích cung cấp thực phẩm, sức kéo, phân bĩn phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng Trong những năm qua, nhu cầu cung cấp sức kéo giảm hơn do máy mĩc cơ khí đã và đang thay thế dần nhưng nhu cầu tiêu dùng thực phẩm lại càng tăng nhanh Do vậy, chủ trương của Tỉnh trong những năm tới, ngành chăn nuơi đại gia súc phải xác định ưu thế phát triển các loại cây thức ăn phù hợp với từng địa phương, từ đĩ làm cơ sở để xây dựng tập đồn cây thức ăn cho gia súc phù hợp hơn với điều kiện sản xuất và điều kiện sinh thái của vùng Việc nghiên cứu để phát triển các loại cây thức
ăn thơ cho đại gia súc cho từng vùng là rất cần thiết, từ đĩ sẽ hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng thiếu thức ăn xanh trong mùa đơng ở nước ta nĩi chung
và các tỉnh Tây Bắc nĩi riêng
Hiện nay, việc giải quyết thức ăn cho trâu bị ở nước ta đặc biệt là đối với miền Bắc đang cịn gặp nhiều khĩ khăn, thiếu thức ăn trầm trọng vào mùa đơng dẫn đến đã hạn chế sự phát triển của đàn gia súc nhai lại ðiển hình nhất
là vụ rét đậm cuối năm 2007, đầu năm 2008 đã làm khoảng 62.000 con trâu
bị chết (khu vực Tây Bắc cĩ 10.261 con trâu bị chết), mà nguyên nhân chủ yếu là do thiếu thức ăn thơ
ðể khắc phục tình trạng thiếu thức ăn trong ngành chăn nuơi, đặc biệt
là nguồn nước ngày càng khĩ khăn như hiện nay, việc trồng các loại cây cỏ cao sản được xem như là một biện pháp hữu hiệu, vừa tạo ra nguồn thức ăn cho gia súc vừa bảo vệ mơi trường, tăng độ phì nhiêu cho đất Trồng cỏ cao sản là hướng đầu tư cho thời gian lâu dài, chỉ cần đầu tư giống một lần mà thu
Trang 10hoạch ñược nhiều vụ (từ 3 ñến 4 năm) Vì vậy ñòi hỏi phải chăm sóc cỏ, nhất
là mùa khô ñể có thể khai thác ñược nhiều hơn
Xuất phát từ những vấn ñề trên chúng tôi tiến hành ñề tài nghiên cứu:
“Khảo sát một số nguồn thức ăn thô và trồng khảo nghiệm một số giống cỏ làm thức ăn cho trâu bò tại huyện ðiện Biên - tỉnh ðiện Biên” 1.2 Mục tiêu của ñề tài
- Khảo sát ñược một số nguồn thức ăn thô tại huyện ðiện Biên - tỉnh ðiện Biên
- Xác ñịnh ñược năng suất, chất lượng thức ăn của một số giống cỏ trồng tại huyện ðiện Biên - tỉnh ðiện Biên
Trang 112 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Chăn nuôi trâu bò ở nước ta và vai trò của thức ăn thô xanh ñối
với trâu bò
2.1.1 Chăn nuôi trâu bò ở nước ta
Việt Nam là một nước có ñiều kiện khí hậu nhiệt ñới thuận lợi vì vậy nền Nông nghiệp rất phát triển, trong ñó có sự phát triển của ngành chăn nuôi trâu, bò ñặc biệt là ñàn trâu
Số lượng và tỷ lệ ñàn trâu theo vùng sinh thái của nước ta cũng có sự phân bố không ñồng ñều trong các ñịa phương khác nhau, cụ thể ñược phân
bố trong 2 miền: miền Bắc và miền Nam ñược thể hiện ở Bảng 2.1
Bảng 2.1 Số lượng và tỷ lệ ñàn trâu theo vùng sinh thái năm 2005
Nguồn Báo cáo tỉnh hình chăn nuôi trâu giai ñoạn 2000 – 2005 và ñịnh hướng phát triển ñến 2015, Cục Chăn nuôi
Gia súc nhai lại, khác với các gia súc dạ dày ñơn, là loại gia súc có thể sử dụng ñược các thức ăn thô nhiều xơ nhờ có cấu tạo ñặc biệt của hệ tiêu hoá cùng hệ vi sinh vật cộng sinh trong ñó Về mặt dinh dưỡng, thức ăn
Trang 12thô không thể thay thế quá nhiều (khi thiếu) bằng thức ăn tinh trong khẩu phần ăn của gia súc nhai lại Hơn nữa, vì lý do kinh tế, môi trường và an ninh lương thực, gia súc nhai lại cần ñược cho ăn càng nhiều càng tốt những thức ăn nhiều xơ không dùng làm thức ăn cho người và gia súc dạ dày ñơn ñược ðiều này ngày càng trở nên rõ ràng hơn khi mà trong những năm gần ñây giá xăng dầu thế giới tăng lên nhanh chóng làm cho giá thành sản xuất thức ăn tinh tăng theo Trầm trọng hơn, do giá các loại nhiên liệu hoá thạch ngày càng tăng cao hiện nay các nước ñang ñua nhau sản xuất nhiên liệu (cồn) sinh học từ bột ñường ñể thay thế nên càng ñẩy giá thức ăn tinh tăng cao ðây là một nguy cơ lớn ñối với những nền chăn nuôi dựa vào thức ăn tinh Xu thế này làm cho ngành chăn nuôi các loại gia súc ăn cỏ ngày càng trở nên quan trọng vì sẽ có hiệu quả kinh tế cao
có chất lượng tốt ở các thời ñiểm khan hiếm thức ăn trong năm ñặc biệt
là trong vụ ñông xuân khi thời tiết khô và lạnh Hiện nay, việc giải quyết thức ăn cho trâu bò ở nước ta ñặc biệt là ñối với miền bắc ñang còn gặp nhiều khó khăn, thiếu thức ăn trầm trọng vào mùa ñông dẫn ñến
ñã hạn chế sự phát triển của ñàn gia súc nhai lại
2.1.2 Vai trò của thức ăn thô xanh ñối với trâu bò
Thức ăn cho trâu bò rất ña dạng và phong phú, khi sử dụng thức ăn cho gia súc nhai lại cần phải biết rõ ñặc tính và ñặc ñiểm của từng loại, lựa chọn
và phối hợp khẩu phần cho phù hợp với nhu cầu của từng thời kỳ và tiềm
Trang 13năng sản xuất của mỗi con Thức ăn cho trâu bò thường ựược xếp thành 3 nhóm chắnh: thức ăn thô, thức ăn tinh và thức ăn bổ sung
Thức ăn thô là loại thức ăn làm ựầy dạ cỏ, ựảm bảo sự hoạt ựộng bình thường của dạ cỏ Thức ăn thô là thành phần cơ bản, chiếm 70 Ờ 80% vật chất khô trong khẩu phần Lượng thức ăn thô xanh ựược cung cấp ựầy ựủ, chất lượng tốt là ựủ dinh dưỡng cho trâu bò sống và phát triển
2.2 Tình hình nghiên cứu sử dụng phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn
chăn nuôi ở Việt Nam
đã có nhiều ựề tài nghiên cứu về phụ phẩm nông nghiệp ở Việt Nam Tôn Thất Sơn và Vũ Duy Giảng (2000)[40] ựã khảo sát và ựưa ra các công thức ước tắnh phụ phẩm của một số giống lúa và ngô trồng ở Việt Nam Các công thức ước tắnh này rất thuận lợi cho người dân khi ước tắnh khối lượng phụ phẩm nông nghiệp của nông hộ Phần lớn các nghiên cứu tập trung vào việc xử lý và sử dụng có hiệu quả rơm rạ, là nguồn phụ phẩm dồi dào và có trữ lượng lớn nhất ở nước ta đã có nhiều nghiên cứu các giải pháp xử lý rơm
rạ bằng vật lý và hoá học ựã cho kết quả tốt về thành phần hoá học và tỷ lệ phân giải chất hữu cơ trong dạ cỏ Việc xử lý rơm ựã giúp gia súc ăn ựược nhiều hơn (Bùi Văn Chắnh và Nguyễn Hữu Tào, 1990; Vu Duy Giang and Nguyen Xuan Trach, 2002; Phạm Kim Cương và cộng sự, 2001 )[5], [84], [12] Những nghiên cứu mới ựây về việc dùng kết hợp giữa urê và vôi ựể xử
lý rơm nhằm hạ giá thành và làm tăng tiêu hóa của rơm cho kết quả rất tốt (Nguyễn Xuân Trạch, 2001b)[53] Việc phơi khô rơm trong những ngày mùa bận rộn của người nông dân ựã hạn chế việc sử dụng rơm làm thức ăn cho trâu bò Rơm bị thối, mốc và bị ựốt ngay trên ựồng ruộng Do vậy, các nghiên cứu gần ựây ựã tập trung vào việc chế biến bảo quản rơm tươi và kết quả thu ựược rất ựáng quan tâm (Nguyễn Thạc Hòa và cs, 2004; Nguyễn Xuân Trạch
và cộng sự, 2006)[25], [61] Nguồn thân cây ngô sau thu bắp cũng có khối lượng tương ựối lớn ở Việt Nam Thân cây ngô gồm: cây ngô bao tử, cây ngô
Trang 14nếp, cây ngô ngọt, cây ngô thu bắp già Các loại thân cây ngô này ở các giai ựoạn sinh trưởng khác nhau nên rất khác nhau về thành phần hoá học, ựặc biệt hàm lượng ựường hòa tan, nên phương pháp chế biến và bảo quản cũng khác nhau đã có một số nghiên cứu sử dụng các loại thân cây ngô sau thu bắp ựể nuôi bò ựã giúp nâng cao hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi (Bùi Quang Tuấn và Tôn Thất Sơn, 2004; Bùi Quang Tuấn, 2006a ) [69], [74] Các nghiên cứu về chế biến bảo quản và sử dụng ngọn lá mắa (Bùi Văn Chắnh và
cs, 1998, 2000, 2002; đặng Vũ Bình và cs, 2005)[6], [7], [9], [2], phụ phẩm cây dứa (Nguyễn Bá Mùi và cs, 2001)[31], cây lạc (Nguyễn Hữu Tào, 1996)[42], bã sắn (Bùi Quang Tuấn, 2005c; Mai Thị Thơm và Bùi Quang Tuấn, 2006a, 2006b)[73], [45], [46], ựã ựược tiến hành
Trong thời gian qua ựã có một số chương trình dự án hợp tác quốc tế lớn tập trung vào việc nghiên cứu sử dụng phụ phẩm làm thức ăn chăn nuôi ở nước ta Trong số ựó có chương trình SIDA-SAREC (do Thụy điển tài trợ) ựã tiến hành ựược 15 năm qua và dự án NUFU (do Na Uy tài trợ) ựã tiến hành trong 10 năm Kết quả hợp tác nghiên cứu của các chương trình và dự án này rất phong phú và tương ựối toàn diện, ựang cần ựược tổng hợp lại và phổ biến rộng rãi hơn
để ựáp ứng ựòi hỏi của thực tiễn, gần ựây ở Việt Nam ựã có một số nghiên cứu xử lý và bổ sung chất dinh dưỡng nhằm nâng cao khả năng sử dụng rơm lúa làm thức ăn cho gia súc nhai lại
Một số thắ nghiệm ựã ựược tiến hành ựể ựánh giá ảnh hưởng của xử lý tới thành phần hoá học của rơm Nguyễn Trọng Tiến (1993)[47] theo dõi sự thay ựổi thành phần hóa học của rơm lúa xử lý urê theo các mức 0, 2, 3, 4 và 5% ở các thời gian ủ 0, 10, 30, 60 và 90 ngày Nguyễn Xuân Bả (1997)[1] ựã tiến hành một nghiên cứu tương tự với các mức urê xử lý là 0, 3, 4 và 5% và thời gian ủ là 0, 10, 20, 30 và 60 ngày Cả hai tác giả trên ựã cho thấy chất khô, xơ thô, protein thô của rơm ựã giảm khi thời gian xử lý tăng lên, xử lý
Trang 15urê làm tăng protein thô và làm giảm xơ thô của rơm Dựa trên kết quả của những nghiên cứu này, rơm xử lý 3% urê là thích hợp và thời gian ủ ít nhất là
10 ngày nhưng không nên quá 30 ngày Vu Duy Giang and Nguyen Xuan Trach (2002)[84], Nguyễn Xuân Trạch và cs (1997)[48]; Nguyen Xuan Trach
và cs (1998)[87] cũng ñã phân tích một số yếu tố như mức urê, ñộ ẩm, thời gian xử lý ảnh hưởng tới thành phần hoá học của rơm, kết quả cho thấy thời gian xử lý từ 10 - 30 ngày và tỷ lệ nước 0,5 - 1/1 không có ảnh hưởng ñáng kể tới hàm lượng NDF, ADF của rơm xử lý 5% urê hay rơm xử lý 3% urê + 0,5% vôi Tuy nhiên, lượng nitơ cố ñịnh tăng lên ñáng kể sau 20 ngày trong rơm xử lý 5% urê so với rơm xử lý 3% urê + 0,5% vôi Cù Xuân Dần và Nguyễn Xuân Trạch (1999a)[14] ñã nghiên cứu sự biến ñổi thành phần hoá học của rơm khi xử lý bằng urê và vôi, các tác giả ñã xử lý rơm theo một trong các công thức của thí nghiệm nhân tố 3 × 3 với 3 mức urê (0, 2 và 4%)
và 3 mức CaO (0, 3, và 6%), thời gian ủ 21 ngày, kết quả cho thấy hàm lượng
N tăng rõ rệt (P<0,001), hàm lượng NDF, hemixenluloza giảm (P<0,001) và (P<0,05) ở rơm ñược xử lý urê, không thấy có ảnh hưởng rõ rệt ñến lượng N
và mỡ nhưng giảm mạnh lượng NDF (P<0,001), ADF (P<0,001), ADL (P<0,001), hemixenluloza (P<0,001), xơ (P<0,01) và xenluloza (P<0,05) và tăng rõ rệt hàm lượng khoáng tổng số (P<0,001) ñối với rơm xử lý bằng CaO
Cù Xuân Dần và Nguyễn Xuân Trạch (1999b)[15] nghiên cứu ảnh hưởng của một số công thức kiềm hóa ñến tính chất và thành phần hóa học của rơm, kết quả cho thấy hàm lượng N tăng lên rõ rệt khi rơm ñược xử lý bằng urê hoặc nước tiểu, xử lý rơm bằng 6% CaO hoặc 8% Ca(OH)2 ñã làm giảm hàm lượng NDF so với rơm không xử lý, nếu kết hợp urê với vôi xử lý rơm thì làm tăng hàm lượng protein thô và ức chế ñược nấm mốc phát triển Nhằm tìm nguồn urê rẻ tiền cho việc xử lý rơm rạ, tác giả Hoàng Thiên Hương và cộng sự (1998)[27] ñã nghiên cứu khả năng sử dụng nước tiểu ñể xử lý rơm làm thức
ăn cho gia súc nhai lại, tác giả ñã tiến hành lấy mẫu nước tiểu người và bò sữa
Trang 16ở vùng ngoại thành Hà Nội, phân tích thành phần hoá học và sau ñó sử dụng
ñể xử lý rơm theo công thức 1 kg rơm/2 lít nước tiểu, rơm ủ 4% urê trong thời gian 21 ngày làm ñối chứng, tác giả cho rằng việc dùng trực tiếp nước tiểu ñể
xử lý rơm ñã dẫn ñến hiện tượng thối mốc do lượng N có trong nước tiểu ở mức quá thấp và biến ñộng lớn
Một số nghiên cứu trên bò mổ lỗ dò dạ cỏ ñã ñược tiến hành ñể xác ñịnh khả năng phân giải rơm trong dạ cỏ và sự phát triển của vi sinh vật do ảnh hưởng của việc xử lý urê ðặng Thái Hải và Nguyễn Trọng Tiến (1995a)[23] ñã kiểm tra mức tiêu hao chất khô, xơ thô và protein thô của rơm
ủ ở các mức 3, 4 và 5% urê và ñộ ẩm 50% trong 21 ngày Các tác giả cho thấy
tỷ lệ tiêu hóa chất khô, xơ thô và protein thô tăng lên nhờ xử lý urê, tuy nhiên
tỷ lệ phân giải xơ thô và protein thô tăng lên không ñáng kể khi các mức xử lý urê tăng từ 3 - 4 và 5% ðặng Thái Hải và Nguyễn Trọng Tiến (1995b)[24] cũng thông báo rằng việc bổ sung hay xử lý rơm bằng 3% urê làm thức ăn cho
bò ñã làm tăng số lượng vi khuẩn có lợi cho việc phân giải xenluloza; tuy nhiên số lượng protozoa không bị ảnh hưởng ñáng kể bởi bổ sung hay xử lý rơm bằng urê Nguyễn Xuân Trạch và Cù Xuân Dần (1999)[49] ñã nghiên cứu ñặc ñiểm phân giải ở dạ cỏ của rơm lúa ñược xử lý bằng urê và vôi, kết quả cho thấy xử lý bằng urê (2 và 4%) hoặc CaO (3 và 6%) ñã làm tăng rõ rệt
tỷ lệ phân giải chất khô của rơm, các giá trị về chỉ tiêu ñộng thái phân giải cũng tăng lên rõ rệt như: tỷ lệ hòa tan ban ñầu (P<0,001), phần không hòa tan nhưng có thể lên men ñược (P<0,001) và tốc ñộ phân giải (P<0,05 với urê và P<0,001 với vôi), không thấy có tương tác tích cực giữa urê và vôi tới khả năng phân giải chất khô So sánh ảnh hưởng của việc xử lý urê, vôi và nước tiểu ñến tỷ lệ và ñặc ñiểm phân giải chất khô của rơm ở dạ cỏ, tác giả Nguyễn Xuân Trạch và cs (1999)[50] cho rằng các thông số về ñộng thái và tỷ lệ phân giải chất khô sau 48 giờ lưu mẫu ñược sắp xếp từ cao xuống thấp theo các công thức xử lý như sau: 6% CaO; 8% Ca(OH)2; 2% urê + 4% Ca(OH)2; 4%
Trang 17urê + 0,5% Ca(OH)2; 4% urê và nước tiểu
Bùi Văn Chính và cs (1992)[82] thông báo những kết quả ñáng khích lệ
về tốc ñộ tăng trưởng và sự thu nhận thức ăn của bê lai hướng thịt ñược nuôi bằng rơm xử lý 2,5 urê, 0,5% vôi và 0,5% muối, bò thí nghiệm tăng trọng bình quân 450g/con/ngày Tiến hành thí nghiệm nuôi dưỡng bò thịt và cho thấy rằng khối lượng sống tăng lên, lượng thu nhận rơm cũng tăng lên khi bê ñược nuôi bằng rơm xử lý 4% urê, bổ sung bánh hạt bông và rỉ mật ñường so với những bò ñược nuôi bằng rơm không xử lý trộn 4% urê và cũng ñược bổ sung như trên Nguyễn Xuân Bả (1997)[1] ñã so sánh rơm xử lý 4% urê, rơm trộn 4% urê và rơm không xử lý nuôi bê lai cho thấy tăng trọng và lượng thu nhận thức ăn hàng ngày cao nhất với những bò nuôi bằng rơm xử lý 4% urê, sau ñó là rơm trộn 4% urê và rơm không xử lý Lê Viết Ly và cs (1995)[30] nghiên cứu sử dụng hạt bông, rỉ mật, rơm xử lý 4% urê và rơm không xử lý + 4% urê bổ sung cho bò lai trong mùa khô cho thấy, sau 6 tháng thí nghiệm bò ñược bổ sung hạt bông, rỉ mật, rơm xử lý 4% urê tăng trọng bình quân 568 g/con/ngày, lô bổ sung hạt bông, rỉ mật và rơm không xử lý + 4% urê tăng trọng 454 g/con/ngày trong khi ñó lô không bổ sung chỉ tăng trọng 157 g/con/ngày Hiệu quả của việc bổ sung là lãi suất so với ñầu tư ở lô ăn rơm xử
lý vượt 47,5% và lô ăn rơm không xử lý trộn urê vượt 11,5% so với lô ñại trà sản xuất Ho Quang Do và cs (1999)[83] ñã nghiên cứu sử dụng urê bổ sung cho bò lai Sind ăn khẩu phần cơ sở là rơm bằng 2 cách: phun dung dịch urê (50 g urê hoà tan trong 1 lít nước); bổ sung 10% urê vào tảng liếm rỉ mật - MUB (dạng mềm) và tảng liếm ñất sét (dạng cứng) kết quả cho thấy tăng trọng bò thí nghiệm ñạt cao nhất ở lô bổ sung MUB, thấp nhất là lô bổ sung urê dạng phun dung dịch (280 và 125 g/con/ngày) Tuy nhiên, trong những nghiên cứu ở trên chưa tách biệt ñược ảnh hưởng của từng yếu tố trong khẩu phần ñến tốc ñộ tăng trưởng Gần ñây nhất tác giả Nguyen Xuan Trach và cs (2000)[87] ñã nghiên cứu một cách tương ñối hệ thống từ khâu xử lý rơm
Trang 18bằng vôi tôi (3 và 6%), urê (2 và 4%) và kết hợp cả vôi và urê theo tỷ lệ trên, kết quả cho thấy các công thức xử lý rơm ñã có ảnh hưởng rõ rệt làm tăng tỷ
lệ và tốc ñộ phân giải chất khô in sacco, lượng khí sinh ra trong quá trình lên men in vitro, lượng chất khô rơm thu nhận và tỷ lệ tiêu hóa biểu kiến Tác giả cũng ñã sử dụng bã bia và hạt bông làm thức ăn bổ sung cho bê ăn khẩu phần
cơ sở là rơm, kết quả cho thấy nhóm bê ăn thức ăn bổ sung là bã bia tăng trọng cao nhóm hơn nhóm bê ñược bổ sung hạt bông
Việc kết hợp cho ăn rơm xử lý urê và bổ sung bánh ña chất dinh dưỡng
ñã mang lại năng suất sữa và lợi nhuận cao hơn so với chỉ cho ăn rơm xử lý urê Vũ Duy Giảng và cs (1999)[18] ñã nghiên cứu sử dụng 3 - 4% urê ñể xử
lý rơm và thân cây ngô làm thức ăn cho bò sữa kết quả cho thấy ñã làm tăng
tỷ lệ tiêu hoá chất hữu cơ và xơ so với lô ăn rơm và thân cây ngô không xử lý (62,9 và 58,8 so với 58,1 và 50,5%) Bùi Quang Tuấn và cs (2000)[67] ñã nghiên cứu các mức protein khác nhau bổ sung cho bò sữa ăn khẩu phần cơ
sở là rơm và thân cây ngô xử lý urê, kết quả cho thấy năng suất và chất lượng sữa không bị thay ñổi so với những bò ăn khẩu phần cơ sở là cỏ xanh Nguyễn Thị Lương Hồng (1995)[26] thay thế một phần cỏ xanh trong khẩu phần bò sữa bằng rơm xử lý urê cho kết quả khả quan
ðối với trâu ở ñồng bằng sông Cửu Long, Nguyen Van Thu và cộng sự (1994b)[86] cho thấy rằng bổ sung bánh dinh dưỡng urê - rỉ mật cho trâu ñịa phương nuôi bằng rơm rạ ñã cải thiện ñược tình trạng sức khoẻ và tăng năng suất cày kéo Nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung bánh ña chất dinh dưỡng ñối với bê nghé và trâu bò cày kéo, các tác giả này kết luận rằng bánh dinh dưỡng chứa urê - rỉ mật, cám, bột dừa, muối, bột xương và các nguyên tố
vi lượng có khả năng giúp duy trì ñược sức khỏe tốt và năng suất cày kéo cao ñối với trâu bò ở những vùng thường thiếu thức ăn và nước Ngoài ra, Nguyen Van Thu và cs (1994a)[85] còn cho biết cho ăn rơm xử lý 4% urê hoặc có bổ sung thêm bánh urê - rỉ mật làm tăng hàm lượng protein thô của rơm, tăng thu
Trang 19nhận thức ăn, sức khoẻ, năng suất cày kéo và năng suất sữa của trâu bị so với cho ăn rơm khơng xử lý
Như vậy, mặc dù đã cĩ một số nghiên cứu trong phịng thí nghiệm, nghiên cứu dạ cỏ, thí nghiệm nuơi dưỡng, nhưng các nghiên cứu cho đến nay mới chỉ được tiến hành riêng rẽ và chủ yếu là xử lý rơm bằng urê là phương pháp xử lý đã từng được nghiên cứu nhiều trên thế giới Hiện đang thiếu những nghiên cứu đồng bộ cĩ hệ thống từ phịng thí nghiệm cho đến sản xuất Cũng chưa cĩ được các nghiên cứu so sánh về tác dụng và hiệu quả kinh tế của các vật liệu xử lý rơm và thức ăn bổ sung khác nhau để tìm ra được cơng thức tối ưu hay các giải pháp thay thế Mặt khác cho đến nay ở Việt Nam cịn thiếu các nghiên cứu về năng suất và chất lượng rơm của các giống lúa khác nhau Các nhà nhân giống cây trồng thường vẫn chỉ tập trung vào việc nâng cao năng suất thĩc hạt phục vụ trực tiếp cho nhu cầu của con người, mà rất ít chú ý đến rơm - một sản phẩm phụ nhưng lại rất quan trọng đối với chăn nuơi
2.3 Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc ở Việt Nam
Việt Nam cĩ 8 vùng sinh thái nơng nghiệp khác nhau Khơng cĩ một cây thức ăn gia súc nào phát triển tốt, cho năng suất, chất lượng thức ăn cao ở tất cả các vùng sinh thái trên Vì vậy chúng ta đã cĩ những nghiên cứu, khảo sát, tuyển chọn những cây đậu, hịa thảo cho mỗi vùng sinh thái khác nhau (Lê Hịa Bình và cộng sự, 1992; Nguyễn Ngọc Hà và cộng sự, 1992; Nguyễn Thị Liên, 2000; Bùi Quang Tuấn, 2004; Bùi Quang Tuấn, 2005a ).[3], [22], [28], [70], [71]
Từ những năm 1960 đến nay, để tạo nguồn thức ăn chăn nuơi, hầu hết các nghiên cứu đều tập trung vào tuyển chọn và xác định các giống cỏ trồng nhập nội cĩ năng suất cao và chất lượng tốt phù hợp với các vùng sinh thái khác nhau trong cả nước Một tập đồn giống phong phú đã được tìm ra và rất nhiều giống đã và đang được phát triển trong sản xuất Nhiều giống cỏ cho năng suất vật chất khơ khá cao 18 - 26 tấn; 17,8 tấn; 13,8 tấn và 14,8 tấn
Trang 20tương ứng cho các giống P Pupursenum King grass, P M Likoni, Pangola,
Bermula (Nguyễn Ngọc Hà và cs, 1995) (trắch dẫn từ Nguyễn Thị Mùi,
2003)[32] Trên vùng ựất phù sa sông Hồng, vùng ựất ựồi Hà Tây giống cỏ P
M Hamill, P M Common, P.M Ciat 673 cũng cho năng suất chất xanh khá cao (60 - 66 tấn/ha/năm) trên vùng ựất xám Bình Dương (Vũ Kim Thoa và
cộng sự, 1999) (trắch dẫn từ Nguyễn Thị Mùi, 2003)[32] đặc biệt với cỏ B
Ruzizinensis ựã ựược trồng thắch nghi với các ựiều kiện ựất ựai khác nhau ở nhiều vùng (Hà Tây, Bắc Giang, Lạng Sơn, Khánh Hòa, Hòa Bình, Hà Tĩnh, Gia Lai) Năng suất chất xanh biến ựộng từ 50 ựến 65 tấn/ha/năm (Dương Quốc Dũng và cs, 2000) (trắch dẫn từ Nguyễn Thị Mùi, 2003)[32] Tại ựồng
bằng Nam Bộ và vùng đắc Lắc, B Ruzizinensis ựã cho năng suất vật chất khô
khoảng 14,5 tấn/ha/năm (Khổng Văn đĩnh, 1995; Trương Tấn Khanh và cs, 1999) (trắch dẫn từ Nguyễn Thị Mùi, 2003)[32] Mặc dù ựã thắch nghi và ựược phát triển tại các vùng của Việt Nam nhưng các giống cỏ trồng chọn lọc
trên chưa phát huy ựược hết tiềm năng sản xuất sinh khối, vắ dụ giống B
ruzizinensis ựã ựạt năng suất 19,5 tấn VCK/ha/năm tại vùng Queensland
Giống B decumben có thể ựạt ựược năng suất VCK 23,1 - 34 tấn/ha/năm trong khi ựó tại đắc Lắc Việt Nam, các giống cỏ này và các giống cỏ B
brizantha, B humidicola chỉ ựạt 10,5 - 17,2 tấn/ha/năm (Trương Tấn Khanh
và cs, 1999) (trắch dẫn từ Nguyễn Thị Mùi, 2003)[32]
để các giống cỏ trồng phát huy ựược hết tiềm năng sản xuất sinh khối, bước ựầu cũng ựã có những nghiên cứu về quy trình chăm sóc, sử dụng hợp lý các giống cây thức ăn gia súc (Phan đình Thắm và Trần Huê Viên, 2004; Bùi Quang Tuấn, 2005bẦ) [43], [72] Vấn ựề ựưa cây thức ăn vào trồng trong hệ thống canh tác của người nông dân có ý nghĩa thực tiễn rất lớn Một số tác giả
ựã nghiên cứu trồng cây thức ăn gia súc giữa hai vụ chắnh, trồng xen, trồng dưới tán cây rừng, cây ăn quả, trồng chống xói mònẦ (Nguyễn Văn Lợi và
cs, 2004; Nguyễn Thị Mùi và cộng sự, 2005Ầ) [29], [34] Kết quả thu ựược
Trang 21rất có giá trị thực tiễn, vừa giúp cung cấp thức ăn xanh cho ñàn trâu bò, vừa giúp bảo vệ môi trường
Mô hình trồng xen cỏ hòa thảo và cỏ họ ñậu ñược thực hiện với hi vọng
có một hỗn hợp cỏ ñáp ứng nhu cầu protein và năng lượng cho bò sữa, bò thịt cao sản Các giống cỏ hòa thảo thường ñược sử dụng trồng xen với cây họ ñậu là: cỏ Sả, cỏ Voi; Brachiaria ruziziensis (Ruzi grass) còn có tên là cỏ
Công gô, cỏ Ruzi; Brachiara brizantha (Signal grass) còn có tên là cỏ Tín hiệu, Brachiara mutica (Para grass, Water grass) còn có tên là cỏ Lông Para…
Cỏ Setaria là một trong những giống cỏ nhập ngoại mới ñưa vào nước
ta nên còn ít kết quả nghiên cứu về giống cỏ này Năm 2004, trung tâm nghiên cứu và huấn luyện chăn nuôi gia súc lớn ñã tiến hành trồng thử
nghiệm 14 giống cỏ thảo, thuộc 3 nhóm Brachiaria, Digitaria và Setaria
ñược các chuyên gia Australia tặng Theo sách Nuôi bò thịt (ðinh Văn Cải, 2007)[4] nhận ñịnh cỏ Setaria thích hợp với vùng lạnh, ñất xấu tạm thời Sách Dinh dưỡng và thức ăn cho bò cũng chỉ ra cỏ Setaria có hàm lượng ñộc tố Oxalate cao (4,5 - 6,7 %) trong chất khô ở cỏ 3 tuần tuổi Nên có thể là nguyên nhân gây bệnh “ñầu to” ở ngựa và bệnh “sốt sữa” Cỏ Setaria khả năng sản xuất hạt kém, nhân giống dễ dàng bằng thân gốc Các giống có triển
vọng là: Lampung, Nandi, Narok, Solander và Splendida
Ở Việt Nam cũng ñã bước ñầu tiến hành ñánh giá, tuyển chọn các giống cao lương từ các tỉnh vùng núi phía bắc, từ các giống nhập nội ñể tìm ra các giống chịu lạnh, chịu hạn, có năng suất, chất lượng cao, làm cơ sở cho việc lai tạo các giống cao lương làm thức ăn chăn nuôi trong vụ ñông xuân (Bùi Quang Tuấn và cs, 2006c)[76] Cỏ Thừng và cỏ Sậy là hai giống cỏ bản ñịa của Bắc Ninh, mới ñược ñưa vào trồng năm 2005 Do ñó có ít công trình nghiên cứu về hai giống cỏ này Từ thực tiễn sản xuất, Trung tâm Khuyến nông và Sở Nông nghiệp - PTNN tỉnh Bắc Ninh ñã gửi mẫu cỏ tới Viện Chăn nuôi Quốc gia ñể phân tích
Trang 222.4 đặc ựiểm của một số cây cỏ nghiên cứu và các yếu tố ảnh hưởng
ựến sinh trưởng phát triển của cỏ
2.4.1 Cỏ Voi (Pennisetum purpureum)
Cỏ Voi là loại cỏ thân ựứng, lá dài và nhân giống chủ yếu bằng ựoạn thân hay bụi Cỏ Voi thuộc nhóm cây tổng hợp chuỗi 4 Cacbon (C4) có khả năng thâm canh cao Trong ựiều kiện thuận lợi có thể ựạt 25 - 30 tấn chất khô trên 1 ha trong 1 năm với 7 - 8 lứa cắt đôi khi có thể ựạt năng suất cao hơn nếu ựáp ứng ựủ phân bón và nước Hàm lượng protein thô ở cỏ Voi trung bình 100g/kg chất khô Lượng ựường ở cỏ Voi trung bình 70 - 80 g/kg chất khô Thường thì cỏ Voi thu hoạch 28 - 30 ngày tuổi làm thức ăn xanh cho lợn và thỏ; khi sử dụng cho bò có thể thu hoạch ở 40 - 45 ngày tuổi; trong trường hợp làm nguyên liệu ủ chua có thể cắt ở 50 ngày tuổi Ở Việt Nam thường sử dụng các giống cỏ Voi thân mềm như cỏ Voi đài Loan, Selection I, các giống King Grass, Bùi Văn Chắnh, Bùi Thị Oanh (1995)[10]
2.4.2 Cỏ VA06 (varisme số 06)
Cỏ VA06 (Vietnam Association of Rural Industrial Small and Medium Enterprises) dịch là Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Ngành nghề nông thôn Việt Nam, là giống cỏ ựược lai tạo giữa giống cỏ Voi và cỏ ựuôi sói của châu
Mỹ, ựược ựánh giá là ỘVua của các loài cỏỢ
VA06 dạng như cây trúc, thân thảo, cao lớn, họ hoà thảo, mọc thẳng, năng suất cao, chất lượng tốt, phiến lá rộng, mầm, có hàm lượng dinh dưỡng cao, nhiều nước, khẩu vị ngon, hệ số tiêu hoá cao, là thức ăn tốt cho các loại các loại gia súc ăn cỏ, gia cầm và cá trắm cỏ Trong cỏ VA06 có nhiều loại axit amin và nhiều vitamin, Hàm lượng protein thô ở cỏ VA06 trung bình 18,46% trong vật chất khô Lượng ựường ở cỏ VA06 trung bình 8,3% trong vật chất khô Thường thì cỏ VA06 thu hoạch 40 - 45 ngày tuổi, năng suất 350
- 400 tấn/ha/năm (TB 360 tấn), làm thức ăn xanh cho lợn và thỏ; khi sử dụng cho bò có thể thu hoạch ở 50 - 60 ngày tuổi (Hoàng Chung, Nghiêm Văn Cường, 2008) [11]
Trang 23Giá trị của giống cỏ VA06
- Làm thức ăn chăn nuôi
VA06 dạng như cây trúc, thân thảo, cao lớn, họ hoà thảo, dạng bụi, mọc thẳng, năng suất cao, chất lượng tốt, phiến lá rộng, mềm, có hàm lượng dinh dưỡng rất cao, nhiều nước, khẩu vị ngon, hệ số tiêu hoá cao, là thức ăn tốt nhất cho các loại gia súc ăn cỏ, gia cầm, và cá trắm cỏ Trong cỏ có 17 loại axit amin và nhiều loại vitamin Trong cỏ tươi, hàm lượng protein thô 4,6%, protein tinh 3%, ñường 3,02%; Trong cỏ khô, hàm lượng protein thô 18,46%, protein tinh 16,86%, ñường tổng số 8,3% Cỏ VA06 vừa có thể làm thức ăn tươi, làm thức ăn ủ chua, thức ăn hong khô hoặc làm bột cỏ khô dùng ñể nuôi
bò thịt, bò sữa, dê, cừu, thỏ, gà tây, cá trắm cỏ, mà không cần hoặc về cơ bản không cần cho thêm thức ăn tinh vẫn ñảm bảo vật nuôi phát triển bình thường Hiệu quả về chăn nuôi hơn hẳn các loại cỏ khác, chẳng hạn, cứ 14 kg cỏ tươi thì sản xuất ñược 1 kg trắm cỏ, 18 kg cỏ tươi thì sản xuất ñược 1 kg thịt ngỗng Không những vậy, giống cỏ này có hàm lượng ñường cao, giàu dinh dưỡng ñược các loại vật nuôi như bò, dê, cừu, lợn, lợn rừng, gà tây, cá trắm
cỏ rất thích ăn, vật nuôi chóng lớn, khoẻ mạnh
- Dùng làm nguyên liệu giấy và gỗ ván nhân tạo
Theo phân tích của các cơ quan chuyên môn thì ñộ dài xenlulo 4,4mm, rộng 30µm, hàm lượng xenlulo 25,28%, là nguyên liệu sản xuất giấy chất lượng cao, thời gian nấu, ñộ tẩy trắng, hệ số thu hồi bột giấy ñều cao hơn các loại nguyên liệu khác như cây tốc sinh dương, cói và các cây hoà thảo khác Loại cỏ này cũng có thể sản xuất ván nhân tạo chất lượng tốt, với giá rẻ
- Giống cỏ VA06 chịu rét, chịu hạn, có bộ rễ phát triển cực mạnh, dài tới 3 - 4m, rễ dài nhất tới 5m, mọc tập trung ðường kính thân 2 - 3cm, lớn nhất 4cm, chống gió tốt, là cây chống xói mòn có hiệu quả, cũng là một loại cây lý tưởng trồng trên ñất có ñộ dốc cao, kể cả ñất có ñộ dốc trên 250; trồng làm hàng rào xung quanh vườn quả; trồng ven ñê, ven hồ ñể chống xạt lở, trồng ở vùng ñất cát ñể giữ cát và là cây phủ xanh ñất trống ñồi trọc
Trang 24- Loài thực vật C4 có tác dụng quang hợp rất mạnh, có tác dụng tốt ñến việc hấp thụ các khí ñộc trong không khí Có thể trồng trên diện tích lớn ở ven ñường, xung quanh vùng khai thác khoáng sản, trong công viên lớn ñể bảo vệ môi trường
- Ngoài ra là giống cỏ có thể ăn và ñể nuôi nấm ăn và nấm dược liệu, loại cỏ này còn cỏ thể dùng ñể sản xuất nhiều mặt hàng tiêu dùng khác
ðặc tính sinh trưởng của cỏ VA06
- Tính thích ứng rộng, sức chống chịu rất mạnh: VA06 có thể trồng ñược ở hầu hết các loại ñất, kể cả ñất cát sỏi, ñất mặn kiềm nhẹ, chịu ñược ñộ
pH 4,5 Trên ñất khô hạn, ñất ñọng nước, ñất dốc, ñất bằng, bờ ruộng, ven ñê, ven hồ, ñều có thể sử dụng ñể trồng loại cỏ này
Giống cỏ VA06 yêu cầu ñiều kiện môi trường như sau: số ngày nắng trong 1 năm trên 100 ngày, ñộ cao so với mực nước biển dưới 1500m, nhiệt
ñộ bình quân năm trên 150C, lượng mưa/năm trên 800mm, số ngày không sương muối/năm trên 300 ngày Do phổ thích nghi rộng, sức chống chịu tốt, nên tỷ lệ sống sau khi trồng rất cao, nói chung trên 98%, ngay trên vùng ñất thấp, ẩm ướt và rét, tỷ lệ sống vẫn trên 98%
- Tốc ñộ sinh trưởng mạnh, sức sinh sản nhanh Ở vùng nhiệt ñới, cỏ VA06 có thể sinh trưởng quanh năm, chiều cao thân bình quân 4 - 5 m, cao nhất ñạt 6m, ñẻ rất khoẻ, một cây có thể ñẻ 20 - 35 nhánh/năm, mức cao nhất
là 60 nhánh, 1 ha có thể có 5,25 triệu nhánh, hệ số nhân trên 500 lần Nếu trồng 1 ha vào vụ xuân, sau 8 tháng có thể ñủ giống trồng trên 300 ha cho năm sau, nếu ñủ phân, ñủ nước thì năm thứ 2 có thể ñủ giống ñể trồng trên
800 ha
- Kỹ thuật trồng ñơn giản, năng suất rất cao
Dùng cách tách chồi hoặc cắt mắt ñể trồng thì chỉ sau 40 ngày là có thể cắt ñược lứa ñầu ở các vùng nhiệt ñới và một số vùng á nhiệt ñới, có thể thu hoạch cỏ quanh năm, năng suất ñạt trên 652 tấn/ha/năm, Gia cầm và cá trắm ñạt 608 tấn/ha/năm ñứng ñầu bảng so với năng suất của mọi loại cỏ hoà thảo
Trang 25khác, gấp 20 - 30 lần năng suất của các loại cỏ họ ñậu Khả năng lưu gốc của
cỏ rất tốt, trồng 1 năm thu hoạch liên tục 6 - 7 năm, từ năm thứ 2 ñến năm thứ
6 là thời kỳ cho năng suất cao nhất Loại cỏ này chủ yếu dùng phương pháp sinh sản vô tính Do sức chịu rét tốt, nên nói chung khi nhiệt ñộ trên 00C, cây
có thể qua ñông, trên 80C cây phát triển thường Loại cỏ này rất ít bị sâu bệnh, ñược coi là một loại cỏ trồng ít sâu bệnh nhất
Cỏ Setaria là loài mọc thẳng ñứng, lâu năm, ñộ cao có thể tới 2m Thân ñứng, mềm, dẹt, trên thân có phân ñốt, các ñốt sát gốc có màu nâu ñỏ Lá mềm, màu xanh xám, dài khoảng 30 - 80 cm và rộng khoảng 2 cm ðầu ngọn
lá và hai bên mép lá có màu nâu tím, cụm hoa hình ñuôi chuột Trên cụm hoa
có các hoa nhỏ màu tím Cỏ ra hoa 1 lần/năm Cỏ Setaria sphacelata
var.splendida không sản xuất hạt nên nhân giống bằng phương pháp vô tính
Cỏ Setaria sphacelata cv.solander sản xuất ñược hạt, hạt giống như hạt kê
nhưng nhỏ hơn (có khoảng 1,5 triệu hạt/kg)
Cỏ Setaria thích ứng tốt với nhiều loại ñất, có thể tồn tại ở nơi ít màu
mỡ, nhưng ñòi hỏi sự ñáp ứng nitơ, photpho và kali ở những vùng ñất xấu Cỏ thích hợp trồng ở những nơi ñất ẩm, phát triển tốt ở vùng có lượng mưa trên
750 mm/năm Trong tự nhiên cỏ Setaria thường ñược tìm thấy ở những vùng
Trang 26ñất mà lượng mưa hàng năm lớn hơn 1.000 mm Cỏ Setaria ñược trồng hầu hết ở những vùng ñất mà lượng mưa hàng năm lớn hơn 1.500 mm Cỏ có thể chịu ñựng ñược mùa khô kéo dài, có thể chịu ñựng tốt trong ñiều kiện ngập lụt Tuy nhiên lá cây thường bị úa ñỏ nếu stress úng Cỏ Setaria còn có ưu ñiểm là khả năng chịu bóng tốt Sau khi gieo, trồng khoảng 6 tuần là có thể thu hoạch, cỏ tái sinh nhanh, 30 - 40 ngày cắt một lần Năng suất chất xanh có thể ñạt 120 - 130 tấn/ha/năm Giống cỏ này thân mềm, nhiều lá, lâu cỗi nên lượng chất xanh sử dụng rất lớn Có dùng cho trâu bò ăn cỏ tươi hoặc phơi tái,
ủ chua ñể dự trữ Cỏ có hàm lượng ñạm chiếm 11 - 13%
Hạn chế của cỏ Setaria là hàm lượng ñộc tố Oxalate cao, phần thân sát gốc cứng trâu bò khi ăn thường chừa lại
2.4.4 Cỏ Thừng và cỏ Sậy
Hai giống cỏ Thừng và cỏ Sậy ñược ông Lê ðắc Quý ở thôn Thượng, xã Cảnh Hưng, huyện Tiên Du, Bắc Ninh tình cờ phát hiện ngoài bờ mương trong khi ra ñồng cắt cỏ làm thức ăn cho ñàn bò sữa Sau ñó ông Quý ñem hai giống
cỏ này về trồng thử và ñặt tên là cỏ Thừng (hoặc cỏ Chân rết) và cỏ Sậy ðây là giống cỏ bản ñịa của tỉnh Bắc Ninh Sau thành công của ông Quý, nhiều hộ gia ñình trong xã Cảnh Hưng cũng ñã ñưa hai giống cỏ này vào trồng Trung tâm Khuyến nông - Khuyến ngư tỉnh Bắc Ninh ñã nhân giống và năm 2008 triển khai xây dựng mô hình phát triển 2 giống cỏ bản ñịa với diện tích 3.600 m2 tại
xã Cảnh Hưng Mấy năm gần ñây cỏ Thừng và cỏ Sậy ñang ñược các hộ chăn nuôi trâu bò của huyện Tiên Du và một số nơi khác trồng và nhân rộng
Cỏ Thừng có rảnh nhỏ thân có nhiều ñốt, mỗi ñốt có một bẹ lá ôm sát kín thân, lá nhỏ xòe ra, lá mọc so le nhưng dầy cho nên nhìn như ñối nhau và toàn cây cỏ nếu mọc thưa bò trên mặt ñất trông giống hình con rết Thân và lá
cỏ mềm mượt có màu xanh ñậm Khi cỏ mọc hoang thì thân to, lá thưa hơn và
bò gần sát mặt ñất Khi ñược trồng và chăm sóc thì cỏ ñẻ nhánh dầy sát nhau thân mọc ñứng, thảm cỏ có ñộ cao rất ñều, ñộ cao có thể ñạt tới 0,8 - 1m
Cỏ Sậy có thân lá to hơn cỏ Thừng, khi mọc hoang thì mọc thành từng bụi
Trang 27to và thường mọc ở giữa các bờ ngăn Khi ñược trồng và chăm sóc thì cỏ mọc sát nhau hơn, thân thẳng ñứng tạo thành thảm cỏ, ñộ cao không ñồng ñều như cỏ Thừng Thân và lá cỏ mềm không có lông, màu sắc xanh nhạt hơn cỏ Thừng và gần giống màu cỏ Setaria Khi ñạt ñộ cao 0,8 - 1m thì cỏ ra hoa, cuống hoa cao, thân hoa dài có màu trắng xanh xòe ngang ra bốn phía trên ngọn cỏ
Cỏ Thừng và cỏ Sậy sinh trưởng tốt trên cả ñất thịt, ñất pha cát, chân ñất hai lúa, ñất bạc màu… Cỏ có khả năng chịu thâm canh, chịu úng khá tốt (có thể chịu ngập nước một tuần) Do có dạng thân bụi mọc dầy sát nhau như ruộng mạ nên có khả năng giữ ẩm tốt trong mùa ñông khô hanh Riêng cỏ Thừng vẫn duy trì năng suất cao nếu ñược tưới ẩm chỉ 1 lần/tháng, cỏ Sậy chịu khô hanh kém hơn cỏ Thừng do mọc thưa hơn, lá to hơn nên dễ thoát nước
ðược so sánh năng suất tương ñương với cỏ Voi (giống cỏ có năng suất cao nhất ñược công nhận hiện nay) Chỉ một tháng rưỡi sau trồng, cỏ Thừng
và cỏ Sậy ñã cho thu hoạch lứa ñầu Những lần thu cắt tiếp theo chỉ cách lần trước khoảng 35 - 40 ngày Mỗi năm cỏ cho thu hoạch 7 - 8 lứa, năng suất chất xanh trung bình ñạt 240 - 280 tấn/ha/năm
Những người trồng cỏ này cho biết, cỏ Thừng và cỏ Sậy không bị chuột phá hoại, không tốn công băm thái như cỏ Voi và trâu bò cũng rất thích
ăn do mềm mượt, không có lông, thơm ngon ñặc biệt nếu ñược ủ chua Bò sữa
ăn các loại cỏ này khoẻ mạnh, cho năng suất, chất lượng sữa cao và ổn ñịnh
Theo Nguyễn Văn Tuế, (2007)[78] cho biết Trung tâm Khuyến nông,
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bắc Ninh ñã gửi mẫu phân tích và cho kết quả, tỷ lệ protein thô của cỏ Thừng 1,55%, cỏ Sậy 1,79%; tỷ lệ VCK
cỏ Thừng ñạt 15,51% và cỏ Sậy ñạt 17,15%
Kỹ thuật trồng và chăm sóc hai giống cỏ này ñơn giản, ít tốn phân bón
và công chăm sóc, hơn nữa chúng không kén ñất nên có thể nhân giống rộng rãi ra các vùng ñất khác nhau
Trang 283 ðỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ðối tượng nghiên cứu
ðối tượng nghiên cứu của ñề tài bao gồm:
- Một số nguồn thức ăn thô cho ñàn trâu, bò của huyện ðiện Biên tỉnh ðiện Biên như: Cỏ tự nhiên, cỏ trồng, phụ phẩm nông nghiệp
5 giống cỏ:
+ Cỏ Voi (Pennisetum purpureum)
+ Cỏ VA06 (varsime số 06)
+ Cỏ Setaria (Setaria sphacelata)
+ Cỏ Thừng (giống cỏ ñịa phương)
+ Cỏ Sậy (giống cỏ ñịa phương)
Các giống cỏ này ñược sơ tuyển từ những giống cỏ trồng tại vườn tiêu bản của Khoa Chăn nuôi và Nuôi trồng thuỷ sản, trường ðại học Nông nghiệp
Hà Nội
3.2 ðịa ñiểm và thời gian nghiên cứu
ðề tài ñược tiến hành từ tháng 6 năm 2009 ñến tháng 6 năm 2010 ðịa ñiểm nghiên cứu: Huyện ðiện Biên tỉnh ðiện Biên
3.3 Nội dung nghiên cứu
3.3.1 Khảo sát một số nguồn thức ăn thô và tình hình sử dụng phụ phẩm
nông nghiệp làm thức ăn cho trâu, bò tại huyện ðiện Biên tỉnh ðiện Biên
Các chỉ tiêu nghiên cứu bao gồm:
- Tình hình sử dụng ñất ñai;
- Cơ cấu các loại cây trồng;
- Tình hình phát triển chăn nuôi chung của huyện;
- Quy mô chăn nuôi trâu bò;
- Phương thức chăn nuôi trâu bò;
Trang 29- Nhu cầu thức ăn thô cho ñàn trâu bò;
- Diện tích trồng cỏ, các giống cỏ trồng, năng suất cỏ;
- Một số nguồn phụ phẩm nông nghiệp chính:
+ Khối lượng các loại phụ phẩm nông nghiệp
+ Thành phần hóa học của một số phụ phẩm nông nghiệp
+ Tỷ lệ sử dụng các nguồn phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn cho trâu bò + Những khó khăn khi sử dụng phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn cho trâu bò
3.3.2 Khảo sát, ñánh giá năng suất, chất lượng của các giống cỏ nghiên
cứu
Các chỉ tiêu nghiên cứu bao gồm:
- ðặc ñiểm nông hoá thổ nhưỡng của ñất thí nghiệm;
- ðặc ñiểm khí hậu, khí tượng thủy văn của ñịa bàn nghiên cứu;
- ðộ cao cây khi thu hoạch;
- Năng suất chất xanh, chất khô, protein thô;
- Thành phần hoá học và giá trị dinh dưỡng;
- Tỷ lệ tiêu hoá invivo
3.4 Phương pháp nghiên cứu
Khảo sát một số nguồn thức ăn thô và tình hình sử dụng phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn cho trâu, bò tại huyện ðiện Biên tỉnh ðiện Biên ñược tiến hành thông qua việc thu thập số liệu từ các phòng, ban chuyên môn của huyện, xã, các báo cáo về tình hình sản xuất nông nghiệp và thông qua trực tiếp ñiều tra, phỏng vấn các nông hộ chăn nuôi theo phiếu ñiều tra ñã ñược chuẩn bị trước (Phụ lục 2)
ðiều tra ñược tiến hành tại 2 xã: Thanh Luông và Thanh Nưa, mỗi xã ñiều tra ngẫu nhiên 70 hộ chăn nuôi trâu, bò
Phương pháp tính một số chỉ tiêu:
- Nhu cầu thức ăn thô ñược tính dựa vào ñặc ñiểm sinh lý của gia súc
Trang 30(2,5% khối lượng cơ thể theo chất khô)
- Khối lượng phụ phẩm nông nghiệp ñược ước tính dựa vào diện tích gieo trồng hoặc dựa vào khối lượng chính phẩm
- Tỷ lệ sử dụng phụ phẩm nông nghiệp ñược xác ñịnh theo công thức:
Khảo sát, ñánh giá năng suất, chất lượng của các giống cỏ nghiên cứu ñược tiến hành thông qua bố trí thí nghiệm ñồng ruộng Thí nghiệm ñược tiến hành tại trại Thực tập thí nghiệm, trường Cao ñẳng Kinh tế - Kỹ thuật ðiện Biên, từ tháng 6/2009 ñến tháng 5/2010
Bố trí thí nghiệm
Sơ ñồ bố trí thí nghiệm ñược trình bày trong bảng sau:
Cỏ Voi Cỏ VA06 Cỏ Setaria Cỏ Thừng Cỏ Sậy
Cỏ Sậy Cỏ Voi Cỏ VA06 Cỏ Setaria Cỏ Thừng
Cỏ Thừng Cỏ Sậy Cỏ Voi Cỏ VA06 Cỏ Setaria
Các giống cỏ ñược trồng lặp lại 3 lần, trên 3 ô, mỗi ô có diện tích 15m2 Tổng diện tích thí nghiệm (không kể khoảng cách giữa các ô) là 225m2
Thời gian trồng cỏ
Cả 5 giống cỏ ñều ñược trồng vào ngày 10/6/2009
+ Cỏ Voi và VA06 ñược trồng theo hàng với khoảng cách hàng x hàng
= 60 cm, hàng rạch sâu 20 cm, hom gồm 3 mắt ñặt dưới ñáy hàng so le và nối tiếp nhau, sau ñó phủ ñất
+ Cỏ Setaria
Trang 31Trồng bằng ựoạn thân gốc (cả rễ) tách ra từ các bụi cỏ Mỗi khóm tách
ra có 3 - 4 dảnh và ựem trồng ngay Trồng theo hàng ựã rạch sẵn sâu 15 cm, khóm cách khóm 30 cm, hàng cách hàng 30 cm, ựặt gốc rồi lấp ựất dầy 10
cm, ựể hở phần thân 5 cm, ấn nhẹ ựất ựể tránh khô chồi
+ Cỏ Thừng và cỏ Sậy
Trồng bằng thân cỏ ở tuổi thu hoạch, cắt lấy phần thân gần gốc, xén bỏ bớt phần ngọn, cắt thành ựoạn 25 - 30 cm Rạch ựất hàng cách hàng 25 cm, sâu 10 - 15 cm đặt các ựoạn giống cỏ theo hàng kiểu áp tường, khóm cách khóm 15 - 20 cm, mỗi khóm 2 - 3 dảnh Lấp ựất dày 7 - 8 cm kắn 2/3 cây giống
Chăm sóc sau trồng
Tưới nước ngay sau khi trồng và phủ phần ựất trống ựể tránh cỏ dại Sau khi trồng 7 - 10 ngày kiểm tra trồng dặm những khóm cây bị chết Nhặt sạch cỏ dại vào các thời ựiểm 20 ngày sau trồng, trước mỗi lần bón phân và ngay sau khi thu cắt từng lứa
Mức phân bón sử dụng cho 1 ha: 30 tấn phân chuồng, 90 kg N + 90 kg
P2O5 + 90 kg K2O Loại phân bón sử dụng bao gồm ựạm Urê (46% N), Supe lân (18% P2O5) và 60% K2O, bón theo phương pháp:
+ Bón lót 100% phân chuồng, phân lân và phân kali
+ Bón thúc sau trồng 20 ngày 100% ựạm
+ Sau mỗi lần cắt bón thêm 50 kg N/ha
Các chỉ tiêu theo dõi:
Chiều cao cây
được xác ựịnh bằng cách ựo từ gốc ựến ựầu mút lá cỏ, ựo mỗi ô 5 cây
ở 4 góc và giữa ô rồi chia lấy kết quả chiều cao trung bình, 10 ngày ựo một lần đánh dấu cây ựể ựo lần sau cùng cây ựó (ựối với cây dạng bụi cỏ)
Tốc ựộ sinh trưởng, tốc ựộ tái sinh
Cứ 10 ngày ựo ựộ cao cây 1 lần, từ ựó tắnh ựược tốc ựộ sinh trưởng, tốc
ựộ tái sinh của cây trong 1 ngày ựêm
Trang 32Năng suất chất xanh
ðến thời ñiểm thu hoạch cắt toàn bộ diện tích cỏ trong ô thí nghiệm, cân khối lượng cả thân và lá, xác ñịnh ñược năng suất chất xanh trên 1 ô thí nghiệm, từ ñó tính ñược năng suất trên 1 ha
Năng suất chất khô
Năng suất chất khô ñược tính dựa vào năng suất chất xanh và % vật chất khô
Năng suất protein thô
Năng suất protein thô ñược tính dựa vào năng suất chất khô và tỷ lệ protein thô của cây cỏ
Xác ñịnh thành phần hoá học và giá trị dinh dưỡng
Thành phần hoá học của cây cỏ ñược xác ñịnh bằng cách lấy mẫu gửi phân tích tại phòng phân tích thức ăn của khoa Chăn nuôi và Nuôi trồng thuỷ sản, ðại học Nông nghiệp Hà Nội
Giá trị năng lượng trao ñổi (ME) của cây cỏ ñược tính toán dựa vào các công thức của Wardeh (1981) (phụ lục 3)
Tỷ lệ lá/thân
Tỷ lệ lá/thân của cây cỏ ñược xác ñịnh bằng cách cân 1 kg cỏ rồi bóc tách riêng biệt phần lá và phần thân (bẹ lá ñược tính vào thân) Sấy ñến khối lượng không ñổi ñể tính lượng chất khô của lá và thân, từ ñó tính tỷ lệ lá/thân của cây cỏ
Tỷ lệ tiêu hóa invivo
Tỷ lệ tiêu hóa invivo xác ñịnh theo hướng dẫn của De Boever (1986)
Cân 0,3 g mẫu vào chén lọc Cho 30 ml dung dịch men pepsin vào cốc lọc, ñậy nắp, cho máy ñiều nhiệt ở 390C trong 24 giờ Sau ñó lấy chén ra, ñặt ở
800C trong 45 phút Cuối cùng rửa 3 lần bằng nước ấm 600C
Lặp lại bằng cách cho 30 ml dung dịch men xenluloza Sau khi rửa 3 lần bằng nước ấm 600C, ñặt các chén ñó vào tủ sấy, sấy ở 1050C trong 5 giờ,
Trang 33lấy ra cho vào bình hút ẩm khoảng 30 phút, ñem cân khối lượng a (g) Tiếp tục cho vào ñốt ở nhiệt ñộ 5500C, ñể nguội rồi ñem cân khối lượng b (g)
Cách pha men pepsin: Hòa tan 2 g men trong 1 lít dung dịch HCl Pha dung dịch ñệm axetat Pha dung dịch axit axetic 0,1 M bằng cách pha 5,9 ml axit ñặc thành 1 lít gọi là dung dịch 1 Pha dung dịch muối axetat natri 0,1 M bằng cách cân 13,6 g muối axetat natri pha với nước cất thành 1 lít, gọi là dung dịch 2 Trộn dung dịch 1 và dung dịch 2 theo tỷ lệ 2 : 3 ñược dung dịch ñệm axetat
Cách pha men xenlulaza: Cân 13 g men cho vào 1 lít dung dịch ñệm axetat Pha 8,6 ml HCl ñặc ñược 1 lít dung dịch HCl 0,1 N
Công thức tính tỷ lệ tiêu hóa invivo:
Trang 344 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 điều kiện kinh tế xã hội huyện điện Biên
4.1.1 Vị trắ ựịa lý và ựịa hình của huyện điện Biên
Huyện điện Biên nằm ở toạ ựộ 20080Ỗ ựến 21030Ỗ ựộ vĩ bắc và từ
12050Ỗ ựến 103028Ỗ ựộ kinh ựông
Phắa Bắc giáp với huyện Mường Chà và huyện Tuần Giáo
Phắa Nam giáp với huyện Sông Mã tỉnh Sơn La
Phắa động giáp với huyện điện Biên đông
Phắa Tây giáp với tỉnh Phongxaly và tỉnh Luongphabang - nước Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào
Huyện điện Biên nằm về phắa tây nam tỉnh điện Biên, trung tâm huyện nằm liền kề với thành phố điện Biên Phủ, một trung tâm lớn về phát triển kinh tế chắnh trị - văn hoá xã hội của tỉnh điện Biên
Huyện điện Biên nằm ở ựộ cao 500 - 700m so với mặt nước biển, ựịa hình ựồi núi tương ựối phức tạp và bị chia cắt thành 2 vùng chắnh:
- Vùng ựịa hình thấp: được hình thành từ một vùng thung lũng khá bằng phẳng tạo nên cách ựồng Mường Thanh rộng lớn và trù phú với diện tắch khoảng 5.000 ha ựược mệnh danh là vựa lúa của Tây Bắc Huyện điện Biên trở thành một trọng ựiểm về phát triển nông nghiệp của tỉnh, có nhiệm vụ chắnh là sản xuất và cung cấp lượng thực, thực phẩm cho tỉnh điện Biên nói chung và huyện điện Biên nói riêng
- Vùng ựồi núi: Chiếm 85% diện tắch tự nhiên của Huyện, ựịa hình cao dốc và chia cắt mạnh, ựồi núi chạy dài theo hướng Tây Bắc - đông Nam, ựược phân bố chủ yếu ở các xã vùng cao ngoài cánh ựồng Mường Thanh Phần lớn diện tắch ựất giành cho phát triển nông - lâm nghiệp đất sản xuất chủ yếu là nương rẫy ựược canh tác với các loại cây lương thực hàng năm như: ngô, lúa nương, sắn,Ầcủa ựồng bào thiểu số và một số cây công nghiệp, cây ăn quả ựặc trưng của vùng ựồi núi
Trang 35Hình 4.1 Bản ñồ hành chính tỉnh ðiện Biên
4.1.2 ðặc ñiểm thời tiết khí hậu của huyện ðiện Biên
Do ảnh hưởng của vị trí ñịa lý và ñiều kiện ñịa hình, huyện ðiện Biên nằm trong vùng khí hậu Tây Bắc mà ñặc trưng là khí hậu lục ñịa - cao
Trang 36nguyên, trong năm có 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô Mùa mưa bắt ñầu
từ tháng 5 ñến tháng 9, mùa khô từ tháng 10 ñến tháng 4 năm sau ðặc ñiểm chung của ñiều kiện thời tiết khí hậu là nhiệt ñới và ẩm ñộ cao, với lượng mưa khá lớn và lượng bức xạ mặt trời ñã gây ảnh hưởng không nhỏ ñến quá trình sinh trưởng phát triển của các loài ñộng thực vật tại các xã vùng cao của huyện ðiện Biên
Về nhiệt ñộ: Nhiệt ñộ bình quân năm ñều lớn trên 210C, trị số biên ñộ ngày ñêm cao, trung bình là 110C và chênh lệch cao nhất 13 - 140C Có thể nói với chế ñộ nhiệt cao và biên ñộ nhiệt lớn ñã gây ảnh hưởng ñến quá trình sinh trưởng của các loài thực vật nói chung và các giống cỏ nói riêng
Về chế ñộ mưa: Nhìn chung lượng mưa phân bố không ñều theo các tháng trong năm, lượng mưa hàng năm từ 1.500mm - 1.700mm, mưa tập trung từ tháng 5 ñến tháng 9 chiếm 85 - 90% tổng lượng mưa cả năm Nhiệt
ñộ và ẩm ñộ cao trong mùa mưa là ñiều kiện thích hợp cho các loại thực vật phát triển mạnh ñem lại màu xanh tươi tốt cho vùng ñồi, ñồng thời cũng tạo ñiều kiện cho dịch bệnh lây lan từ vùng này sang vùng khác một cách thuận lợi ở các vùng núi cao, mưa là yếu tố quan trọng quyết ñịnh tới thời vụ gieo trồng và sự phát triển của các loại cây trồng Tuy nhiên do lượng mưa lớn và tập trung vào các tháng 7; 8; 9 thường xảy ra lũ lụt, xói mòn ñất nghiêm trọng, làm suy thoái ñộ phì của ñất ñặc biệt là trên ñất dốc Ngược lại trong mùa khô, tình trạng khô hạn và nhiệt ñộ thấp lại là những trở ngại ñáng kể ñối với sinh trưởng và phát triển của các cây trồng nông nghiệp, ñặc biệt là ñối với các cây trồng cạn trên vùng ñất không chủ ñộng tưới Từ các yếu tố trên
ñã ảnh hưởng tới năng suất cây trồng ñặc biệt là cây trồng nông nghiệp Như vậy ñã ảnh hưởng tới ñời sống kinh tế của người dân sống trên vùng cao và công tác dự trữ thức ăn cho chăn nuôi nói chung và chăn nuôi trâu, bò nói riêng gặp nhiều khó khăn Do ñó chăn nuôi trâu, bò ở các xã vùng cao còn mang tính cổ truyền, thả rông tự kiếm ăn là chính, ảnh hưởng tới quá trình
Trang 37sinh trưởng và phát triển của gia súc
Ngoài ra còn một số hiện tượng thời tiết ñặc biệt hàng năm thường xảy
ra ở tỉnh ðiện Biên gây ảnh hưởng ñến sinh trưởng và năng suất cây trồng, dông và mưa ñá tập trung vào (tháng 4 tháng 5), tháng 4 là tháng có mưa dông và kèm theo mưa ñá lớn nhất Hàng năm có khoảng 70 ngày có mưa dông, mưa dông ñầu mùa là nguồn cung cấp nước cho cây trồng mặt khác nó còn mang lại một nguồn ñạm tự nhiên có giá trị cho thảm thực vật, tuy nhiên mưa dông thường kéo theo lốc, gió mạnh và mưa ñá gây dập nát, hư hỏng hoa màu, gây thiệt hại không nhỏ cho sản xuất nông nghiệp Sương muối thường xảy ra từng ñợt kéo dài 3 - 4 ngày, xuất hiện vào hạ tuần tháng 11 và tháng 12, gây thiệt hại không nhỏ cho sản xuất
4.1.3 ðiều kiện kinh tế xã hội của huyện ðiện Biên
Dân số của huyện ðiện Biên 2009 là 106.398 người với 19 xã gồm 10 dân tộc chung sống, ñông nhất là dân tộc thái (53,72%), sau ñến các dân tộc kinh (27,86%); H’mông (8,51%); Khơ mú (5,0%); Lào (3,17) còn lại là các dân tộc khác ðiều này ñã tạo nên một nét ña dạng trong bản sắc văn hoá xã hội và nhân văn của vùng Sự phân bố xen kẽ giữa người kinh và các dân tộc thiểu số ñã tạo nên những thay ñổi ñáng kể trong lối sống và tập quán canh tác, chăn nuôi của người dân bản ñịa ñặc biệt là ở vùng lòng chảo Mật ñộ dân
số trung bình của huyện tương ñối thấp 65,1 người/km2, phân bố dân số không ñều, thường tập trung ở các xã trong vùng lòng chảo, ñịa hình tương ñối bằng phẳng, ñiều kiện phát triển sản xuất thuận lợi, người dân có kinh nghiệm và trình ñộ chăn nuôi, canh tác lúa nước
Vùng núi cao chiếm phần lớn diện tích tự nhiên của Huyện (85%) trên những diện tích này ñiều kiện canh tác khó khăn, tập quán sản xuất còn lạc hậu, chủ yếu vẫn là trồng trọt ñộc canh, chăn nuôi thả rông, manh mún và tự cung tự cấp, cây trồng chính vẫn là lúa nương, ngô, sắn,… Sự ñộc canh cây lương thực trong thời gian dài trên ñất dốc ñã làm cho ñất bị suy thoái, cạn
Trang 38kiệt về dinh dưỡng dẫn ñến năng suất cây trồng giảm, từ ñó việc chủ ñộng thức ăn cho chăn nuôi luôn bị ñộng, không ñảm bảo nên người dân vẫn chăn nuôi theo phương thức cổ truyền, năng suất chăn nuôi thấp Vấn ñề là phải ña dạng hoá cây trồng trong các mô hình canh tác ở các xã vùng cao, vừa mang lại hiệu quả kinh tế vừa nâng cao ñộ phì và bảo vệ ñất, hạn chế xói mòn rửa trôi, phát triển nông nghiệp bền vững, tạo ñà thúc ñẩy phát triển chăn nuôi nói chung, chăn trâu, bò nói riêng ñang là một yêu cầu bức xúc của huyện ðiện Biên
4.1.4 Tình hình sản xuất nông nghiệp của huyện ðiện Biên
Huyện ðiện Biên có diện tích tự nhiên 163.926,03 ha Trong ñó diện tích ñất giành cho sản xuất nông nghiệp 16.853,46 ha, ñất trồng cây hàng năm 15.434,79 ha (trong ñó ñất ruộng 8.059,66 ha), ñất trồng cây lâu năm 1.418,67
ha, ñất lâm nghiệp 120.521,25 ha
- Sản xuất trồng trọt
Trồng trọt là ngành sản xuất chính cung cấp lương thực cho con người
và vật nuôi của huyện ðiện Biên Với nền nông nghiệp có từ lâu ñời, ruộng ñồng ñã ñược quy hoạch, hệ thống thủy lợi rộng khắp, ñất ñai màu mỡ rất thích hợp cho sự phát triển của các loại hoa màu Người dân trong Huyện chủ yếu canh tác các loại cây trồng chính là lúa, ngô, ñậu tương Bên cạnh ñó các loại cây trồng khác như rau các loại, cà chua, ñậu ñỗ, khoai lang, khoai tây cũng ñược trồng nhưng diện tích không nhiều Phụ phẩm từ các loại cây trồng
kể trên ñều có thể tận dụng cho chăn nuôi
Cơ cấu cây trồng của huyện ðiện Biên ñược trình bày trong bảng 4.1 Lúa vẫn là cây lương thực chính trong ñó lúa nước ñược trồng nhiều nhất, năm 2008 lúa ñược trồng với diện tích 12.780 ha, tổng sản lượng cả năm thu ñược ñạt 60.733 tấn Lúa nương chủ yếu ñược trồng ở các xã vùng cao với diện tích trong 2 năm 2008 và 2009 là 2.500 ha, tuy nhiên lúa nương có năng suất rất thấp chỉ ñạt 12,5 - 13,0 tạ/ha
Trang 39Bảng 4.1 Cơ cấu cây trồng của huyện ðiện Biên
Tổng
SL (tấn)
Diện tích (ha)
Năng Suất
BQ (tạ/ha)
Tổng
SL (tấn)
Lúa nước 12.780 47,52 60.733 13.051 46,62 68.850 Lúa nương 2.500 12,5 3.125 2.500 13,0 3.250
(Nguồn: Báo cáo tình hình KT - XH huyện ðiện Biên năm 2008, 2009)[79]
Cây ngô cũng ñược trồng với diện tích tương ñối lớn 4.699 ha, chủ yếu ngô ñược trồng ñể thu bắp non (ngô nếp) hoặc già, tổng sản lượng cả năm thu ñược 18.185 tấn ngô hạt (năm 2009)
Cây lạc ñược trồng chủ yếu ở những nơi có diện tích ñất bãi ven sông, suối hoặc ở những mảnh ruộng một vụ, diện tích năm 2009 là 350 ha sản lượng 572 tấn
Cây ñỗ tương ñược trồng chủ yếu ở những diện tích lúa mùa sớm, sau khi thu hoạch lúa thì cắt gốc rạ và tiến hành gieo hạt ngay, kỹ thuật trồng ñơn giản
Ngoài ra một số loại cây khác như cao su vừa mới tiến hành ñưa vào trồng thử nghiệm từ năm 2009 theo chương hỗ trợ phát triển cây công nghiệp các tỉnh phía Tây Bắc diện tích 960 ha, năm 2010 là 1.000 ha chưa ñến thời
kỳ khai thác Cây cà phê cũng ñã ñược trồng, nhưng do ñiều kiện khí hậu không thuận lợi chỉ ñược trồng rải rác ở một số hộ trong khu vực lòng chảo diện tích khoảng 27 ha Cây ăn quả cũng ñược trồng nhưng theo hình thức tự cung tự cấp
Trang 40Nhìn chung năng suất và sản lượng lương thực của huyện ðiện Biên là khá cao, cây trồng chủ lực là lúa nước vì ñịa bàn tập trung chủ yếu trên cánh ñồng Mường Thanh rất màu mỡ Như vậy với sản lượng thu ñược trên có thể ñáp ứng ñược nhu cầu lương thực trong huyện, ngoài ra còn thu ñược nguồn phụ phẩm lớn từ cây lương thực trên làm nguồn thức ăn thô cho trâu, bò góp phần giải quyết sự thiếu thức ăn trong vụ ñông xuân như hiện nay
- Sản xuất chăn nuôi
+ Số lượng ñàn gia súc, gia cầm
Diễn biến số lượng ñàn gia súc, gia cầm của huyện ðiện Biên trong mấy năm gần ñây ñược thể hiện trong bảng 4.2
Nhìn chung ñàn gia súc, gia cầm của huyện biến ñộng không nhiều trong mấy năm qua
Số lượng ñàn trâu ñang tăng dần, năm 2006 có 17.749 con, ñến năm
2007 là 21.125 con, tăng trung bình 7,0 %/năm Năm 2008 Số lượng ñàn trâu giảm 3,9 % do vụ rét ñậm cuối năm 2007 ñầu 2008 mặt khác vai trò cày kéo của trâu giảm dần, người nông dân ñang chuyển dần sang sử dụng máy nông nghiệp trong sản xuất nông nghiệp Một hạn chế khác nữa của trâu là khả năng sinh sản kém dẫn ñến hiệu quả chăn nuôi không cao, nhiều hộ dân chuyển sang nuôi bò
Bảng 4.2 Số lượng ñàn gia súc, gia cầm của huyện ðiện Biên
Gia cầm (1.000 con) 381,9 507,3 511,9 552,9 (Nguồn: Báo cáo tình hình KT - XH huyện ðiện Biên năm 2006, 2007, 2008, 2009) [79]