1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Huy động vốn của ngân hàng thương mại theo pháp luật việt nam qua thực tiễn thi hành tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn việt nam

115 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phạm vi nghiên cứu Về các văn bản pháp luật được nghiên cứ trong đề tài, luận văn tập trung nghiên cứu những quy định pháp luật Việt Nam hiện hành điều chỉnh về hoạt động huy động vốn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

BÙI ĐỨC LONG

HUY §éNG VèN CñA NG¢N HµNG TH¦¥NG M¹I

THEO PH¸P LUËT VIÖT NAM QUA THùC TIÔN THI HµNH T¹I NG¢N HµNG N¤NG NGHIÖP Vµ PH¸T TRIÓN N¤NG TH¤N VIÖT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

BÙI ĐỨC LONG

HUY §éNG VèN CñA NG¢N HµNG TH¦¥NG M¹I

THEO PH¸P LUËT VIÖT NAM QUA THùC TIÔN THI HµNH T¹I NG¢N HµNG N¤NG NGHIÖP Vµ PH¸T TRIÓN N¤NG TH¤N VIÖT NAM

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 8380101.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ THỊ THU THỦY

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Bùi Đức Long

Trang 4

CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 7 1.1 Khái niệm, đặc điểm, các hình thức, vai trò của huy động

vốn của ngân hàng thương mại 7

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm huy động vốn 7 1.1.2 Các hình thức huy động vốn của ngân hàng thương mại 13 1.1.3 Vai trò của huy động vốn trong hoạt động của các ngân hàng

thương mại 16

1.2 Khái niệm, đặc điểm, nội dung pháp luật về huy động vốn của

ngân hàng thương mại 18

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về huy động vốn của ngân

hàng thương mại 18 1.2.2 Nội dung pháp luật về huy động vốn của ngân hàng thương mại 20 1.2.3 Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật với hoạt động huy

động vốn của ngân hàng thương mại 23

Kết luận chương 1 25 CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI AGRIBANK 26 2.1 Quy định pháp luật về huy động vốn của ngân hàng thương mại 26

Trang 5

2.1.1 Huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi 26

2.1.2 Huy động vốn dưới hình thức phát hành giấy tờ có giá 35

2.1.3 Huy động vốn dưới hình thức vay vốn của các tổ chức tín dụng 41

2.1.4 Huy động vốn dưới hình thức vay vốn của ngân hàng nhà nước Việt Nam 46

2.2 Thực tiễn thi hành pháp luật về huy động vốn tại Agribank 55

2.2.1 Các quy định của Agribank về huy động vốn 55

2.2.2 Các hình thức huy động vốn tại Agribank 56

2.2.3 Đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật về huy động vốn tại Agribank 67

Kết luận chương 2 75

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN TẠI AGRIBANK 76

3.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về huy động vốn của ngân hàng thương mại ở Việt Nam 76

3.1.1 Hoàn thiện pháp luật về huy động vốn của ngân hàng thương mại phải được thực hiện đồng bộ, thống nhất giữa các văn bản pháp luật 76

3.1.2 Hoàn thiện pháp luật về huy động vốn của ngân hàng thương mại phải phù hợp tình hình kinh tế - xã hội 77

3.1.3 Hoàn thiện pháp luật về huy động vốn của ngân hàng thương mại phải đặt trong xu thế tất yếu là hội nhập kinh tế 77

3.1.4 Hoàn thiện pháp luật về huy động vốn phải phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và bảo đảm hệ thống ngân hàng hoạt động an toàn, hiệu quả 79

3.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về huy động vốn của ngân hàng thương mại ở Việt Nam 80

Trang 6

3.2.1 Bổ sung khái niệm huy động vốn 80

3.2.2 Hoàn thiện pháp luật về huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi 81

3.2.3 Hoàn thiện pháp luật về huy động vốn dưới hình thức phát hành giấy tờ có giá 88

3.2.4 Hoàn thiện pháp luật về huy động vốn dưới hình thức vay vốn của các tổ chức tín dụng 93

3.2.5 Hoàn thiện pháp luật về huy động vốn dưới hình thức vay vốn của ngân hàng nhà nước 94

3.3 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn tại Agribank 96

3.3.1 Nâng cao hiệu quả huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi 96

3.3.2 Nâng cao hiệu quả huy động vốn dưới hình thức phát hành giấy tờ có giá 99

Kết luận chương 3 101

KẾT LUẬN 102

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 103

PHỤ LỤC 108

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLDS : Bộ luật dân sự GTCG : Giấy tờ có giá NHNN : Ngân hàng Nhà nước NHTM : Ngân hàng thương mại TCTD : Tổ chức tín dụng

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế, tự do hoá thương mại là xu thế nổi bật của kinh tế thế giới đương đại, mà Việt Nam không phải là một ngoại

lệ Việc mở cửa nền kinh tế trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế, góp phần không nhỏ để duy trì tốc độ tăng trưởng cao hàng năm của nền kinh tế Việt Nam Kinh tế phát triển, hoạt động sản xuất kinh doanh tăng trưởng mạnh thì nhu cầu về vốn cũng tăng cao; bất cứ một doanh nghiệp nào hoạt động cũng cần có vốn Trước thực tế này, vai trò của các TCTD nói chung và của NHTM nói riêng ngày càng được thể hiện rõ nét

Với tư cách là “trung gian tài chính”, NHTM là một trong những định chế quan trọng nhất của hệ thống tài chính quốc gia Nó được xem là một loại hình doanh nghiệp đặc thù, sử dụng đối tượng kinh doanh đặc biệt là tiền tệ,

có vai trò chính trong việc làm cầu nối cung ứng nguồn vốn cho hoạt động sản xuất của toàn bộ nền kinh tế

NHTM thực hiện ba hoạt động chính, gồm: huy động vốn, cấp tín dụng

và hoạt động thanh toán; ngoài ra, còn có thể thực hiện các hoạt động kinh doanh dịch vụ khác liên quan Trong đó, huy động vốn là hoạt động mang tính xương sống bởi lẽ vốn là yếu tố tiên quyết để NHTM tiến hành và phát triển hoạt động cấp tín dụng, hoạt động thanh toán và các hoạt động kinh doanh khác Có thể nhận định, hoạt động huy động vốn có tác động rất lớn đến quá trình kinh doanh của NHTM cũng như cả nền kinh tế Với tầm quan trọng như vậy, Nhà nước cần phải xây dựng một hệ thống pháp luật chuyên ngành để NHTM thực hiện hoạt động huy động vốn an toàn, hiệu quả Tức, vừa phải có những nguyên tắc điều chỉnh hết sức khắt khe để bảo đảm sự an toàn, đồng thời vừa phải có sự thông thoáng trong cơ chế để dễ thực hiện

Vậy, pháp luật Việt Nam hiện nay quy định như thế nào về hoạt động

Trang 9

huy động vốn của NHTM? Để trả lời câu hỏi trên thông qua lựa chọn ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (sau đây gọi tắt là Agribank) - một trong những NHTM hàng đầu Việt Nam, với mạng lưới chi nhánh và số lượng khách hàng lớn cùng thực tiễn huy động vốn phong phú

chính là lý do mà tôi lựa chọn đề tài “Huy động vốn của ngân hàng thương

mại theo pháp luật Việt Nam qua thực tiễn thi hành tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Qua khảo sát thực tiễn cho thấy, đã có một số công trình nghiên cứu có nội dung về huy động vốn của NHTM được công bố rộng rãi, tiêu biểu như:

Bài báo: “Nâng cao hiệu quả huy động vốn của các Ngân hàng thương

mại Việt Nam”, thạc sĩ Đường Thị Thanh Hải, Đại học Kinh tế - Kỹ thuật

Công nghiệp, Tạp chí Tài chính (số 5/2014)

Luận văn thạc sĩ: “Huy động vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần

Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Hải Phòng”, Nguyễn Phương Thảo, Đại

học Kinh tế - Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2012

Luận văn thạc sĩ: “Pháp luật về huy động vốn dưới hình thức nhận tiền

gửi và thực tiễn tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam”, Vũ Hoàng Thu Trang, Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2015

Sách chuyên khảo: “Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Các

tổ chức tín dụng - Quy định về huy động vốn vay và cho vay bảo đảm an toàn, giữ bí mật đối với khách hàng”, Hữu Đại - Vũ Tươi, Nhà xuất bản

Tài chính, năm 2019

Các công trình nghiên cứu nêu trên đã hệ thống được một số vấn đề lý luận về hoạt động huy động vốn của NHTM, đánh giá thực trạng pháp luật về huy động vốn của NHTM và đưa ra được các giải pháp hoàn thiện pháp luật

về huy động vốn của NHTM Tuy nhiên, nội dung chỉ trọng tâm vào nghiên

Trang 10

cứu về một hình thức huy động vốn cụ thể và sử dụng những số liệu trước đây, dẫn chứng những văn bản pháp lý đến thời điểm này đã hết hiệu lực Vì vậy, tính ứng dụng trong thực tiễn tại thời điểm hiện nay là rất hạn chế

Có thể thấy, việc nghiên cứu đề tài “Huy động vốn của ngân hàng

thương mại theo pháp luật Việt Nam qua thực tiễn thi hành tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam” vẫn rất cần thiết trong bối

cảnh huy động vốn luôn là hoạt động rất quan trọng, không thể thiếu đối với bất cứ NHTM nào hiện nay Thêm vào đó pháp luật hiện hành có nhiều quy định mới so với trước đây để bảo đảm hoạt động này được thực hiện hiệu quả

3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Làm rõ một số vấn đề lý luận của pháp luật về hoạt động huy động vốn của NHTM, thực tiễn áp dụng tại Agribank, những tồn tại, hạn chế cần khắc phục, qua đó, đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về huy động vốn tại các NHTM ở Việt Nam và nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn tại Agribank

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài đặt ra và giải quyết những nhiệm vụ sau:

Một là, phân tích, làm rõ một số vấn đề lý luận và quy định pháp luật

hiện hành về hoạt động huy động vốn của NHTM

Hai là, phân tích thực trạng huy động vốn tại Agribank nhằm làm rõ

những bất cập, vướng mắc của pháp luật cũng như các quy định nội bộ của Agribank về huy động vốn

Ba là, đề xuất phương hướng, giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật

về huy động vốn của NHTM; nâng cao hiệu quả hoạt động này tại các NHTM nói chung và tại Agribank nói riêng

Trang 11

4 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quan điểm, lý thuyết về huy động vốn, quy định pháp luật về huy động vốn của NHTM ở Việt Nam và thực tiễn thực thi pháp luật về hoạt động huy động vốn tại Agribank

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về các văn bản pháp luật được nghiên cứ trong đề tài, luận văn tập

trung nghiên cứu những quy định pháp luật Việt Nam hiện hành điều chỉnh về hoạt động huy động vốn của NHTM, trong đó nhấn mạnh tới Thông tư số 48/2018/TT-NHNN ngày 31/12/2018 của Thống đốc NHNN quy định về tiền gửi tiết kiệm, Nghị định số 70/2014/NĐ-CP ngày 17/7/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh ngoại hối và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của pháp lệnh ngoại hối, …

Về nội dung pháp luật huy động vốn của NHTM, luận văn trọng tâm

vào phân tích các hình thức huy động vốn, không đi sâu vào nghiên cứu tất cả các vấn đề thuộc nội dung của pháp luật về huy động vốn của NHTM

Về quan điểm tiếp cận khái niệm huy động vốn, hoạt động huy động

vốn nhằm tạo lập nguồn vốn điều lệ trong giai đoạn hình thành NHTM không thuộc nội hàm khái niệm huy động vốn mà đề tài hướng tới Bởi lẽ, chỉ khi đã hình thành vốn điều lệ thì mới có sự hình thành của NHTM, tức chủ thể là NHTM chỉ được công nhận khi đã hoàn tất việc tạo lập vốn điều lệ

Về mặt thực tiễn, luận văn giới hạn và tập trung nghiên cứu hoạt động

huy động vốn tại Agribank, thời gian nghiên cứu từ năm 2014 đến nay Do số liệu hết sức hạn chế về hoạt động vay vốn của các TCTD và vay vốn của NHNN tại Agribank, luận văn cũng giới hạn việc nghiên cứu thực tiễn thi hành pháp luật về huy động vốn tại Agribank trong hai hình thức là nhận tiền gửi và phát hành GTCG

Trang 12

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng

và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế

Để hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn kết hợp sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu cụ thể:

Phương pháp nghiên cứu tài liệu được sử dụng để nghiên cứu, hệ thống các văn bản pháp luật, các công trình nghiên cứu khoa học có nội dung liên quan đến pháp luật về huy động của NHTM như sách, giáo trình, luận văn thạc sĩ, đề tài khoa học, Luật Các tổ chức tín dụng, nhằm giải quyết các vấn

đề lý luận chung liên quan pháp luật về huy động vốn của NHTM

Phương pháp thống kê được sử dụng trong quá trình tiến hành thu thập các số liệu về hoạt động huy động vốn tại Agribank, qua đó, nhằm khái quát

số liệu, đánh giá hiệu quả trong quá trình thi hành pháp luật về huy động vốn tại Agribank

Phương pháp phân tích hệ thống được sử dụng xuyên suốt trong quá trình thực hiện luận văn, từ việc phân tích, đánh giá các tài liệu nghiên cứu, đến việc phân tích số liệu thống kê nhằm nhận xét chính xác về các quy định pháp luật hiện hành và thực trạng huy động vốn tại Agribank

Phương pháp so sánh được sử dụng nhằm so sánh pháp luật hiện hành

về huy động vốn của NHTM với một số quy định đã hết hiệu lực pháp lý và

so sánh pháp luật Việt Nam với pháp luật quốc tế

Phương pháp tổng hợp được sử dụng trong việc đánh giá khái quát, kết luận từng vấn đề trong phạm vi nghiên cứu và chỉ ra những phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về huy động vốn của NHTM và nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn tại Agribank

Trang 13

6 Tính mới và đóng góp của đề tài

Tính mới của đề tài luận văn thể hiện ở những điểm sau đây:

Một là, đề tài làm rõ hệ thống những quy phạm pháp luật mới nhất

được ban hành điều chỉnh về huy động vốn của NHTM theo pháp luật Việt Nam, chỉ ra những bất cập, phương hướng và giải pháp cần tiếp tục hoàn thiện trong thời gian tới

Hai là, đề tài phân tích thực tiễn thi hành những quy định pháp luật về

huy động vốn tại Agribank Đối chiếu các quy định nội bộ của Agribank với quy định của pháp luật nhằm làm rõ ưu điểm, hạn chế của các quy định pháp luật và việc áp dụng pháp luật trong hoạt động huy động vốn tại Agribank

Ba là, trên cơ sở phân tích những tồn tại, bất cập, đề tài nêu ra một số

kiến nghị, giải pháp hoàn thiện pháp luật về huy động vốn của NHTM và nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn tại Agribank

Nhìn chung, kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa quan trọng về

cả phương diện lý luận và thực tiễn, trong đó giải quyết những vấn đề liên quan đến hoạt động thi hành pháp luật về huy động vốn tại các NHTM nói chung và tại Agribank nói riêng

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, mục lục, danh mục từ viết tắt và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được chia làm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật huy động vốn của ngân

hàng thương mại

Chương 2: Quy định pháp luật về huy động vốn của ngân hàng thương

mại ở Việt Nam hiện nay và thực tiễn thi hành tại Agribank

Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về huy động

vốn của ngân hàng thương mại ở Việt Nam và nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn tại Agribank

Trang 14

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG

THƯƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT VỀ HUY ĐỘNG VỐN

CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái niệm, đặc điểm, các hình thức, vai trò của huy động vốn của ngân hàng thương mại

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm huy động vốn

Vốn là yếu tố quan trọng và không thể thiếu trong bất kỳ hoạt động kinh doanh nào Đặc biệt, với NHTM - loại hình doanh nghiệp sử dụng tiền tệ

là đối tượng kinh doanh thì vốn có vai trò quyết định đến sự hình thành, tồn tại và phát triển

Vốn của NHTM được hiểu đơn giản là tất cả những nguồn tiền tệ mà NHTM đó tạo lập, huy động để cho vay, đầu tư và thực thi các dịch vụ ngân hàng Hiện nay, có thể phân loại vốn hoạt động của NHTM bao gồm vốn chủ

sở hữu và vốn huy động và vốn đi vay

Vốn chủ sở hữu là nguồn vốn do NHTM tạo lập được, gồm: vốn điều lệ; các khoản chênh lệch do đánh giá lại tài sản, chênh lệch tỷ giá theo quy định của pháp luật; thặng dư vốn cổ phần; các quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ, quỹ dự phòng tài chính; lợi nhuận chưa phân phối và vốn khác thuộc sở hữu của NHTM Vốn chủ sở hữu có vai trò tạo lập

tư cách pháp nhân, cung cấp nguồn lực ban đầu cho NHTM duy trì hoạt động khi mới thành lập và cung cấp nguồn lực cho NHTM tăng trưởng, phát triển NHTM muốn thành lập và đi vào hoạt động phải có vốn điều lệ lớn hơn hoặc bằng vốn pháp định do Chính phủ quy định Mỗi ngân hàng cũng cần nguồn vốn ban đầu để trang bị cơ sở hạ tầng, vật tư, trang thiết bị, vận hành hệ thống, phần còn lại tham gia vào quá trình kinh doanh Để theo kịp sự phát triển của thị trường và tăng khả năng phục vụ khách hàng, NHTM phải bổ

Trang 15

sung và tăng về quy mô của vốn chủ sở hữu nhằm thường xuyên cung cấp những dịch vụ mới, nâng cấp công nghệ, nâng cao năng suất lao động, Bên cạnh đó, pháp luật đặt ra những quy định giới hạn về việc thành lập công ty con, khả năng nắm giữ cổ phiếu của công ty khác, quy mô cho vay tối đa với một nhóm khách hàng, quy mô tiền gửi được phép hoạt động, trên cơ sở là vốn chủ sở hữu của NHTM Do đó, quy mô của vốn chủ sở hữu phải tương xứng với quy mô của NHTM thì ngân hàng mới có thể mở rộng phạm vi hoạt động và phát triển ổn định, lâu dài

Nếu vốn chủ sở hữu là đệm đỡ không thể thiếu, có vai trò quan trọng để NHTM đi vào hoạt động thì vốn huy động và vốn đi vay là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của NHTM Vốn huy động là nguồn vốn NHTM

có được thông qua bán cho khách hàng các sản phẩm, dịch vụ như nhận tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá, Vốn đi vay là nguồn vốn NHTM có được dựa trên mối quan hệ vay mượn từ NHNN và các TCTD khác Đây là cơ sở tài chính để NHTM mở rộng cơ cấu cho vay, mở rộng quy mô khối lượng tín dụng, sẵn sàng tài trợ cho các dự án lớn cũng như đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng về các dịch vụ của mình Như vậy, vốn huy động, vốn đi vay ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động kinh doanh, thu nhập, lợi nhuận của NHTM

Trên thực tế, vốn chủ sở hữu chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn hoạt động của NHTM trong khi vốn huy động và vốn đi vay chiếm tỷ trọng rất lớn, thường là hơn 90% tổng nguồn vốn của NHTM Vì vậy, huy động vốn trở thành một nghiệp vụ không thể thiếu trong hoạt động của ngân hàng, tạo nên đặc trưng của NHTM

Trong giai đoạn sơ khai của hoạt động ngân hàng, huy động vốn chỉ đơn thuần là hoạt động cất giữ các tài sản có giá nhằm mục đích đảm bảo an toàn Lúc này, người gửi tiền phải trả phí, tài sản chỉ được xem đơn thuần là vật được kí gửi mà hoàn toàn không đóng vai trò là nguồn vốn Khi nghiệp vụ

Trang 16

ngân hàng phát triển, nhu cầu tín dụng gia tăng, vị thế đó bị đảo ngược, ngân hàng là người phải trả phí và nguồn tiền được kí gửi trở thành nguồn vốn khả dụng và lớn nhất của các NHTM hiện nay

Thay đổi qua từng giai đoạn phát triển của nghiệp vụ ngân hàng, khái niệm huy động vốn có những cách hiểu khác biệt khi đề cập dưới các khía cạnh khác nhau Gần như không thể tìm được một định nghĩa hoàn thiện về hoạt động này cũng như không có được sự thống nhất hoàn toàn giữa các quan điểm

Dưới góc độ ngôn ngữ thường nhật của báo chí, xã hội, huy động vốn được dùng chủ yếu để đề cập đến một hoạt động đặc trưng nhất của các NHTM là nhận tiền gửi Cách hiểu này khá hẹp và gây ra những nhận thức sai lầm về hoạt động huy động vốn của ngân hàng

Dưới góc độ kinh tế, nội hàm khái niệm huy động vốn được tiếp cận trong phạm vi rộng hơn, thường là tiếp cận từ nguồn gốc của các loại vốn Theo đó, huy động vốn của NHTM bên cạnh việc nhận tiền gửi, vay vốn, thì bao gồm cả việc khởi tạo nguồn vốn ban đầu cho sự hình thành và tăng vốn điều lệ nói riêng hay vốn chủ sở hữu nói chung

Trong luận văn này, tác giả chủ động tiếp cận khái niệm huy động vốn dưới góc độ pháp lý Luật Các TCTD năm 1997 đưa ra cách tiếp cận khái niệm huy vốn bằng cách liệt kê bốn hình thức huy động vốn bao gồm nhận tiền gửi, phát hành GTCG, vay vốn giữa các TCTD và vay vốn của NHNN Tuy nhiên, Luật Các TCTD hiện hành lại không có bất cứ một quy định cụ thể nào về khái niệm cũng như các hình thức huy động vốn Do vậy, ta đi vào xem xét các khía cạnh cụ thể hơn

Thứ nhất, về chủ thể, khái niệm huy động vốn của NHTM đã xác định một cách giới hạn chủ thể huy động vốn là các NHTM Đây là loại hình ngân hàng được thực hiện hoạt động kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc

Trang 17

một số các nghiệp vụ gồm nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan theo quy định của pháp luật nhằm mục tiêu lợi nhuận

Căn cứ vào hình thức sở hữu của ngân hàng, có thể phân chia thành bốn loại NHTM gồm NHTM nhà nước, NHTM cổ phần, NHTM liên doanh

và NHTM 100% vốn nước ngoài

NHTM nhà nước là NHTM do Nhà nước thành lập, trong đó Nhà nước

sở hữu 100% vốn điều lệ NHTM nhà nước hoạt động bên cạnh mục tiêu lợi nhuận còn lồng ghép mục tiêu thực hiện chính sách kinh tế nhà nước

NHTM cổ phần là NHTM được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần Do là một dạng công ty cổ phần nên tổ chức và hoạt động của NHTM

cổ phần sẽ chịu sự điều chỉnh của cả pháp luật về công ty cổ phần và pháp luật về ngân hàng

NHTM 100% vốn nước ngoài là NHTM được thành lập với 100% vốn điều lệ thuộc sở hữu nước ngoài; trong đó phải có một ngân hàng nước ngoài

sở hữu trên 50% vốn điều lệ (ngân hàng mẹ)

NHTM liên doanh là NHTM được thành lập trên cơ sở của hợp đồng liên doanh

Thứ hai, về đối tượng chịu tác động, đó chính là nguồn vốn hay tiền tệ,

vì đây là công cụ, phương tiện hoạt động của NHTM Như đã phân tích ở trên, vốn của ngân hàng gồm có vốn chủ sở hữu và vốn vay nên thuật ngữ nguồn vốn cũng có thể được sử dụng cho cả hai loại nguồn vốn: vốn chủ sở hữu - vốn mà ngân hàng bỏ ra để kinh doanh và vốn vay - vốn được coi như

“hàng hóa kinh doanh” của ngân hàng Tuy nhiên, NHTM là một trung gian tài chính, lấy tiền tệ là đối tượng kinh doanh, đưa tiền tệ từ nơi chưa có nhu cầu sử dụng đến nơi đang cần sử dụng Thế nên, nguồn vốn của NHTM trong hoạt động huy động vốn nên được hiểu dưới khía cạnh là hàng hóa kinh

Trang 18

doanh chứ không phải nguồn tiền mà ngân hàng bỏ ra để kinh doanh Với cách hiểu này, hoạt động huy động vốn của các NHTM có thể được hình dung một cách dễ hiểu hơn là hoạt động “tìm kiếm các nguồn hàng” cho hoạt động kinh doanh của mình Một hoạt động chỉ có thể được xem là hoạt động huy động vốn của NHTM khi nhằm mục đích thu hút, tìm kiếm, gia tăng nguồn vốn không thuộc sở hữu của ngân hàng Hay, có thể khẳng định các nổ lực gia tăng nguồn vốn tự có không thuộc nhóm hành vi huy động vốn của các NHTM được đề cập trong phạm vi đề tài này

Thứ ba, về mục đích, cũng giống như tất cả các hoạt động kinh doanh thông thường, huy động vốn của NHTM cũng xuất phát vì mục tiêu lợi nhuận nhưng khác biệt ở chỗ là nó còn phải hướng đến mục tiêu bảo đảm cho sự hoạt động bình thường và thông suốt của NHTM, tức bảo đảm khả năng thanh toán Căn cứ vào đây, có thể khẳng định việc xếp các hoạt động huy động vốn khá đặc trưng như: vay vốn của NHNN, vay vốn của các TCTD khác vào nhóm các hoạt động huy động vốn của NHTM là hợp lý

Thứ tư, về bản chất hoạt động huy động vốn là hoạt động vay nợ của NHTM Trong đó, NHTM là chủ thể đi vay, các tổ chức, cá nhân khác gửi tiền tại NHTM là chủ thể cho vay

Trên cơ sở các phân tích trên, có thể đưa ra định nghĩa: “Hoạt động

huy động vốn của NHTM là một loại hình hoạt động ngân hàng, theo đó các

tổ chức, cá nhân chuyển nhượng khoản tiền nhất định cho NHTM nhằm bảo đảm nguồn vốn hoạt động của NHTM theo đúng các quy định pháp luật”

Qua khái niệm này, có thể rút ra một số đặc điểm của hoạt động huy động vốn của NHTM bao gồm:

Thứ nhất, chủ thể huy động vốn là các NHTM, tức loại hình doanh

nghiệp được thực hiện toàn bộ việc kinh doanh, cung ứng nghiệp vụ nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản và các hoạt động

Trang 19

kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật Các TCTD và các quy định khác của pháp luật Đây là đặc điểm giúp phân biệt giữa NHTM với các loại hình doanh nghiệp thông thường khác NHNN quy định cụ thể nội dung hoạt động ngân hàng, hoạt động kinh doanh khác của NHTM thông qua thủ tục cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho NHTM Chỉ những NHTM đáp ứng được các điều kiện khắt khe của pháp luật mới được NHNN cho phép thực hiện hoạt động huy động vốn NHNN thường xuyên kiểm tra, giám sát chặt chẽ và có sự hỗ trợ đặc biệt đối với các NHTM này

Thứ hai, huy động vốn là hoạt động chủ yếu, thường xuyên và luôn gắn

liền với kế hoạch kinh doanh của NHTM Rõ ràng, tiền tệ là đối tượng kinh doanh đặc biệt và không thể thiếu của mỗi NHTM, do đó mà huy động vốn trở thành hoạt động mang tính đặc trưng của các NHTM Hoạt động huy động vốn phải được tiến hành thường xuyên nhằm bảo đảm đủ nguồn tiền giúp NHTM duy trì thông suốt các hoạt động kinh doanh khác Hiệu quả của hoạt động huy động vốn ảnh hưởng trực tiếp đến toàn bộ hoạt động kinh doanh khác của NHTM, kết quả là tác động tới doanh thu, lợi nhuận của ngân hàng

Do đó, kế hoạch kinh doanh của NHTM luôn phải đề ra các chiến lược huy động vốn hiệu quả và dự tính toán phương án sử dụng đồng vốn huy động được hiệu quả nhất

Thứ ba, quan hệ trong hoạt động huy động vốn xét về bản chất là một

quan hệ vay nợ trên cơ sở bình đẳng, tự nguyện và tự do thỏa thuận Trong

đó, bên vay là các NHTM và bên cho vay là các chủ sở hữu có vốn Hoạt động này làm phát sinh một khoản nợ, có lãi suất theo thỏa thuận giữa hai bên Khi đến thời hạn đã thỏa thuận từ trước hoặc khi bên cho vay có nhu cầu rút vốn, bên vay phải hoàn trả cả gốc và lãi cho bên cho vay

Thứ tư, hoạt động huy động vốn của NHTM được điều chỉnh bằng

pháp luật chặt chẽ từ Luật, Nghị định, Thông tư đến các văn bản dưới luật,

Trang 20

Đây là cơ sở pháp lý để các NHTM thực hiện các quyền kinh doanh và được

hỗ trợ cần thiết khi có vấn đề bất thường xảy ra trong hoạt động huy động vốn của ngân hàng

1.1.2 Các hình thức huy động vốn của ngân hàng thương mại

Hình thức huy động vốn là cách thức, phương thức để NHTM thực hiện hoạt động huy động vốn Căn cứ vào nội dung hoạt động huy động vốn, có thể phân loại hoạt động huy động vốn của NHTM dưới bốn hình thức cơ bản là: nhận tiền gửi, phát hành GTCG, vay vốn của các TCTD và vay vốn của ngân hàng Trung ương

1.1.2.1 Nhận tiền gửi

Nhận tiền gửi là hình thức huy động vốn quan trọng nhất của các NHTM Theo đó, NHTM sẽ có những hoạt động đặc biệt nhằm thúc đẩy tổ chức, cá nhân đang có những khoản tiền nhàn rỗi trong xã hội đem đến ngân hàng để gửi tiền Tùy theo nhu cầu mà tổ chức, cá nhân có thể lựa chọn các hình thức gửi tiền bao gồm: tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm hoặc các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận

Về phương thức, khi khách hàng gửi tiền tại NHTM thì sẽ thiết lập một quan hệ tiền gửi giữa NHTM và khách hàng trên cơ sở hợp đồng tiền gửi, thực chất là hợp đồng vay tiền của NHTM

Thông thường, huy động vốn bằng nhận tiền gửi phụ thuộc vào ba thông số chính là lãi suất do các NHTM trả cao hay thấp; lãi suất của các loại hình đầu tư khác như mua trái phiếu, cổ phiếu, ; và thu nhập của khách hàng Trong đó, lãi suất huy động vốn được coi là thông số quan trọng nhất Vì thế việc đưa ra chiến lược lãi suất như thế nào, hình thức huy động ra sao để thu hút được vốn nhiều và kinh doanh có lãi là điều quan trọng hàng đầu, phản ánh khả năng quản trị của các NHTM

Trang 21

1.1.2.2 Phát hành giấy tờ có giá

Phát hành GTCG là hình thức huy động vốn của NHTM bằng cách phát hành ra thị trường tiền tệ các loại giấy tờ mang giá trị về mặt tài sản được pháp luật quy định gồm kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và các loại GTCG khác Đây là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác giữa NHTM phát hành với người mua GTCG Mức lãi được trả cho các công cụ này sẽ được thoả thuận trực tiếp giữa NHTM và người mua GTCG hoặc được ấn định ở một mức độ nhất định mà người mua GTCG có thể chấp nhận được, đồng thời đảm bảo hiệu quả kinh doanh cho ngân hàng

Về mặt hình thức, NHTM phát hành GTCG dưới hình thức chứng chỉ

có ghi tên người sở hữu, chứng chỉ không ghi tên người sở hữu hoặc ghi sổ Trong trường hợp ghi sổ, NTHM phải cấp cho người mua giấy chứng nhận quyền sở hữu GTCG

Nội dung GTCG gồm: mệnh giá thể hiện số vốn gốc mà NHTM huy động, thời hạn xác định thời gian lưu hành của GTCG và lãi suất để tính lãi cho người thụ hưởng GTCG

Về mặt phương thức, NHTM trả lãi trước, hoặc trả lãi một lần cho người thụ hưởng GTCG khi đến hạn thanh toán hoặc trả lãi theo định kỳ Việc thanh toán trước hạn GTCG do NHTM quyết định trên cơ sở đề nghị của người mua GTCG, phù hợp với các quy định về tổ chức và hoạt động, bảo đảm an toàn hoạt động của NHTM

Trên thực tế, phát hành GTCG là nghiệp vụ huy động vốn theo sáng kiến riêng của từng NHTM với hình thức và kỳ hạn rất đa dạng nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu khách hàng và huy động được vốn cho ngân hàng Mặt khác, việc phát hành được thực hiện sau khi đã tiến hành nên cân đối toàn hệ thống của NHTM giữa nguồn vốn và sử dụng vốn

Trang 22

1.1.2.3 Vay vốn của các tổ chức tín dụng

Vay vốn của các TCTD là hình thức huy động vốn mà các NHTM vay một khoản tiền từ các TCTD khác trong một khoảng thời gian nhất định với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi Hoạt động huy động vốn này được thực hiện chủ yếu trên thị trường liên ngân hàng để bù đắp thiếu hụt tạm thời dự trữ bắt buộc, khả năng chi trả và cân đối vốn trong ngắn hạn

Về mặt hình thức, việc đi vay và cho vay phải thực hiện thông qua hợp đồng tín dụng

Về mặt phương thức, NHTM và TCTD cho vay tự xem xét, thỏa thuận áp dụng phương thức cho vay từng lần, theo hạn mức hoặc theo các phương thức khác, đảm bảo giao dịch an toàn, hiệu quả, tuân thủ đúng quy định của pháp luật

NHTM đi vay và TCTD cho vay phải hoạt động hợp pháp, thực hiện việc đi vay và cho vay theo hợp đồng cho vay, tuân thủ đúng các quy định của pháp luật và thông lệ quốc tế tương xứng Trên thực tế, quan hệ vay vốn giữa NHTM với các TCTD khác thường được thiết lập dựa trên cơ sở tin tưởng, tín nhiệm lẫn nhau và mối quan hệ hợp tác lâu dài

1.1.2.4 Vay vốn của ngân hàng Trung ương

Vay vốn của ngân hàng Trung ương là hình thức huy động vốn đặc biệt của các NHTM, chỉ được áp dụng trong các trường hợp khẩn cấp như giải quyết tình trạng thiếu hụt tiền tạm thời, không đủ khả năng thanh toán hoặc thực hiện các hợp đồng cho vay gấp

Về mặt hình thức, vay vốn của ngân hàng Trung ương được thực hiện thông qua cho vay có bảo đảm bằng cầm cố GTCG, cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng, cho vay lại theo hồ sơ tín dụng, chiếu khấu GTCG, cho vay đặc biệt trong các trường hợp khẩn cấp Trong đó:

Cho vay có bảo đảm bằng cầm cố GTCG là hình thức cho vay của ngân hàng Trung ương đối với các NHTM trên cơ sở cầm cố GTCG thuộc sở hữu của NHTM để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ

Trang 23

Cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng là việc ngân hàng Trung ương cho các NHTM vay có bảo đảm bằng cầm cố các GTCG trong khoảng thời gian tính từ cuối ngày làm việc hôm trước đến ngày làm việc liền kề tiếp theo

Chiết khấu GTCG là nghiệp vụ mà ngân hàng Trung ương cho NHTM vay vốn thông qua việc mua ngắn hạn các GTCG còn thời hạn thanh toán của NHTM trước khi đến hạn thanh toán

Về mặt phương thức, các NHTM vay vốn ngân hàng Trung ương theo từng lần NHTM bày tỏ nguyện vọng muốn vay ngân hàng Trung ương bằng cách gửi các tài liệu giao dịch theo mẫu đã được quy định thống nhất Ngân hàng Trung ương sau đó tiến hành thẩm định các điều kiện vay vốn để chấp nhận hoặc từ chối bằng văn bản

1.1.3 Vai trò của huy động vốn trong hoạt động của các ngân hàng thương mại

NHTM mang những đặc trưng của một loại hình doanh nghiệp kinh doanh hàng hóa đặc biệt là tiền tệ Do đó, nguồn vốn có vai trò quan trọng bao nhiêu đối với tổ chức và hoạt động của NHTM thì huy động vốn cũng có vai trò quan trọng bấy nhiêu

Thứ nhất, huy động vốn là một nghiệp vụ mang tính cơ sở, nền tảng để

NHTM có thể tổ chức mọi hoạt động kinh doanh

Hoạt động kinh doanh của NHTM gắn bó mật thiết, không thể tách rời với hệ thống tiền tệ, dịch vụ thanh toán nên nhu cầu về nguồn tiền là rất lớn, mang tính thường xuyên.Trong khi đó, nguồn vốn ban đầu của NHTM chỉ ở mức giới hạn nhất định, không thể đáp ứng nổi nhu cầu của toàn bộ hệ thống ngân hàng trong thời gian dài Vì thế, huy động vốn là hoạt động mấu chốt

để cung cấp “nguồn nhiên liệu” cho sự vận hành hoạt động kinh doanh tiền

tệ của NHTM

Trang 24

Nguồn tiền tệ có được từ huy động vốn quyết định đến quy mô hoạt động tín dụng và hầu hết các hoạt động kinh doanh khác của NHTM Không

có huy động vốn, NHTM sẽ bị hạn chế, thậm chí là không đủ khả năng cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản hay thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác

Không những thế nguồn tiền từ huy động vốn còn tạo tiền đề giúp NHTM mở rộng phạm vi, lĩnh vực kinh doanh, góp phần tăng thêm lợi nhuận

và phân tán rủi ro

Thứ hai, huy động vốn quyết định đến năng lực thanh toán và bảo đảm

uy tín của NHTM trên thị trường, qua đó quyết định trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của NHTM

Để tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường, NHTM hay bất kỳ một TCTD nào cũng đều phải đặt uy tín lên hàng đầu Điều này đồng nghĩa với việc NHTM luôn phải sẵn sàng thanh toán chi trả cho khách hàng, đáp ứng những nhu cầu ngày càng khắt khe thị trường Để đạt được điều này, NHTM phải thực hiện có hiệu quả hoạt động huy động vốn

Huy động vốn càng hiệu quả, nguồn vốn huy động được càng nhiều thì nguồn vốn khả dụng của NHTM càng lớn, lúc này khả năng thanh toán của NHTM càng cao, khả năng sẵn sàng thanh toán chi trả cho khách hàng càng tốt Nói cách khác, nguồn vốn được huy động của NHTM tỷ lệ thuận với khả năng thanh toán của NHTM Trong tình huống cụ thể, vốn lớn thì nguồn tiền

dự trữ thực tế cũng lớn, khả năng thanh toán của NHTM ít phụ thuộc hơn vào hoạt động rút tiền của khách hàng, nhờ đó giảm thiểu rủi ro cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng

Chưa hết, với tiềm năng vốn tốt, NHTM có thể nâng cao năng lực cạnh tranh thông qua việc đầu tư nâng cao chất lượng dịch vụ, trải nghiệm khách hàng, tạo điều kiện nâng cao tay nghề cho đội ngũ cán bộ, nhân viên, Đặc

Trang 25

biệt, NHTM có thể mở rộng mở rộng tín dụng với các thành phần kinh tế cả

về quy mô, khối lượng tín dụng, chủ động về thời gian, thời hạn cho vay và quyết định mức lãi suất mang tính cạnh tranh đối với thị trường Nhờ vậy, NHTM sẽ thu hút ngày càng nhiều khách hàng, doanh số hoạt động tăng nhanh chóng và lợi nhuận thu được cũng cao hơn

Ngoài ra, không chỉ có vai trò quan trọng trong hoạt động của NHTM, huy động vốn còn có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế Thông qua hoạt động huy động vốn của NHTM, nguồn tiền tệ nhàn rỗi trong xã hội được huy động vào nền kinh tế, đáp ứng cho hoạt động đầu tư phát triển kinh tế, nâng cao đời sống xã hội Cũng qua đây, Nhà nước có thể kiểm soát, điều chỉnh chính sách tiền tệ, ổn định giá trị đồng tiền, tăng cường hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước

1.2 Khái niệm, đặc điểm, nội dung pháp luật về huy động vốn của ngân hàng thương mại

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về huy động vốn của ngân hàng thương mại

1.2.1.1 Khái niệm

Trên cơ sở các nội dung đã phân tích, có thể thấy, hoạt động huy động vốn của NHTM sẽ làm phát sinh các mối quan hệ giữa NHTM với khách hàng, giữa NHTM với NHNN và giữa NHTM với các TCTD khác Để điều chỉnh các quan hệ xã hội này, Nhà nước cần phải ban hành các quy phạm pháp luật và thiết lập khuôn khổ pháp lý nhất định để hoạt động huy động vốn của NHTM được thực hiện có hiệu quả, bảo đảm quyền lợi của khách hàng, ngân hàng và ổn định nền kinh tế

Cụ thể, Nhà nước ban hành các quy phạm pháp luật về huy động vốn của NHTM nhằm có cơ chế kiểm tra, giám sát đặc biệt hoạt động này, bảo đảm các NHTM hoạt động trong một khuôn khổ, chuẩn mực nhất định

Trang 26

Thông qua đó, bảo vệ chính những quyền lợi của các NHTM và duy trì sự ổn định của cả nền kinh tế

Đồng thời, Nhà nước cũng ban hành các quy phạm pháp luật cụ thể về vốn điều lệ, vốn pháp định, quy mô vốn hoạt động của NHTM để bảo vệ quyền lợi của khách hàng trong mối quan hệ với các NHTM, củng cố niềm tin của người dân vào hệ thống ngân hàng, góp phần đưa nguồn tiền nhàn rỗi trong dân cư vào trong nền kinh tế, phục vụ nhu cầu phát triển đất nước

Vậy, có thể hiểu: “Pháp luật về huy động vốn của NHTM là hệ thống

các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các NHTM huy động vốn từ các

tổ chức, cá nhân trong xã hội, nhằm bảo đảm hiệu quả của hoạt động huy động vốn và bảo vệ quyền lợi của các chủ thể trong hoạt động này”

1.2.1.2 Đặc điểm

Thứ nhất, pháp luật về huy động vốn của NHTM là một bộ phận quan

trọng của pháp luật ngân hàng, có sự liên quan với các lĩnh vực pháp luật khác như pháp luật về dân sự, hành chính, thương mại

Chủ thể tham gia vào hoạt động huy động vốn của NHTM bao gồm các NHTM, NHNN, các TCTD và các tổ chức, cá nhân khác trong xã hội Do đó, pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh từ hoạt động này không chỉ bao gồm các quy phạm pháp luật mang tính chuyên ngành ngân hàng mà còn bao gồm các quy phạm pháp luật chung về dân sự, hành chính, thương mại

Về mục đích, pháp luật về huy động vốn của NHTM là công cụ giúp Nhà nước xây dựng được các cơ chế bảo đảm an toàn cho hoạt động kinh doanh ngân hàng trong nền kinh tế, xây dựng hệ thống các NHTM phù hợp với mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế

Thứ hai, pháp luật về huy động vốn của NHTM mang tính đặc thù

NHTM là chủ thể duy nhất có khả năng huy động vốn dưới cả bốn hình

Trang 27

thức là nhận tiền gửi, phát hành GTCG, vay vốn của các TCTD khác và vay vốn của NHNN Việt Nam Do đó, pháp luật về huy động vốn của NHTM có những quy định đặc thù như quy định về tiền gửi tiết kiệm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán,

Mặt khác, huy động vốn là hoạt động mang tính đặc trưng của các NHTM Pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh từ hoạt động huy động vốn của NHTM vì vậy cũng phải mang tính đặc trưng riêng về chủ thể, địa vị pháp lý, lợi ích của các chủ thể và các biện pháp cưỡng chế

1.2.2 Nội dung pháp luật về huy động vốn của ngân hàng thương mại

Pháp luật về huy động vốn của NHTM điều chỉnh các nội dung cơ bản

là chủ thể tham gia hoạt động huy động vốn của NHTM; các hình thức huy động vốn của NHTM; hình thức pháp lý của các quan hệ huy động vốn của NHTM; trình tự, thủ tục huy động vốn của NHTM; xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động huy động vốn của NHTM

1.2.2.1 Chủ thể tham gia hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại

Việc xác định chủ thể tham gia hoạt động huy động vốn có ý nghĩa quan trọng Bởi lẽ, chỉ khi xác định chính xác chủ thể tham gia thì hoạt động huy động vốn mới có thể thực hiện nghiêm chỉnh theo đúng pháp luật, góp phần hạn chế rủi ro đối với nguồn vốn được huy động Thông qua các quy định pháp lý về chủ thể tham gia hoạt động huy động vốn của NHTM, nhà nước duy trì sự quản lý chặt chẽ đối với hoạt động này, thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế trong từng thời kỳ

Tham gia hoạt động huy động vốn của NHTM có hai bên chủ thể, một bên là các NHTM và một bên là các tổ chức, cá nhân khác trong xã hội Trong đó, trách nhiệm của NHTM là rất lớn, yêu cầu NHTM phải làm đúng quyền và nghĩa vụ của mình, để bảo đảm cho nguồn vốn được sử dụng đúng

Trang 28

mục đích, đem lại lợi ích cho cả hai bên, ổn định cả hệ thống ngân hàng và niềm tin của khách hàng

Về phía các tổ chức, cá nhân khác trong xã hội, điều kiện cơ bản mà các chủ thể này phải thỏa mãn là có năng lực pháp luật và năng lực hành vi để tham gia giao dịch và tự chịu trách nhiệm pháp lý về hành vi của mình Đối với từng hình thức huy động vốn, pháp luật sẽ đặt ra những giới hạn riêng khác nhằm bảo đảm quyền lợi và trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức này trong quá trình tham gia hoạt động huy động vốn của NHTM

1.2.2.2 Các hình thức huy động vốn của ngân hàng thương mại

Như đã phân tích ở mục 1.1.2, có bốn hình thức huy động vốn của NHTM gồm: nhận tiền gửi, phát hành GTCG, vay vốn của các TCTD và vay vốn của ngân hàng Trung ương

Tương ứng với mỗi hình thức huy động vốn nêu trên sẽ là một hoạt động nghiệp vụ của NHTM và là một chế định cụ thể trong pháp luật về huy động vốn của NHTM Cụ thể:

Pháp luật điều chỉnh hoạt động huy động vốn của NHTM dưới hình thức nhận tiền gửi quy định cụ thể về chủ thể gửi tiền, lãi suất huy động vốn, hợp đồng tiền gửi, bảo hiểm tiền gửi, thủ tục nhận tiền gửi của NHTM,

Pháp luật điều chỉnh hoạt động huy động vốn của NHTM dưới hình thức phát hành GTCG quy định cụ thể về hình thức, phương thức, trình tự, thủ tục phát hành GTCG của NHTM, thanh toán GTCG, các loại GTCG mà NHTM được phát hành,

Pháp luật điều chỉnh hoạt động huy động vốn của NHTM dưới hình thức vay vốn của các TCTD quy định cụ thể về thời gian, nguyên tắc, hợp đồng vay vốn, quyền và nghĩa vụ các bên, chế độ thông tin, báo cáo,

Pháp luật điều chỉnh hoạt động huy động vốn của NHTM dưới hình thức vay vốn của ngân hàng Trung ương quy định cụ thể về mục đích, nguyên

Trang 29

tắc, phương thức vay vốn, điều kiện, giới hạn, lãi suất vay, quyền và trách nhiệm của NHTM vay vốn,

1.2.2.3 Hình thức pháp lý của các quan hệ huy động vốn của Ngân hàng thương mại

Có thể thấy, hầu hết các quan hệ huy động vốn của NHTM tồn tại trên cơ sở hợp đồng Trên thực tế, quan hệ huy động vốn giữa các chủ thể được thiết lập trên cơ sở tin tưởng, tín nhiệm lẫn nhau nhưng phải có hợp đồng làm bằng chứng pháp lý để chứng minh mối quan hệ giữa hai bên chủ thể là NHTM và các tổ chức, cá nhân khác tham gia vào hoạt động huy động vốn của NHTM

Tùy vào từng loại hình thức huy động vốn khác nhau của NHTM mà hợp đồng được thể hiện dưới nhiều hình thức như giấy đề nghị mở tài khoản, hợp đồng tiền gửi, hợp đồng cho vay,… Nhìn chung, đây đều là cơ sở để các bên trong quan hệ thực hiện các quyền khiếu nại, khởi kiện tại cơ quan giải quyết tranh chấp trong trường hợp xảy ra tranh chấp

1.2.2.4 Trình tự, thủ tục huy động vốn của ngân hàng thương mại

Để xác lập và thực hiện những giao dịch huy động vốn của NHTM, pháp luật đặt ra những quy định mang tính nguyên tắc về trình tự, thủ tục huy động vốn Trên cơ sở đó, từng NHTM có căn cứ pháp lý để cụ thể hóa những quy định mang tính nguyên tắc thành những quy định mang tính nghiệp vụ nội bộ của ngân hàng mình

Cụ thể, các quy định mang tính nguyên tắc về trình tự, thủ tục huy động vốn của NHTM được biết đến bao gồm quy định về thủ tục nhận, gửi tiền, quy định về việc cung cấp thông tin người gửi tiền, quy định về hình thức, phương thức phát hành các loại GTCG,

1.2.2.5 Xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại

Hoạt động huy động vốn của NHTM có tầm quan trọng, ảnh rất lớn đến

Trang 30

hoạt động của NHTM, và sự ổn định của cả nền kinh tế Vì vậy, các cơ quan Nhà nước đặt ra chế tài, các biện pháp xử lý hành chính để xử phạt những hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động huy động vốn của NHTM nhằm tránh sự ảnh hưởng của những hành vi vi phạm pháp luật này đến sự ổn định của nền kinh tế, ảnh hưởng đến niềm tin các tổ chức, cá nhân trong xã hội, đảm bảo an toàn cho hoạt động huy động vốn của NHTM vốn chứa nhiều rủi

ro tiềm ẩn Tùy theo hành vi vi phạm, mức độ vi phạm mà chế tài xử lý cũng được xác định tương ứng như phạt cảnh cáo, phạt tiền, các biện pháp khắc phục hậu quả,

Về giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động huy động vốn của NHTM, pháp luật hiện hành quy định các phương thức giải quyết tranh chấp gồm: Thương lượng, hòa giải, trọng tài và tòa án Trong đó, phương thức giải quyết tranh chấp tại Tòa án là hình thức cuối cùng mà các bên lựa chọn để giải quyết tranh chấp

1.2.3 Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật với hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại

Pháp luật là công cụ để Nhà nước tác động lên các quan hệ xã hội nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định Đối với các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động huy động vốn của NHTM, Nhà nước cần phải điều chỉnh bằng pháp luật vì các mục tiêu sau:

Một là, thông qua hệ thống quy phạm pháp luật về huy động vốn của

NHTM, Nhà nước có thể thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội Với các công cụ pháp lý của mình, Nhà nước tác động trực tiếp đến hoạt động huy động vốn của NHTM bằng cách tạo ra những điều kiện thuận lợi hoặc hạn chế việc huy động vốn của NHTM Chẳng hạn, khi lạm phát tăng, Nhà nước có chính sách thắt chặt tiền

tệ bằng cách tăng lãi suất tiền gửi để thu hút tiền ngoài xã hội thì NHTM huy

Trang 31

động vốn dễ dàng hơn Hoặc khi Nhà nước có chính sách khuyến khích đầu

tư, mở rộng sản xuất thì NHTM khó huy động vốn hơn vì người có tiền nhàn rỗi sẽ bỏ tiền vào sản xuất vì làm như vậy có lợi hơn gửi ngân hàng

Hai là, thông qua hệ thống quy phạm pháp luật về huy động vốn của

NHTM, Nhà nước có thể kiểm soát, duy trì sự ổn định và an toàn của hệ thống ngân hàng trong nước Chính sự ổn định an toàn của hệ thống ngân hàng, sẽ thu hút nhiều hơn lượng vốn huy động, bởi khách hàng tin tưởng, đặt niềm tin vào hệ thống ngân hàng, yên tâm gửi tiền vào ngân hàng Ngược lại, nếu Nhà nước không quản lý bằng pháp luật, để các NHTM tự do thực hiện hoạt động huy động vốn mà không bảo đảm các điều kiện an toàn và bảo đảm quyền lợi cho khách hàng, thì nguy cơ dẫn tới tình trạng “phản ứng dây chuyền” của cả hệ thống ngân hàng là rất lớn Chẳng hạn, khi một NHTM sử dụng nguồn vốn huy động không hiệu quả, gây thất thoát vốn, mất khả năng chi trả cho khách hàng sẽ làm cho những người đang có tiền gửi trong các ngân hàng khác xuất hiện tâm lý hoang mang, mất niềm tin và đồng loạt rút tiền khỏi ngân hàng Nếu số lượng người rút tiền tăng cao, nhiều NHTM khác tiếp tục có nguy cơ rơi vào tình trạng mất khả năng chi trả, dẫn đến sự đổ vỡ của toàn bộ hệ thống ngân hàng, gây ra khủng hoảng tài chính - tiền tệ quốc gia, mất ổn định kinh tế

Ba là, thông qua hệ thống quy phạm pháp luật về huy động vốn của

NHTM, Nhà nước bảo vệ được quyền lợi của các bên chủ thể tham gia quan

hệ huy động vốn Qua đó, củng cố niềm tin của người dân vào hệ thống pháp luật và các chính sách phát triển của Nhà nước

Trang 32

hoạt động huy động vốn của NHTM

Thứ hai, trình bày bốn hình thức huy động vốn của NHTM gồm nhận

tiền gửi, phát hành GTCG, vay vốn của các TCTD và vay vốn của NHNN Việt Nam

Thứ ba, chỉ ra hoạt động huy động vốn của NHTM có vai trò quan

trọng không chỉ với hoạt động của chính các NHTM mà có ý nghĩa quan trọng đối với cả nền kinh tế

Thứ tư, xây dựng khái niệm “Pháp luật về huy động vốn của NHTM là

hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các NHTM huy động vốn từ các tổ chức, cá nhân trong xã hội, nhằm bảo đảm hiệu quả của hoạt động huy động vốn và bảo vệ quyền lợi của các chủ thể trong hoạt động này”

và phân tích các đặc điểm của pháp luật về huy động vốn của NHTM

Thứ năm, phân tích nội dung pháp luật về huy động vốn của NHTM Thứ sáu, cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động huy

động vốn của NHTM bởi lẽ đây là công cụ để Nhà nước thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, duy trì hoạt động ổn định của hệ thống ngân hàng, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi, an toàn cho NHTM trong quá trình huy động vốn

Đây là những vấn đề quan trọng, tạo cơ sở cho việc phân tích thực trạng pháp luật tại Chương 2 của luận văn

Trang 33

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI AGRIBANK

2.1 Quy định pháp luật về huy động vốn của ngân hàng thương mại

2.1.1 Huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi

Hoạt động huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi được điều chỉnh bởi một hệ thống pháp luật tương đối đầy đủ, bao gồm nhiều văn bản pháp luật chung và chuyên ngành như: BLDS, Luật Các TCTD, Luật Bảo hiểm tiền gửi, Pháp lệnh Ngoại hối năm 2005, Pháp lệnh Sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh Ngoại hối năm 2013, Thông tư số 48/2018/TT-NHNN ngày 31/12/2018 của NHNN Việt Nam quy định về tiền gửi tiết kiệm, Thông tư số 49/2018/TT-NHNN ngày 31/12/2018 của NHNN Việt Nam quy định về tiền gửi có kỳ hạn, Thông tư 23/2014/TT-NHNN ngày 19/8/2014 của NHNN Việt Nam hướng dẫn việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch

vụ thanh toán, Thông tư số 02/2019/TT-NHNN ngày 28/02/2019 của NHNN Việt Nam về sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 23/2014/TT-NHNN ngày 19/8/2014 của NHNN Việt Nam hướng dẫn việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán; Nghị định số 68/2013/NĐ-CP ngày 28/6/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Bảo hiểm tiền gửi; Nghị định số 70/2014/NĐ-CP ngày 17/7/2014 của Chính phủ về việc quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Ngoại hối và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ngoại hối; Thông tư số 16/2014/TT-NHNN ngày 01/8/2014 của NHNN Việt Nam hướng dẫn sử dụng tài khoản ngoại tệ, tài khoản đồng Việt Nam của người cư trú và người không cư trú tại ngân hàng được phép; Thông tư số 46/2014/TT-NHNN ngày 31/12/2014 của NHNN Việt Nam hướng dẫn về dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt;

Trang 34

2.1.1.1 Chủ thể tham gia quan hệ huy động vốn

Về bên nhận tiền gửi, NHTM phải thỏa mãn một số điều kiện do pháp luật quy định như: Có giấy phép thành lập và hoạt động ngân hàng; Có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (trong đó ghi rõ loại hình nghiệp vụ huy động vốn bằng hình thức nhận tiền gửi); Có điều lệ được chuẩn y; Có người đại diện hợp pháp để thay mặt NHTM tham gia vào quan hệ giao dịch với khách hàng

Về bên gửi tiền, để tham gia vào giao dịch gửi tiền tại ngân hàng, cá nhân, tổ chức gửi tiền phải thỏa mãn điều kiện cơ bản là phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi để tham gia giao dịch và tự chịu trách nhiệm pháp lý về hành vi của mình Tùy vào từng hình thức gửi tiền và loại tiền mà phạm vi chủ thể gửi tiền được quy định khác nhau

Đối với hình thức tiền gửi tiết kiệm, người gửi tiền được quy định là các cá nhân thỏa mãn điều kiện:

1 Công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân

sự đầy đủ theo quy định của pháp luật

2 Công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc không mất năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật

3 Công dân Việt Nam bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc mất năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật hoặc chưa đủ

15 tuổi thực hiện giao dịch tiền gửi tiết kiệm thông qua người đại diện theo pháp luật; Công dân Việt Nam có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quy định của pháp luật thực hiện giao dịch tiền gửi tiết kiệm thông qua người giám hộ [25, Điều 3]

Đối tượng được mở và sử dụng tài khoản tiền gửi thanh toán không chỉ bao gồm các cá nhân như đối với hình thức tiền gửi tiết kiệm mà còn bao gồm

Trang 35

các tổ chức Trong đó, các tổ chức này phải được thành lập, hoạt động hợp pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam bao gồm: tổ chức là pháp nhân, doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh doanh và các tổ chức khác được mở tài khoản thanh toán tại ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo quy định của pháp luật [27, Điều 1, khoản 6]

Đối với hình thức tiền gửi có kỳ hạn, phạm vi đối tượng gửi tiền tiếp tục được mở rộng hơn, bao gồm:

1 Người cư trú là tổ chức, cá nhân

2 Người không cư trú bao gồm:

a) Cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự, cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam; Văn phòng đại diện, văn phòng dự án của các tổ chức nước ngoài tại Việt Nam;

b) Công dân Việt Nam không thuộc các trường hợp quy định tại điểm e và g khoản 2 Điều 4 Pháp lệnh ngoại hối (đã được sửa đổi,

bổ sung);

c) Cá nhân nước ngoài được phép cư trú tại Việt Nam với thời hạn

từ 6 (sáu) tháng trở lên [26, Điều 3]

Cũng tương tự, Khoản 14 Điều 1 Pháp lệnh số 06/2013/UBTVQH13 ngày 18/3/2013 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ngoại hối quy định “ Người cư trú, người không cư trú được mở tài khoản ngoại tệ tại tổ chức tín dụng được phép ” Như vậy, so với hình thức tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi thanh toán, phạm vi đối tượng được gửi tiền gửi có kỳ hạn và mở tài khoản tiền gửi thanh toán bằng ngoại tệ

có phạm vi rộng hơn, bao gồm cả cá nhân, tổ chức nước ngoài Quy định này

là hoàn toàn hợp lý, giúp bảo đảm quyền lợi được tham gia vào quan hệ tiền gửi với NHTM của cá nhân, tổ chức nước ngoài trong quá trình sinh sống, hoạt động, làm việc tại Việt Nam

Trang 36

2.1.1.2 Quyền và nghĩa vụ của bên gửi tiền

Ứng với mỗi loại tiền gửi khác nhau, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể cũng được pháp luật quy định khác nhau Ví dụ như quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ tiền gửi thanh toán được quy định tại Điều 4, 5, Thông tư số 23/2014/TT-NHNN ngày 19/8/2014 của NHNN Việt Nam hướng dẫn việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại TCTD, tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán; quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi có kỳ hạn không được pháp luật quy định cụ thể nhưng phải đáp ứng các nội dung cơ bản được quy định tại Điều 20, Thông tư số 48/2018/TT-NHNN ngày 31/12/2018 của NHNN Việt Nam quy định về tiền gửi tiết kiệm và Điều 15, Thông tư số 49/2018/TT-NHNN ngày 31/12/2018 của NHNN Việt Nam quy định về tiền gửi có kỳ hạn

Nhìn chung, quan hệ tiền gửi là quan hệ vay tài sản được thực hiện trên nguyên tắc thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng Theo đó, khách hàng đem gửi tiền để thu lại khoản lãi trên số tiền gửi đó theo các kỳ hạn cụ thể và hưởng các dịch vụ khác của ngân hàng như ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi, thanh toán bằng thẻ ngân hàng Đổi lại, ngân hàng được nhận toàn bộ quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với số tiền gửi từ khách hàng, khách hàng không

có quyền can dự vào việc sử dụng đồng tiền đã gửi vào ngân hàng, nhưng có thể dùng quyền chủ nợ để tham gia một số giao dịch dân sự khác theo loại hình tiền gửi của hợp đồng tiền gửi, được đòi nợ hoặc nhận tiện ích theo thoả thuận với ngân hàng

2.1.1.3 Quyền và nghĩa vụ của NHTM

Giao dịch nhận tiền gửi được thực hiện theo nguyên tắc thỏa thuận giữa NHTM và khách hàng thông qua hợp đồng vay tài sản Do đó, giao dịch nhận tiền gửi không chỉ được điều chỉnh bởi pháp luật ngân hàng mà còn chịu sự điều chỉnh của pháp luật chung về dân sự đối với hợp đồng vay tài sản Tuy nhiên, các văn bản pháp lý về vấn đề này lại đang tồn tại mâu thuẫn

Trang 37

Theo quy định của BLDS về vay tài sản, quyền sở hữu tài sản vay chuyển từ bên cho vay sang bên vay kể từ thời điểm bên vay nhận tài sản vay Mang bản chất của một giao dịch vay tài sản, khi xác lập giao dịch nhận tiền gửi đối với khách hàng, NHTM đóng vai trò là bên vay tài sản cũng sẽ phải

có quyền sở hữu đối với số tiền gửi mà khách hàng đã chuyển vào ngân hàng Tức, NHTM có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với số tiền mà khách hàng đã gửi để thực hiện các mục tiêu kinh doanh của mình như cho vay, tích lũy nguồn vốn, trung gian thanh toán…

Trái lại, theo quy định của các văn bản pháp luật chuyên ngành ngân hàng, cụ thể như tại Thông tư số 48/2018/TT-NHNN ngày 31/12/2018 của NHNN Việt Nam quy định về tiền gửi tiết kiệm, thì quyền sở hữu đối với số tiền gửi vào ngân hàng vẫn thuộc về khách hàng mà trong đó thẻ (sổ) tiết kiệm chính là bằng chứng ghi nhận quyền sở hữu này

Về vấn đề này, trong thực tiễn hoạt động của ngân hàng, cũng như với chức năng được pháp luật quy định, các NHTM đều sử dụng quyền của mình đối với khoản tiền gửi của khách hàng như trong quan hệ cho vay Sau khi nhận khoản tiền gửi, ngân hàng được toàn quyền sử dụng, định đoạt số tiền này Các NHTM có quyền từ chối yêu cầu đòi tiền bất hợp lý của khách hàng hoặc chấp nhận và buộc chịu chế tài theo hợp đồng, khách hàng không thể đơn phương thực hiện quyền của một chủ sở hữu đối với số tiền đã cho ngân hàng vay trong thời gian hợp đồng vay còn hiệu lực Ngược lại, NHTM cũng phải có nghĩa vụ đảm bảo an ninh cho số tiền trên và có nghĩa vụ trả gốc cùng với khoản lãi cho khách hàng gửi tiền khi thời hạn gửi tiền kết thúc

Ngoài ra, NHTM còn phải tuân thủ một số nghĩa vụ trong hoạt động huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi, cụ thể là: Tham gia tổ chức bảo đảm hoặc bảo hiểm tiền gửi hoặc bảo hiểm do Nhà nước quy định; Tạo thuận lợi cho khách hàng gửi và rút tiền theo yêu cầu, bảo đảm chi trả đầy đủ, đúng

Trang 38

hạn cả gốc lẫn lãi; Bảo đảm bí mật số dư tiền gửi của khách hàng, từ chối việc điều tra, phong tỏa, cầm giữ, trích chuyển tiền gửi mà không có sự đồng ý của khách hàng, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; Thông báo công khai mức lãi suất huy động vốn tiền gửi; NHTM nhận tiền gửi phải mở tài khoản tiền gửi tại NHNN và duy trì tại đó số dư bình quân không thấp hơn mức dự trữ bắt buộc do NHNN quy định; NHTM phải duy trì tỷ lệ đảm bảo an toàn như tỷ lệ đảm bảo khả năng chi trả, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng cho vay trung và dài hạn, tỷ lệ vốn tối đa

dư nợ cho vay so với số tiền gửi

2.1.1.4 Trình tự, thủ tục huy động vốn

Pháp luật hiện hành có những quy định khác nhau đối với từng hình thức gửi tiền và loại tiền gửi Về cơ bản, khách hàng phải cung cấp các thông tin cá nhân theo mẫu và nộp tiền cho ngân hàng Sau khi hoàn tất thủ tục, khách hàng nhận lại sổ tiền gửi hoặc chứng nhận gửi tiền thông qua phương tiện điện tử Cụ thể:

Đối với tiền gửi tiết kiệm, có hai hình thức gửi tiền là gửi tiết kiệm tại địa điểm giao dịch của NHTM và gửi tiết kiệm bằng phương tiện điện tử

Thủ tục gửi tiền tiết kiệm tại điểm giao dịch của NHTM được quy định tại Điều 12, Thông tư số 48/2018/TT-NHNN ngày 31/12/2018 quy định

về tiền gửi tiết kiệm Theo đó, người gửi tiền phải trực tiếp đến địa điểm giao dịch của NHTM và xuất trình Giấy tờ xác minh thông tin của người gửi tiền; trường hợp gửi tiền gửi tiết kiệm chung, tất cả người gửi tiền phải trực tiếp xuất trình Giấy tờ xác minh thông tin của mình Trường hợp gửi tiền gửi tiết kiệm thông qua người đại diện theo pháp luật, người đại diện theo pháp luật phải xuất trình giấy tờ chứng minh tư cách đại diện của người đại diện theo pháp luật, Giấy tờ xác minh thông tin của người đại diện theo pháp luật

và Giấy tờ xác minh thông tin của người gửi tiền Người gửi tiền đăng ký

Trang 39

chữ ký mẫu trong trường hợp thay đổi chữ ký mẫu hoặc chưa có chữ ký mẫu được lưu tại NHTM Đối với người gửi tiền là người không viết được, người không đọc được, người không nhìn được: người gửi tiền thực hiện theo hướng dẫn của NHTM

Tiếp theo, NHTM đối chiếu, cập nhật các thông tin người gửi tiền theo quy định của pháp luật về phòng, chống rửa tiền Yêu cầu người gửi tiền thực hiện thủ tục khác theo quy định nội bộ của NHTM (nếu có)

Sau khi đã hoàn thành các thủ tục nêu trên, NHTM thực hiện việc nhận tiền gửi tiết kiệm và giao Thẻ tiết kiệm cho người gửi tiền

Trong trường hợp người gửi tiền gửi tiền mặt vào vào Thẻ tiết kiệm đã cấp thì ngoài thủ tục, trình tự nêu trên, người gửi tiền còn phải xuất trình Thẻ tiết kiệm đã cấp NHTM sau khi nhận tiền gửi tiết kiệm phải ghi nhận tiền gửi tiết kiệm vào Thẻ tiết kiệm đã cấp và giao Thẻ tiết kiệm cho người gửi tiền Riêng đối với trường hợp gửi tiền từ tài khoản thanh toán của người gửi tiền thì các NHTM sẽ có hướng dẫn thủ tục riêng cho người gửi tiền

Thủ tục gửi tiền tiết kiệm bằng phương tiện điện tử do từng NHTM có hướng dẫn riêng nhưng phải phù hợp với quy định tại Thông tư số 48/2018/TT-NHNN ngày 31/12/2018 của NHNN Việt Nam quy định về tiền gửi tiết kiệm, quy định của pháp luật về giao dịch điện tử, về phòng, chống rửa tiền và các quy định của pháp luật có liên quan đảm bảo việc nhận, chi trả tiền gửi tiết kiệm chính xác, an toàn tài sản cho người gửi tiền và an toàn hoạt động cho TCTD NHTM phải đảm bảo lưu giữ đầy đủ các thông tin liên quan đến việc nhận, chi trả tiền gửi tiết kiệm bằng phương tiện điện tử để đáp ứng yêu cầu của người gửi tiền trong việc tra soát, kiểm tra và giải quyết tranh chấp [25, Điều 19]

Đối với tiền gửi có kỳ hạn, pháp luật không quy định trình tự, thủ tục

mà để các NHTM tự đưa ra những quy định nội bộ riêng trên cơ sở phải thỏa mãn nhưng nguyên tắc chung về giao dịch tiền gửi có kỳ hạn được quy định

Trang 40

tại Điều 5, Thông tư số 49/2018/TT-NHNN ngày 31/12/2018 của NHNN Việt Nam quy định về tiền gửi có kỳ hạn

Đối với tiền gửi thanh toán, khách hàng khi có nhu cầu mở tài khoản thanh toán tại NHTM thì thực hiện lập hồ sơ theo quy định tại Điều 12, Thông

tư số 23/2014/TT-NHNN ngày 19/8/2014 của NHNN Việt Nam, khoản 7, Điều 1, Thông tư số 02/2019/TT-NHNN ngày 28/02/2019 của NHNN Việt Nam và theo hướng dẫn cụ thể của NHTM, nộp trực tiếp hoặc gửi qua đường bưu chính hoặc phương tiện điện tử đến ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài nơi đề nghị mở tài khoản thanh toán

Sau khi khách hàng nộp hồ sơ theo quy định, phía NHTM có trách nhiệm kiểm tra tính đầy đủ, hợp pháp, hợp lệ của hồ sơ theo thủ tục được quy định tại Điều 14, Thông tư số 23/2014/TT-NHNN ngày 19/8/2014 của NHNN Việt Nam, khoản 9, Điều 1, Thông tư số 02/2019/TT-NHNN ngày 28/02/2019 của NHNN Việt Nam Căn cứ vào kết quả kiểm tra, NHTM phải trả lời việc

có hay không tiếp nhận mở tài khoản thanh toán cho khách hàng Trường hợp đồng ý mở tài khoản, ngân hàng và khách hàng phải cùng tham gia ký hợp đồng mở, sử dụng tài khoản thanh toán trực tiếp sau khi kiểm tra mẫu chữ ký

và con dấu đảm bảo tính đúng đắn (đối với trường hợp khách hàng là tổ chức)

và mỗi bên giữ 01 bản hợp đồng

2.1.1.5 Hợp đồng, lãi suất tiền gửi

Khoản 1, Điều 119, BLDS năm 2015 quy định về hình thức của một giao dịch dân sự nói chung như sau: “ Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản ” Giao dịch nhận tiền gửi là một giao dịch thương mại điển hình của NHTM nên chắc chắn cũng phải tuân thủ các điều kiện về hình thức theo quy định của BLDS

Ngày đăng: 31/03/2021, 11:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Agribank (2014), Quyết định số 494/QĐ-HĐTV-KHNV ngày 17/6/2014 về ban hành Quy định phát hành kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu trong nước của Agribank, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 494/QĐ-HĐTV-KHNV ngày 17/6/2014 về ban hành Quy định phát hành kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu trong nước của Agribank
Tác giả: Agribank
Năm: 2014
2. Agribank (2015), Quyết định số 726/ QĐ-NHNo-NCPT ngày 09/6/2015 ban hành Quy định về một số sản phẩm tiết kiệm trong hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thông Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 726/ QĐ-NHNo-NCPT ngày 09/6/2015 ban hành Quy định về một số sản phẩm tiết kiệm trong hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thông Việt Nam
Tác giả: Agribank
Năm: 2015
3. Agribank (2017), Quyết định số 595/QĐ-NHNo-TCKT ngày 18/4/2017 về ban hành Quy định mở và sử dụng tài khoản thanh toán trong hệ thống Agribank, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 595/QĐ-NHNo-TCKT ngày 18/4/2017 về ban hành Quy định mở và sử dụng tài khoản thanh toán trong hệ thống Agribank
Tác giả: Agribank
Năm: 2017
4. Agribank (2019), Quy định số 655/QĐ-HĐTV-KHNV ngày 15/8/2019 về tiền gửi tiết kiệm trong hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thông Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định số 655/QĐ-HĐTV-KHNV ngày 15/8/2019 về tiền gửi tiết kiệm trong hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thông Việt Nam
Tác giả: Agribank
Năm: 2019
5. Agribank (2019), Quy định số 656/QĐ-HĐTV-KHNV ngày 15/8/2019 về tiền gửi có kỳ hạn trong hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thông Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định số 656/QĐ-HĐTV-KHNV ngày 15/8/2019 về tiền gửi có kỳ hạn trong hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thông Việt Nam
Tác giả: Agribank
Năm: 2019
6. Agribank (2019), Quyết định số 2208/QĐ-NHNo-KHNV ngày 18/10/2019 hướng dẫn thực hiện Quy định về tiền gửi có kỳ hạn trong hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thông Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 2208/QĐ-NHNo-KHNV ngày 18/10/2019 hướng dẫn thực hiện Quy định về tiền gửi có kỳ hạn trong hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thông Việt Nam
Tác giả: Agribank
Năm: 2019
7. Agribank (2019), Quyết định số 2209/QĐ-NHNo-KHNV ngày 18/10/2019 ban hành hướng dẫn thực hiện Quy định về tiền gửi tiết kiệm trong hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thông Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 2209/QĐ-NHNo-KHNV ngày 18/10/2019 ban hành hướng dẫn thực hiện Quy định về tiền gửi tiết kiệm trong hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thông Việt Nam
Tác giả: Agribank
Năm: 2019
8. Agribank (2020), Quyết định số 978/QĐ-NHNo-NCPT ngày 18/5/2020 ban hành Quy định về một số sản phẩm tiền gửi có kỳ hạn trong hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thông Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 978/QĐ-NHNo-NCPT ngày 18/5/2020 ban hành Quy định về một số sản phẩm tiền gửi có kỳ hạn trong hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thông Việt Nam
Tác giả: Agribank
Năm: 2020
9. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), Nghị định số 68/2013/NĐ-CP ngày 28/6/2013 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Bảo hiểm tiền gửi, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 68/2013/NĐ-CP ngày 28/6/2013 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Bảo hiểm tiền gửi
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2013
10. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2014), Nghị định số 70/2014/NĐ-CP ngày 17/7/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Ngoại hối và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ngoại hối, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 70/2014/NĐ-CP ngày 17/7/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Ngoại hối và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ngoại hối
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2014
11. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2018), Nghị định số 163/2018/NĐ-CP ngày 04/12/2018 quy định về phát hành trái phiếu doanh nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 163/2018/NĐ-CP ngày 04/12/2018 quy định về phát hành trái phiếu doanh nghiệp
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2018
12. Hoàng Tuyết Mai (2010), Hoàn thiện pháp luật về huy động vốn của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam, Luận văn thạc sỹ luật học, Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật về huy động vốn của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
Tác giả: Hoàng Tuyết Mai
Năm: 2010
13. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2011), Thông tư số 17/2011/TT- NHNN ngày 18/8/2011 Quy định về việc cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với các tổ chức tín dụng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 17/2011/TT-NHNN ngày 18/8/2011 Quy định về việc cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với các tổ chức tín dụng
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Năm: 2011
14. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2012), Thông tư số 01/2012/TT- NHNN ngày 16/02/2012 Quy định về chiết khấu giấy tờ có giá của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 01/2012/TT-NHNN ngày 16/02/2012 Quy định về chiết khấu giấy tờ có giá của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Năm: 2012
15. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2012), Thông tư số 21/2012/TT- NHNN ngày 18/6/2012 quy định về hoạt động cho vay, đi vay; mua, bán có kỳ hạn giấy tờ có giá giữa các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 21/2012/TT-NHNN ngày 18/6/2012 quy định về hoạt động cho vay, đi vay; mua, bán có kỳ hạn giấy tờ có giá giữa các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Năm: 2012
16. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2013), Thông tư số 01/2013/TT-NHNN ngày 07/01/2013 sửa đổi, bổ sung một số điều tại Thông tư số 21/2012/TT-NHNN ngày 18/6/2012 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về hoạt động cho vay, đi vay; mua, bán có kỳ hạn giấy tờ có giá giữa các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 01/2013/TT-NHNN ngày 07/01/2013 sửa đổi, bổ sung một số điều tại Thông tư số 21/2012/TT-NHNN ngày 18/6/2012 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về hoạt động cho vay, đi vay; mua, bán có kỳ hạn giấy tờ có giá giữa các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Năm: 2013
17. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2013), Thông tư số 34/2013/TT- NHNN ngày 31/12/2013 quy định về phát hành kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu trong nước của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 34/2013/TT-NHNN ngày 31/12/2013 quy định về phát hành kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu trong nước của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Năm: 2013
18. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2014), Thông tư số 07/2014/TT- NHNN ngày 17/3/2014 quy định lãi suất đối với tiền gửi bằng đồng Việt Nam của tổ chức, cá nhân tại tổ chức tín dụng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 07/2014/TT-NHNN ngày 17/3/2014 quy định lãi suất đối với tiền gửi bằng đồng Việt Nam của tổ chức, cá nhân tại tổ chức tín dụng
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Năm: 2014
19. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2014), Thông tư số 16/2014/TT- NHNN ngày 01/8/2014 hướng dẫn sử dụng tài khoản ngoại tệ, tài khoản đồng Việt Nam của người cư trú và người không cư trú tại ngân hàng được phép, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 16/2014/TT-NHNN ngày 01/8/2014 hướng dẫn sử dụng tài khoản ngoại tệ, tài khoản đồng Việt Nam của người cư trú và người không cư trú tại ngân hàng được phép
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Năm: 2014
20. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2014), Thông tư 23/2014/TT-NHNN ngày 19/8/2014 hướng dẫn việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 23/2014/TT-NHNN ngày 19/8/2014 hướng dẫn việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Năm: 2014

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm