1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về người lao động cao tuổi ở việt nam

91 105 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ thực tiễn trên, bằng việc lựa chọn đề tài “Pháp luật về người lao động cao tuổi ở Việt Nam” luận văn sẽ làm sáng tỏ các quy định của pháp luật về lao động cao tuổi, chỉ ra

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ THỊ HOÀI THU

HÀ NỘI - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Trần Cẩm Vân

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI LAO ĐỘNG CAO TUỔI VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT 8

1.1 Những vấn đề lý luận về người lao động cao tuổi 8

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của người cao tuổi 8

1.1.2 Khái niệm và đặc điểm của người lao động cao tuổi 14

1.2 Khái niệm và nội dung pháp luật về người lao động cao tuổi 18

1.2.1 Khái niệm pháp luật về người lao động cao tuổi 18

1.2.2 Nội dung pháp luật về người lao động cao tuổi 20

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 32

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ NGƯỜI LAO ĐỘNG CAO TUỔI VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN Ở VIỆT NAM 33

2.1 Thực trạng các quy định về việc làm cho người lao động cao tuổi và thực tiễn thi hành 33

2.2 Thực trạng các quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi của người lao động cao tuổi và thực tiễn thi hành 42

2.3 Thực rạng các quy định an toàn lao động, vệ sinh lao động và thực tiễn thi hành 46

2.4 Thực trạng các quy định trả lương và quyền lợi khác cho người lao động cao tuổi và thực tiễn thi hành 52

2.5 Thực trạng pháp luật về hợp đồng lao động và thực tiễn thi hành 58

2.6 Thực trạng pháp luật về xử lý vi phạm các quy định về người lao động cao tuổi và thực tiễn thi hành 60

Trang 5

2.7 Đánh giá chung 61

2.7.1 Thành công 61

2.7.2 Hạn chế 63

2.7.3 Nguyên nhân hạn chế 63

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 66

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ NGƯỜI LAO ĐỘNG CAO TUỔI Ở VIỆT NAM 67

3.1 Những yêu cầu đặt ra cho việc hoàn thiện pháp luật về người lao động cao tuổi ở Việt Nam 67

3.1.1 Khắc phục những bất cập trong quy định hiện hành về pháp luật cho người lao động cao tuổi 67

3.1.2 Đảm bảo phù hợp với nhu cầu và đời sống cho người lao động cao tuổi 68

3.1.3 Bảo đảm thực hiện chính sách an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn hiện nay 69

3.1.4 Bảo đảm phù hợp với pháp luật quốc tế và các quốc gia trên thế giới 70

3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về người lao động cao tuổi ở Việt Nam 71

3.3 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về người lao động cao tuổi ở Việt Nam 76

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 79

KẾT LUẬN 80

TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 7

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Năm 2007, Việt Nam bước vào thời kì cơ cấu “dân số vàng” tức là cơ cấu dân số có số người trong độ tuổi lao động cao hơn số người phụ thuộc (người già và trẻ em) Tuy nhiên, hiện nay nước ta đã bước vào giai đoạn “già hóa dân số” với tốc độ rất nhanh Theo Báo cáo già hóa dân số và người cao tuổi ở Việt Nam (tháng 7-2011) của Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA), theo dự báo dân số của Tổng cục Thống kê (2010) thì tỷ lệ người cao tuổi so với tổng dân số ở Việt Nam sẽ đạt đến con số 10% vào năm 2017, hay dân số Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn “già hóa” từ năm 2017 [13] Một Nghiên cứu khác năm 2016 của UNFPA, tỷ lệ người cao tuổi (từ 60 tuổi trở lên) trong tổng dân số tăng ngày càng cao hơn Năm 1990, tỷ lệ người cao tuổi chiếm 7,2% dân số thì đến năm 2011, tỷ lệ này là 10%, chính thức bắt đầu giai đoạn “già hóa dân số” Theo dự báo, già hóa dân số sẽ tiếp tục tăng nhanh: Đến năm 2038, người cao tuổi sẽ chiếm 20% tổng dân số [17]

Người cao tuổi trong quá trình làm việc nếu không có tích lũy thì rất dễ rơi vào hoàn cảnh nghèo đói bởi họ không có khả năng hoặc suy giảm khả năng làm việc dẫn đến không có thu nhập (lương hưu) hoặc thu nhập thấp không đủ khả năng lo cho cuộc sống Hơn nữa, họ thường phải đối mặt với các vấn đề về sức khỏe do tuổi tác đã cao Do vậy, họ dễ bị phụ thuộc vào người khác bao gồm cả người thân và những người hảo tâm

Mặt khác, nước ta phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt nhân lực ở tất cả các ngành nghề, ngân sách nhà nước sẽ phải chịu áp lực lớn về quỹ lương hưu cho người cao tuổi trong khi nguồn nhân lực có thể bị thiếu hụt trầm trọng trong tương lai Đây là một thách thức lớn đối với nước ta khi khả năng đóng góp vào quỹ lương hưu thấp, tỷ lệ người lao động được hưởng lương hưu thấp

Trang 8

2

và sự eo hẹp của ngân sách nhà nước, nguồn hỗ trợ của Nhà nước sẽ khó có thể đảm bảo mức hỗ trợ tốt cho người cao tuổi, đặc biệt là với những người không có lương hưu

Bảo đảm lực lượng lao động ổn định là một phần quan trọng để bảo đảm các quỹ an sinh nhằm đáp ứng với chi phí an sinh xã hội ngày một tăng cao do dân số già Chính sách tạo việc làm cho người cao tuổi là rất cần thiết hiện nay, nó không chỉ bảo đảm ổn định chính trị xã hội, mà còn trực tiếp góp phần củng cố và nâng cao sức mạnh kinh tế của đất nước Thực hiện mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh”, cùng với các chính sách phát triển kinh tế, Đảng ta luôn chủ trương và Nhà nước đã ban hành một hệ thống chính sách xã hội hướng vào phục vụ lợi ích và phát triển toàn diện con người, trong đó có các chính sách lao động - việc làm và thu nhập, chăm sóc bảo vệ sức khoẻ, chính sách đối với người có công với đất nước Tiêu biểu sự ra đời của luật người cao tuổi năm 2009, Luật lao động có quy định về sử dụng lao động cao tuổi,

Những lao động cao tuổi tiếp tục làm việc xuất phát từ nhu cầu tăng thêm thu nhập phục vụ cho cuộc sống, có sức khỏe đảm bảo thực hiện công việc, có năng lực, trí tuệ mong muốn được đóng góp và cống hiến những kiến thức và kinh nghiệm tích lũy được trong quá trình làm việc, làm chậm quá trình già hóa khi tham gia làm việc

Người cao tuổi khi tham gia vào thị trường lao động, nắm một vị trí hết sức đặc biệt bởi họ có kinh nghiệm, có kỹ năng, có năng lực tích lũy qua thời gian làm việc lâu dài Bên cạnh đó, ý thức kỷ luật, ý thức chấp hành và sự am hiểu về pháp luật của họ rất tốt, tiếp nữa họ làm việc chậm rãi, tỉ mỉ và cũng ít

bị tai nạn lao động hơn Mặt khác, việc thỏa thuận sử dụng lao động với nhóm người cao tuổi cũng dễ dàng hơn các nhóm lao động khác Do đó, người cao tuổi vẫn có khả năng làm việc

Trang 9

3

Có rất nhiều công việc người cao tuổi làm được mà không ảnh hưởng tới những người trẻ Họ tham gia làm việc tại các đơn vị, doanh nghiệp từ cổng vào như bảo vệ đến những công việc văn phòng như hành chính, kho vận, quản lý… Thậm chí, trong nhiều nhà máy của các doanh nghiệp, người cao tuổi tham gia như một mắt xích trong dây chuyền sản xuất công nghiệp

Dù chỉ làm những công việc giản đơn, nhưng họ có sự kiên nhẫn, tỉ mỉ, cẩn thận và cầu toàn Chính vì thế, trong tương lai nhu cầu sử dụng lao động cao tuổi còn có thể nhiều hơn

Tham gia vào thị trường lao động, những NLĐCT không chỉ tạo ra một

vị thế mới mà còn đảm bảo được chất lượng cuộc sống từ nguồn thu nhập do làm việc Người cao tuổi, đặc biệt là người có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm, tiếp tục làm việc là nguồn nhân lực tốt

Tuy nhiên, những quy định hiện hành về NLĐCT còn nhiều bất cập, hạn chế, chưa sát thực tế gây khó khăn cho NLĐCT Năm 2013, khi Bộ luật lao động có hiệu lực thi hành và một số nghị định, thông tư quy định chi tiết

và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật lao động đã khắc phục được nhiều hạn chế so với những quy định cũ Thực tế, trong quá trình thực hiện quy định về NLĐCT, còn nhiều bất cập, sự xung đột giữa các điều luật

và các văn bản dưới luật Tiếp đến các quy định còn mâu thuẫn, chưa bảo vệ được NLĐCT Do vậy, vẫn còn nhiều quy định gây khó khăn cho việc áp dụng pháp luật cần được xem xét sửa đổi, bổ sung cho phù hợp, bảo đảm một cách thiết thực quyền lợi cho NLĐCT

Xuất phát từ thực tiễn trên, bằng việc lựa chọn đề tài “Pháp luật về

người lao động cao tuổi ở Việt Nam” luận văn sẽ làm sáng tỏ các quy định

của pháp luật về lao động cao tuổi, chỉ ra những mẫu thuẫn trong các quy định pháp luật đồng thời chỉ ra những điểm phù hợp hoặc không phù hợp về mặt lý luận so với thực tiễn áp dụng quy định để từ đó đưa ra những kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật đảm bảo quyền lợi cho NLĐCT

Trang 10

4

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Tính tới thời điểm hiện tại đã có rất nhiều công trình nghiên cứu có liên quan đến pháp luật về NLĐCT Trong đó có cả những nghiên cứu ở trong nước và cả những nghiên cứu ở nước ngoài được phổ biến rộng rãi

Ở Việt Nam, những năm gần đây, cùng với sự phát triển của xã hội và chính sách hội nhập quốc tế đa phương, việc sử dụng lao động cao tuổi đang ngày càng phổ biến rộng hơn Ý thức được vai trò của NLĐCT và bám sát thực tiễn, giới học giả của Việt Nam đã có những công trình nghiên cứu ở các khía cạnh khác nhau liên quan đến chủ đề này như: Khoa luật - Đại học quốc

gia Hà Nội (2018), Quyền của người cao tuổi, Nhà xuất bản chính trị quốc gia

sự thật; Bùi Nghĩa (2018), Chính sách với người cao tuổi ở Việt Nam hiện

nay, PGS.TS Nguyễn Bá Ngọc và ThS Đặng Đỗ Quyên (2016), Những thách thức về lao động việc làm trong quá trình tận dụng cơ hội dân số vàng và đối phó với già hóa dân số để phát triển bền vững đất nước; GS.TS Nguyễn Xuân

Thắng (2011), Báo cáo quốc gia về phát triển con người năm 2011; PGS.TS

Lê Thị Hoài Thu (2008), Hoàn thiện pháp luật lao động Việt Nam; Nguyễn Đình Cử (2006), Xu hướng già hòa dân số thế giới và đặc trưng người cao

tuổi Việt Nam; Nguyễn Hữu Chí (2002), Hợp đồng lao động trong cơ chế thị trường ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học, Hà Nội,

Các tài liệu nghiên cứu, bài báo, chuyên đề của các tổ chức, học giả, nhà nghiên cứu nước ngoài có giá trị và được phổ biến rộng rãi như: Tổ chức

lao động quốc tế (ILO)(2019), Chia sẻ và phân phối thu nhập lao động toàn

cầu; Quỹ Dân số Liên Hợp quốc (UNFPA) (2011), Già hóa dân số và người cao tuổi ở Việt Nam, thực trang, dự báo và một số khuyến nghị chính sách;

Chương trình phát triển Liên Hợp quốc (2007), Mối quan hệ giữa tuổi già và

nghèo đói ở Việt Nam; UNFPA và ILO (2014), Bảo đảm thu nhập cho người cao tuổi ở Việt Nam: Lương hưu xã hội

Trang 11

5

Những công trình nghiên cứu trên đã tiếp cận vấn đề pháp luật về NLĐCT

ở nhiều góc độ khác nhau và là những tài liệu quý báu cho tác giả trong quá trình nghiên cứu đề tài của mình Tuy nhiên, tính đến thời điểm hiện tại, vấn

đề pháp luật của NLĐCT ở Việt Nam là mảng đề tài chƣa đƣợc đào sâu nghiên cứu do vậy đề tài mà tác giả lựa chọn sẽ tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam về NLĐCT

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

3.1 Mục tiêu của đề tài

Luận văn phân tích và làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn pháp luật về NLĐCT ở Việt Nam để từ đó đƣa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về NLĐCT nhằm bảo đảm quyền lợi cho NLĐCT và nâng cao hiệu quả pháp luật về NLĐCT ở Việt Nam nhằm bảo

vệ quyền lợi cho họ

3.2 Nhiệm vụ của đề tài

Nghiên cứu vấn đề lý luận về NLĐCT và pháp luật về NLĐCT;

Phân tích thực trạng quy định pháp luật về NLĐCT và thực tiễn thi hành pháp luật ở Việt Nam;

Đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về NLĐCT ở Việt Nam

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Lao động cao tuổi là đối tƣợng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau nhƣ: xã hội học, kinh tế học, luật học Tuy nhiên, trong khuôn khổ của luận văn tác giả chỉ tập trung nghiên cứu NLĐCT đã hết tuổi lao động theo quy định của pháp luật, còn khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Để đáp ứng đƣợc mục tiêu và nhiệm vụ mà đề tài đặt ra, tác giả không

Trang 12

6

có tham vọng nghiên cứu người cao tuổi trong các lĩnh vực như: người cao tuổi quy định trong luật hình sự, tố tụng hình sự, dân sự, hôn nhân gia đình Luận văn tập trung chủ yếu nghiên cứu NLĐCT trong Bộ luật lao động năm

2012, Bộ luật lao động sửa đổi bổ sung năm 2019 và Luật người cao tuổi Tuy nhiên, trong quá trình viết tác giả dựa trên các quy định của hiến pháp 2013

về NLĐCT để soi rọi vào quy định pháp luật hiện hành

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được trình bày trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về Nhà nước và Pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế, hội nhập kinh tế Quốc tế Nội dung của luận văn dựa trên cơ

sở các văn bản pháp luật của Nhà nước, các văn bản hướng dẫn áp dụng và các tài liệu pháp lý

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu như: phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phương pháp tổng hợp, phương

pháp phân tích, phương pháp so sánh, Ngoài ra, tác giả còn sử dụng các

phương pháp khác như: phương pháp diễn giải, phương pháp quy nạp,

phương pháp thống kê, làm cơ sở cho quá trình nghiên cứu

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa khoa học

Hướng nghiên cứu về quy định của pháp luật cho NLĐCT đang là vấn

đề thời sự đang được quan tâm trong giai đoạn đất nước bước vào thời kì già hóa dân số một cách nhanh chóng Việc lao động cao tuổi tiếp tục làm việc, cống hiến cho đất nước là một biện pháp cấn thiết hiện nay đảm bảo an sinh

xã hội đồng thời có một nguồn nhân lực “cứng” và có kinh nghiệm làm việc lâu năm bù đắp cho việc thiếu hụt nguồn nhân sự trẻ tuổi

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu sẽ giúp nhìn ra được những vấn đề còn tồn tại trong

Trang 13

7

quy định của pháp luật, đưa ra hướng nhìn mới về quy định cho người lao động cao tuổi để có thể có những thay đổi tích cực để đảm bảo được quyền lợi cho cả người lao động và doanh nghiệp Việc xác định các nguyên nhân, hạn chế của quy định pháp luật giúp nhà nước có nhìn nhận khách quan hơn nhằm đưa ra được các điều chỉnh pháp luật phù hợp như: quy định về hợp đồng lao động, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, làm thêm giờ, làm tăng ca…

7 Bố cục của luận văn

Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có cấu tạo gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về người lao động cao tuổi và sự

điều chỉnh của pháp luật

Chương 2: Thực trạng pháp luật về người lao động cao tuổi và thực

tiễn thi hành ở Việt Nam

Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao

hiệu quả thi hành pháp luật về người lao động cao tuổi ở Việt Nam

Trang 14

8

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI LAO ĐỘNG CAO TUỔI VÀ

SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT

1.1 Những vấn đề lý luận về người lao động cao tuổi

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của người cao tuổi

1.1.1.1 Khái niệm

Có rất nhiều khái niệm khác nhau về người cao tuổi trên thế giới và ở Việt Nam Trước đây, thuật ngữ “người già” được sử dụng nhiều hơn để chỉ những người có tuổi, hiện nay thuật ngữ “người cao tuổi” ngày càng được sử dụng nhiều hơn Khái niệm người cao tuổi được sử dụng thay cho người già

vì thực tế nhiều người từ 60 tuổi trở lên, vẫn hoạt động, vì vậy cụm từ “người cao tuổi” bao hàm sự kính trọng, động viên hơn so với cụm từ “người già” Trong pháp lệnh về người cao tuổi tại Việt Nam, được ban hành vào ngày 28/04/2000 có nhận định như sau: “Người cao tuổi có công sinh thành, nuôi dưỡng, giáo dục con cháu về nhân cách và vai trò quan trọng trong gia đình

và xã hội” Nhưng về khoa học thì người già hay người cao tuổi đều được dùng với ý nghĩa như nhau

Thuật ngữ được dùng để mô tả người cao tuổi khá đa dạng, kể cả trong các tài liệu quốc tế, bao gồm: “người cao tuổi” (older person), “người già” (the aged), “người già cả” (the elderly), “thế hệ thứ ba” (the third age), “người

có tuổi” (the ageing), “thế hệ thứ tư” (the fourth age) Thuật ngữ này sau đó được Đại hội đồng Liên hợp quốc sử dụng trong các Nghị quyết số 47/5 và Nghị quyết số 48/98, nó bao hàm những người từ 60 tuổi trở lên [5] Sau đó, các thuật ngữ này được sử dụng phổ biến trong các văn kiện của các tổ chức quốc tế cũng như các quốc gia trên thế giới Hầu hết các nước châu Âu xem người cao tuổi là những người từ 65 tuổi trở lên, trong khi ở một số nước châu Phi độ tuổi được xem là người cao tuổi chỉ vào khoảng 50 đến 55

Trang 15

9

Ở Nhật Bản, tuổi về hưu là 60 tuổi, tuy nhiên đến tận 65 tuổi người dân Nhật Bản mới được nhận lương hưu Các nhóm chuyên gia y tế chuyên nghiên cứu về người cao tuổi Nhật Bản cho rằng: 75 tuổi trở lên mới được coi

là người cao tuổi, nhiều hơn 10 tuổi so với mức 65 tuổi mà nhiều người vẫn nghĩ hiện nay Một người được coi là già ở Nhật khi họ trong độ tuổi từ 75 đến 89 Còn những người từ 90 tuổi trở lên gọi là "siêu già" Nhiều công ty tại Nhật Bản đặt độ tuổi nghỉ hưu cho người lao động là 60 tuổi, nhưng người lao động vẫn có thể làm việc tới 65 tuổi nếu họ mong muốn và chủ lao động tuân thủ luật thuê lao động Việc định nghĩa người cao tuổi được xem là có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá lực lượng lao động, và những ảnh hưởng đến nền kinh tế Việc nâng độ tuổi của người cao tuổi có thể tăng số lượng lao động tiềm năng tại Nhật Bản lên hơn 10 triệu người [36]

Ở Australia, độ tuổi nghỉ hưu phổ biến của người Úc thường trùng với tuổi hưu mà chính phủ quy định (hiện nay là 65 tuổi) và sẽ tiếp tục tăng đến ngưỡng 70 tuổi vào năm 2035 Trước đây, không có tiêu chuẩn cố định về tuổi nghỉ hưu Mặc dù một số công việc và lĩnh vực có đặt ra độ tuổi nghỉ hưu cho người lao động, nhưng hầu hết người đi làm ở Úc thường bắt đầu quá trình nghỉ hưu khi bước vào tuổi 60 Kể từ ngày 01/07/2019, tuổi hưởng

lương hưu tại Úc là 66 tuổi cho cả nam và nữ Vậy người từ 66 tuổi được coi

là người cao tuổi ở Úc [35]

Tuy có những quan điểm khác nhau về độ tuổi xác định người cao tuổi nhưng có một điều chắc chắn rằng khi người ta già đi, khả năng cơ bản (tổng của khả năng thể lực và trí óc) có xu hướng giảm sút và bệnh tật thường là mạn tính và phức tạp Tình trạng đa bệnh tật (có nhiều bệnh mạn tính cùng một lúc) tăng lên cùng với tuổi Người cao tuổi là người có sự suy thoái tự nhiên của các tế bào, cả cơ thể và tinh thần đều thay đổi, da nhăn, tóc bạc, đi đứng cũng chậm chạp, mắt mờ, tai lãng, sức yếu nhưng trí nhớ dài hạn thì vẫn

Trang 16

10

còn, các chức năng của cơ thể cũng bị suy giảm Theo định nghĩa của Tổ chức

Y tế thế giới (WHO), người cao tuổi phải từ 70 tuổi trở lên [7] Khái niệm này cũng sử dụng tiêu chí độ tuổi để một người có được xếp vào nhóm người cao tuổi hay không

Trong Bình luận chung số 6 năm 1995 về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa của người cao tuổi xác định người cao tuổi từ 60 tuổi [4] Trong Công ước số 128 năm 1967 về trợ cấp khuyết tật, trợ cấp tuổi già và trợ cấp người sống sót, Tổ chức lao động Quốc tế (ILO) xác định tuổi già là 65 [8] Theo điều 15 của công ước 128 năm 1967 có nêu: “Độ tuổi quy định không quá 65 Tuy nhiên, các cơ quan có thẩm quyền có thể quy định độ tuổi khác nhau tùy thuộc vào các tiêu chí như nhân khẩu, kinh tế và xã hội thích hợp được số liệu thống kê chứng minh”

Người cao tuổi là những người tuy thể lực suy giảm nhưng họ là những người có kiến thức, có kĩ năng chuyên môn, kinh nghiệm chuyên môn lâu năm và kinh nghiệm cuộc sống cao Đó là những ưu điểm cơ bản của người cao tuổi vẫn được duy trì và phát huy, cụ thể đã được Liên hợp quốc nhận định: “ nghiên cứu khoa học hiện đang bác bỏ nhiều định kiến về những suy giảm hiển nhiên và không thể đảo ngược gắn với tuổi tác” và cần được “đánh giá cao sự đóng góp của người cao tuổi cho xã hội” [9]

Việc xác định độ tuổi người cao tuổi còn phụ thuộc điều kiện phát triển của từng quốc gia Định nghĩa người cao tuổi phải từ 70 tuổi trở lên theo WHO [7] phù hợp với những đất nước phát triển có điều kiện kinh tế, xã hội,

và phúc lợi phát triển, tuổi thọ trung bình cao Tuy nhiên, lại không thực sự phù hợp với những đất nước đang phát triển với nhiều hạn chế về chăm sóc sức khỏe, chất lượng sống, mức sống và tuổi thọ trung bình của dân số còn thấp Chẳng hạn, các nước Châu Âu quy định người cao tuổi là những người

từ 65 tuổi trở lên; trong khi đó các nước châu Phi xem những người khoảng

Trang 17

đủ 60 tuổi trở lên, không phân biệt tôn giáo, giới tính, dân tộc hay thành phần

xã hội, thuộc nhóm dễ bị tổn thương và cần được xã hội quan tâm

1.1.1.2 Đặc điểm của người cao tuổi

Người cao tuổi không phải là một nhóm đồng nhất như nhiều nhóm xã hội khác, mặc dù họ có một đặc điểm chung về độ tuổi [6] Một số nghiên cứu tiếp cận đặc điểm người cao tuổi trên hai khía cạnh: sinh học và tâm lý

Cục bảo trợ xã hội đưa ra các đặc điểm sinh học của người cao tuổi như sau Trước hết, người cao tuổi phải gắn với quá trình lão hoá dẫn đến thay đổi

về diện mạo và khả năng vận hành của các cơ quan trong cơ thể [1, tr.8-9]

Lão hóa là quá trình tất yếu của cơ thể con người Khi tuổi già các đáp ứng của cơ thể không còn nhanh nhạy, sức khỏe thể chất và tinh thần giảm sút, khả năng tự điều chỉnh và thích nghi cũng suy giảm Các biểu hiện của tuổi già thưởng thể hiện rõ như diện mạo thay đổi: Tóc bạc, da mồi, có thêm nhiều nếp nhăn, cảm giác - nghe nhìn, nếm và khứu giác cùng với tuổi tác ngày càng cao thường bắt đầu hoạt động kém hiệu quả Khả năng mắc bệnh cao hơn do các cơ quan nội tạng như tim, phổi, hệ hô hấp kém đi Ở người cao tuổi, xương và khớp không còn linh hoạt, mềm dẻo, các cơ đều yếu đi dẫn đến mọi cử động đều chậm chạp, vụng về Họ cũng hay bị mệt mỏi, mọi hành

vi, cử chỉ ít linh hoạt hơn Về tình trạng sức khỏe, người cao tuổi thường có

Trang 18

12

những căn bệnh đặc thù của tuổi cao tuổi như tim mạch, huyết áp, xương khớp, hô hấp, răng miệng và tiêu hoá [1, tr.9-10] Cùng với tuổi đời tăng cao, các chứng bệnh như tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu, thoái hóa xương khớp thường diễn ra khá phổ biến Khoảng 3/4 số người 80 tuổi có

ít nhất một bệnh mạn tính, trung bình có thể mắc sáu bệnh đồng diễn Về mặt lão hóa của hệ thần kinh, thường thấy giảm khứu giác, thị giác, thính giác và

vị giác dẫn đến người cao tuổi dễ cảm thấy tự ti và giảm sự giao tiếp xã hội Thói quen dùng bia rượu, thuốc lào thuốc lá… hoặc giữ chế độ ăn chay, kiêng khem… cũng đều có ảnh hưởng nhất định đến toàn trạng ở một số cá thể đối tượng Ngoài ra các hoạt động trong đời sống hàng ngày như tập luyện, lao động chân tay hay trí óc, giải trí, nghỉ ngơi, giấc ngủ đều là những yếu tố liên quan đến sức khỏe cá nhân

Nhìn chung, thể chất của người cao tuổi chưa thật sự khỏe mạnh, tình trạng sức khỏe yếu và rất yếu, có nhiều người mắc bệnh nan y Khoảng 95% người cao tuổi có bệnh, chủ yếu là các bệnh mãn tính không lây truyền Bên cạnh những đặc điểm về sinh lý nêu trên, người cao tuổi có những đặc điểm về tâm lý Do những thay đổi về tâm lý mà người cao tuổi thường dễ thay đổi tính nết Sự thay đổi về tâm lý này khác nhau ở những giai đoạn tuổi tác khác nhau

Khi về già người cao tuổi phải đối mặt với bước ngoặt lớn lao về lao động và nghề nghiệp Đó là chuyển từ trạng thái lao động (bận rộn với công việc, bạn bè) sang trạng thái nghỉ ngơi, chuyển từ trạng thái tích cực khẩn trương sang trạng thái tiêu cực xả hơi Do vậy người cao tuổi sẽ phải tìm cách thích nghi với cuộc sống mới [7]

Người cao tuổi có sự tích lũy kinh nghiệm trong cuộc đời, sự gia tăng kiến thức và sự thành thạo các kỹ năng, nhiều trải nghiệm cuộc sống Mặt khác, quá trình lão hóa của cơ thể cùng với những bệnh tật đồng diễn cũng đều có ảnh hưởng tới sự ứng xử của tuổi già Điều đáng chú ý là từ cá tính vô

Trang 19

13

tư, bình thản hoặc dễ cảm xúc đến những biểu cảm tự tin, tự chủ, lạc quan, bi quan hoặc giận hờn, bùng nổ, có thể nói những phản ứng của cá nhân còn tùy thuộc rất nhiều vào những gì mà bản thân người cao tuổi đã trải nghiệm Tuy nhiên, sợ cô đơn và mong được quan tâm chăm sóc nhiều hơn là tâm lý thường thấy ở người cao tuổi vì con cháu thường bận rộn với cuộc sống mà ít quan tâm tới họ Điều này làm cho người cao tuổi cảm thấy mình bị lãng quên, bị bỏ rơi Bên cạnh đó, đa số người cao tuổi nếu còn sức khỏe vẫn còn

có thể giúp con cháu một vài việc vặt trong nhà, tự đi lại phục vụ mình, hoặc

có thể tham gia được các sinh hoạt giải trí, cộng đồng Nhưng cũng có một số người cao tuổi do tuổi tác đã cao, sức khỏe giảm sút nên sinh hoạt phần lớn phụ thuộc vào con cháu Do vậy dễ nảy sinh tâm trạng chán nản, buồn phiền, hay tự dằn vặt mình Người cao tuổi mà tuổi càng cao thì sức khỏe lại càng giảm sút, đi lại chậm chạp, không còn khả năng lao động, quan niệm sống khác với thế hệ sau nên chỉ một thái độ hay một câu nói thiếu tế nhị có thể làm cho họ tự ái, tủi thân cho rằng mình già rồi nên bị con cháu coi thường

Thu nhập của người cao tuổi có thể từ nhiều nguồn, từ chính thu nhập của bản thân, lương hưu trợ cấp và của cải tích lũy từ khi còn trẻ và có thể do con cháu chu cấp Trong thời kỳ tăng trưởng kinh tế cao, lực lượng lao động dồi dào, số tiền đóng góp cũng nhiều hơn Nhưng khi dân số lao động giảm đi,

số người cao tuổi tăng lên thì việc chi trả vượt khỏi khả năng của các quỹ lương hưu, khi mà ngay hiện giờ tiền lương hưu vốn đã không chắc đảm bảo được toàn bộ cuộc sống cho người cao tuổi Vì vậy, rất nhiều nước trên thế giới đang tạo điều kiện, cơ hội hay môi trường để người cao tuổi tiếp tục làm việc Quốc hội Nhật Bản đã thông qua bộ luật ổn định việc làm cho người cao tuổi vào năm

2013 Luật này yêu cầu mọi doanh nghiệp áp dụng tuổi về hưu với tuổi không trẻ hơn 60 Bên cạnh đó, chính phủ trợ cấp cho các doanh nghiệp tuyển dụng người cao tuổi thông qua các trung tâm nhà nước về ổn định việc làm, cũng như

Trang 20

14

cho những doanh nghiệp có chế độ bảo đảm việc làm cho nhân viên tuổi 65 Đến nay, phần lớn doanh nghiệp Nhật Bản đều đã xây dựng chế độ làm việc đến 65 tuổi Không chỉ tại Nhật Bản mà rất nhiều người già ở Mỹ hiện đến tuổi nghỉ hưu nhưng không có khoản lương hưu mà những người lao động thuộc các thế hệ trước đó có Số lượng người cao tuổi ở Mỹ cũng chiếm số lượng đáng kể trong nhóm người lao động ở nước này Do vậy, người cao tuổi không đồng nghĩa là người sống phụ thuộc và vô dụng Người cao tuổi có thể

là người có giá trị tri thức dày dặn với trải nghiệm phong phú qua năm tháng

Họ vẫn có thể tiếp tục lao động trực tiếp kiếm ra thu nhập thông qua những công việc phù hợp với độ tuổi, sức khỏe và kinh nghiệm của mình

Chính vì vậy, tạo ra một môi trường lao động với những ngành nghề phù hợp để người cao tuổi có thể tiếp tục cống hiến, tạo ra giá trị thặng dư cho kinh tế, mà trước hết là để tạo ra thu nhập cho chính họ, bởi thế, là điều rất nên làm

1.1.2 Khái niệm và đặc điểm của người lao động cao tuổi

1.1.2.1 Khái niệm người lao động cao tuổi

Tùy thuộc vào qui định về độ tuổi nghỉ hưu của các quốc gia khác nhau

để xác định đối tượng lao động người cao tuổi NLĐCT được xác định trên một số cơ sở, như: độ tuổi, khả năng và nhu cầu lao động làm việc, giới tính,… Khái niệm này có thể thay đổi về độ tuổi theo từng thời kỳ phù hợp với trình độ y học, an sinh xã hội của mỗi quốc gia Tuy nhiên, tùy đặc trưng của mỗi quốc gia mà quy định các nước về NLĐCT cũng khác nhau

Ở Nhật Bản, dân số trong nhóm độ tuổi lao động (15-64) tăng nhanh sau Thế chiến II và đạt đỉnh điểm vào năm 1995 nhưng sau đó giảm dần Nhật Bản là quốc gia có tỷ lệ người già cao nhất trên thế giới Các số liệu thống kê của Bộ Nội vụ nước này cho thấy, vào thời điểm cuối năm 2018, số lượng người từ 65 tuổi trở lên là 35,88 triệu người, chiếm 28,4% dân số Viện

Trang 21

15

Nghiên cứu Dân số & An sinh xã hội quốc gia Nhật Bản ước tính, số người từ

65 tuổi trở lên sẽ chiếm 30% dân số vào năm 2025 và lên tới 35,3% dân số vào năm 2040 [28] Mặc dù, Chính phủ quy định tuổi nghỉ hưu ở Nhật Bản

là 65 tuổi, nhưng phần lớn người lao động Nhật Bản vẫn tiếp tục làm việc khi đã vượt quá độ tuổi này Thay vì nghỉ ngơi và sống cùng con cháu, nhiều người cao tuổi Nhật Bản vẫn tiếp tục làm việc để có thể tự lo cho bản thân Vậy ở Nhật Bản thì người lao động tiếp tục làm việc sau độ tuổi 65 tuổi thì được coi là lao động cao tuổi Tuy nhiên, trước thực trạng già hóa dân số ngày càng nhanh, nhằm đảm bảo được an sinh xã hội, Chính phủ Nhật Bản sẽ kéo dài tuổi nghỉ hưu của người lao động, kéo theo đó độ tuổi xác định NLĐCT cũng sẽ thay đổi

Ở Mỹ, không có quy định bắt buộc về độ tuổi nghỉ hưu của người dân nhưng để được hưởng đầy đủ phúc lợi xã hội và BHYT, 65 tuổi là độ tuổi về hưu phổ biến đối với hầu hết công chức và người lao động Giống với Nhật Bản, độ tuổi để xác định lao động cao tuổi là mức 65 tuổi Tuy nhiên, ngày càng nhiều người Mỹ mong muốn tiếp tục làm việc sau 65 tuổi, thậm chí sau

70 tuổi Theo Cục Thống kê việc làm Mỹ, trong quý II/2017, có khoảng 19% người Mỹ từ 65 tuổi trở lên vẫn tiếp tục cống hiến cho công việc Đây là tỷ lệ cao nhất trong 55 năm qua Dự báo đến năm 2024, sẽ có tới 36% người Mỹ tuổi từ 65-69, tiếp tục tham gia thị trường lao động [24] Vậy thì những người này được coi là lao động cao tuổi

Ở Tây Âu, một nửa số nước Tây Âu quy định phải làm việc đến 65 tuổi mới được nhận đầy đủ lương hưu Tuổi nghỉ hưu ở Thụy Điển là 61 tuổi, nước nghỉ hưu sớm nhất ở khu vực này, Hy Lạp là nước có tuổi nghỉ hưu cao nhất là 67 tuổi Tuổi nghỉ hưu ở Pháp hiện là 62 tuổi, nước này đang tính đưa tuổi nghỉ hưu lên 64 tuổi do người Pháp ngày càng sống lâu hơn, trong khi tuổi về nghỉ hưu hầu như giữ nguyên trong hàng chục năm qua Nếu không

Trang 22

16

tăng tuổi nghỉ hưu thì chỉ còn cách người lao động phải đóng bảo hiểm xã hội nhiều hơn, hoặc người nghỉ hưu hưởng mức lương thấp hơn Tính trung bình, người Pháp sống tới năm 82 tuổi Như vậy, nếu người Pháp nghỉ hưu ở tuổi

62 như hiện nay, sẽ còn 20 năm nhận lương hưu trí Đây là vấn đề lớn đối với quỹ lương hưu tại nước này Cách đây gần 30 năm, các nước Tây Âu đã gióng lên tiếng chuông cảnh báo về nguy cơ vỡ quỹ hưu trí, đa số các nước trong khu vực này đều có phương án tăng tuổi nghỉ hưu Tiêu biểu như ở Irlande, trong 10 năm nữa nước này dự tính tuổi nghỉ hưu phải tăng lên 68 tuổi mới có thể duy trì được quỹ lương hưu trí [27]

Việc mở rộng độ tuổi lao động, tăng tuổi nghỉ hưu là lựa chọn của rất nhiều quốc gia hiện nay, đó là quyết định có tác động rất lớn nhằm bảo đảm tính bền vững của quỹ an sinh xã hội nói chung và đảm bảo cân đối tài chính quỹ hưu trí và tử tuất nói riêng trước thách thức già hóa dân số ở nước ta hiện nay

Tăng tuổi nghỉ hưu cũng là một trong những giải pháp quan trọng của quá trình đổi mới chính sách bảo hiểm xã hội, để làm sao đảm bảo cân bằng hơn giữa đóng và hưởng Thực tế, quá trình cải cách chính sách bảo hiểm xã hội, nhất là bảo hiểm hưu trí chúng ta đã bắt đầu thực hiện từ rất lâu trước đây, đây là một quá trình dài hơi với nhiều giải pháp điều chỉnh mức đóng và mức hưởng cho phù hợp

Như vậy, mặc dù có sự khác nhau về độ tuổi nghỉ hưu giữa nam và nữ hay giữa các nước với nhau nhưng có thể hiểu: NLĐCT là người lao động đã hết tuổi lao động theo qui định của pháp luật, còn khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động

1.1.2.2 Đặc điểm của người lao động cao tuổi

Khi nghiên cứu về đối tượng NLĐCT, có thể thấy họ có những đặc điểm đặc trưng sau:

Trang 23

17

Một là, NLĐCT thường hạn chế về sức khỏe do tuổi cao Sau một thời

gian lao động, cùng với quy luật sinh học tự nhiên của con người, NLĐCT xuất hiện những biểu hiện của sự suy giảm các chức năng tâm sinh lý và chức năng làm việc, các phản xạ chậm hơn và có phần kém đi, họ dễ cảm thấy mệt mỏi và cần được nghỉ ngơi Tuy vậy, trong thực tế có nhiều NLĐCT vẫn khỏe mạnh và có mong muốn được tiếp tục làm việc, được tiếp tục cống hiến và tham gia các hoạt động xã hội để có thêm thu nhập cho bản thân cũng như góp phần phát triển đất nước

Không chỉ người lao động mà NSDLĐ cũng rất cần đến NLĐCT vì họ cần những người có kinh nghiệm cố vấn về chuyên môn, truyền cảm hứng cho thế hệ trẻ, rèn luyện ý thức tổ chức kỹ luật cho những người mới bước vào nghề Chính vì lý do này, NLĐCT và NSDLĐ cần trao đổi với nhau và cân nhắc lựa chọn việc giao kết HĐLĐ với nghề nghiệp và điều kiện lao động phù hợp với tình trạng sức khỏe của người cao tuổi

Hai là, NLĐCT còn hạn chế về trí lực Khi tuổi càng cao thì các chức

năng cũng suy yếu đi dẫn tới khả năng ghi nhớ, khả năng tập trung cũng giảm dần Bên cạnh đó, NLĐCT sẽ khó tiếp cận những kiến thức và quy trình hiện đại so với những người trẻ do nền tảng kinh nghiệm dày dặn họ đã có trước đó Tuy nhiên, họ lại có những ưu điểm đó chính là nhiều kinh nghiệm chuyên môn, kinh nghiệm sống cao, sự thận trọng, trầm ổn và tinh thần trách nhiệm trong công việc

Ba là, NLĐCT thích ứng với các loại công việc đòi hỏi kinh nghiệm,

trình độ khoa học kỹ thuật hay trình độ quản lý, không phù hợp với công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm Bởi lẽ, trải qua một quá trình học tập, tích lũy kinh nghiệm, kiến thức, giá trị sức lao động của NLĐCT ngày càng tăng cao Ở góc độ này, lao động cao tuổi được coi là “tài sản vô giá” của quốc gia Do vậy, cần có sự khai thác hợp lý giá trị sức lao động của đối

Trang 24

18

tượng này Việc quan tâm của xã hội đến những NLĐCT không chỉ bằng những khoản trợ cấp xã hội mà còn là tạo cho họ cơ hội được tiếp tục làm việc, tiếp tục cống hiến sức mình

Bốn là, thu nhập của NLĐCT chủ yếu từ trợ cấp xã hội, từ con cái, gia

đình và mức lương hưu hàng tháng tuy có nhưng thấp Nếu tính cả những người được nhận lương hưu và các loại trợ cấp xã hội khác thì có 43,8% số người cao tuổi có lương hưu và trợ cấp xã hội Tuy nhiên, mức thu nhập từ các loại trợ cấp xã hội cho người cao tuổi ở nước ta còn khá thấp Nếu lấy mức trợ cấp theo Nghị định số 136/2013/NĐ-CP là 270.000 đồng/tháng mức này mới chỉ bằng 67,5% chuẩn nghèo nông thôn và bằng 54% chuẩn nghèo thành thị (chuẩn nghèo giai đoạn 2011-2015 ở nông thôn là 400.000 đồng/người/tháng và ở thành thị là 500.000 đồng/người/tháng) Một điều đáng quan tâm nữa đối với thu nhập ở nhóm người cao tuổi ở nước ta, đó là

có đến 57,0% người cao tuổi không được nhận bất kỳ hỗ trợ thu nhập nào từ các chương trình của Chính phủ Trong nhóm người cao tuổi không nhận được sự hỗ trợ nào, nhóm tuổi 60-64 chiếm tỷ lệ 78,0%; nhóm tuổi 65-69 chiếm tỷ lệ 73,0%; nhóm tuổi 75-79 chiếm tỷ lệ 72,0%; nhóm tuổi 70-74 chiếm tỷ lệ 64,0% [13] Bên cạnh đó có sự khác nhau giữa mức thu nhập của NLĐCT ở thành thị và nông thôn; giữa nam và nữ hay giữa dân tộc Kinh và dân tộc thiểu số khác

1.2 Khái niệm và nội dung pháp luật về người lao động cao tuổi

1.2.1 Khái niệm pháp luật về người lao động cao tuổi

NLĐCT là đối tượng lao động đặc biệt do vậy pháp luật về NLĐCT là một trong những nội dung quan trọng được pháp luật các quốc gia trên thế giới ghi nhận và điều chỉnh Bên cạnh sự phát triển không ngừng của kinh tế

xã hội, khoa học y tế dẫn đến việc tuổi thọ và sức khỏe của con người cũng đang ngày càng tăng lên, số lượng người cao tuổi ngày càng tăng Theo quy

Trang 25

19

luật tự nhiên, khi độ tuổi càng cao thì khả năng lao động của họ sẽ càng suy giảm, đi kèm theo đó là những rủi ro về sức khỏe, nếu không được bảo đảm trong đời sống và chăm sóc sức khỏe thì người cao tuổi sẽ gặp rất nhiều khó khăn và khó có thể duy trì được sự sổng Chính thực trạng khách này luôn đặt

ra yêu cầu phải có những quy định pháp luật phù hợp để điều chỉnh

Sự điều chỉnh của pháp luật về NLĐCT được thiết lập trên cơ sở đảm bảo quyền cơ bản của con người Thông qua các quy định này, các quyền có việc làm, bảo vệ thu nhập, chăm sóc sức khỏe và các quyền khác của NLĐCT

sẽ được đảm bảo một cách ồn định và lâu dài chứ không còn đơn thuần là vì mục đích nhân đạo thuần túy của các quan hệ xã hội Đồng thời, với chức năng xã hội của mình, nhà nước là chủ thể chính, thông qua các cơ quan nhà nước thành lập, tổ chức thực hiện các quy định, nhằm thực hiện hóa các quy định cho NLĐCT trong thực tế Đảm bảo tham gia quan hệ lao động như việc làm, mức lương, bảo hiểm xã hội, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi cần được thực hiện công bằng Mục đích của các quy định pháp luật là nhằm giúp người cao tuổi và gia đình họ giảm bớt khó khăn, gánh nặng về kinh tế do cuộc sống không đảm bảo thu nhập và chi phí khám chữa bệnh ngày càng tăng thêm Từ đó có thề khuyến khích, động viên người cao tuổi phát huy những kinh nghiệm quý báu của bản thân nhằm góp phân và việc giáo dục thế

hệ trẻ, đóng góp vào sự phát triển của đất nước

Hiện nay, pháp luật của NLĐCT được các quốc gia quy định vẫn chưa thống nhất và rải rác ở nhiều bộ luật Có quốc gia quy định trong luật riêng về người cao tuổi, có quốc gia lại quy định trong hệ thống pháp luật an sinh xã hội (bao gồm các luật về xã hội như Luật bảo hiểm xã hội, Luật bảo hiểm y tế ) Mặc dù quy định trong Bộ luật chung hay quy định riêng trong luật chuyên ngành, thì có thể thấy được điểm chung trong việc tiếp cận các vấn đề

về NLĐCT là Nhà nước thực hiện các biện pháp kinh tế để hạn chế, phòng

Trang 26

20

ngừa và khắc phục rủi ro cho đối tượng này nhằm đảm bảo thích ứng với thực trạng già hóa dân số như hiện nay, tạo điều kiện cho người cao tuổi tiếp tục tham gia hoạt động kinh tế giúp giải quyết các vấn đề về xã hội, nâng cao mức sống, góp phần thúc đẩy hoạt động sản xuất hàng hóa, dịch vụ, tăng quy

mô sản xuất là một chính sách cần thiết ngay lúc này

Từ những phân tích trên, có thể hiểu, pháp luật về NLĐCT là hệ thống quy phạm pháp luật bảo đảm thực hiện các quyền của người cao tuổi được hưởng những chế độ bảo vệ nhất định khi tiếp tục tham gia lao động nhằm đáp ứng những nhu cầu sống thiết yếu do tuổi già mà họ không thể tự lo liệu được cuộc sống của bản thân, để từ đó giúp người cao tuổi duy trì được đời sống hàng ngày, vượt qua khó khăn của tuổi già và tiếp tục cống hiến cho xã hội

1.2.2 Nội dung pháp luật về người lao động cao tuổi

Thứ nhất, việc làm đối với người lao động cao tuổi

Về mặt xã hội, mọi người có sức lao động đều có quyền có việc làm

Đó là một trong những quyền cơ bản nhất của con người đã được khẳng định trong hiến pháp của nước ta

Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đưa ra khái niệm việc làm: Việc làm là những hoạt động lao động được trả công bằng tiền hoặc hiện vật Theo điều 9 của Bộ luật lao động 2019 có quy định: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm Việc làm là nhu cầu, quyền lợi nhưng đồng thời cũng là nghĩa vụ và trách nhiệm đối với mọi người Theo đại hội Đảng lần thứ VII: “Mọi việc mang lại thu nhập cho người lao động có ích cho xã hội đều được tôn trọng”

Theo khái niệm này việc làm được thể hiện theo 3 dạng là làm những công việc mà người lao động khi thực hiện nhận được tiền lương, tiền công bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật cho công việc đó; làm những công việc khi người lao động thực hiện thu lợi nhuận cho bản thân (người lao động có

Trang 27

21

quyền sử dụng quản lý hoặc sở hữu tư liệu sản xuất và sức lao động cho bản thân để sản xuất sản phẩm) và làm những công việc cho hộ gia đình nhưng không được trả thù lao dưới hình thức tiền công, tiền lương cho công việc đó (do chủ gia đình làm chủ sản xuất)

Theo quan niệm của thế giới về việc làm thì: người có việc làm là những người làm một việc gì đó được trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình không được nhận tiền công hoặc hiện vật

Trước những thách thức về già hóa dân số đang đặt ra hiện nay, một số nước trên thế giới có riêng chương trình sử dụng NLĐCT để hỗ trợ cho người cao tuổi tìm việc, hỗ trợ cho chủ lao động là người cao tuổi Theo nghiên cứu của Quỹ dân số Liên hợp quốc, 80% dân số sau khi nghỉ hưu đều mong muốn tìm thêm việc làm Ưu thế của người cao tuổi được các nhà tuyển dụng đánh giá cao bởi họ là những người có kinh nghiệm, có kỹ năng làm việc tốt, chấp hành và am hiểu pháp luật tốt hơn chính vì vậy, nhiều chủ doanh nghiệp cũng mong muốn tìm kiếm những người nghỉ hưu để làm việc cho mình Nhiều doanh nghiệp cho biết, trong tương lai nhu cầu sử dụng lao động cao tuổi còn

có thể cao hơn Trên thế giới hiện nay có rất nhiều nước thực hiện tốt chính sách tạo việc làm cho người cao tuổi [16]

Điển hình là ở Nhật Bản, cứ 10 người thì có đến 3 người già Vấn đề già hóa dân số trầm trọng đang tạo ra gánh nặng về phúc lợi xã hội không nhỏ cho nước này Do đó, từ năm 1986, Chính phủ Nhật Bản đã có quy định chính thức về việc thiết lập các trung tâm giới thiệu việc làm ở tất cả các đơn vị hành chính cấp thôn, quận và thành phố Nhiệm vụ của Trung tâm là giới thiệu những công việc đơn giản, ít tốn thời gian cho những người cao tuổi sống trong khu vực hành chính mình quản lý Trung tâm còn có trách nhiệm đóng tiền bảo hiểm cho các hội viên [15]

Trang 28

22

Quốc hội Nhật Bản cũng đã thông qua bộ luật ổn định việc làm cho người cao tuổi vào năm 2013 Luật này yêu cầu mọi doanh nghiệp áp dụng tuổi về hưu với tuổi không trẻ hơn 60, đồng thời phải thực hiện một trong ba biện pháp: xây dựng chế độ tuổi về hưu là 65; có biện pháp duy trì việc làm đến 65 tuổi hoặc bãi bỏ chế độ về hưu

Ở Mỹ, không có quy định bắt buộc về độ tuổi nghỉ hưu nhưng 65 tuổi

là độ tuổi về hưu phổ biến đối với hầu hết công chức và người lao động ở đây Tuy nhiên, ngày càng nhiều người Mỹ mong muốn tiếp tục làm việc sau 65 tuổi, thậm chí sau 70 tuổi Hiện tại, ở Mỹ cứ 5 người già thì có 1 người vẫn làm việc, đây là tỷ lệ cao nhất trong 55 năm qua Tỷ lệ người già tiếp tục làm việc ở Mỹ dần tăng mạnh từ năm 2004 và dự báo đến năm 2024, sẽ có tới 36% người Mỹ, tuổi từ 65-69, tiếp tục tham gia thị trường lao động Thậm chí, trong một khảo sát, có tới 80% người dân Mỹ hiện nay khẳng định họ vẫn

sẽ làm việc khi về hưu Đây là một xu hướng ngày càng rõ và ẩn sau nó là rất nhiều yếu tố tác động [34] Tuy nhiên, theo số liệu từ Cục thống kê dân số

Mỹ, người già là nhóm duy nhất có tỷ lệ đói nghèo tăng lên đáng kể trong giai đoạn 2015-2016 Trong khi tỷ lệ nghèo giảm ở các độ tuổi dưới 18 và 18-64 thì lại tăng tới 14,5% ở nhóm trên 65 tuổi [26] Đây cũng là lý do cơ bản nhất

để người cao tuổi tại Mỹ tiếp tục làm việc Bên cạnh đó, tuổi thọ và sức khỏe của người Mỹ ngày càng tăng cao do điều kiện kinh tế, khoa học và xã hội ngày càng phát triển Tuổi thọ cao mà phải nghỉ ngơi ở nhà lâu với nhiều người sẽ có cảm giác thoải mái nhưng cũng có người tiếp tục làm việc để chứng minh họ vẫn còn đóng góp được cho xã hội Thống kê cho thấy, hiện ở

Mỹ mỗi ngày có thêm từ 8.000 đến 10.000 người bước sang tuổi 65 Nhiều người trong số này không có tiền tiết kiệm trong khi chi phí ăn ở và chăm sóc sức khỏe mỗi ngày một tăng Theo dữ liệu của Cục điều tra dân số Mỹ, người già là nhóm nhân khẩu học duy nhất ở nước này có tỉ lệ người nghèo gia tăng một cách đáng kể trong giai đoạn từ năm 2015 đến 2016, trái ngược với xu

Trang 29

23

hướng chung của các nhóm nhân khẩu khác [21] Ở Mỹ, một nghiên cứu cho

thấy, Mỹ đứng thứ 8 trên thế giới về mức sống dành cho người cao tuổi Theo

cơ quan quản lý an sinh xã hội, các khoản phúc lợi hưu trí từ an sinh xã hội chiếm khoảng 38% thu nhập của người cao tuổi Theo luật liên bang, tiền trợ cấp đánh cho người cao tuổi ở các tiểu bang đều bằng nhau, nhưng còn tùy theo thực tế Bên cạnh đó, Mỹ cũng có mức BHYT ưu đãi với những đối tượng này Người cao tuổi ở Mỹ được cấp thẻ chăm sóc sức khỏe (Medical Care) có thể sử dụng trong khắp cả nước Ưu điểm của loại thẻ này là người

sử dụng không phải trả bất cứ chi phí nào khi đi khám hoặc mua thuốc theo đơn, thậm chí nằm viện (trừ một số loại thuốc không được đài thọ) Ngoài ra, người cao tuổi còn được hưởng giảm giá mỗi khi mua sắm, khi đi đến nơi công cộng cũng được ưu tiên khi xếp hàng, lên xe, ngồi trong xe bus Tuy nhiên, rất nhiều người già ở Mỹ hiện đến tuổi nghỉ hưu nhưng không có khoản lương hưu do khi còn trẻ họ làm những công việc bấp bênh, không ổn định và không có khoản tiền riêng tích góp Vấn đề trên đang ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn khi thời kì già hóa dân số ngày càng rõ rệt Tình trạng trên cũng là hồi chuông cảnh báo cho những lo ngại sắp tới về khả năng hàng triệu công nhân khác cũng sẽ rơi vào tình cảnh tương tự khi họ nghỉ hưu trong những năm tới Vì vậy, nhiều người cho rằng tình cảnh người cao tuổi ở Mỹ chật vật tìm kế sinh nhai với khoản tiền trợ cấp ít ỏi hiện nay mới chỉ là sự khởi đầu cho sự gia tăng những người có cùng hoàn cảnh trong thời gian tới Thống kê của Cục thống kê Mỹ cho thấy, 2/3 người Mỹ đang không đóng góp vào chương trình tiết kiệm hưu trí, vậy vấn đề cần được xử lý hiện nay là tạo

cơ hội làm việc cho người cao tuổi ở đây Các nhà nghiên cứu cho biết, tiếp tục duy trì công việc trong những năm sau nghỉ hưu có lợi ích rất lớn cho sức khỏe, một người làm việc bao nhiêu giờ không quan trọng, làm việc bán thời gian hay toàn thời gian, công việc tự tạo hay tạm thời đều có lợi cho sức khỏe sau khi nghỉ hưu Không chỉ đáp ứng nhu cầu về kinh tế mà làm việc sau khi

Trang 30

24

nghỉ hưu còn đem lại lợi ích cho sức khỏe Cũng có nghiên cứu cho rằng, người cao tuổi khi tiếp tục làm việc không chỉ giúp cho họ có sức khỏe tốt mà còn giúp họ tư duy tốt hơn, minh mẫn và có tinh thần thoải mái Công việc nên chọn là công việc yêu thích và đam mê; công việc phù hợp với sức khỏe mỗi cá nhân; công việc không gây bó buộc về thời gian; công việc không quá liên quan trách nhiệm; công việc không nặng vấn đề tìm kiếm tài chính Chính vì vậy, ở Mỹ đề ra rất nhiều chính sách để khuyến khích người cao tuổi tiếp tục tham gia lao động sau khi hết tuổi lao động

Tại Hàn Quốc, những người đang đợi để phỏng vấn xin việc xếp thành hàng dài Hầu hết họ đều đang ở độ tuổi từ 50 - 60 tuổi, những người đã gần ở tuổi nghỉ hưu hoặc phải nghỉ hưu nhưng vẫn quyết định tiếp tục tham gia thị trường lao động để cạnh tranh vừa để có thêm thu nhập lo cho cuộc sống vừa tạo niềm vui cho tuổi già

Còn tại Singapore, năm 2019, trước tình trạng dân số đang già đi nhanh chóng, Thủ tướng Lý Hiển Long đã khuyến khích người cao tuổi và người về hưu tiếp tục làm việc chừng nào họ còn khả năng Lời khuyến khích này được đưa ra trong bối cảnh Singapore đang có tỷ lệ sinh thuộc hàng thấp nhất thế giới và dân số ngày càng già đi [17] Lời kêu gọi này cũng tạo ra rất nhiều cơ hội việc làm cho người cao tuổi ở đất nước này

Có rất nhiều công việc người cao tuổi có thể làm được mà không ảnh hưởng tới nguồn cung việc làm của người trẻ Họ có thể tham gia làm việc tại các đơn vị, doanh nghiệp từ cổng vào như bảo vệ đến những công việc hành chính, phục vụ, kho, quản lý… Thậm chí, trong nhiều nhà máy của các doanh nghiệp, những dây chuyền sản xuất cũng có sự tham gia của NLĐCT Dù chỉ làm những công việc giản đơn, nhưng họ làm rất tỉ mỉ Chính vì thế, nhiều doanh nghiệp cho biết, trong tương lai nhu cầu sử dụng lao động cao tuổi còn

có thể nhiều hơn

Trang 31

đó thì cảm giác mệt mỏi sinh lý bắt đầu xuất hiện Đó là một cơ chế bảo vệ, bắt cơ thể ngừng hoạt động để khỏi kiệt sức Để có thể làm việc hiệu quả, người lao động phải có thời gian nhất định giành cho nghỉ ngơi Đó chính là giai đoạn mà người lao động tái sản xuất sức lao động Do vậy, thời giờ làm việc là có giới hạn

Dưới góc độ pháp lý, thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi được biểu hiện dưới dạng quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật lao động Quan hệ này thể hiện sự ràng buộc trách nhiệm giữa người lao động

và NSDLĐ Khi tham gia quan hệ này, người lao động phải trực tiếp hoàn thành nghĩa vụ lao động của mình, phải tuân thủ những quy định nội bộ và có quyền được hưởng những thành quả trong khoảng thời gian đó Ngoài thời giờ làm việc là thời giờ nghỉ ngơi, người lao động được tự do sử dụng khoảng thời gian đó theo ý muốn của bản thân mình [25]

Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), tầm quan trọng của thời gian làm việc chỉ đứng sau tiền lương Thời gian làm việc quá nhiều trong ngày không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng công việc mà còn gây ra nhiều khó khăn trong cuộc sống của người lao động

Đối với NLĐCT, doanh nghiệp cần đặc biệt quan tâm tới thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi của họ Hiện nay không có văn bản pháp luật quy định cụ thể về thời gian làm việc được rút ngắn tối đa cho NLĐCT Tuy nhiên, việc rút ngắn thời gian làm việc nhiều hơn so với thời gian tối thiểu

Trang 32

26

theo quy định luôn khuyến khích doanh nghiệp thực hiện vì đây là chính sách có lợi cho người lao động đặc biệt là NLĐCT do đặc điểm sức khỏe, thể chất và khả năng tái tạo sức lao động của NLĐCT suy giảm hơn so với những lao động khác trong độ tuổi lao động

Thứ ba, tiền lương và quyền lợi khác đối với người lao động cao tuổi

Khi tham gia quan hệ lao động, mục đích cơ bản và quan trọng nhất của người lao động là có thu nhập Tuy nhiên, vì nhiều lý do mà thu nhập của người lao động thường có nguy cơ không tương xứng so với sức lao động và những đóng góp của họ bởi những nguyên nhân không phải do người lao động gây ra Do đó, pháp luật lao động có nhiều qui định, vừa bảo

vệ thu nhập cho người lao động, vừa giảm thiểu những can thiệp của Nhà nước đối với quyền tự chủ của các bên tham gia trong quan hệ lao động Pháp luật qui định cơ sở của tiền lương phải căn cứ vào năng suất, chất lượng và hiệu quả công việc

Tiền lương trước hết là số tiền mà NSDLĐ trả cho người lao động Đó là quan hệ kinh tế của tiền lương Mặt khác, do tính chất đặc biệt của loại hàng hoá sức lao động mà tiền lương không chỉ thuần tuý là vấn đề kinh tế mà còn là một vấn đề xã hội rất quan trọng liên quan đến đời sống và trật tự xã hội

Tiền lương là nguồn thu nhập chính của người lao động, nó là yếu tố

để tái sản xuất sức lao động Vì vậy, tiền lương đóng vai trò quyết định trong việc ổn định và phát triển kinh tế gia đình Tiền lương đảm bảo những nhu cầu sinh hoạt tối thiểu của người lao động như ăn, ở, đi lại… Tức là tiền lương phải đủ để duy trì cuộc sống tối thiểu của người lao động Chỉ có khi được như vậy, tiền lương mới thực sự có vai trò quan trọng kích thích lao động, và nâng cao trách nhiệm của người lao động đối với quá trình sản xuất

và tái sản xuất xã hội Đồng thời, chế độ tiền lương phù hợp với sức lao động đã hao phí sẽ đem lại sự lạc quan và tin tưởng vào doanh nghiệp, vào chế độ họ đang sống

Trang 33

27

Chế độ tiền lương do nhà nước qui định, ban hành phải xuất phát từ yêu cầu là quan tâm toàn diện tới mục đích, động cơ làm việc, các nhu cầu cũng như lợi ích kinh tế của người lao động; có như vậy mới khơi dậy được khả năng tiềm ẩn của người lao động để phát triển sản xuất, phát triển xã hội

Khi hoạch định chính sách tiền lương cần đánh giá đúng vai trò quyết định của con người Trong nền kinh tế thị trường, tiền lương là biểu hiện bằng tiền giá trị lao động, là giá cả sức lao động hoạt động theo qui luật cung cầu Mọi công dân có quyền thuê mướn, sử dụng sức lao động và trả công phù hợp với giá trị sức lao động theo đúng qui định pháp luật về chính sách lao động, tiền lương

Việc trả lương cho người lao động được qui định chi tiết với từng loại lao động Đặc biệt, đối với NLĐCT, nếu NLĐCT không thuộc diện đóng bảo hiểm xã hội, BHYT bắt buộc thì ngoài việc trả lương theo công việc, NSDLĐ

có trách nhiệm chi trả thêm cùng lúc với kỳ trả lương của người lao động một khoản tiền cho người lao động tương đương với mức đóng bảo hiểm xã hội, BHYT bắt buộc, BHTN và tiền nghỉ phép hàng năm theo quy định

NSDLĐ không được sử dụng NLĐCT làm những công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm có ảnh hưởng xấu tới sức khỏe NLĐCT, trừ trường hợp đặc biệt theo quy định của Chính phủ Đây là một chính sách đặc biệt dành cho NLĐCT nhằm bảo vệ sức khỏe cho những người lao động này

Thứ tư, an toàn lao động, vệ sinh lao động và bảo vệ sức khỏe đối với người lao động cao tuổi

An toàn lao động và vệ sinh lao động là một trong những chế định quan trọng của luật lao động Nó là những quy phạm pháp luật quy định việc đảm bảo

an toàn lao động, vệ sinh lao động nhằm bảo vệ tính mạng, sức khỏe của người lao động, đồng thời duy trì tốt khả năng làm việc lâu dài của người lao động

Tiêu chuẩn an toàn lao động, vệ sinh lao động cấp ngành do các Bộ, Cơ

Trang 34

28

quan ngang bộ có trách nhiệm xây dựng, ban hành, hướng dẫn áp dụng tại các đơn vị lao động trong phạm vi ngành đó Thông thường, các tiêu chuẩn an toàn, vệ sinh lao động do các Bộ chuyên ngành ban hành tùy thuộc vào đặc thù nghề nghiệp và điều kiện lao động của ngành đó Mục đích của việc áp dụng các tiêu chuẩn an toàn lao động là hạn chế khả năng phát sinh tai nạn lao động Việc ban hành tiêu chuẩn an toàn lao động phải có sự tham gia của Bộ lao động – thương binh và xã hội Mục đích của việc áp dụng các tiêu chuẩn

vệ sinh lao động là hạn chế tỉ lệ người lao động mắc bệnh nghề nghiệp Việc ban hành các tiêu chuẩn vệ sinh lao động phải có sự tham gia của Bộ Y tế

NSDLĐ buộc phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định này (không thể thay đổi hoặc thỏa thuận để thay đổi) nhằm tránh các nguy cơ gây tai nạn lao động, phòng ngừa bệnh nghề nghiệp cho người lao động

Việc nhà nước ban hành chế định này biểu hiện sự quan tâm của Đảng

và nhà nước đối với vấn đề bảo đảm sức khỏe làm việc lâu dài cho người lao động đặc biệt là NLĐCT vốn dĩ sức khỏe của họ đã bị suy giảm Bên cạnh đó, các quy định về đảm bảo an toàn lao động và vệ sinh lao động trong doanh nghiệp phản ánh trách nhiệm của NSDLĐ đối với người lao động trong vấn

đề bảo đảm sức khỏe cho người lao động Cụ thể, trong thời điểm hiện tại khi dịch Covid đang diễn biến phức tạp, việc chuẩn bị các công cụ lao động như gang tay, khẩu trang, cồn sát khuẩn, nhằm hạn chế rủi ro khi mắc bệnh Đối tượng lao động cao tuổi càng cần phải được quan tâm chăm sóc do hệ miễn dịch của họ bị suy giảm dẫn đến dễ mắc các bệnh hơn so với lao động khác

Con người là yếu tố quan trọng nhất quyết định sự tồn vong của xã hội

và đối với doanh nghiệp thì người lao động là nhân tố quyết định sự thành bài của doanh nghiệp đó Chính vì lẽ đó, sức khỏe của con người là tài sản vô giá được pháp luật bảo vệ và được cụ thể hóa thông qua các chế độ chính sách như an toàn vệ sinh lao động Ngoài ra, chăm lo sức khỏe cho NLĐCT còn là

Trang 35

29

trách nhiệm của Nhà nước và NSDLĐ như: NLĐCT trong quá trình làm việc được khám sức khỏe định kì, được rút ngắn thời giờ làm việc hàng ngày vào năm cuối cùng trước khi nghỉ hưu hoặc được áp dụng chế độ làm việc không trọn ngày, không trọn tuần, Bộ luật lao động còn quy định NSDLĐ có trách nhiệm quan tâm, chăm sóc sức khỏe NLĐCT, không được sử dụng người cao tuổi, làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các hóa chất có ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của họ Trường hợp họ bị suy giảm khả năng lao động đến một mức độ nhất định theo quy định của pháp luật, thì không sử dụng họ làm đêm hoặc làm thêm giờ Trong một số trường hợp đặc biệt cần sử dụng NLĐCT được Chính phủ quy định phải được cung cấp những phương tiện bảo vệ cá nhân; các phương tiện bảo vệ cá nhân này được Nhà nước tiêu chuẩn hóa về chất lượng và qui cách Nhà nước qui định bắt buộc NSDLĐ phải trang bị bảo hộ lao động và phải đảm bảo vấn đề vệ sinh lao động và an toàn lao động đối với người lao động nhằm giảm thiểu đến mức thấp nhất sự tác động của các yếu tố nguy hiểm, độc hại có thể dẫn đến tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cho người lao động

Thứ năm, xử lý vi phạm quy định về người lao động cao tuổi

Trong hiến pháp 2013 khẳng định quyền được làm việc của mọi công dân nói chung và quyền làm việc của người cao tuổi nói riêng Tuy nhiên chính sự đặc biệt này mà pháp luật cũng quy định không được sử dụng lao động cao tuổi làm các công việc nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm Quy định này thể hiện tính nhân văn sâu sắc và sự đặc biệt quan tâm đến sức khỏe của NLĐCT so với các lao động bình thường Việc quy định như vậy thể hiện sự bảo vệ đặc biệt đối với NLĐCT cũng như hạn chế việc NSDLĐ sử dụng lao động cao tuổi làm những công việc độc hại, nguy hiểm trừ một số trường hợp được Chính phủ quy định

Việc hướng dẫn rõ ràng và cụ thể giúp cho NSDLĐ có thể hiểu rõ

Trang 36

30

được các quy định khi sử dụng lao động cao tuổi trong điều kiện làm việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm đồng thời để cho NLĐCT nhận thức được quyền của mình và điều kiện khi làm việc trong điều kiện làm việc nặng nhọc, độc hai, nguy hiểm Trong thực tế, NLĐCT vì kế sinh nhai vẫn chấp nhận làm những công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm dẫn đến ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của họ Thì hướng dẫn cụ thể này cũng nâng cao nhận thức của NLĐCT để họ tự bảo vệ và tự chăm sóc sức khỏe của bản thân

Quy định này cũng thể hiện sự can thiệp, kiểm soát của các Bộ, cơ quan ngang Bộ trong việc đánh giá chức danh nghề, điều kiện làm việc cho người cao tuổi, thể hiện việc quan tâm của nhà nước đối với nhóm lao động cao tuổi

NLĐCT là đối tượng lao động đặc biệt giống như lao động nữ hay lao động chưa thành niên do đó việc sử dụng NLĐCT cũng sẽ có những điểm đặc biệt hơn so với đối tượng lao động trong độ tuổi lao động Một mặt khi sử dụng lao động cao tuổi phải tuân theo các quy định chung (giao kết hợp đồng lao động, bảo đảm các quyền, lợi ích…), mặt khác phải thực hiện một số quy định khác có liên quan (thỏa thuận về việc kéo dài thời gian làm việc sau khi nghỉ hưu, bảo đảm để NLĐCT nghỉ hưu được hưởng các chế độ hưu trí và quyền lợi trong thời gian lao động sau khi nghỉ hưu; NLĐCT được quan tâm chăm sóc sức khỏe tại nơi làm việc)

Đặc biệt, NSDLĐ không được sử dụng NLĐCT làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm Trong trường hợp có sử dụng thì phải tuân theo quy định của Chính phủ (NLĐCT có kinh nghiệm, tay nghề cao, với thâm niên nghề nghiệp từ đủ 15 năm trở lên, được cấp chứng nhận hoặc chứng chỉ nghề hoặc được công nhận là nghệ nhân theo quy định của pháp luật; có đủ sức khỏe theo tiêu chuẩn do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành đối với nghề, công việc;

Trang 37

31

sử dụng từng thời điểm, không quá 5 năm đối với từng người lao động; phải khám sức khỏe định kỳ 2 lần trong một năm; có ít nhất một người lao động không phải là người cao tuổi cùng làm việc)

Trong trường hợp NSDLĐ vi phạm các quy định về sử dụng NLĐCT làm việc sẽ có thể bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động hoặc truy cứu các trách nhiệm pháp lý khác theo quy định của pháp luật

Trang 38

32

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chương 1 đã nghiên cứu và nêu rõ các vấn đề lý luận về pháp luật của NLĐCT thông qua khái niệm, nội dung, đặc điểm của người cao tuổi, NLĐCT và những nội dung, vai trò của pháp luật đối với NLĐCT Chương này giúp nắm rõ được khái niệm: NLĐCT là người lao động đã hết tuổi lao động theo qui định của pháp luật, còn khả năng lao động và có giao kết HĐLĐ Với việc nêu ra những đặc điểm của NLĐCT là sự hạn chế về sức khỏe và trí lực do tuổi cao; khả năng thích ứng chậm với các loại công việc đòi hỏi kinh nghiệm, trình độ khoa học kỹ thuật hay trình độ quản lý, không phù hợp với công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và thu nhập của họ chủ yếu từ trợ cấp xã hội hay từ con cháu do đó rất nhiều người cao tuổi còn sức khỏe muốn tiếp tục tham gia lao động Già hóa dân số không chỉ ở Việt Nam mà còn ở rất nhiều quốc gia đã ở mức độ có tác động lớn đến tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế Do vậy, tạo điều kiện cho người cao tuổi tiếp tục làm việc sau khi hết độ tuổi lao động đang là một biện pháp đúng đắn và cần thiết ngay lúc này Rất nhiều nước như Nhật Bản, Mỹ, Hàn Quốc đề ra các chính sách nhằm khích lệ người cao tuổi tiếp tục làm việc Ở Việt Nam, thực

tế này yêu cầu Chính phủ chỉ đạo và tạo điều kiện để toàn bộ người dân có việc làm, thu nhập, cuộc sống khỏe mạnh, năng động và đầy đủ suốt cuộc đời Chính sách ở Việt Nam đưa ra không chỉ phù hợp với quốc gia mà cần tuân theo những sáng kiến quốc tế và khu vực mà Việt Nam đã kí kết và chấp nhận tuân thủ Kết quả nghiên cứu của chương 1 đã làm sáng tỏ thêm một số vấn đề lý luận về người cao tuổi, NLĐCT, pháp luật về NLĐCT, các chính sách của một số quốc gia trên thế giới cho NLĐCT từ đó rút ra bài học cho Việt Nam có những định hướng, chính sách thực sự phù hợp với thực tiễn của nước ta hiện nay

Trang 39

33

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ NGƯỜI LAO ĐỘNG CAO TUỔI VÀ

THỰC TIỄN THỰC HIỆN Ở VIỆT NAM

2.1 Thực trạng các quy định về việc làm cho người lao động cao tuổi

và thực tiễn thi hành

Theo qui định tại Khoản 2, Điều 3 Luật việc làm thì: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm” Như vậy, pháp luật lao động tạo điều kiện, cho phép lao động đã đến tuổi nghỉ hưu nhưng vẫn còn sức khỏe có nguyện vọng được tham gia quan hệ lao động Bên cạnh

đó, điều 167 Bộ luật lao động quy định: “Khi có nhu cầu, NSDLĐ có thể thỏa thuận với NLĐCT có đủ sức khỏe kéo dài thời hạn hợp đồng lao động hoặc giao kết hợp đồng lao động mới theo qui định.”

Tuy nhiên, pháp luật có những quy định riêng về giao kết hợp đồng lao động đối với nhóm NLĐCT nhằm bảo vệ họ khỏi những ảnh hưởng tiêu cực cho sức khỏe và tinh thần

Theo đó, khi NSDLĐ có nhu cầu và NLĐCT có đủ sức khỏe theo kết luận của cơ sở khám chữa bệnh thì hai bên có thể thỏa thuận kéo dài hợp đồng lao động hoặc giao kết hợp đồng lao động mới Theo Bộ luật lao động mới nhất thì NSDLĐ chỉ được phép giao kết hợp đồng lao động dưới 12 tháng với lao động cao tuổi, hoặc người đã nghỉ hưu

Bộ luật lao động 2019 mới nhất lại không đề cập tới việc giới hạn giao kết hợp đồng lao động với NLĐCT Với qui định này cho thấy NLĐCT có quyền giao kết tất cả các loại thời hạn hợp đồng như những lao động khác Đảm bảo sự tương thích với qui định này trong việc bảo vệ NLĐCT pháp luật cũng qui định NSDLĐ không có nhu cầu hoặc NLĐCT không có đủ sức khỏe thì hai bên thực hiện chấm dứt hợp đồng lao động

Trang 40

Việc làm của NLĐCT sẽ tác động lớn đến việc làm của giới trẻ: Việc nâng tuổi nghỉ hưu của lao động nữ không chắc chắn kéo theo sự gia tăng đáng kể tình trạng thất nghiệp trong giới trẻ ở Việt Nam Trong một doanh nghiệp với quy mô nhân sự ổn định thì việc trì hoãn sự về hưu của phụ nữ sẽ dẫn tới trì hoãn tuyển dụng mới Điều này sẽ trở thành một vấn đề nếu Việt Nam là quốc gia có nền kinh tế chỉ tạo ra một số ít việc làm Nhưng thực tế không phải vậy Số việc làm hưởng lương cũng như số người đăng ký tham gia chế độ hưu trí và đóng bảo hiểm xã hội đã và đang tăng lên đều đặn ở Việt Nam, xu hướng này được kỳ vọng sẽ còn tiếp tục

Thực tế cho thấy số người về hưu tăng gấp đôi trong năm 2010 và gấp ba trong năm 2015, và trong tương lai sẽ còn tăng hơn nữa Vấn đề thanh niên xếp hàng xin những công việc do người lao động lớn tuổi về hưu để lại thường chỉ hạn chế trong một số lĩnh vực kinh tế cụ thể, như quản lý công, nghiên cứu hay giáo dục, là những lĩnh vực chỉ có số lượng chỗ trống hạn chế Lao động trẻ có học vấn có thể xếp hàng xin việc trong ngành quản lý công, nghiên cứu hoặc giáo dục, những thanh niên này thường không phải là những người mới bước chân vào thị trường lao động Những việc làm có tương lai hơn thường đòi hỏi ứng viên có kinh nghiệm Cải cách sẽ không gây tác động tiêu cực tới những thanh niên mới bước chân vào thị trường lao động

Ngày đăng: 31/03/2021, 09:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Lao động, thương binh và xã hội (2014), Thông tư số 23/2014/ TTBLĐTBXH ngày 29/8/2014 hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 03/2014/NĐ- CP ngày 16/1/2014 của Chính phủ về việc làm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 23/2014/ "TTBLĐTBXH ngày 29/8/2014 hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 03/2014/NĐ- CP ngày 16/1/2014 của Chính phủ về việc làm
Tác giả: Bộ Lao động, thương binh và xã hội
Năm: 2014
2. Bộ y tế, Quỹ Dân số Liên hợp quốc (2009), Báo cáo tổng quan về chính sách chăm sóc người già thích ứng với thay đổi cơ cấu tuổi tại Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng quan về chính sách chăm sóc người già thích ứng với thay đổi cơ cấu tuổi tại Việt Nam
Tác giả: Bộ y tế, Quỹ Dân số Liên hợp quốc
Năm: 2009
4. Nguyễn Hữu Chí (2002), Hợp đồng lao động trong cơ chế thị trường ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp đồng lao động trong cơ chế thị trường ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hữu Chí
Năm: 2002
5. Vũ Công Giao (2018), “Một số vấn đề lý luận, pháp lý, thực tiễn về quyền của người cao tuổi”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học, Tập 34, (3), tr.43-53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận, pháp lý, thực tiễn về quyền của người cao tuổi”, "Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học
Tác giả: Vũ Công Giao
Năm: 2018
6. Phạm Lan Hương (2012), Các vấn đề về quan hệ lao động trong bối cảnh Việt Nam thực hiện các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế và chuyển sang nền kinh tế thị tường, Hội nghị Quan hệ lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các vấn đề về quan hệ lao động trong bối cảnh Việt Nam thực hiện các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế và chuyển sang nền kinh tế thị tường
Tác giả: Phạm Lan Hương
Năm: 2012
11. Tổ chức Liên hợp quốc (2011), Giới thiệu các văn kiện quốc tế về quyền con người, Tập 2, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu các văn kiện quốc tế về quyền con người
Tác giả: Tổ chức Liên hợp quốc
Nhà XB: Nxb Lao động - Xã hội
Năm: 2011
13. Nguyễn Quốc Anh (2020), Từ xu hướng già hóa dân số nhanh ở Việt Nam cơ hội và thách thức, http://tuyengiao.vn/dan-so-va-phat-trien/tu-xu-huong-gia-hoa-dan-so-nhanh-o-viet-nam-co-hoi-va-thach-thuc-127050 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ xu hướng già hóa dân số nhanh ở Việt Nam cơ hội và thách thức
Tác giả: Nguyễn Quốc Anh
Năm: 2020
14. Hà Châu, Ngày càng nhiều người cao tuổi tham gia thị trường lao động, https://baodansinh.vn/ngay-cang-nhieu-nguoi-cao-tuoi-tham-gia-thi-truong-lao-dong-95844.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngày càng nhiều người cao tuổi tham gia thị trường lao động
15. Kiên Giang (2019), Xu hướng đáng ngại người già Mỹ ngày càng nghèo đi, https://baophapluat.vn/dan-sinh/xu-huong-dang-ngai-nguoi-gia-my-ngay-cang-ngheo-di-462845.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xu hướng đáng ngại người già Mỹ ngày càng nghèo đi
Tác giả: Kiên Giang
Năm: 2019
16. Trịnh Thị Thu Hiền (2019), Xu thế già hóa dân số ở nước ta và vấn đề chăm sóc sức khỏe, sử dụng lao động người cao tuổi,http://www.tapchicongsan.org.vn/chuong-trinh-muc-tieu-y-te-dan-so/-/2018/811402/xu-the-gia-hoa-dan-so-o-nuoc-ta-va-van-de-cham-soc-suc-khoe%2C-su-dung-lao-dong-nguoi-cao-tuoi.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xu thế già hóa dân số ở nước ta và vấn đề chăm sóc sức khỏe, sử dụng lao động người cao tuổi
Tác giả: Trịnh Thị Thu Hiền
Năm: 2019
17. Nguyễn Thị Kim Hoa, Công tác xã hội với người cao tuổi, http://ctxh.hcmussh.edu.vn/Resources/Docs/SubDomain/ctxh/th%C6%B0%20vi%E1%BB%87n%20khoa/CTXH_voi_nguoi_cao_tuoi.%2024.12%20(1).pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội với người cao tuổi
19. Trần Kiều, NLĐCT có vị trí đặc biệt trong thị trường lao động, https://laodong.vn/xa-hoi/nguoi-lao-dong-cao-tuoi-co-vi-tri-dac-biet-trong-thi-truong-lao-dong-665015.ldo Sách, tạp chí
Tiêu đề: NLĐCT có vị trí đặc biệt trong thị trường lao động
20. Quang Minh, Người cao tuổi và cơ hội việc làm, https://conglyxahoi. net.vn/doi-song/nguoi-cao-tuoi-va-co-hoi-viec-lam-23789.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người cao tuổi và cơ hội việc làm
21. Hoàng Nam (2018), Cuộc sống người già ở Mỹ: Không có lương hưu, nhọc nhằn kiếm cơm tuổi xế chiều, https://baophapluat.vn/lam- dep/cuoc-song-nguoi-gia-o-my-khong-co-luong-huu-nhoc-nhan-kiem-com-tuoi-xe-chieu-422162.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc sống người già ở Mỹ: Không có lương hưu, nhọc nhằn kiếm cơm tuổi xế chiều
Tác giả: Hoàng Nam
Năm: 2018
22. Hà Ngọc (P/v TTXVN tại Hong Kong), Sướng như người già ở Hong kong, https://baotintuc.vn/chuyen-la-the-gioi/suong-nhu-nguoi-gia-o-hong-kong-20120726092507835.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sướng như người già ở Hong kong
23. Phú Nguyễn (Phóng viên Đài THVN tại Mỹ), Người cao tuổi Mỹ lựa chọn làm việc thay vì nghỉ hưu, https://vtv.vn/the-gioi/nguoi-cao-tuoi-my-lua-chon-lam-viec-thay-vi-nghi-huu-20170715171659055.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người cao tuổi Mỹ lựa chọn làm việc thay vì nghỉ hưu
24. Gia Nhi, Nhật Bản tăng tuổi nghỉ hưu, https://nhandan.com.vn/baothoinay-quocte-gocquansat/nhat-ban-tang-tuoi-nghi-huu-449378 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật Bản tăng tuổi nghỉ hưu
26. Trần Đức Thắng (2020), NLĐCT - Góc nhìn từ khía cạnh pháp lý, http://tapchicongthuong.vn/bai-viet/nguoi-lao-dong-cao-tuoi-goc-nhin-tu-khia-canh-phap-ly-68409.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: NLĐCT - Góc nhìn từ khía cạnh pháp lý
Tác giả: Trần Đức Thắng
Năm: 2020
18. Khoa học và công nghệ, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, https://voer.edu.vn/m/thoi-gio-lam-viec-thoi-gio-nghi-ngoi/9cd79991 Link
25. Những nguyên tắc của Liên hợp quốc về người cao tuổi, 1991, https://thuvienphapluat.vn/van-ban/linh-vuc-khac/Nguyen-tac-cua-Lien-hop-quoc-ve-nguoi-cao-tuoi-1991-275804.aspx Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w