Đánh giá kết quả điều trị rối loạn chuyển hóa lipid ở bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát bằng rosuvastatin Đánh giá kết quả điều trị rối loạn chuyển hóa lipid ở bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát bằng rosuvastatin luận văn tốt nghiệp thạc sĩ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Khi điều kiện kinh tế và xã hội phát triển, tuổi thọ ngày càng tăng, thì mô hình bệnh tật của cộng đồng cũng dần dần thay đổi Gánh nặng bệnh tật của cộng đồng không còn là các bệnh nhiễm trùng cấp tính, các bệnh ký sinh trùng nữa, mà thay thế vào đó là các bệnh không lây nhiễm như tăng huyết áp, ung thư, đái tháo đường, tâm thần
Tần suất mắc bệnh tăng huyết áp trong cộng đồng rất cao ở nhiều nước phát triền Tại Hoa Kỳ theo điều tra về sức khỏe và dinh dưỡng năm 1988-1991 có 20,4% người trưởng thành bị tăng huyết áp, tại Hungary năm 1996 là 26%, tại Ấn Độ năm 1997 là 23,7% [21]
Ở Việt Nam, tuy tỉ lệ mắc bệnh tăng huyết áp không cao bằng các nước Âu-Mỹ nhưng đang có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây Theo Đặng Văn Chung, trong những năm sáu mươi của thế kỷ hai mươi thì tỉ lệ tăng huyết áp ở người lớn là 2-3% nhưng đến năm 1992 thì tỉ lệ đó là 11,7% [29], cho đến năm 2002 tỉ lệ tăng huyết áp tại nội thành
Hà Nội là 23,2% [20] Trên phạm vi cả nước, số người bị tăng huyết áp nguyên phát đứng thứ bẩy trong số mười bệnh mắc cao nhất tại Việt Nam [36] Số người bị tử vong do tăng huyết áp đứng hàng thứ năm trong mười
bệnh có tỉ lệ tử vong cao nhất tại Việt Nam năm 2002 [36]
Như vậy trên thế giới cũng như ở Việt Nam tỉ lệ mắc bệnh tăng huyết áp có chiều hướng tăng lên đáng kể, nó đã và đang trở thành một vấn
đề quan trọng đe dọa đến sức khỏe của con người, vì tăng huyết áp không chỉ nguy hiểm do các biến chứng có thể chết người mà còn để lại các di chứng nặng nề ảnh hưởng đến cuộc sống của bệnh nhân và là gánh nặng cho gia đình cũng như xã hội
Trang 3Rối loạn lipid máu là yếu tố nguy cơ khởi đầu cho nhiều bệnh khác nhau đặc biệt là các bệnh tim mạch như tăng huyết áp bệnh mạch vành, thúc đẩy cho bệnh ngày càng phát triển theo chiều hướng bệnh nặng lên
Nhiều nghiên cứu cho thấy việc điều chỉnh rối loạn lipid máu đã làm giảm đáng kể tỉ lệ bệnh động mạch vành cũng như bệnh tăng huyết
Xuất phát từ những thực tế trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài
“Đánh giá kết quả điều trị bằng rosuvastatin trên bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát” với các mục tiêu:
1- Mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng ở bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát có rối loạn chuyển hóa lipid máu
2- Đánh giá kết quả điều trị rối loạn chuyển hóa lipid máu bằng rosuvastatin ở bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát
Trang 4Chương 1
TỔNG QUAN
1.1 Khái niệm về huyết áp
Huyết áp động mạch hay huyết áp tâm thu (HATT) là áp lực máu tác động lên thành mạch ở thì tâm thu, nó được tạo bởi cung lượng tim và
sức cản ngoại vi Ở người trưởng thành huyết áp tâm thu trung bình
110-120mmHg
Huyết áp tâm trương (HATTr) là áp lực thấp nhất của máu tác động lên thành mạch ở thì tâm trương, biểu hiện sức đàn hồi của mạch thắng sức cản ngoại biên, ở người trưởng thành HATTr bình thường 70-80mmHg
1.1.1 Định nghĩa tăng huyết áp
Cho đến nay Tổ chức Y tế thế giới và Hội tăng huyết áp quốc tế WHO/ISH (World Health organization/International Society of Hypertention) đã thống nhất gọi là THA khi huyết áp tâm thu ≥ 140 mmHg hoặc huyết áp tâm trương ≥ 90 mmHg [29], [35]
1.1.2 Phân loại tăng huyết áp
Dựa vào nguyên nhân gây THA chia làm hai loại: THA nguyên phát
Trang 5Phân độ THA có nhiều thay đổi trong những năm gần đây Theo WHO/ISH(năm 2003) chia THA làm 3 độ [42]
Bảng 1.1 Chia độ tăng huyết áp theo WHO/ISH (năm 2003)
Bảng 1.2 Phân độ tăng huyết áp theo JNC VII (năm 2003)
Trang 6Xuất phát từ cách phân độ THA của WHO/ISH và JNC, để tiện cho việc chẩn đoán và điều trị, Hội Tim mạch học Việt Nam đã đưa ra cách phân độ như sau [29], [30]
Bảng 1.3 Phân độ tăng huyết áp của Hội Tim mạch học Việt Nam
Nếu HATT và HATTr ở hai phân độ khác nhau tính theo trị số
huyết áp lớn hơn
1.1.3 Cơ chế bệnh sinh, nguyên nhân bệnh tăng huyết áp
Cơ chế bệnh sinh gồm THA nguyên phát và THA thứ phát
1.1.3.1 Tăng huyết áp nguyên phát
THA nguyên phát chiếm tới 85-90% các trường hợp, phần lớn bệnh
THA ở người trung niên người cao tuổi thuộc loại THA nguyên phát Cơ
Trang 7chế bệnh sinh đến nay chưa được rõ ràng, người ta cho rằng một số yếu tố sau đây có thể gây THA [24]:
- Tăng hoạt động thần kinh giao cảm sẽ làm tim tăng hoạt động dẫn đến tăng cung lượng và tăng tần số tim Toàn bộ hệ thống động mạch ngoại
vi và THA động mạch [35]
- Tác dụng co mạch của adrenalin và noradrenalin: hai chất này do tuỷ thượng thận bài tiết ra, khi hệ giao cảm bị kích thích Adrenalin có tác dụng co mạch dưới da nhưng lại làm giãn mạch vành, mạch não, mạch cơ vân nên chỉ làm THA tối đa Noradrenalin làm co mạch toàn thân nên làm tăng cả huyết áp tối đa và huyết áp tối thiểu
- Vai trò của hệ RAA (Renin-Angiotensin-Aldosteron) [24]:
Renin là enzym được tế bào của tổ chức cạnh cầu thận và một số tổ chức khác tiết ra khi có yếu tố kích thích Yếu tố kích thích tiết renin là nồng độ muối trong huyết tương và kích thích thụ thể của adrenecgic Khi renin được tiết ra sẽ chuyển 2 globulin gọi là angiotensinogen thành angiotensin I nhờ coverting enzym cắt đi 2 acid amin gọi là angiotensin II
+ Kích thích trực tiếp lên ống thận làm tăng tái hấp thu natri
Trang 8+ Kích thích các cúc tận cùng thần kinh giao cảm dẫn đến tăng bài tiết noradrenalin và giảm sự tái nhập noradrenalin làm THA
+ Làm tăng tính nhạy cảm của noradrenalin đối với mạch máu
Như vậy angiotensin II có tác dụng rộng khắp toàn bộ hệ thống động mạch, làm tăng sức cản ngoại vi và tăng thể tích dịch lưu hành là cơ
sở gây THA
- Vai trò của natri trong cơ chế bệnh sinh của THA: hiện tượng ứ natri xảy ra khi lượng natri sẽ tăng giữ nước, hệ thống mạch sẽ tăng nhạy cảm với angiotensin và noradrenalin gây THA [35]
Vai trò của Angiotensinogen trong THA được thể hiện ở sơ đồ sau đây:
Trang 9Sơ đồ 1.1 Vai trò của Angiotensinogen trong tăng huyết áp [35]
KÝch thÝch vá th-îng thËn t¨ng s¶n xuÊt aldosteron
(2 globulin do gan s¶n xuÊt) HÖ thèng c¹nh tiÓu cÇu thËn
(vµ mét sè c¸c tæ chøc kh¸c)
Renin Angiotensin I
Angiotensin II
Converting enzym (ë tuÇn hoµn phæi)
ChÊt trung gian
Trang 101.1.3.2 Tăng huyết áp thứ phát
Bệnh nhân THA có nguyên nhân rõ ràng như:
- Do các bệnh thận: viêm thận cấp, viêm thận mạn, thận đa nang Do dị dạng động mạch thận (hẹp eo động mạch thận)
Cơ chế gây THA do giảm tưới máu nhu mô thận do vậy hoạt hóa hệ renin-angiotensin gây co mạch trực tiếp làm THA, các nguyên nhân này chiếm 4-5% tổng số bệnh nhân THA [35]
- Do cường aldosteron và hội chứng Cushing: hậu quả angiotensin II kích thích làm tăng aldosteron gây giữ natri làm tăng thể tích tuần hoàn dẫn đến THA Cường aldosteron tiên phát chiếm 0,5-1% tổng số bệnh nhân THA [24]
- Do u tuỷ thượng thận: nguyên nhân này hiếm gặp, mà THA là do khối
u tế bào ưa crôm do vậy tăng cường sản xuất và phóng thích ra lượng lớn catecholamin làm THA (chiếm tỉ lệ 0,1 – 0,2% ) [24]
- Hẹp eo động mạch chủ: chiếm khoảng 0,5-1% Trong hẹp eo động mạch chủ gây THA ở chi trên trong khi lại hạ huyết áp ở chi dưới, huyết áp ở chi trên cao hơn huyết áp ở chi dưới 30 mmHg
- THA ở phụ nữ có thai: bệnh THA xuất hiện nặng lên trong thời kỳ có thai nghén có thể gây tử vong cho bà mẹ và thai nhi
- Sử dụng estrogen: đây cũng là dạng phổ biến nhất của THA thứ phát Estrogen kích thích tổng hợp angiotensin và làm tăng angiotensin II làm cường aldosteron thứ phát
1.1.4 Biểu hiện của bệnh tăng huyết áp
1.1.4.1 Lâm sàng
Bệnh nhân bị THA đa số đều không có triệu chứng gì cho tới khi phát hiện ra bệnh Hay gặp nhất là đau đầu vùng chẩm và hai bên thái dương, chóng mặt khi thay đổi tư thế, mất ngủ, buồn nôn Ngoài ra có
Trang 11thể hồi hộp, mệt, khó thở, tê đầu chi Một số các triệu chứng khác tuỳ thuộc vào nguyên nhân hoặc biến chứng của THA
- Đo huyết áp là việc làm quan trọng nhất để chẩn đoán xác định bệnh THA thường dùng huyết áp kế thủy ngân hoặc các loại huyết áp kế khác được kiểm định lại 6 tháng 1 lần Số đo huyết áp được đánh giá theo tiêu chuẩn của Hội Tim mạch học Việt Nam
- Các dấu hiệu lâm sàng khác: bệnh nhân có thể béo phì, phù do suy tim toàn bộ Tìm các biểu hiện vữa xơ động mạch như mạch se điếu, mạch nẩy mạnh chìm sâu
- Khám tim mạch: có thể thấy nhịp tim nhanh có tiếng ngựa phi ở mỏm tim hay dấu hiệu suy tim Sờ và nghe động mạch để phát hiện các trường hợp nghẽn hay tắc động mạch cảnh
- Khám bụng có thể phát hiện tiếng thổi tâm thu hai bên rốn, trong hẹp động mạch thận, phồng động mạch chủ hoặc phát hiện thận to, thận đa nang
- Khám thần kinh có thể phát hiện các các biểu hiện tai biến mạch máu não nhẹ như giảm vận động ở nửa người, nặng thì mất vận động nửa người, liệt mặt có thể kín đáo, liệt cùng bên hoặc đối bên với bên liệt
1.1.4.2 Tổn thương cơ quan đích có thể gặp trong tăng huyết áp
- Tim: suy tim và bệnh mạch vành là nguyên nhân tử vong cao nhất đối với người bị THA [29]
Về lâm sàng, lúc đầu người bệnh mệt mỏi, khó thở khi gắng sức,
về sau đến giai đoạn cuối của bệnh thì khó thở cả khi ngủ Ngoài ra người bệnh có thể có biểu hiện da xanh, phù, tím tái, đau nhói ngực trái thường xuyên hoặc không thường xuyên đó là các dấu hiệu của bệnh mạch vành xuất hiện
Trang 12Về cận lâm sàng có các biểu hiện sớm trên điện tâm đồ như: thiếu máu cơ tim, rối loạn nhịp tim, dày thất trái Nên xem điện tim như là chỉ định thường quy trên bệnh nhân THA để phát hiện các biến chứng
Có thể chỉ gặp tai biến mạch máu não thoáng qua với các triệu chứng thần kinh khu trú không quá 24 giờ
- Thận: có thể biểu hiện suy thận mạn, mức lọc cầu thận giảm dưới 60 ml/phút, ure và creatinin máu tăng, xét nghiệm nước tiểu thấy có hồng cầu
vi thể hoặc đại thể [35]
1.2 Khái niệm về lipid
Lipid là một trong những thành phần cơ bản của cơ thể, nguồn cung cấp năng lượng cho tế bào, tiền chất của các hormon steroid và acid mật Về cấu trúc hoá học thì là sản phẩm của sự kết hợp giữa acid béo và alcohol nhờ liên kết este.Trong cơ thể, lipid tồn tại ở ba dạng chính [46]:
- Lipid dự trữ
- Lipid là thành phần cấu trúc tế bào
- Lipid huyết tương
1.2.1 Các thành phần lipid
* Acid béo: acid béo là thành phần không thể thiếu được của tất cả các loại lipid, phần lớn ở dạng liên kết este, có rất ít ở dạng tự do trong máu acid béo được vận chuyển trong lipoprotein dưới dạng este hoá
Trang 13với các thành phần khác hoặc vận chuyển cùng với albumin dưới dạng acid béo không este (acid béo tự do)
* Alcohol: có nhiều loại alcohol trong thành phần của lipid nhưng chủ yếu là sterol và glycerol
- Sterol là loại alcohol chứa một nhân ba vòng, cholesterol là một sterol quan trọng nhất, cholesterol có ở trong tất cả các tế bào Trong máu hai phần
ba cholesterol este hoá với acid béo tạo thành cholesterol este và được vận chuyển trong lipoprotein
- Glycerol là một alcohol thẳng không có nitơ Glycerol kết hợp với acid béo tạo thành glycerid Glycerol mang ba chức alcohol nên có thể
bị este hoá một, hai hoặc ba chức tạo thành monoglycerid, diglycerid, hoặc triglycerid Triglycerid là dạng chính trong lipoprotein và mỡ dự trữ [46]
1.2.2 Các lipoprotein
Lipoprotein là những tiểu phân thùy hình tròn gồm phần lõi kỵ nước chứa glycerid, cholesterol este không phân cực bao quanh lớp vỏ mỏng kỵ nước có chứa cholesterol không este và các apoprotin đặc hiệu
Nhiệm vụ của lipoprotein chuyên chở các lipid không tan trong nước từ chỗ hấp thu (ruột) hoặc sản xuất (gan) đến các mô dự trữ hoặc
để sử dụng
Có 5 loại lipoprotein tham gia vào quá trình chuyển hoá :
* Chylomicron được tổng hợp từ ruột non, sau đó vận chuyển trong dòng máu tới các mao mạch ở mô mỡ và cơ, tại đây triglycerid được phân giải thành glycerol và acid béo
* Lipoprotein tỉ trọng rất thấp (VLDL: Very Low Density Lipoprotein) được tổng hợp ở gan Triglycerid của VLDL được phân giải ở các tổ chức ngoại vi, làm cho VLDL nhỏ dần
* Lipoprotein có tỉ trọng thấp (LDL: Low Density Lipoprotein) là chất vận chuyển 70% cholesterol trong huyết tương tới các tế bào ngoại biên
Trang 14Xấp xỉ 75% LDL được hấp thu theo con đường thụ thể LDL ở tế bào gan
và tế bào ngoài gan
* Lipoprotein có tỉ trọng trung gian (IDL: Intermidiate Density Lipoprotein)
có hàm lượng rất thấp trong huyết tương, là tiền chất của LDL
* Lipoprotein có tỉ trọng cao (HDL: High Density Lipoprotein) gồm
có hai nhóm chính (HDL2, HDL3) và nhóm phụ (HDL1) HDL vận chuyển cholesterol dư thừa từ tế bào tới gan hoặc tới những tế bào cần
cholesterol [46]
1.2.4 Các thụ thể
- Thụ thể LDL là glycoprotein nằm trên bề mặt của hầu hết các tế bào,
có khả năng liên kết với lipoprotein có Apo B, Apo E như LDL-C, VLDL, chylomicron, VLDL dư, IDL, HDL-C [46]
- Thụ thể dọn sạch nối với LDL đã bị thay đổi thành phần hoá học Thụ thể này có mặt ở đại thực bào, cơ trơn thành động mạch, tế bào nội mô gan, có nhiệm vụ thu dọn những lắng đọng cholesterol và LDL oxy hoá
- Thụ thể HDL là trung gian của quá trình tương tác giữa HDL và tế bào tạo điều kiện cho cholesterol trong tế bào được thu dọn
1.2.5 Chuyển hoá lipoprotein
Theo con đường ngoại sinh, chylomicron giàu triglycerid được tổng hợp tại ruột vận chuyển triglycerid cung cấp cho tổ chức, sau đó chuyển hoá thành chylomicron dư và được hấp thu ở gan
Theo con đường nội sinh, VLDL được tổng hợp tại gan vận chuyển triglycerid cho tổ chức, 50% VLDL chuyển hoá thành IDL sau
đó thành LDL LDL vận chuyển cholesterol cho tế bào Cholesterol dư thừa ở tế bào được HDL vận chuyển ngược trở về gan, một số cholesterol ở gan được thải qua đường mật dưới dạng tự do dưới dạng
Trang 15acid mật xuống ruột non một phần sẽ được hấp thu trở lại , phần còn lại đào thải qua phân
Ở người bình thường, quá trình tổng hợp và thoái hoá diễn ra cân bằng nhau Khi có sự bất thường sẽ gây ra các kiểu rối loạn chuyển hoá [46]
1.2.6 Phân loại các rối loạn lipid máu
1.2.6.1 Phân loại theo Degennes
Căn cứ vào thành phần của CT và TG, Degennes chia rối loạn lipid máu thành 3 loại[18], [46]:
* Tăng cholesterol đơn thuần
Cholesterol huyết thanh tăng > 5,2 mmol/l, triglycerid bình thường hoặc tăng nhẹ Tỉ lệ cholesterol/triglycerid > 2,5
* Tăng triglycerid đơn thuần
Hàm lượng triglycerid rất cao, có khi hàm lượng triglycerid tăng >11,5mmol/l trong máu luôn luôn có chylomicron, làm cho cholesterol toàn phần có thể hơi tăng (chiếm 8-25% hàm lượng triglycerid) Tỉ lệ TG/CT > 2,5
* Tăng lippid máu hỗn hợp
Cholesterol tăng vừa phải, tăng triglycerid nhiều hơn.Tỉ lệ CT/TG
< 2,5 do đó trong huyết thanh hàm lượng cholesterol và triglycerid gần bằng nhau
1.2.6.2 Phân loại theo khuyến cáo của Hội Tim mạch học Việt Nam
Dựa vào các thành phần lipoprotein máu, Hội Tim mạch học Việt Nam khuyến cáo phân loại lipid máu như sau [5], [29], [45], [49]
Trang 16Bảng 1.4 Phân loại rối loạn lipid máu theo khuyến cáo Hội Tim mạch
học Việt Nam [29]
1 2.7 Một số nghiên cứu về rối loạn lipid máu và tăng huyết áp
1 2.7.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Có rất nhiều nghiên cứu đề cập đến sự xuất hiện của hai quá trình bệnh lý THA và rối loạn lipid máu trong đó điển hình là các nghiên cứu: Thomas và cộng sự năm 1977 ở trường đại học Oxford đã công bố nghiên cứu về sự thường gặp giữa THA và rối loạn lipid máu, 41% số bệnh nhân THA có rối loạn lipid máu, chỉ có 21% số người trong nhóm chứng có rối loạn lipid máu [73]
MacMahon S.W năm 1985 và cộng sự nghiên cứu rối loạn lipid máu
ở người THA và không THA được điều trị, nhìn chung có 40 % người THA
có tăng CT và hoặc tăng CT/HDL-C nhiều hơn ở so với người HA bình thường [66]
Trang 17Feecman, Bowling Green, 1989 nhận xét kiểu rối loan lipid máu hay gặp ở trong người THA là HDL-C thấp gặp 33%, TG tăng cao gặp ở 53%, LDL-C tăng gặp 19% [61]
1.2.7.2 Các nghiên cứu ở trong nước
Cũng như trên thế giới ở trong nước có nhiều nghiên cứu về THA và rối loạn lipid máu như nghiên cứu của Trần Thanh Hà và Phạm Khuê năm
1994, đã nghiên cứu mối liên quan giữa THA và tăng CT máu ở 543 người (281 nam) từ 45 tuổi trở lên và đã đưa ra một số nhận xét sau: tỉ lệ người THA tăng dần theo nhóm tuổi trong khi tỉ lệ người tăng CT máu cũng như tỉ
lệ có tăng cả 2 giá trị giảm dần theo tuổi Khi đã có THA hoặc tăng CT máu thì khả năng tăng CT máu hoặc THA kèm theo cao hơn Đặc biệt, ảnh hưởng của tăng CT máu kéo theo THA khá cao 75,76% người THA có rối loạn lipid lipid máu, các rối loạn lipid máu tăng theo các giai đoạn THA [7],
[45], [48]
Nguyễn Kim Lương, Thái Hồng Quang năm 1997, nghiên cứu 144 bệnh nhân tăng huyết áp khi xét nghiệm máu cho thấy: 37,2% có tăng cholesterol máu, 25% tăng triglycerid máu, 33,6% có giảm HDL-C [12], [27]
Béo phì rất có hại cho tim mạch vì hay dẫn đến THA, xơ vữa động mạch, do vậy sẽ có rất nhiều biến chứng có thể xảy ra cuối cùng dẫn đến rút ngắn tuổi thọ rõ rệt Nhiều nghiên cứu cho thấy béo phì có tương quan thuận với huyết áp Tỉ lệ THA tăng theo mức độ béo phì, tỉ lệ THA tăng dần theo mức độ thừa cân ở cả nam và nữ Phạm Gia Khải và cộng sự năm 2000 đã nghiên cứu 7610 người tại Hà Nội từ tháng 4/1998 đến tháng 4/1999 thấy chỉ số BMI trung bình của quần thể nghiên cứu là 20,09±2,72 nhóm BMI
từ 22 trở lên đã có nguy cơ THA và béo phì có mối liên quan chặt chẽ với THA [20], [48]
Phạm Thị Kim Lan và Nguyễn Lân Việt, năm 2002 tìm hiểu một
số yếu tố nguy cơ của người THA tại nội thành Hà Nội cho thấy mối
Trang 18liên quan giữa rối loạn một số thành phần lipid máu và THA như sau: khi CT ≥ 6,20 mmol/l thì có nguy cơ THA gấp 7 lần những người có
CT < 5,2 mmol/l, nhưng TG tăng nhẹ cũng đã làm tăng nguy cơ THA lên gấp 2,7 lần và khi LDL-C tăng > 4,2 mmol/l thì làm tăng nguy cơ THA lên gấp 5,6 lần và khi BMI ≥ 22 thì nguy cơ THA gấp 2,38 lần người có BMI < 22 [25]
Gần đây một số nghiên cứu cũng đề cập tới một một số rối loạn lipid máu ở người THA như nghiên cứu của: Đoàn Phước Thuộc (2007) Đại học
Y khoa Huế [42] Nghiên cứu của Phan Long Nhơn, Bùi Thanh Thuỷ (2008) Bệnh viện đa khoa Bồng Sơn Bình Định [31] Nghiên cứu của Bùi Đức Long (2008), tại xã An Lạc, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương [26] các tác giả đều nhận xét là rối loạn lipid máu hay gặp ở các bệnh nhân THA chiếm
tỉ lệ từ 46% đến 75% hay gặp ở thể tăng CT máu đơn thuần và tăng lipid máu hỗn hợp có tác giả còn thấy hiện tượng giảm HDL-C
1.2.8 Điều trị rối loạn lipid máu
Điều trị rối loạn lipid máu bao gồm [46]:
- Chế độ ăn
- Chế độ luyện tập
- Thuốc
1 2.8.1 Chế độ ăn
Chế độ ăn là chỉ định đầu tiên trong điều trị rối loạn lipid máu
Nguyên tắc chung về khẩu phần ăn:
- Lipid chỉ chiếm bằng hoặc ít hơn 30% tổng số năng lượng, trong đó
mỡ bão hoà chỉ chiếm 7%
- Cholesterol ăn mỗi ngày dưới 200 mg
- Thay đổi năng lượng chủ yếu dựa trên tinh bột
- Người có tăng triglycerid phải giảm uống rượu
- Đạt và duy trì cân nặng lý tưởng
Trang 19Giới hạn tổng số năng lượng trong ngày cho phù hợp với cân nặng
lý tưởng Nếu áp dụng chế độ giảm cân thì cũng chỉ nên giảm 0,5-1 kg/tuần
Thành phần cholesterol trong thức ăn có ảnh hưởng đến nồng độ cholesterol trong máu nhưng đáp ứng thay đổi tuỳ người
Giới hạn mỡ trong khẩu phần ăn: khi tăng triglycerid máu hỗn hợp đe doạ viêm tuỵ cấp phải loại bỏ mỡ trong thức ăn Nên thay thế mỡ động vật bằng dầu thực vật trong chế biến
Vai trò của tinh bột trong khẩu phần, ăn nhiều tinh bột sẽ làm tăng triglycerid sau 48-72 giờ, tăng tối đa vào tuần thứ nhất và tuần thứ năm,
ổn định sau một đến tám tháng HDL -C có thể giảm ít với khẩu phần tăng tinh bột
Giảm năng lượng và giảm cân có vai trò quan trọng đối với bệnh nhân
có rối loạn lipid máu vì vậy các trường hợp rối loạn lipid máu cần có chế độ luyện tập thể lực giúp làm giảm cholesterol và triglyceri và tăng HDL-C trong máu
1.2.8.2 Chế độ tập luyện
Luyện tập thể dục cũng làm giảm triglycerid, cholesterol LDL-C và
tăng HDL-C trong máu Tập luyện cũng làm giảm cân và duy trì cân nặng lý
tưởng Mỗi bệnh nhân cần chọn cho mình hình thức tập luyện thích
hợp để có thể luyện tập thường xuyên như đi bộ nhanh, đi xe đạp lực
kế, tập thể dục
Nên tập luyện mỗi ngày từ 35-45 phút tùy theo sức khỏe cụ thể và
không nên bỏ cách quãng
1.2.8.3 Chế độ thuốc
Chỉ nên dùng thuốc hạ lipid khi chế độ ăn, tập luyện không có hiệu quả,
Trang 20hiệu quả thấp hoặc các rối loạn lipid máu ở mức độ cao
* Các chất resin kết hợp với acid mật
Resin gắn acid mật trong chu trình ruột gan Các thuốc này chủ yếu làm
giảm nồng độ LDL-C, là thuốc được lựa chọn hàng đầu để điều trị tăng cholesterol máu có tính chất gia đình, dị hợp tử không có tác dụng trên các trường hợp đồng hợp tử
Đa số bệnh nhân giảm được LDL-C 15-30% sau khi uống 16g cholestyramin hoặc 20g colestipol mỗi ngày
* Acid nicotinic: là sinh tố nhóm B tan trong nước
Niacin đã được dùng để hạ lipid máu từ lâu Các thuốc này làm tăng
sự ester hoá trở lại của acid béo thành triglycerid, giảm acid béo tự do, giảm LDL-C
Liều bắt đầu từ 100mg, uống ba lần mỗi ngày tăng dần 3-6 gam mỗi ngày
Khi dùng Niacin 3g-6g một ngày thuốc có thể giảm được 15- 40% triglycerid và LDL cholesterol và tăng HDL được 50% Trên bệnh nhân có tăng cholesterol máu gia đình dị hợp tử niacin kết hợp với resin có thể đưa LDL về bình thường
* Thuốc ức chế men HMG- CoA reductase (nhóm statin):
Gồm pravastatin (pravachol), simvastatin (zocor), lovastatin (mevacor), fluvastatin (lescol) rosuvastatin Khoảng 2/3 trữ lượng cholesterol trong cơ thể được tái tổng hợp từ gan, ruột nhờ men kích hoạt phản ứng này là hydroxymethylglutaryl coA reductase Nhóm statin ức chế men HMG–CoA reductase, làm giảm acid mevalonic, hợp chất đầu tiên trong quá trình tổng hợp cholesterol Vì vậy tốc độ tổng hợp cholesterol từ gan giảm, trữ lượng sterol nội bào giảm và thụ thể bề mặt của LDL-C (thụ
Trang 21thể apo-B100: E) tăng lên gấp đôi Sự thanh thải LDL-C gia tăng và LDL-C giảm sau 4-8 tuần điều trị với thuốc này
Đây là nhóm thuốc có hiệu quả nhất để giảm nồng độ LDL-C, cholesterol toàn phần Tuy nhiên thuốc không có tác dụng trên các trường hợp tăng cholesterol gia đình đồng hợp tử Khi cho uống một lần mỗi ngày nên cho uống thuốc vào buổi tối vì phần lớn cholesterol được tổng hợp từ nửa đêm đến ba giờ sáng
Tác dụng phụ thường gặp nhất của thuốc là rối loạn tiêu hoá nhẹ, thoáng qua mẩn đỏ da, nhức đầu Một số bệnh nhân có rối loạn giấc ngủ Khoảng 1-2% bệnh nhân uống thuốc với liều cao có thể bị tăng men gan gấp
3 lần và phải ngưng thuốc nhưng hiếm khi có viêm gan trên lâm sàng với nồng độ creatin phosphokinaz tăng cao
Biến chứng này gia tăng khi có thêm bệnh gan, nhiễm trùng nặng, suy thận, uống cùng với thuốc cyclosporin, gemfibrozil, acid nicotinic, erythromycin
Dù sao trên thực tế lâm sàng thuốc ức chế men HMG-CoA reductase
ít gây tác dụng phụ nhất trong các loại thuốc ức chế tổng hợp cholesterol, khi dùng đơn độc thuốc này làm giảm LDL-C được 30-40%, nếu kết hợp với resin gắn acid mật có thể giảm LDL-C tới 50-60% Tác dụng lên triglycerid thay đổi, có thể giảm được 5-10%
Nhóm statin chia làm 3 thế hệ [16]:
* Thế hệ thứ nhất: lovastatin, simvastatin, pravastatin
* Thế hệ thứ hai: cetivastatin, atorvastatin
* Thế hệ thứ ba: rosuvastatin, pitavastatin
Trang 22Bảng 1.5 Các thuốc điều trị rối loạn lipid máu Nhóm
thuốc
Liều hàng ngày Tác động lên
lipoprotein
Tác dụng phụ
18%
LDL–C15-15%
HDL-C5-TG 7-30%
Bệnh
Cơ
Tăng men gan
Tuyệt đối : bệnh gan tiến triển hoặc mạn
Tương đối : dùng đồng thời với một
số thuốc khác
Các
Fibrat
Gemfbozil 600mg 2lần /ngày
Fenofibrat 200mg Clofibrat 100mg 2lần /ngày
LDL–C 18%
15- HDL-C 15%
5-TG 7-30%
Khó tiêu Sỏi mật Bệnh cơ
Tuyệt đối : Bệnh thận nặng Gệnh gan nặng
Acid:
Nicotinic
Acid Nicotinic phóng thích nhanh 1,5-3g Acid Nicotinic phóng thích chậm 1-2g Acid Nicotinic phóng thích kéo dài 1,5-3g
LDL–C 5-25%
HDL-C 35%
15-TG 15-20%
Bốc hoả
glucose
aciduric Rối loạn tiêu hoá
độc gan
Tuyệt đối:
Bệnh gan mạn Gút cấp
Tương đối: đái tháo đường
loét đường tiêu hoá
30%
LDL–C15-HDL-C3-5%
TG không thay đổi hoặc tăng
Rối loạn tiêu hoá táo bón giảm hấp thu thuốc khác
Tuyệt đối: rối loạn lipoprotein
TG>4,5mmol/l Tương đối:
TG >2,3mmol/l
Trang 231.2.9 Các nghiên cứu về statin trong điều trị rối loạn lipid máu
Statin là thuốc ức chế cạnh tranh có thể đảo ngược của enzym HMG-CoA reductase
Thụ thể LDL-C ở gan tăng cũng có thể làm tăng trực tiếp sự gắn bắt IDL thậm chí một số VLDL, sự lấy đi tiền chất của LDL-C, như vậy làm giảm thêm LDL-C
Cơ chế tác dụng của statin [4]:
Thuốc này ngăn chặn tổng hợp cholesterol tại gan bằng cách ức chế cạnh tranh hoạt động của enzym là HMG-CoA reductase nên kìm hãm tổng hợp cholesterol nội sinh làm giảm tổng hợp cholesterol 20% ở toàn bộ cơ thể và làm tăng tổng hợp các thụ thể LDL–C tại gan, tăng giáng hóa LDL, nồng độ LDL-C lưu hành sẽ giảm đáng kể
Rosuvastatin là thuốc thuộc nhóm statin được chứng minh là có hiệu quả ở nhóm bệnh nhân có tăng CT máu có hay không có tăng TG bất kỳ chủng tộc, giới tính hoặc ở những bệnh nhân tăng CT có tính chất gia đình
Rosuvastatin nhập chọn lọc vào gan nên ít chuyển hóa qua gan và ít tác dụng phụ, khoảng liều dùng rộng 1- 40mg/24h không cần phối hợp thêm các thuốc khác mà vẫn đạt hiệu quả [15]
Có thể tóm tắt cơ chế tác dụng của nhóm statin vào enzym HMG –CoA reductase theo sơ đồ sau đây:
Trang 24Sơ đồ 1.2 Tác dụng của nhóm statin vào enzym
HMG–CoA reductase [15]
HMG-CoA Reductase
Squalen epoxidase Squalen
Trang 251.2.9.1 Hấp thu chuyển hóa bài tiết
Rosuvastatin được hấp thu gần như hoàn toàn, 98% thuốc được lưu hành vào máu gắn với protein huyết tương Nồng độ đạt cao nhất khoảng 5 giờ sau khi uống Gan là con đường bài xuất chính, trên 95% thuốc được chuyển hóa qua gan và được bài tiết qua phân, dưới 5 % thuốc được chuyển hóa qua thận và được bài tiết qua nước tiểu [4 ]
1.2.9.2.Tác dụng phụ và tương tác của thuốc
Rosuvastatin cũng như các statin khác đều có thể làm tăng men transaminase nhưng với tỉ lệ thấp (ít gặp) dễ thấy khi bệnh nhân hay uống rượu
Rosuvastatin làm tăng tác dụng của thuốc chống đông (cơ chế tác dụng này cho đến nay vẫn chưa rõ ràng) Thuốc có hại cho thai nhi do vậy không dùng thuốc cho phụ nữ có thai
Với phụ nữ còn trong độ tuổi sinh đẻ chỉ dùng khi cholesterol máu cao có thể có biến chứng tim mạch mà các thuốc khác không đáp ứng [4]
1.2.9.3 Sử dụng thuốc trong điều trị
Rosuvastatin uống một lần duy nhất vào lúc đi ngủ vì tổng hợp cholesterol chủ yếu về ban đêm Liều khởi đầu là 10mg/ngày, phần lớn bệnh nhân đã được kiểm soát với liều khởi đầu này trong một số tường hợp có thể dùng với liều 20mg/ngày, liều 40mg/ngày chỉ dùng cho bệnh nhân khi cholesterol tăng cao nguy cơ có biến chứng tim mạch cần theo
dõi sát [4]
1.2.9.4 Các nghiên cứu về rosuvastatin
Các nghiên cứu đánh giá tác động trị liệu của rosuvastatin trên các
Trang 26thành phần rối loạn lipid máu ở nước ta còn chưa có nhiều nhưng trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về tác dụng của rosuvastatin trên bệnh nhân có rối loạn lipid máu như nghiên cứu của Khoa Dược thuộc Trung tâm Y học Trường đại học Charité ở Berlin (Đức), nghiên cứu 8108 bệnh nhân có rối loạn lipid máu (gồm 56% nam và 44% nữ) được uống rosuvastatin 10mg/ngày và theo dõi trong 12 tháng Kết quả 80% bệnh nhân có LDL-C tăng, đã trở về bình thường sau 3 tháng và sau 12 tháng 100% trở về mức bình thường [75]
Một nghiên cứu khác của Trung tâm nghiên cứu Tim mạch Prevention, thuộc Trường Đại học Y Harvard, Boston (Mỹ) nghiên cứu
17802 người có bệnh tim mạch và rối loạn lipid máu bằng cách uống rosuvastatin 20mg/ngày và theo dõi 1,9 năm thấy tỉ lệ người bệnh đã giảm LDL-C về mức bình thường là 50% và tỉ lệ các tai biến tim mạch giảm 37% [72] Các nghiên cứu khác [51], [71], [74] cho thấy điều trị bằng rosuvastatin thì tỉ lệ người bệnh giảm được LDL-C, cholesterol và triglcerid, tăng được HDL-C về mức bình thường lần lượt là 50%, 60-80% và 50-70%
Các nghiên cứu đánh giá tác động của Rouvastatin trên vữa xơ động mạch cho biết thuốc làm giảm tỉ lệ các biến cố tim mạch [72]
Ở các bệnh nhân sau nong mạch vành, sau mổ tim nếu được điều trị bằng rouvastatin trước khi can thiệp phẫu thuật thì sẽ rút ngắn thời gian hậu phẫu do rút ngắn được sự hồi phục chức năng của nội mạc động mạch [68]
Các nghiên cứu so sánh hiệu quả điều trị của rosuvastatin với các thuốc khác như paravastatin, atorvastatin đều cho thấy hiệu quả điều
Trang 27trị của rouvastatin tăng hơn đáng kể so với các loại thuốc kể trên từ 20% [58 ], [59]
10-Trên cơ sở các nghiên cứu trên, trong nghiên cứu này chúng tôi không chỉ dừng lại ở việc xem xét các rối loạn lipid máu trên bệnh nhân THA mà còn đánh giá hiệu quả điều trị rối loạn lipid máu bằng rosuvastatin tại Bệnh viện Gang Thép [51], [53], [58], [72]
Trang 28
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Gồm tất cả các bệnh nhân THA nguyên phát có rối loạn lipid máu đang điều trị tại Khoa Nội tổng hợp – Bệnh viện Gang Thép
2.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: tại Khoa Nội tổng hợp - Bệnh viện Gang Thép Thái Nguyên
- Thời gian: từ tháng 12 năm 2008 đến tháng 9 năm 2009
2.3 Phương pháp nghiên cứu
Dùng phương pháp nghiên cứu mô tả, theo dõi, so sánh trước và sau điều trị
2.4 Chọn mẫu
Theo phương pháp chọn mẫu chủ đích với cỡ mẫu thuận tiện
2.5 Thiết kế nghiên cứu
2.5.1 Quy trình nghiên cứu
- Lựa chọn bệnh nhân THA nguyên phát có rối loạn lipid máu đưa vào nhóm các đối tượng nghiên cứu:
- Lập hồ sơ bệnh án điều trị theo quy chế của Bộ Y tế
- Lập Hồ sơ nghiên cứu theo mẫu bệnh án nghiên cứu
- Hỏi bệnh, khám bệnh có liên quan đến bệnh THA và rối loạn chuyển hóa lipid máu trước và sau điều trị
- Hướng dẫn chế độ ăn hạn chế lipid máu
- Bệnh nhân điều tri bệnh tăng huyết áp và uống rosuvastatin
Trang 2920mg/ngày trong 2 tuần, sau đó điều trị ngoại trú trong 4 tuần không uống thuốc rosuvastatin tiếp tục điều trị hạ áp duy trì
- Các xét nghiệm lâm sàng được làm ở 3 thời điểm: sau khi vào viện ngày thứ nhất (T1), sau 2 tuần điều trị (T2), sau 4 tuần điều trị ngoại trú (T3)
- Đánh giá kết quả điều trị
- Thu thập các thông tin
- Xử lý số liệu
2.5.2 Tiêu chuẩn chọn đối tƣợng
Bệnh nhân THA nguyên phát có rối loạn lipid máu theo các tiêu chuẩn sau:
Chẩn doán THA theo tiêu chuẩn của Hội Tim mạch học Việt Nam năm 2006 [29]
Chẩn đoán rối loạn lipid máu dựa theo tiêu chuẩn của Hội Tim mạch học Việt Nam năm 2006 [29]
2.5.3 Tiêu chuẩn loại trừ
Bệnh nhân THA thứ phát
Bệnh nhân đang mắc các bệnh ảnh hưởng tới sự hấp thu và chuyển hoá của thuốc như: nhiễm trùng huyết, suy tim nặng, viêm gan mà enzym (SGOT, SGPT) tăng gấp 2 lần bình thường, suy gan
Bệnh nhân đang dùng một số thuốc: oestrogen, corticoid dài ngày, các thuốc hạ áp có ảnh hưởng tới các thành phần của lipid máu như thuốc ức chế
bê ta giao cảm, hypothiazit liều cao kéo dài
Các bệnh nhân có dùng đồng thời các thuốc có tương tác với các thuốc nghiên cứu như: cyclosporin A, các thuốc ức chế miễn dịch, các hormon steroid bao gồm dạng xịt, dạng tiêm, dạng uống, bôi ngoài, erythromycin và ketoconazol
Trang 30Các bệnh nhân đã dùng thuốc điều trị rối loạn lipid máu trong vòng
2 tuần trước khi lựa chọn vào nghiên cứu này
Bệnh nhân bị rối loạn lipid máu sau một số bệnh khác như: hội chứng thận hư, đaí tháo đường, suy thận mạn, hội chứng tắc mật
Bệnh nhân có thoái hóa đốt sống cổ
Các bệnh nhân mẫn cảm với các thành phần của thuốc
Các bệnh nhân không hợp tác, bỏ dở thuốc
2.5.4 Chỉ tiêu nghiên cứu
- Thông tin chung đối tượng nghiên cứu:
+ Tuổi
+ Giới
- Triệu chứng lâm sàng: đau đầu, chóng mặt, mất ngủ, buồn nôn, tê
bì chân tay, hay quên, đau ngực, đau khớp, mệt mỏi, rối loạn tiêu hóa, nổi mẩn ngoài da
- Đo huyết áp, đo chỉ số BMI
+ Xét nghiệm nước tiểu
2.5.5 Kỹ thuật thu thập số liệu
2.5.5.1 Khám bệnh
Tất cả đối tượng nghiên cứu đều được điều trị nội trú tại Bệnh viện trong hai tuần sau đó điều trị ngoại trú bốn tuần, khai thác tiền sử, bệnh sử,
Trang 31khám lâm sàng, làm xét nghiệm, làm bệnh án theo mẫu thống nhất:
*Hỏi người bệnh để phát hiện các triệu chứng cơ năng liên quan đến THA có rối loạn lipid máu:
- Đau đầu, chóng mặt: âm ỉ, liên tục ít liên quan đến huyết áp,
có khi đau đầu chóng mặt cả lúc huyết áp bình thường, chóng mặt khi thay đổi tư thế
- Buồn nôn: không liên quan đến bữa ăn, không có dấu hiệu về tiêu hóa như rối loạn tiêu hóa, ít liên quan đến huyết áp
- Đau ngực: đau sau xương ức cảm giác như bị bóp nghẹt, đau ngực có liên quan đến gắng sức, đỡ đau khi nghỉ ngơi hoặc dùng nitrates (đau thắt ngực của bệnh mạch vành)
- Tê bì tay chân: tê ở ngọn chi, vận động tự chủ bình thường, cảm giác ở đầu chi giảm đi, liên quan ít đên mức độ THA
- Rối loạn tiêu hóa: thường biểu hiện chán ăn, đầy bụng hoặc đại tiện phân lỏng
*Khám thực thể:
- Khám để phát hiện các tổn thương thần kinh do tăng huyết áp gây nên như giảm vận động, liệt, lú lẫn, nói ngọng
- Đo chiều cao, cân nặng, tính chỉ số khối cơ thể (BMI):
Đo chiều cao: bệnh nhân tháo bỏ giầy, dép, không đội mũ, nón, sau đó đứng vào bàn cân để đo chiều cao Khi đo người bệnh đứng thẳng, hai gót chân chạm vào nhau, vai buông lỏng, mắt nhìn về phía trước, hạ dần thước đo từ trên xuống, đọc số đo theo cột dọc của thước cho đến mức cuối cùng
- Cân nặng: dùng cân TANITA sản xuất tại Trung Quốc Đặt cân ở
vị trí ổn định trên một mặt phẳng, người bệnh chỉ mặc quần áo mỏng, không
Trang 32đi giầy dép, không đội mũ hoặc cầm một vật gì Ghi số đo trên bàn cân chính xác tới mức 0,1kg
Đo chiều cao, cân nặng và tính chỉ số khối cơ thể BMI theo công thức:
Sinh hóa máu:
*Lấy máu tĩnh mạch: tiến hành lấy máu tĩnh mạch vào buổi sáng cách bữa tối hôm trước ít nhất là tám giờ, không chống đông với các xét nghiệm sinh hóa máu Các xét nghiệm được tiến hành phân tích tại Khoa Xét nghiệm Bệnh viện Gang Thép trên máy sinh hoá tự động nhãn hiệu Hitachi 717 do Nhật Bản sản xuất, với hoá chất của hãng Boehringer Mannhein Máu được quay ly tâm, tách huyết thanh và tiến hành định lượng:
- Định lượng cholestorol, triglycerid, HDL-C, LDL-C SGOT, SGPT, ure, creatinin trên máy sinh hóa tự động Hitachi 717 do Nhật Bản sản xuất
- Huyết học: xét nghiệm tể bào máu: tiến hành lấy máu tĩnh mạch vào buổi sáng cách bữa tối hôm trước ít nhất là tám giờ, lấy 2mml máu cho vào ống nghiệm đã có hóa chất chống đông lắc đều đưa vào
Trang 33máy đếm tế bào tự động ABX Micro ES 60 do Pháp sản xuất Sau hai phút máy tự động trả lời kết quả
* Nước tiểu: lấy nước tiểu vào buổi sáng nhúng que thử chuẩn
vào mẫu bệnh phẩm sau đó cài que thử vào máy xét nghiệm nước tiểu (Urometer 120) tự động do Hàn Quốc sản xuất, sau 3 phút máy sẽ tự
động đọc kết quả
* Điện tim đồ: được làm tại Khoa Thăm dò chức năng Bệnh viện Gang Thép, trên máy điện tim 6 cần nhãn hiệu NIHONKOHEN do nhật Bản sản xuất Trước khi làm điện tim đồ bệnh nhân được nghỉ ngơi ít nhất 10- 15 phút Phân tích kết quả điện tim, do các bác sĩ chuyên khoa Tim mạch thực hiện
Nhận định kết quả
- Tăng huyết áp:
Dựa theo Phân độ THA Hội Tim mạch học Việt Nam năm 2006 [29]
Bảng 2.1 Phân độ THA theo tiêu chuẩn của Hội Tim mạch học Việt
Nam năm 2006 [29]
Trang 34- Thể trạng đối tượng nghiên cứu (BMI) :
Bảng 2.2 Đánh giá chỉ số BMI theo tiêu chuẩn của WHO (1998) đề
nghị cho người Châu Á trưởng thành [2]
- Phân loại rối loạn lipid máu:
Bảng 2.3 Tiêu chuẩn phân loại rối loạn lipid máu theo khuyến cáo Hội
Tim mạch học Việt Nam [29], [49]
Lipid máu Bình thường (mmol/l) Bệnh lý (mmol/l)
Trang 35Đánh giá kết quả xét nghiệm SGOT, SGPT, ure, creatinin, số lượng Hồng cầu, số lượng Bạch cầu, số lượng Tiểu cầu theo tài liệu xét nghiệm sử dụng trong lâm sàng hằng số sinh lý người Việt Nam
Bảng 2.4 Một số chỉ số huyết học và sinh hóa bình thường [43]:
Trang 36+ Ngoài ra còn có các hình ảnh: blook nhánh phải hoàn toàn, blook nhánh phải không hoàn toàn
+ Bệnh mạch vành:
Sóng T âm nhọn đối xứng (thiếu máu một vùng dưới thượng tâm mạc) Sóng T dương, cao nhọn, đối xứng (thiếu máu dưới nội tâm mạc) Đoạn ST chênh xuống thẳng đuỗn (tổn thương dưới thượng tâm mạc) Sóng Q sâu rộng có móc trát đậm ST chênh lên (biểu hiện của nhồi máu cơ tim )
* Như vậy khi có bệnh tim ở bệnh nhân THA nguyên phát có rối loạn chuyển hóa lipid máu thì có thể biểu hiện biểu hiện bằng các triệu chứng như suy tim, tăng gánh thất trái, dày thất trái, các rối loạn nhịp tim, cơn đau thắt ngực điển hình, bệnh mạch vành
2.6 Phác đồ điều trị
2.6.1 Điều trị tăng huyết áp
Mục tiêu điều trị là đưa huyết áp về mức bình thường < 140/90mmHg Các loại thuốc thường dùng là:
Hypothiazit 25mg Trofurit 40mg Adalat 10mg Propranolon 40mg, Nifedipin 10mg Amlordipin 5mg Aldomet 40mg Coversyl 5mg Tùy từng trường hợp cụ thể mà có thể sử dụng phối hợp một hay hai hoặc ba hoặc bốn loại thuốc hạ áp để sử dụng có hiệu qu¶ nhÊt vµ Ýt t¸c dông phô nhÊt
Trang 372.6.2 Điều trị rối loạn lipid máu bằng rosuvastatin
- Chế độ ăn giảm lipid máu:
Hướng dẫn cho bệnh nhân ăn theo chế độ giảm lipid máu một cách đơn giản và dễ thực hiện, cụ thể như sau:
Kiêng ăn mỡ lợn, mỡ gà, dầu dừa, dầu cọ, các phủ tạng động vật Hạn chế ăn trứng gà, trứng vịt các chất bột như bánh mì, cơm gạo
Các thức ăn nên dùng là đậu nành, cá, các loại rau quả tươi, thịt nạc[46]
- Chế độ thuốc
Các đối tượng tham gia nghiên cứu đều được uống hai viên rosuvastatin 10mg vào mỗi buổi tối trước khi đi ngủ trong hai tuần bắt đầu từ ngày thứ hai của thời gian điều trị (T1)
Uống rosuvastatin được 2 tuần thì khám, kiểm tra lại xét nghiệm (T2) Sau đó cho ra viện, hẹn 4 tuần sau đến khám và kiểm tra lại xét nghiệm (T3)
Trong thời gian ra viện về nhà chờ đến khám lại bệnh nhân tiếp tục ăn theo chế độ giảm lipid máu không uống thuốc rosuvastatin, duy trì hạ áp
- Theo dõi trong thời gian dùng thuốc:
+ Theo dõi các tác dụng phụ của thuốc như dị ứng, mệt mỏi, chán ăn, đầy bụng, rối loạn tiêu hoá, tăng enzym transaminase
+ Các trường hợp phải dừng thuốc:
Bệnh nhân bị dị ứng với thuốc
Tăng enzym transaminase (GOT và GPT) lớn hơn 2 lần bình thường Rối loạn tiêu hóa nhiều như ỉa chảy, nôn, đầy bụng
Trang 382.7 Y đức trong nghiên cứu
Khi sử dụng thuốc vào điểu trị phải giải thích cho bệnh nhân biết và phải được sự đồng ý của bệnh nhân
Không ràng buộc bệnh nhân về kinh tế trước khi dùng thuốc Hướng dẫn cho bệnh nhân biết tác dụng phụ của thuốc Khi có tác dụng phụ phải báo cho bác sĩ biết để có hướng xử trí hợp lý
2.8 Thiết bị phục vụ cho nghiên cứu
+ Huyết áp đồng hồ đã được kiểm tra định kỳ theo đúng tiêu chuẩn + Ống nghe Nhật Bản
+ Cân bàn Trung Quốc có gắn thước đo chiều cao
+ Đo vòng eo, mông bằng thước dây không giãn FIGURE FINDER + Máy xét nghiệm sinh hoá tự động HITACHI 717 của Nhật Bản sản xuất
+ Máy điện tim 6 cần NIHONKOHEN do Nhật Bản sản xuất
+ Máy phân tích nước tiểu Urometer 120 do Hàn Quốc sản xuất + Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng các hoá chất của hãng Boehringer Mannhein để làm xét nghiệm
2.9 Xử lý số liệu nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu được xử lý theo phương pháp thống kê y sinh học bằng chương trình EPIINFO 6.04
Trang 39Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu Bảng 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi và giới tính Giới tính
Nhóm tuổi
10.9
17.9
Trang 4023.3
46.5
18.6 18.4
28.9
18.4 34.2
Biểu đồ 3.1 phân bố đối tƣợng nghiên cứu theo nhóm tuổi và giới
Bảng 3.2 Phân bố nghề nghiệp các đối tƣợng nghiên cứu
Nhận xét: tỉ lệ THA ở nhóm bệnh nhân là công nhân cao nhất 44,4%, nhóm bệnh nhân nghề nghiệp khác có tỉ lệ thấp nhất
Nhóm tuổi
Tỉ lệ %