Năm 1998, sự ra đời của ba đứa trẻ thụ tinh trong ống nghiệm ở bệnh viện phụ sản Từ Dũ đã đặt ra những yêu cầu cấp thiết quy định điều chỉnh về việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sả
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
DƯƠNG VIẾT CƯỜNG
XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON TRONG TRƯỜNG HỢP SINH CON BẰNG KỸ THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN THEO PHÁP LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
DƯƠNG VIẾT CƯỜNG
XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON TRONG TRƯỜNG HỢP SINH CON BẰNG KỸ THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN THEO PHÁP LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã số: 8380101.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Lan
HÀ NỘI – 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực, theo đúng quy định Những kết luận khoa học và luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luật văn này
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Dương Viết Cường
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 SINH CON BẰNG KỸ THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON TRONG TRƯỜNG HỢP ĐÓ 7
1.1 Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản 7
1.1.1 Khái niệm cha, mẹ, con 7
1.1.2 Khái niệm xác định cha, mẹ, con 8
1.1.3 Một số kỹ thuật hỗ trợ sinh sản cơ bản 11
1.1.4 Khái niệm sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản 12
1.1.5 Điều kiện áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản 15
1.1.6 Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo 20
1.2 Nội dung pháp luật Việt Nam về xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản 27
1.2.1 Xác định cha, mẹ, con trong trường hợp người phụ nữ độc thân, cặp vợ chồng vô sinh mang thai cho mình 27
1.2.2 Xác định cha, mẹ, con trong trường hợp mang thai hộ 32
1.2.3 Thủ tục xác định cha, mẹ, con trong trường hợp áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản 34
Kết luận chương 1 43
CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON TRONG TRƯỜNG HỢP SINH CON BẰNG KỸ THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT 44
2.1 Thực tiễn xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản 44
2.1.1 Nhận xét chung 44
2.1.2 Một số vụ việc cụ thể 51
2.2 Giải pháp 55
Trang 5Kết luận chương 2 60
KẾT LUẬN 62
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Gia đình có lịch sử từ rất sớm và đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài Gia đình là tế bào của xã hội, ở đó, mối quan hệ gắn bó với nhau bởi tình cảm, quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng Các chủ thể gắn bó một cách thường xuyên, lâu dài, thậm chí suốt cả đời người về tình cảm và nghĩa vụ Quan hệ vợ và chồng, cha mẹ và con… là những quan
hệ tình cảm yêu thương, chăm sóc như một điều tất yếu nhưng cũng đầy ý thức trách nhiệm Tuy nhiên, thực tế cho thấy tỷ lệ vô sinh ở các cặp vợ chồng trên toàn thế giới trong đó có Việt Nam đang có xu hướng tăng cao vì các yếu
tố chủ quan cũng như khách quan khác nhau Điều đó ảnh hưởng đến quyền được làm cha, làm mẹ của các cặp vợ chồng
Mặt khác, cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, khoa học kỹ thuật cũng có những bước nhảy vọt trong từng lĩnh vực nhất là chăm sóc sức khỏe
và y tế Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là một trong những thành tựu
đó, phương pháp này được áp dụng ở rất nhiều nơi trên thế giới và bao gồm
cả Việt Nam, điều đó mang ý nghĩa vô cùng quan trọng
Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là vấn đề khá phức tạp, đặc biệt là vấn đề xác định cha, mẹ, con bởi trên một khía cạnh nào đó nó đã làm thay đổi những quan niệm truyền thống về quan hệ huyết thống giữa cha, mẹ và con… Quan hệ cha, mẹ và con là cơ sở xác lập thực hiện các quy định về nghĩa vụ và quyền nhân thân cũng như quyền tài sản, quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng, thừa kế tài sản Đồng thời đây cũng là cơ sở để giải quyết tranh chấp phát sinh giữa các thành viên trong gia đình một cách hợp tình, hợp lý, nhanh chóng và kịp thời Chính vì vậy cần có hành lang pháp lý rõ ràng, cụ thể để có thể giải quyết các quan hệ phát sinh trong vấn đề này
Trang 72 Tình hình nghiên cứu
Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản không phải vấn đề khoa học quá mới, tuy nhiên do sự hạn chế về điều kiện kinh tế - xã hội cũng như sự phát triển của khoa học kỹ thuật mà việc áp dụng các phương pháp khoa học kỹ thuật tác động đến việc sinh con còn gặp nhiều khó khăn Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là trường hợp đòi hỏi kỹ thuật y khoa tiên tiến, chuyên môn cao của đội ngũ bác sỹ và cơ sở vật chất đảm bảo Năm 1998, sự ra đời của ba đứa trẻ thụ tinh trong ống nghiệm ở bệnh viện phụ sản Từ Dũ đã đặt ra những yêu cầu cấp thiết quy định điều chỉnh về việc sinh con bằng kỹ thuật
hỗ trợ sinh sản đặc biệt là quy định xác đinh cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 đã lần đầu tiên đề cập với thuật ngữ “sinh con theo phương pháp khoa học” tại Điều 63 Kể từ năm 2000 đến nay, sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản được quy định tại nhiều văn bản khác nhau như Nghị định số 12/2003/NĐ-CP ngày 12/02/2003 của chính phủ
về việc về sinh con theo phương pháp khoa học; Thông tư số 07/2003/TTBYT của bộ y tế ngày 28/5/2003 hướng dẫn thi hành Nghị định
số 12/2003/NĐ-CP ngày 12/02/2003 của chính phủ về sinh con theo phương pháp khoa học; Luật Hiến, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006; Thời gian gần đây, Quốc hội thông qua Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, đồng thời Chính phủ ban hành Nghị định số 10/2015/NĐ-CP ngày 28/01/2015 về việc quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo; Thông tư 57/2015/TT-BYT hướng dẫn Nghị định 10/2015/NĐ-CP quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành…
Trang 8Về các bài viết, công trình nghiên cứu dưới góc độ pháp lý có liên quan đến vấn đề trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, bài viết của Tiến sỹ Nguyễn Thị Lan đăng trên Tạp chí Luật học số 2/2003 với tựa đề
“Sinh con theo phương pháp khoa học và một số vấn đề pháp lý có liên quan”
là một trong những bài viết đầu tiên tại Việt Nam đề cập đến vấn đề này Trong đó có nêu lên nhiền khía cạnh pháp lý như phân tích điều kiện cho và nhận tinh trùng, xác định quan hệ cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con theo phương pháp khoa học cũng như quy định pháp luật và bất cập của chế định pháp luật này Cho đến thời gian gần đây, Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 đã
có hiệu lực quy định chi tiết hơn so với Luật hôn nhân và Gia đình năm 2000, theo đó các công trình nghiên cứu về đã cho thấy tầm nhìn rộng hơn Điển
hình như bài viết “Thụ tinh trong ống nghiệm và những vấn đề pháp lý phát
sinh” tạp chí Luật học số 02/2016 của Tiến sỹ Nguyễn Thị Lan, “Một số bất cập trong các quy định về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo của Luật Hôn nhân và gia đình 2014” Tạp chí Nhà nước và Pháp Luật số 9/2016 của Tiến
sỹ Nguyễn Huy Cương, bài đăng trên tạp chí Luật học số 1/2000 của bà
Nguyễn Thị Liên Hương với tự đề “Thẩm quyền xác định cha, mẹ cho con”, bài viết “Từ những quy định pháp luật về mang thai hộ quan niệm thế nào về
“Huyết thống” và “Mẹ”” đăng trên tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 09/2015
của ông Nguyễn Văn Lâm… Các công trình nghiên cứu này phân tích đến những thay đổi, bổ sung của quy định Pháp Luật, những quy định mang tính tích cực, những quy định còn bất cập… Tuy nhiên, lượng bài viết, công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản còn hạn chế, chưa tương xứng với các khối lượng lớn vấn đề pháp lý đặt ra Các bài viết, nghiên cứu chủ yếu tập trung vào vấn đề sinh con bằng phương pháp mang thai hộ mà ít đề cập đến sinh
Trang 9con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
Để làm rõ và sâu hơn nội dung quy định Pháp luật về xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, qua đó nhằm góp phần phát hiện những hạn chế của pháp luật cũng như những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực thi ở Việt Nam Từ đó, đề xuất, kiến nghị một số giải pháp nhằm xây dựng hành lang pháp lý vững chắc, hoàn thiện hơn, nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật ở nước ta trong giai đoạn hiện nay Đó chính là lý
do tôi lựa chọn đề tài: “Xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng
kỹ thuật hỗ trợ sinh sản theo pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam”
3 Mục đích nghiên cứu
Mục đích tổng quát: Luận văn nghiên cứu phân tích và làm rõ nội dung quy định pháp luật về vấn đề xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản Các quy định đã cụ thể, chi tiết và sát thực tiễn chưa, thuận lợi và khó khăn như thế nào Qua đó, đánh giá khả năng thực hiện Pháp luật của các quy định, kiến nghị giải pháp để hoàn thiện Pháp Luật Mục đích cụ thể: Với mục đích tổng quát như vậy, mục đích cụ thể nghiên cứu được xác định những khía cạnh sau:
- Nghiên cứu những vấn đề Lý luận khái quát chung về xác định cha,
mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản như khái niệm liên quan, điều kiện áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
- Phân tích đánh giá những quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình về xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản Thủ tục xác nhận cha, mẹ, con và giải quyết tranh chấp trong trường hợp đó
- Nghiên cứu thực trạng ở Việt Nam hiện nay để có thể đánh giá khả năng thực hiện pháp luật của các quy định pháp luật trong thực tế, phân tích
Trang 10một số vụ việc điển hình để từ đó đưa ra những giải pháp để tháo gỡ vướng mắc còn tồn tại.
3 Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận về xác định cha,
mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản theo Pháp Luật Việt Nam, thực trạng của vấn đề, những bất cập và khó khăn khi áp dụng trên thực tiễn
Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là một lĩnh vực rộng vừa liên quan đến y học vừa liên quan đến Pháp luật Tuy nhiên, trong luận văn này chỉ nghiên cứu khía cạnh pháp lý liên quan, đặc biệt chỉ nghiên cứu đến vấn đề xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
Phạm vi nghiên cứu của Luật văn là đề tài nghiên cứu toàn diện về cả lý luận và thực tiễn về xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và một số văn bản hướng dẫn liên quan đến vấn đề xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản Luật văn không đề cập đến xác định cha, mẹ, con có yếu tố nước ngoài vì vấn đề này có thể tiếp thu từ các công trình khoa học pháp lý khác
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Để đảm bảo mục đích nghiên cứu cũng như hiệu quả trong đề tài nghiên cứu, Luận văn đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản Cụ thể, phương pháp nghiên cứu chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích, so sánh, liệt kê, tổng hợp, thống kê kết hợp lý luận và thực tiễn dựa trên nền tảng là phương pháp luận, nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mac – Lênin để làm rõ đối tượng nghiên cứu đã đặt ra
Trang 115 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần làm sáng tỏ phương diện lý luận trong khoa học
pháp lý của vấn đề xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng
kỹ thuật hỗ trợ sinh sản Phân tích quy định Pháp luật và thực trạng Pháp luật đối với vấn đề này, đưa ra kiến nghị nhằm giải quyết những bất cập tồn tại và quy chế xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
Ngoài ra, những giải pháp hoàn thiện Pháp luật là cơ sở quan trọng để
các cơ quan chức năng trong phạm vi, thẩm quyền của mình sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện Pháp luật trong lĩnh vực tương ứng Bên cạnh đó, luận văn sẽ là tài
liệu tham khảo hữu ích không chỉ với đội ngũ giảng viên, sinh viên mà còn có giá trị đối với các cán bộ đang làm công tác hoạch định chính sách và xây dựng Pháp luật về xác địh cha, mẹ, con ở Việt Nam
6 Kết cấu của Luận văn
Ngoài Mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành hai chương:
Chương 1: Pháp luật Việt Nam về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
và xác định cha, mẹ con trong trường hợp đó
Chương 2: Thực tiễn xác định cha, mẹ con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật
Trang 12CHƯƠNG 1 SINH CON BẰNG KỸ THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON TRONG
TRƯỜNG HỢP ĐÓ
1.1 Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
1.1.1 Khái niệm cha, mẹ, con
Cha, mẹ, con những khái niệm có sự liên kết mật thiết với nhau bởi nó được hình thành trên cơ sở mối quan hệ cha, mẹ, con Đó là sự tổng hòa về cả sinh học, gia đình lẫn mặt pháp lý Khi tồn tại khái niệm cha, mẹ, con đồng nghĩa với sự cam kết chịu trách nhiệm về tất cả ý nghĩa xã hội và pháp lý kéo theo Khái niệm cha, mẹ, con được nghiên cứu dưới hai góc độ: góc độ sinh học – xã hội và góc độ pháp lý
Dưới góc độ sinh học – xã hội, cha, mẹ, con được định nghĩa như sau: cha, mẹ đẻ trong quan hệ với con là người trực tiếp sinh ra con, có thể có hoặc không có quan hệ huyết thống với người con; Con đẻ, trong quan hệ với cha
mẹ, là người được cha mẹ trực tiếp sinh ra, có thể có hoặc không có quan hệ huyết thống với cha, mẹ [21, tr.9]
Như vậy, đó là những khái niệm luôn cùng tồn tại, có liên hệ không thể tách rời Khái niệm cha đẻ, mẹ đẻ và con đẻ luôn gắn liền với quá trình sinh
đẻ, từ việc thụ thai, mang thai và sinh con Trước đây, khi khoa học công nghệ trong lĩnh vực y tế chưa phát triển, luôn tồn tại quan điểm cho rằng khái niệm cha, mẹ, con phải đảm bảo nguyên tắc quan hệ huyết thống trực hệ với người con và cha, mẹ đẻ phải là người trực tiếp sinh ra con đẻ trong mọi trường hợp Theo thời gian, lĩnh vực y tế ngày càng phát triển, việc tách và nhận trứng, tinh trùng và noãn kết hợp với kỹ thuật hỗ trợ sinh sản đã tạo ra nhiều thay đổi trong việc sinh con và tư duy về mặt pháp lý
Trang 13Dưới góc độ pháp lý, tư cách là cha, là mẹ, là con chỉ được chính thức thừa nhận thông quan những thủ tục pháp lý nhất đinh Vậy, cha đẻ, mẹ đẻ trong mối quan hệ với con là người trực tiếp sinh ra, có quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật Con đẻ, trong mối quan hệ với cha, mẹ là người được cha mẹ sinh ra, có quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật [21, tr.9]
Với khái niệm con được nghiên cứu với tư cách là con trong giá thú, con ngoài giá thú, con chung, con riêng Theo đó, con trong giá thú là con của những người là vợ chồng hợp pháp tức là con được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc người mẹ có thai trong thời kỳ hôn nhân thì chồng của mẹ đứa trẻ
là cha của đứa trẻ Ngoài ra, khi cha, mẹ của đứa trẻ không thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn nhưng đã được Tòa án công nhận hoặc gián tiếp công nhận bằng một bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật thì đứa trẻ đó vẫn được coi
là con trong giá thú Con ngoài giá thú là con mà cha và mẹ nó không phải là
vợ chồng hợp pháp theo quy định của Pháp luật
Khái niệm con chung và con riêng: “Con chung” của vợ chồng là con mà
vợ, chồng được xác định là cha, mẹ của người con đó “Con riêng” là con của một bên vợ, chồng trong mối quan hệ với người chồng hoặc người vợ của họ [21, tr 20] Con chung và con riêng có thể là con trong giá thú hoặc ngoài giá thú Con riêng có thể là con đẻ hoặc là con nuôi
1.1.2 Khái niệm xác định cha, mẹ, con
Theo từ điển Luật học xác định cha, mẹ cho con được hiểu là: “Định rõ một người là cha hoặc một người là mẹ cho con trên cơ sở các quy định của pháp luật” Một số tài liệu khác cho rằng xác định con cho cha, mẹ là “Định
rõ một người là con của cha hoặc của mẹ trên cơ sở các quy định của pháp luật” Ở cả hai định nghĩa này, việc xác định cha, mẹ cho con hay xác định
Trang 14con cho cha, mẹ đều dẫn đến một kết quả về mặt xã hội và pháp lý khi làm phát sinh những hậu quả pháp lý về quyền và nghĩa vụ theo Pháp Luật như nhau
Tuy vậy, mối quan hệ giữa cha, mẹ và con là mối quan hệ hai chiều và không thể tách rời, xác định cha, mẹ cho con cũng chính là xác định con cho cha, mẹ Sau khi xác định được ai là cha, mẹ hoặc ai là con cũng sẽ phát sinh những quyền và nghĩa vụ theo pháp luật như nhau Suy cho cùng xác định cha, mẹ, con là việc xác nhận mối quan hệ huyết thống giữa cha, mẹ, con Quan hệ huyết thống không chỉ là cơ sở để xác định cha, mẹ, con mà còn là
cơ sở xác định nguồn gốc, dòng họ, gia phả với những giá trị văn hóa tinh thần, đạo đức và truyền thống
Theo từ điển Tiếng Việt “xác định là qua nghiên cứu, tìm tòi, biết được
rõ ràng, chính xác”, vậy xác định cha, mẹ cho con là việc nghiên cứu, tìm tòi
để tìm ra nguồn gốc của một con người một cách rõ ràng và chính xác Như vậy dưới góc độ sinh học – xã hội: Xác định cha, mẹ, con là việc nghiên cứu, tìm kiếm nhận diện mối quan hệ huyết thống giữa hai thế hệ kế tiếp nhau thông qua sự kiện sinh đẻ [21, tr.20]
Theo từ điển Luật học, dưới góc độ sinh học – xã hội, có cái nhìn tương đối thuần túy với khái niệm xác định cha, mẹ cho con Tuy nhiên, dưới góc độ pháp lý có nhiều cách nhìn nhận khác nhau liên quan đến khái niệm xác định cha, mẹ cho con
Với khía cạnh là một chế định pháp lý, xác định cha, mẹ, con là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành, quy định về quyền và nghĩa
vụ của các chủ thể, căn cứ và thủ tục pháp lý nhằm nhận diện một người cha, một người mẹ, một người con có mối quan hệ huyết thống trực hệ [21, tr 39] Các quy phạm pháp luật điều chỉnh việc xác định cha, mẹ, con luôn quy
Trang 15định quyền và nghĩa vụ tương ứng giữa các chủ thể, đảm bảo quyền xác định cha, mẹ, con cho mỗi chủ thể, cũng như quy định nghĩa vụ của các chủ thể phải tôn trọng quyền xác định cha, mẹ, con của người khác; các quy phạm điều chỉnh việc xác định cha, mẹ, con thường gắn bó mật thiết với quy phạm đạo đức, phong tục tập quán Khi thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình trong việc xác định cha, mẹ con các chủ thể luôn phải hướng tới vì lợi ích chung của gia đình, đảm bảo việc xác định cha, mẹ, con theo đúng nghĩa của nó Với khía cạnh là một quan hệ pháp luật: Xác định cha, mẹ, con là các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tìm kiếm, nhận diện tư cách cha, mẹ, con về mặt huyết thống của các chủ thể được các quy phạm pháp luật điều chỉnh [21, tr.26]
Căn cứ vào tính chất của quan hệ pháp luật, việc xác định cha, mẹ, con căn cứ vào ý chí của các chủ thể bao gồm quan hệ tự nguyện nhận cha, mẹ, con được tiến hành tại cơ quan hành chính nhà nước và quan hệ tranh chấp xác định cha, mẹ, con được tiến hành tại cơ quan tư pháp; căn cứ vào hôn nhân của cha, mẹ, khi cha mẹ có hôn nhân hợp pháp và khi cha mẹ không có hôn nhân hợp pháp Ở mỗi cách phân loại, mối quan hệ về xác định cha, mẹ, con đều có những điểm tương đồng và khác biệt nhất định Mỗi chủ thể, tùy theo tư cách của mình trong mối quan hệ, có quyền và nghĩa vụ nhất định để nhận diện đúng tư cách cha, mẹ, con
Với khía cạnh là một sự kiện pháp lý: Xác định cha, mẹ, con là sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật giữa cha, mẹ và con về mặt huyết thống Sự kiện sinh đẻ là hành vi sinh con của người phụ nữ và hành
vi này phụ thuộc rất nhiều vào cơ chế phát triển tự nhiên của bào thai, nhiều khi nằm ngoài sự kiểm soát của người mẹ Vì vậy, sự kiện sinh đẻ là
sự biến pháp lý tương đối Tuy nhiên, sự kiện sinh đẻ chỉ là một trong
Trang 16những căn cứ để xác định tư cách cha, mẹ, con Sự kiện sinh đẻ phải đi liền với một loạt các hành vi pháp lý khác mới đủ cơ sở để xác định quan hệ pháp luật giữa cha, mẹ, con như hành vi đăng ký khai sinh, một quyết định hay một bản án có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận hoặc xác định tư cách cha, mẹ, con
Tóm lại xác định cha, mẹ, con là khái niệm mang tình khái quát cao, thể hiện mối liên hệ chặt chẽ giữa cha và con, mẹ và con trên cơ sở huyết thống
và sự kiện sinh đẻ Đây cũng là cơ sở quan trọng để các chủ thể thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của Pháp Luật về kết hôn, ly hôn, nuôi con, thừa kế, giải quyết vụ việc có liên quan đến tố tụng Dân sự
1.1.3 Một số kỹ thuật hỗ trợ sinh sản cơ bản
1.1.3.1 Thụ tinh nhân tạo (IUI)
Thụ tinh nhân tạo (có thuật ngữ trong tiếng Anh là Intrauterine Insemination - IUI) là thủ thuật bơm tinh trùng của chồng hoặc tinh trùng của người cho tinh trùng vào tử cung của người phụ nữ có nhu cầu sinh con để tạo phôi Tham khảo ý kiến của các chuyên gia, thụ tinh nhân tạo hay còn gọi là bơm tinh trùng vào buồng tử cung là một trong những biện pháp hỗ trợ sinh sản hiệu quả cao hiện nay và trở thành lựa chọn của rất nhiều cặp vợ chồng vô sinh hiếm muộn [13]
Kỹ thuật thụ tinh nhân tạo là phương pháp kỹ thuật hỗ trợ sinh sản đưa
số lượng tinh trùng đã lọc rửa, chọn lọc vào tử cung, theo nguyên tắc làm tăng
số lượng tinh trùng tiếp cận đoạn xa vòi trứng, nơi mà tinh trùng gặp noãn và diễn ra quá trình thụ thai thành phôi Đây là kỹ thuật tương đối đơn giản, chi phí không cao, có thể áp dụng rộng rãi Kỹ thuật hỗ trợ sinh sản này nhằm hỗ trợ cho những cặp vợ chồng hiếm muộn có thể có con, giúp tăng khả năng đậu thai cho những cặp vợ chồng bị hiếm muộn do tinh trùng yếu, ít; cổ tử
Trang 17cung yếu; lạc nội mạc tử cung nhẹ… hoặc vô sinh hiếm muộn không rõ nguyên nhân
1.1.3.2 Thụ tinh trong ống nghiệm (IVF)
Thụ tinh trong ống nghiệm (có thuật ngữ trong tiếng Anh là In Vitro
fertilization – IVF) Theo Khoản 1, Điều 2, Nghị định 10/2015/NĐ-CP của Chính Phủ quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và
điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo “Thụ tinh trong ống nghiệm là
sự kết hợp giữa noãn và tinh trùng trong ống nghiệm để tạo thành phôi”
Kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm là kỹ thuật hỗ trợ sinh sản đưa tinh trùng sau khi lọc rửa, chọn lọc đem kết hợp với noãn ở bên ngoài cơ thể trong dụng cụ y tế riêng biệt thay vì đưa tinh trùng vào vòi trứng của người phụ nữ Hay nói cách khác, phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm là phương pháp
mà trứng và tinh trùng được thụ tinh bên ngoài cổ tử cung của người phụ nữ Sau đó phôi hình thành và được chuyển trở lại buồng tử cung Quá trình phát triển phôi và thai hoàn toàn diễn ra bình thường trong tử cung người mang thai Đây là kỹ thuật điều trị vô sinh – hiếm muộn trong các trường hợp: Tắc nghẽn ống dẫn trứng; lạc nội mạc tử cung; tinh trùng ít, yếu, dị dạng; xin trứng… đây cũng là biện pháp được nhiều cặp vợ chồng vô sinh, phụ nữ độc thân tìm đến và mang lại hiệu quả tương đối cao
1.1.4 Khái niệm sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
Để đưa ra khái niệm sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, cần hiểu rõ các khái niệm liên quan được tại Điều 2 Nghị định 10/2015/NĐ-CP Quy định
về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai
hộ vì mục đích nhân đạo:
- Thụ tinh trong ống nghiệm là sự kết hợp giữa noãn và tinh trùng trong ống nghiệm để tạo thành phôi;
Trang 18- Vô sinh là tình trạng vợ chồng sau một năm chung sống có quan hệ tình dục trung bình 2 - 3 lần/tuần, không sử dụng biện pháp tránh thai mà người
vợ vẫn không có thai;
- Noãn là giao tử của nữ;
- Tinh trùng là giao tử của nam;
- Phôi là sản phẩm của quá trình kết hợp giữa noãn và tinh trùng;
- Phụ nữ độc thân là phụ nữ không có quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật;
- Người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai
hộ bao gồm: Anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; anh, chị, em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì của họ; anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha với họ
Dưới góc độ y học, có nhiều định nghĩa kỹ thuật hỗ trợ sinh sản Các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là những kỹ thuật kết hợp giữa y học và sinh học, can thiệp vào các bước trong sinh lý sinh sản tự nhiên nhằm giúp làm tăng khả năng sinh sản [16]Hoặc các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là các phương pháp giúp
đỡ và điều trị cho các cặp vợ chồng hiếm muộn, vô sinh bằng các thủ thuật y học với sự can thiệp của cơ sở y tế có thẩm quyền
Theo định nghĩa từ Đạo luật về Chứng chỉ và Mức thành công của các phòng Y tế Hỗ trợ sinh sản (Hoa Kỳ), từ kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (tiếng Anh: Assisted Reproductive Technology A.R.T) bao gồm tất cả các phương pháp chữa trị chứng vô sinh trong đó có cả trứng lẫn tinh trùng đều được sử dụng [21, tr 20]
Trang 19Tuy nhiên, các định nghĩa nêu trên bộc lộ nhiều tồn tại thiếu sót vì các
kỹ thuật hỗ trợ sinh sản còn được sử dụng để giúp những người phụ nữ sống độc thân, mong muốn có con mà không thuộc trường hợp hiếm muộn hay vô sinh Nói tóm lại, có thể hiểu sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
là việc sinh con thông qua biện pháp áp dụng những kỹ thuật y sinh học bởi các cơ quan y tế có thẩm quyền để giúp các cặp vợ chồng hiếm muộn – vô sinh hoặc những người phụ nữ sống độc thân thực hiện được mong muốn
có con của mình
Dưới góc độ pháp lý, khái niệm sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản được quy định tại Khoản 21 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014:
“Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là việc sinh con bằng kỹ thuật thụ
tinh nhân tạo hoặc thụ tinh trong ống nghiệm”
Việc sử dụng phương pháp liệt kê để định nghĩa một khái niệm không làm rõ được thế nào là “sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản” cũng chưa nêu
ra những đặc điểm, đặc trưng cụ thể của khái niệm này, dẫn tới nhiều thiếu sót
và không nhìn nhận được bản chất của vấn đề
Dựa vào những đặc trưng của sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản dưới góc độ pháp lý, ta có thể được định nghĩa như sau: Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là việc sinh con có sự can thiệp của các kỹ thuật y sinh học công nghệ cao trong trường hợp quá trình mang thai tự nhiên của con người bị hạn chế bởi những nguyên nhân khác nhau, được tiến hành trên cơ
sở quy định của Pháp luật nhằm đảm bảo việc thực hiện các quyền và nghĩa
Trang 20đạo là việc một người phụ nữ tự nguyện, không vì mục đích thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, bằng việc lấy noãn của người
vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai
và sinh con.”
1.1.5 Điều kiện áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
1.1.5.1 Điều kiện về việc cho tinh trùng và cho noãn
Liên quan đến các trường hợp cặp vợ chồng không thể tạo thành phôi do bệnh tật hoặc khuyết tật về mặt sinh học hoặc trường hợp người phụ nữ độc thân muốn sinh con, việc thụ tinh nhân tạo và thụ tinh trong ống nghiệm có thể sử dụng tinh trùng, noãn của người cho tinh trùng, cho noãn Việc cho tinh trùng và cho noãn cũng đặt ra các điều kiện nhất định Nghị định 10/2015/NĐ-CP của Chính Phủ quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo đặt ra các điều kiện về việc cho tinh trùng, cho noãn
Người cho tinh trùng, cho noãn được khám và làm các xét nghiệm để xác định: Không bị bệnh di truyền ảnh hưởng đến thế hệ sau; không bị mắc bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình; không bị nhiễm HIV Quy định này đảm bảo cho con được sinh ra khỏe mạnh, và các ảnh hưởng khác liên quan đến mặt di truyền
Việc cho tinh trùng, cho noãn là sự tự nguyện, điều này được quy định tại Điều 3 Nghị định 10/2015/NĐ-CP của Chính Phủ quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, theo đó người cho tinh trùng, cho noãn là chủ thể tiến hành theo nguyện vọng cá nhân theo nguyên tắc tự quyết định không bị áp đặt,
Trang 21cưỡng ép, đe dọa, lừa dối, chịu sự tác động từ người khác Sự tự do cam kết, thỏa thuận được pháp luật bảo đảm thực hiện khi những cam kết, thỏa thuận
đó không vi phạm điều cấm của Pháp luật và không trái đạo đức xã hội Và việc cho tinh trùng, cho noãn chỉ được tiến hành tại một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được Bộ Y tế công nhận được thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm Đó là sự quản lý nhà nước về vấn đề sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, đồng thời đảm bảo về mặt y tế, tránh dẫn đến những hậu quả không mong muốn khi tiến hành tại các cơ sở y tế không đảm bảo cơ sở vật chất và nhân lực
Nguyên tắc vô danh được áp dụng đối với người cho tinh trùng, cho noãn Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không được cung cấp tên, tuổi, địa chỉ và hình ảnh của người cho tinh trùng Ngoài ra, người cho tinh trùng, cho noãn cũng được đảm bảo giữ bí mật về tình trạng sức khỏe, các thông tin riêng tư khác Bảo mật thông tin là nghĩa vụ bắt buộc đối với các cơ sở y tế thực hiện các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản Nguyên tắc này đảm bảo không gây áp lực không cần thiết về cả tinh thần lẫn vật chất từ phía người cho tinh trùng, cho noãn Quy định này cũng bảo đảm ổn định các mối quan hệ xã hội, tránh các trường hợp người cho tinh trùng, cho noãn đòi lại con Tuy nhiên, vẫn phải lưu ý một
số đặc điểm, yếu tố chủng tộc để tránh trường hợp các con sau này của người được sinh ra kết hôn cùng huyết thống
Tinh trùng, noãn của người cho chỉ được sử dụng cho một người, nếu không sinh con thành công mới sử dụng cho người khác Trường hợp sinh con thành công thì tinh trùng, noãn chưa sử dụng hết phải được hủy hoặc hiến tặng cho cơ sở làm nghiên cứu khoa học Điều này hạn chế tình trạng những đứa trẻ cùng huyết thống trực hệ nhưng lại có bố mẹ pháp lý khác nhau
Trang 221.1.5.2 Điều kiện về việc nhận tinh trùng, nhận noãn và nhận phôi
Song song với điều kiện về việc cho tinh trùng, cho noãn, Nghị định 10/2015/NĐ-CP của Chính Phủ quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo cũng đặt ra các điều kiện về việc nhận tinh trùng, nhận noãn, nhận phôi
Người được phép nhận tinh trùng phải là trường hợp người vợ trong cặp
vợ chồng đang điều trị vô sinh mà nguyên nhân vô sinh là do người chồng hoặc trường hợp người phụ nữ độc thân có nhu cầu sinh con và noãn của họ bảo đảm chất lượng để thụ thai Khái niệm Vô sinh được quy định tại Điều 2 Nghị định 10/2015/NĐ-CP của Chính Phủ quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
theo đó “vô sinh” được hiểu là tình trạng vợ chồng sau một năm chung sống
có quan hệ tình dục trung bình 2 - 3 lần/tuần, không sử dụng biện pháp tránh thai mà người vợ vẫn không có thai” Vợ chồng đang điều trị vô sinh phải là
vợ chồng hợp pháp, đó là cơ sở pháp lý ràng buộc trách nhiệm giữa các bên trong quá trình sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và những đứa con trong tương lai Trường hợp nhận tinh trùng là người phụ nữ độc thân có nhu cầu sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì không nhất thiết phải đáp ứng điều kiện là người bị vô sinh Tuy nhiên chỉ có thể được nhận tinh trùng nếu noãn của họ đảm bảo chất lượng để thụ thai Ngoài nhận tinh trùng, người phụ nữ độc thân cũng có thể nhận phôi nếu họ không có noãn hoặc noãn không đảm bảo chất lượng để thụ thai
Người nhận noãn phải là người Việt Nam hoặc người gốc Việt Nam và
là người vợ trong cặp vợ chồng đang điều trị vô sinh mà nguyên nhân vô sinh
là do người vợ không có noãn hoặc noãn không bảo đảm chất lượng để thụ thai Như vậy, cặp vợ chồng vô sinh người nước ngoài, người phụ nữ độc thân
Trang 23là người nước ngoài chỉ được nhận tinh trùng mà không được nhận noãn Tuy còn hạn chế nhưng đó cũng là quy định sửa đổi so với trước đây (không cho phép thực hiện cho, nhận noãn; cho, nhận tinh trùng; cho, nhận phôi đối với người nước ngoài) điều đó đã mở rộng đối tượng áp dụng của Luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể là người nước ngoài
Người vợ trong cặp vợ chồng đang điều trị vô sinh chỉ được nhận phôi trong trường hợp nguyên nhân vô sinh là do cả người vợ và người chồng hoặc
vợ chồng đã thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm nhưng bị thất bại Trường hợp chỉ noãn của người vợ hoặc tinh trùng của người chồng không có hoặc không đảm bảo chất lượng thụ thai thì chỉ có thể nhận tinh trùng hoặc nhận noãn tương ứng với vấn đề sức khỏe sinh sản gặp phải
Người nhận tinh trùng, nhận noãn, nhận phôi phải có đủ sức khỏe để thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, mang thai và sinh con; không đang mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục, nhiễm HIV, bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A, B; không bị bệnh di truyền ảnh hưởng đến thế hệ sau, không bị mắc bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình Quy định này là cần thiết nhằm đảm bảo sức khỏe cho cả người nhận tinh trùng, nhận noãn, nhận phôi và cho đứa trẻ trong quá trình thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản đến khi đứa trẻ được sinh ra và ảnh hưởng đến mặt di truyền về sau
Tương tự như nguyên tắc vô danh trong việc cho tinh trùng, cho noãn, việc nhận tinh trùng, nhận phôi tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không được cung cấp tên, tuổi, địa chỉ và hình ảnh của người nhận tinh trùng, nhận phôi Nguyên tắc vô danh trong việc cho và nhận giao tử cũng như nhận phôi
có mối liên hệ mật thiết với việc xác định quan hệ cha, mẹ con cái Luật pháp
đã thiết lập một kiểu quan hệ cha mẹ con cái mang tính xã hội dựa trên mong
Trang 24muốn riêng Nguyên tắc vô danh cho phép đơn giản hóa các thiết lập như vậy
Dĩ nhiên cũng có một vấn đề đặt ra là vấn đề quyền của đứa trẻ được biết đến nguồn gốc của mình [23, tr 17]
Mặt khác, theo Điều 6 Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006, có quy định về Quyền hiến, nhận tinh trùng, noãn,
phôi trong thụ tinh nhân tạo “Nam từ đủ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ đủ mười
tám tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ có quyền hiến, nhận tinh trùng, noãn, phôi trong thụ tinh nhân tạo theo quy định của pháp luật” Với
quy định này người cho, nhận tinh trùng, noãn, phôi, phải là cá nhân có đầy
đủ năng lực hành vi dân sự thì có quyền thể hiện ý chí trong việc hiến tinh trùng Quy định về điều kiện của chủ thể trong việc cho tinh trùng, cho noãn, nhận tinh trùng, nhận noãn, nhận phôi đã loại trừ những cá nhân không có đầy
đủ năng lực hành vi dân sự, bị mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, có năng lực hành vi dân sự hạn chế Thêm vào đó người cho và nhận còn phải đạt độ tuổi tối thiểu theo quy định của pháp luật đối với nam từ đủ 20 tuổi mới có quyền hiến tinh trùng
1.1.5.3 Một số nguyên t c áp dụng trong trường hợp người gửi tinh trùng vào ngân hàng tinh trùng, người nhận tinh trùng
Dù pháp luật hiện hành không quy định cụ thể đối với trường hợp người
có nguyện vọng lưu giữ tinh trùng cá nhân Nhưng có thể hiểu, đó phải là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ có toàn quyền trong việc xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự vì lợi ích của mình hoặc vì lợi ích của chủ thể khác và có nghĩa vụ thực hiện các giao dịch mà mình xác lập Như vậy, người từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ thì có quyền lưu giữ tinh trùng của mình
Trang 25Tuy nhiên, nghiên cứu quy định tại khoản 4 Điều 21 Bộ luật Dân sự
năm 2015: “Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình
xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý” Việc một người tự
nguyện lưu giữ tinh trùng của chính mình tại ngân hàng tinh trùng, là “giao dịch” hoàn toàn mang tính tự nguyện, không vi phạm vào điều cấm của pháp luật, mặc dù ở lứa tuổi từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi pháp luật chưa công nhận họ
có đầy đủ sức khỏe sinh sản, nhưng thực tiễn cho thấy, nhiều trường hợp người nam, cơ thể có sự phát triển sớm nên việc lấy tinh trùng ra khỏi cơ thể
họ là điều không khó Hơn nữa, họ muốn lưu giữ tinh trùng của chính mình chỉ để đề phòng bất trắc xảy ra mà thôi
1.1.6 Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
1.1.6.1 Điều kiện đối với các bên chủ thể trong việc mang thai hộ
* Điều kiện đối với bên nhờ mang thai hộ
Điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được quy định tại Điều 95 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và được hướng dẫn tại Nghị định 10/2015/NĐ-CP của Chính Phủ quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo Không phải người nào cũng có quyền nhờ mang thai hộ và không phải người nào cũng quyền nhận mang thai hộ Theo Pháp luật Việt Nam, nhóm chủ thể có quyền nhờ mang thai hộ chỉ có hai trường hợp
Một là do những dị tật của tử cung, mặc dù trứng vẫn khỏe mạnh nhưng
có dị tật về tử cung không thể mang thai và sinh sản tự nhiên được Những khiếm khuyết về tử cung có thể khiến nhóm người này không thể mang thai Tất cả các bất thường ở tử cung đều có nguy cơ cao dẫn đến khó thụ thai tự
Trang 26nhiên, sảy thai, thai nhi chậm phát triển, sinh non… Ngoài ra, khi mang thai, các bất thường ở tử cung còn có thể khiến bạn bị vỡ ối non hay có những cơn đau quặn Việc có các bất thường về tử cung thường khiến cổ tử cung của người phụ nữ gặp nhiều áp lực và có thể không đủ sức để giữ thai nhi Trong thai kỳ, nếu cổ tử cung mở quá sớm, có thể bị sảy thai hay chuyển dạ sớm Hai là trường hợp người có đầy đủ cả những yếu tố trên nhưng sức khỏe quá yếu thậm chí đến mức có thể làm chết cả mẹ lẫn con Sức khỏe sinh sản rất quan trọng trong quá trình mang thai, trong quá trình mang thai, cơ thể người phụ nữ thay đổi rất nhiều về cả hình dáng, nội tiết, hóc-môn… nếu sức khỏe người phụ nữ không đảm bảo sẽ không thể thích nghi được sự thai đổi này Nếu tình trạng xấu kéo dài ở người phụ nữ mang thai sẽ nguy hiểm đến tính mang người mẹ thậm chí sẽ để lại biến chứng nguy hiểm về sau Trên thực tế cũng đã có nhiều trường hợp bà mẹ mong mỏi có một đứa con đến mức hy sinh cả sức khỏe của mình, cuối cùng cả mẹ và con đều chết
Ngay cả khi không có khả năng mang thai thì cả hai trường hợp này cũng không thể được phép áp dụng biện pháp mang thai hộ một cách tùy tiện Những trường hợp này cần phải có một hội đồng y khoa tiến hành xác nhận, hội đồng sẽ tiến hành cuộc họp y khoa và đi đến kết luận bằng văn bản hành chính rằng cặp vợ chồng này không có khả năng mang thai tự nhiên được, thì lúc này các cặp vợ chồng mới được tiếp cận kỹ thuật mang thai hộ
*Điều kiện đối với bên mang thai hộ
Thứ nhất, người mang thai hộ phải là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng người nhờ mang thai hộ (Điểm a, Khoản 3, Điều 95 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014) Nhóm người thân thích được quy định
cụ thể tại khoản 7, Điều 2 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP của Chính Phủ quy
Trang 27định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo Điều kiện này đảm bảo mục đích nhân đạo của việc mang thai hộ có thể thực hiện nghiêm túc Nếu có nhiều người thân trong gia đình đồng ý giúp đỡ mang thai hộ thì cũng chỉ được phép nhờ một trong
số những người đó mang thai hộ và cũng chỉ được phép thực hiện mang thai
hộ một lần (Điểm b, khoản 3, Điều 95 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014) Mang thai hộ một lần có nhiều cách hiểu, một số học giả cho rằng, mang thai
hộ một lần là phải hoàn thành việc mang thai đó, tức là sinh con và đứa trẻ còn sống Một số ý kiến khác cho rằng, mang thai hộ một lần là chỉ cần mang bào thai trong cơ thể mà không quan tâm đến việc mang thai đó có hoàn thành hay không
Thứ hai, người mang thai hộ phải ở độ tuổi phù hợp và có xác nhận của
tổ chức y tế có thẩm quyền về khả năng mang thai hộ (Điểm c, Khoản 3, Điều
95 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014) Độ tuổi phù hợp được khoanh vùng là từ 20 đến 35 tuổi, có đủ sức khỏe thụ thai, không mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS, bệnh truyền nhiễm hay các bệnh di truyền khác và có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền Pháp luật quy định người mang thai hộ phải là người đã từng sinh con, bởi những người đã từng sinh đẻ mới có đủ hiểu biết, kinh nghiệm thực tế về vấn đề sinh sản Đây
là điều kiện nhằm đảm bảo cho sự an toàn nhất về mặt sức khỏe cho người mang thai hộ, cho thai nhi, cho trẻ sinh ra từ việc mang thai hộ
Thứ ba, người mang thai hộ phải đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý (điểm đ, khoản 3, Điều 95 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014) Ý nghĩa của quy định là để các nhà tư vấn thẩm định về sự chuẩn bị và điều kiện của các bên, tìm hiểu hoàn cảnh và sự chín chắn cho quyết định này của người mang thai hộ cũng như người nhờ mang thai hộ, giúp họ hiểu được những vấn
đề có thể nảy sinh trong suốt quá trình Cần phải ý thức rõ được về các vấn đề
Trang 28y tế, các nguy cơ có thể sảy ra như sảy thai, thai ngoài tử cung, khả năng phải
mổ lấy thai, đa thai… đến các vấn đề pháp lý khi xác định cha, mẹ, con trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể; đến các vấn đề về tâm lý như tác động tâm lý tới con ruột của mình, cảm giác mất mát, mặc cảm khi trao lại con cho cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ và chỉ thực hiện không vì mục đích lợi nhuận
1.1.6.2 Quyền và nghĩa vụ của các bên trong việc mang thai hộ
* Quyền và nghĩa vụ của bên mang thai hộ
Việc mang thai hộ có thể phát sinh những vấn đề ảnh hưởng đến sự an toàn của đứa trẻ, người mang thai hộ cũng như các vấn đề liên quan khác Chính vì vậy, Điều 97 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định Quyền
và nghĩa vụ của bên mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
Người mang thai hộ, chồng của người mang thai hộ có quyền, nghĩa vụ như cha mẹ trong việc chăm sóc sức khỏe sinh sản và chăm sóc, nuôi dưỡng con cho đến thời điểm giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ Thời điểm hình thành bào thai, mang thai và mới sinh ra rất quan trọng trong việc hình thành thể chất của đứa trẻ, việc chăm sóc trong thời gian này là vô cùng quan trọng, ảnh hưởng lớn đến sức khỏe, tinh thần của đứa trẻ sau này Giai đoạn này đứa trẻ hoàn toàn phụ thuộc vào sự chăm sóc, nuôi dưỡng của bên mang thai hộ nên vợ, chồng bên mang thai hộ có nghĩa vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản và nuôi dưỡng đứa trẻ khi đứa trẻ được trao lại cho bên nhờ mang thai hộ Quy định này đảm bảo sự phát triển tốt nhất của bào thai và đứa trẻ sinh ra nhưng chưa giao cho bên nhờ mang thai hộ Tuy nhiên, chính vì sự chăm sóc, nuôi dưỡng đứa trẻ, vợ chồng bên mang thai hộ có tình cảm với đứa trẻ không muốn giao cho cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ nên nhà làm Luật cũng đã
Trang 29thêm quy định “phải giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ” tại Khoản 1
Điều 97 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014
Người mang thai hộ có nghĩa vụ tuân thủ quy định về thăm khám, các quy trình sàng lọc để phát hiện, điều trị các bất thường, dị tật của bào thai theo quy định của Bộ Y tế Bên mang thai hộ có quyền yêu cầu bên nhờ mang thai hộ thực hiện việc hỗ trợ, chăm sóc sức khỏe sinh sản Trường hợp liên quan đến sức khỏe, tính mạng của bản thân, bào thai, người mang thai hộ có quyền quyết định việc tiếp tục hay không tiếp tục mang thai phù hợp với quy định của Pháp luật Đây là quy định cần thiết đảm bảo cho sức khỏe của bên mang thai hộ và sự an toàn, phát triển toàn diện của thai nhi
Người mang thai hộ được hưởng chế độ thai sản theo quy định của Pháp luật về lao động và bảo hiểm xã hội cho đến thời điểm giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ Trong trường hợp kể từ ngày sinh đến thời điểm giao đứa trẻ mà thời gian hưởng chế độ thai sản chưa đủ 60 ngày thì người mang thai
hộ vẫn được hưởng chế độ thai sản cho đến khi đủ 60 ngày Việc sinh con trong trường hợp mang thai hộ không tính vào số con theo chính sách dân số
và kế hoạch hóa gia đình
Theo Nghị định 115/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một
số điều của luật bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc, đã quy định tương đối chi tiết về chế độ thai sản trong trường hợp mang thai hộ Trong đó, thời gian nghỉ việc để đi khám thai 5 lần, mỗi lần 1 ngày; trường hợp ở xa cơ
sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc người mang thai có bệnh lý hoặc thai không bình thường thì được nghỉ 2 ngày cho mỗi lần khám thai Khi sảy thai, nạo, hút thai, thai chết lưu hoặc phá thai bệnh lý thì người mang thai hộ được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền Thời gian nghỉ việc tối đa là 10 ngày nếu thai dưới 05 tuần tuổi;
Trang 3020 ngày nếu thai từ 05 tuần tuổi đến dưới 13 tuần tuổi; 40 ngày nếu thai từ 13 tuần tuổi đến dưới 25 tuần tuổi; 50 ngày nếu thai từ 25 tuần tuổi trở lên Tại thời điểm sinh con, lao động nữ mang thai hộ có đủ điều kiện đóng bảo hiểm
xã hội từ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh thì được: hưởng trợ cấp một lần cho mỗi con bằng 2 lần mức lương cơ sở tại tháng mà người đó sinh… là những chính sách của Nhà nước đảm bảo quyền lợi của người phụ nữ trong thời kỳ mang thai kể cả trường hợp mang thai hộ Điều này tạo điều kiện chăm sóc sức khỏe cho người mang thai và đứa trẻ, đảm bảo
sự an toàn, phát triển của bào thai và đứa trẻ sau sinh
Trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ từ chối nhận con thì bên mang thai hộ có quyền yêu cầu Tòa án buộc bên nhờ mang thai hộ nhận con Xuất phát từ sự mong muốn có con của cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ cùng với sự đồng ý trên nguyên tắc tự nguyện của cặp vợ chồng mang thai hộ mà việc mang thai hộ mới được tiến hành Đây là hành lang pháp lý quan trọng khi có tranh chấp xảy ra, tuy nhiên trong thời gian trước khi có bản án hoặc quyết định của Tòa án thì bên mang thai hộ phải chăm sóc, yêu thương đứa trẻ như con của mình
* Quyền và nghĩa vụ của bên nhờ mang thai hộ
Tương ứng với quyền và nghĩa vụ của bên mang thai hộ thì bên nhờ
mang thai hộ cũng có quyền và nghĩa vụ trong việc thực hiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo Tại điều 98 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 đã quy định
về quyền và nghĩa vụ đối với bên nhờ mang thai hộ
Quyền, nghĩa vụ của bên nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo đối với con phát sinh kể từ thời điểm con được sinh ra Người mẹ nhờ mang thai hộ được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về lao động và bảo hiểm xã hội từ thời điểm nhận con cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi Luật Bảo
Trang 31hiểm xã hội năm 2014 và Nghị định 115/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của luật bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc
đã quy định chi tiết về chế độ thai sản của người mẹ nhờ mang thai hộ Chế
độ thai sản lúc này sẽ tùy thuộc vào thời điểm bên mang thai hộ giao lại đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ Khi đứa trẻ chưa đủ 6 tháng tuổi thì người mẹ nhờ mang thai hộ sẽ được hưởng chế độ thai sản cho đến khi đứa trẻ đủ 6 tháng tuổi, tuy nhiên nếu đứa trẻ được giao sau 6 tháng tuổi thì người mẹ sẽ không được hưởng chế độ thai sản Quyền hưởng chế độ thai sản của bên mang nhờ mang thai hộ nhằm đảm bảo thời gian chăm sóc con kể cả khi bên mang thai hộ chưa giao con cho bản thân Từ đó người mẹ có thể đảm bảo thời gian, sức khỏe và tinh thần để nuôi dậy trẻ, chăm lo cho trẻ khi đứa trẻ còn trong thời gian cần được chăm sóc, bảo vệ nhất
Bên nhờ mang thai hộ không được từ chối nhận con Trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ chậm nhận con hoặc vi phạm nghĩa vụ về nuôi dưỡng, chăm sóc con thì phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con theo quy định của Luật này và bị xử lý theo quy định của pháp luật có liên quan Việc mang thai hộ
có thể coi là “hợp đồng dân sự” đặc biệt, vì trong đó bên nhờ mang thai không được đặt điều kiện về “nội dung chủ yếu” như giới tính, trọng lượng, sức khỏe sau sinh và các điều kiện khác Bên nhờ mang thai hộ không được từ chối thực hiện các nghĩa vụ bao gồm cả nghĩa vụ nhận con với bất kỳ lý do gì
Họ phải thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình đối với đứa trẻ kể từ thời điểm đứa trẻ sinh ra Khi hình thành bào thai, các quyền và nghĩa vụ của đửa trẻ hầu như chưa hình thành, tuy nhiên có trường hợp ngoại lệ theo Pháp Luật về thừa kế Trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ chết thì con được hưởng thừa kế theo quy định của pháp luật đối với di sản của bên nhờ mang thai hộ
Trang 32Trong trường hợp bên mang thai hộ từ chối giao con thì bên nhờ mang thai hộ có quyền yêu cầu Tòa án buộc bên mang thai hộ giao con Việc mang thai đứa trẻ dù không cùng huyết thống Tuy nhiên, với một người “mang nặng, đẻ đau”, trải qua khó khăn, sẽ có những cảm xúc gắn kết thiêng liêng như con của mình Vì tình cảm sâu sắc mà sau khi sinh đứa trẻ, bên mang thai
hộ không muốn giao lại đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ Để đảm mục đích ban đầu, phù hợp với ý chí của các bên từ thời điểm bên nhờ mang thai hộ đề nghị bên mang thai hộ, Pháp luật có quy định bên mang thai hộ phải giao lại đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ và trường hợp bên mang thai hộ vi phạm nghĩa vụ giao đứa trẻ thì bên nhờ mang thai hộ có quyền yêu cầu Toà án buộc bên mang thai hộ phải giao đứa trẻ Dù việc giao con trên thực tế là vấn đề khá nhạy cảm và phức tạp, tuy nhiên nhưng quy định nêu trên cho thấy sự bảo đảm của Pháp luật
1.2 Nội dung pháp luật Việt Nam về xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
1.2.1 Xác định cha, mẹ, con trong trường hợp người phụ nữ độc thân, cặp
vợ chồng vô sinh mang thai cho mình
1.2.1.1 Xác định cha, mẹ, con giữa cặp vợ chồng vô sinh và đứa trẻ
Do tính chất đặc thù trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ
sinh sản mà việc xác định cha, mẹ, con có nhiều điểm khác với việc xác định cha, mẹ, con theo quá trình sinh con tự nhiên Khi thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản cha mẹ pháp lý và cha mẹ sinh học của đứa trẻ là không đồng nhất Việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản phải được tuân theo quy định tại Điều 93 Luật Hôn nhân
và Gia đình năm 2014 và các văn bản pháp lý liên quan
Trang 33Theo quy định tại khoản 1 Điều 93 Luật Hôn nhân và Gia đình năm
2014: “Trường hợp người vợ sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì việc
xác định cha, mẹ được áp dụng theo quy định tại Điều 88 của Luật này” Đối
chiếu với quy định tại Điều 88 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, việc xác định cha, mẹ trong trường hợp này căn cứ vào thời kỳ hôn nhân của cặp vợ chồng, đây là căn cứ xác định cha, mẹ, con dựa trên nguyên tắc suy đoán pháp
lý Để đảm bảo nguyên tắc tự nguyện, người vợ trong cặp vợ chồng vô sinh được mặc nhiên xác định là mẹ của đứa trẻ trong mọi trường hợp, kể cả khi người mẹ là người nhận tinh trùng, nhận noãn hay nhận phôi của người khác
và người chồng hợp pháp của người mẹ đó cũng chính là cha đứa trẻ, ngay kể
cả chồng không phải là người cho tinh trùng
Bởi điều kiện đặt ra đối với cặp vợ chồng vô sinh khi thực hiện kỹ thuật
hỗ trợ sinh sản phải là vợ chồng hợp pháp Cặp vợ chồng vô sinh phải thể hiện ý chí tự nguyện ngay từ thời điểm bắt đầu thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản Điều này ràng buộc trách nhiệm pháp lý đối với cặp vợ chồng vô sinh và đứa trẻ được sinh ra Vì vậy, những căn cứ sự thừa nhận của cha, mẹ trong trường hợp con sinh ra trước ngày vợ, chồng đăng ký kết hôn
và được vợ, chồng thừa nhận là con chung sẽ không được áp dụng đối với trường hợp con sinh ra bằng hỗ trợ kỹ thuật sinh sản
Căn cứ vào sự kiện sinh đẻ của người vợ trong cặp vợ chồng vô sinh Người vợ trong cặp vợ chồng vô sinh là người thực hiện toàn bộ quá trình sinh đẻ từ khi thụ thai cho tới lúc sinh con và đứa con còn sống Con sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con
do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân tức là con chung của vợ chồng Điều này cũng được áp dụng đối với vợ chồng vô sinh thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản Theo nhiều tài liệu y khoa cho thấy rằng thời kỳ thai nghén tối
Trang 34thiểu là 200 ngày và tối đa là khoảng 290 ngày Pháp Luật đã gián tiếp thừa nhận thời gian mang thai tối đa là 300 ngày, đây là quy định tương đối hợp lý
về cả mặt khoa học và thực tế trong các trường hợp sinh thông thường Tuy nhiên khi việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật
hỗ trợ sinh sản thì quy định trên lại gặp một số vướng mắc Dưới sự hỗ trợ của khoa học y tế hiện đại, việc mang thai không chỉ là sự chi phối hoàn toàn
từ quy luật tự nhiên mà còn phụ thuộc vào sức khỏe của người mang thai, ý chí của cặp vợ chồng vô sinh và điều kiện phù hợp theo chỉ dẫn của cơ sở y tế theo quy định của Pháp luật Thời gian 300 ngày kể từ ngày chấm dứt hôn nhân là không hoàn toàn phù hợp Giả sử, trường hợp vợ chồng vô sinh đã lưu trữ tinh trùng hoặc phôi tại cơ sở y tế nhưng sức khỏe chưa đảm để thực hiện
kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và mang thai đứa trẻ nhưng hôn nhân bị chấm dứt do người chồng chết Nếu người vợ tiếp tục thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản cấy tinh trùng hoặc cấy phôi vào tử cung thì về đứa trẻ đó mang huyết thống của người cha đã chết và được sinh ra hoàn toàn dựa trên sự mong muốn của người cha này Tuy nhiên, Pháp Luật lại chưa quy định cụ thể về trường hợp này, nếu xác định đứa trẻ sinh ra không phải con chung của cặp vợ chồng vô sinh thì sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của đứa trẻ, đơn cử như quyền thừa kế di sản của người cha
Việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản của cặp vợ chồng vô sinh đôi khi có sự tham gia của bên thứ ba là người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi Về mặt y học và thực tế, đứa con được sinh ra có quan hệ huyết thống với bên thứ ba Điều này làm ảnh hưởng đến tư duy truyền thống của xã hội
về việc xác định cha, mẹ, con Để đảm bảo mục đích ban đầu của việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và tránh tranh chấp xảy ra, Pháp Luật quy định người vợ trong cặp vợ chồng vô sinh được xác là mẹ đứa trẻ trong mọi
Trang 35trường hợp kể cả người mẹ là người nhận tinh trùng, nhận noãn hay nhận phôi của người khác Người chồng hợp pháp của người mẹ đó cũng chính là cha đứa trẻ, ngay cả trường hợp người chồng không phải là người cho tinh trùng Tức là, giữa người con được sinh ra và người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi không phát sinh quan hệ cha con hay mẹ con Không tồn tại bất cứ Quyền hay Nghĩa vụ nào giữa người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi với đứa trẻ và ngược lại bao gồm cả quyền yêu cầu hưởng thừa kế, nuôi dưỡng…
1.2.1.2 Xác định cha, mẹ, con giữa người phụ nữ độc thân và đứa trẻ
Bên cạnh trường hợp cặp vợ chồng vô sinh có nguyện vọng sinh con
bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, nhiều phụ nữ độc thân cũng đã quyết định thực hiện mong ước được làm mẹ của bản thân mà không cần đến chồng Một số nhà Xã hội học nhận định đó là một hiện tượng của xã hội hiện đại Pháp luật Việt Nam cho phép người phụ nữ độc thân, tức là người phụ nữ không có quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định của Pháp luật được phép thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
Việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp này được căn cứ vào sự tự nguyện của người phụ nữ độc thân đối với việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và sự kiện sinh đẻ của họ, điều này được quy định tại Luật Hôn nhân
và Gia đình năm 2014 và Nghị định số 10/2015/NĐ-CP của Chính Phủ quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang
thai hộ vì mục đích nhân đạo “Trong trường hợp người phụ nữ sống độc thân
sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì người phụ nữ đó là mẹ của con được sinh ra” [27, Điều 93] Theo đó, người phụ nữ độc thân đương nhiên là
mẹ của đứa trẻ và chỉ tồn tại quan hệ mẹ - con
Nguyên tắc bí mật luôn được áp dụng nghĩa là không người đàn ông nào được quyền nhận đứa trẻ là con đẻ của mình và ngược lại đứa trẻ và mẹ
Trang 36không được quyền yêu cầu xác nhận cha cho con mình Nghĩa là người cho tinh trùng, người cho phôi có cùng huyết thống với đứa trẻ được sinh ra nhưng về mặt pháp luật, họ không được công nhận là cha, mẹ của đứa trẻ Trong trường hợp người phụ nữ độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản chỉ làm phát sinh quan hệ mẹ - con mà không làm phát sinh quan hệ cha – con Tuy nhiên, trên thực tế, người phụ nữ độc thân thực hiện kỹ thuật
hỗ trợ sinh sản sau đó người phụ nữ độc thân lại kết hôn với một người đàn ông, lúc này, trở thành cặp vợ chồng có hôn nhân hợp pháp Mặt khác, Điều
88 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Con sinh ra trong thời kỳ
hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của
vợ chồng.” Như vậy, khi người phụ nữ độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ
sinh sản và sau đó kết hôn rồi sinh con trong thời kỳ hôn nhân thì đứa con được xác định là con chung của vợ chồng, nghĩa là quan hệ cha – con được mặc nhiên thừa nhận dù đứa con không cùng huyết thống với người chồng Căn cứ xác định cha, mẹ, con trong trường hợp này là sự kiện sinh đẻ, theo quy định trước đây, người phụ nữ độc thân chỉ được quyền nhận tinh trùng để thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, nên một trong những căn cứ để xác định mẹ - con là quan hệ huyết thống Tuy nhiên, theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và Nghị định số 10/2015/NĐ-CP của Chính Phủ quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, trường hợp người phụ nữ độc thân không có noãn hoặc noãn không đảm bảo chất lượng để thụ thai thì có quyền nhận phôi để thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản Vì vậy, đứa con sinh ra có thể không cùng huyết thống với người mẹ pháp lý Mà việc xác định cha, mẹ, con chỉ căn cứ vào sự kiện sinh con của người mẹ