Có thể nói sự ra đời của chương trình GDMN mới, trong đó, trọng tâm là hình thức GD theo chủ đề đã tạo ra những bước đột phá, giúp giáo viên tiếp cận với những phương pháp dạy học tiên t
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRẦN HƯƠNG THẢO
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC THEO CHỦ ĐỀ Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRẦN HƯƠNG THẢO
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC THEO CHỦ ĐỀ Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, QUẢNG NINH
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phó Đức Hòa
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và chưa hề được sử dụng trong bất cứ mô ̣t công trình nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, tháng 08 năm 2015
Tác giả luận văn
Trần Hương Thảo
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với tấm lòng biết ơn sâu sắc, em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới
PGS.TS Phó Đức Hòa - người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ em trong
quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng đào tạo, các thầy cô giáo khoa Tâm lý - Giáo dục, trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, gia đình và bạn bè đã tạo điều kiện thuận lợi, động viên, khích lệ em trong thời gian học tập và thực hiện luận văn
Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, thầy cô giáo cùng bạn bè đồng nghiệp tại các trường Mầm non trên địa bàn thành phố Uông Bí, Quảng Ninh đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình điều tra thực trạng, thu thập thông tin, số liệu phục vụ luận văn
Dù đã có nhiều cố gắng, song do điều kiện và thời gian hạn chế nên trong luận văn của em chắc chắn không thể tránh khỏi thiếu sót Em rất mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của các thầy giáo, cô giáo để luận văn của em được hoàn chỉnh hơn
Thái Nguyên, tháng 08 năm 2015
Tác giả luận văn
Trần Hương Thảo
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC NHỪNG TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
4 Giả thuyết khoa học 2
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
8 Cấu trúc dự kiến của luận văn 5
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC THEO CHỦ ĐỀ Ở TRƯỜNG MẦM NON 6
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 6
1.1.1 Các nghiên cứu nước ngoài 6
1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước 7
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài 9
1.2.1 Quản lý 9
1.2.2 Quản lý giáo dục 11
1.2.3 Hoạt động giáo dục theo chủ đề 12
1.3 Hoạt động giáo dục theo chủ đề ở trường mầm non 15
1.3.1 Chủ đề giáo dục mầm non 15
Trang 61.3.2 Mục tiêu của giáo dục theo chủ đề ở trường mầm non 16
1.3.3 Nội dung giáo dục theo chủ đề 17
1.3.4 Phương pháp tổ chức giáo dục theo chủ đề 17
1.4 Quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề ở trường mầm non 18
1.4.1 Vai trò, nhiệm vụ của Ban giám hiệu nhà trường trong quản lý hoạt động GD ở trường mầm non 18
1.4.2 Nội dung của quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề ở trường mầm non 19
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục theo chủ đề ở trường mầm non 23
1.5.1 Yếu tố chủ quan 24
1.5.2 Yếu tố khách quan 24
Kết luận chương 1 27
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC THEO CHỦ ĐỀ Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, QUẢNG NINH 28
2.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu 28
2.1.1 Đặc điểm địa lý, kinh tế - xã hội thành phố Uông Bí 28
2.1.2 Một số đặc điểm của giáo dục mầm non thành phố Uông Bí 29
2.2 Vài nét về khách thể khảo sát 30
2.2.1 Về mẫu nghiên cứu 30
2.2.2 Tổ chức khảo sát 31
2.3 Thực trạng thực hiện chương trình giáo dục theo chủ đề ở các trường mầm non thành phố Uông Bí 33
2.3.1 Thực trạng nhận thức tầm quan trọng của hoạt động giáo dục theo chủ đề ở các trường MN 33
2.3.2 Thực trạng hoạt động giáo dục theo chủ đề ở các trường mầm non thành phố Uông Bí 35
Trang 72.3.3 Những thuận lợi và khó khăn trong hoạt động giáo dục theo chủ đề ở các
trường MN thành phố Uông Bí 37
2.4 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề của các trường mầm non thành phố Uông Bí 40
2.4.1 Đánh giá về tầm quan trọng của công tác QL hoạt động GD theo chủ đề của HT trường MN thành phố Uông Bí 40
2.4.2 Thực trạng lập kế hoạch thực hiện hoạt động GD theo chủ đề của các trường mầm non thành phố Uông Bí 41
2.4.3 Thực trạng tổ chức hoạt động giáo dục theo chủ đề của các trường mầm non thành phố Uông Bí 42
2.4.4 Thực trạng công tác kiểm tra hoạt động GD theo chủ đề của các trường mầm non thành phố Uông Bí 55
2.5 Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động GD theo chủ đề của các trường mầm non thành phố Uông Bí 57
2.5.1 Thuận lợi và khó khăn 57
2.5.2.Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến việc quản lý hoạt động GD theo chủ đề của các trường mầm non thành phố Uông Bí 59
Kết luận chương 2 62
Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC THEO CHỦ ĐỀ CỦA CÁC TRƯỜNG MẦM NON THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, QUẢNG NINH 63
3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 63
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 63
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 63
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 64
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 64
3.2 Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề của Hiệu trưởng trường mầm non thành phố Uông Bí 65
Trang 83.2.1 Biện pháp 1: Tăng cường quản lý việc lập kế hoạch GD cho từng chủ đề
của giáo viên 65
3.2.2 Biện pháp 2: Chỉ đạo giáo viên đổi mới phương pháp, hình thức tổchức các hoạt động giáo dục trẻ 67
3.2.3 Biện pháp 3: Quản lý chặt chẽ việc đánh giá trẻ của giáo viên 70
3.2.4 Biện pháp 4: Chỉ đạo giáo viên thực hiện tốt việc tận dụng nguyên phế liệu, vật liệu thiên nhiên làm đồ dùng đồ chơi và xây dựng môi trường hoạt động cho trẻ 72
3.2.5 Biện pháp 5: Thường xuyên kiểm tra, điều chỉnh hoạt động GD theo chủ đề 74
3.2.6 Biện pháp 6: Tăng cường công tác bồi dưỡng cán bộ, giáo viên 77
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 79
3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các BP quản lý hoạt động GD theo chủ đề của các trường MN thành phố Uông Bí 80
3.4.1 Quy trình khảo nghiệm 81
3.4.2 Kết quả khảo nghiệm tính khả thi và tính cấp thiết của các biện pháp quản lý hoạt động GD theo chủ đề 82
Kết luâ ̣n chương 3 88
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHI ̣ 89
1 Kết luận 89
2 Khuyến nghi ̣ 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93 PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC NHỪNG TỪ VIẾT TẮT
BP : Biện pháp CBGV : Cán bộ giáo viên CBQL : Cán bộ quản lý
CĐSP : Cao đẳng sư phạm
CS - GD : Chăm sóc giáo dục CSVC : Cơ sở vật chất
GDMN : Giáo dục mầm non
GV : Giáo viên HĐGD : Hoạt động giáo dục
TC : Trung cấp TH.S : Thạc sĩ
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Số liệu cán bộ quản lý và giáo viên 10 trường mầm non 30 Bảng 2.2 Bảng thống kê trình độ đào tạo của cán bộ, giáo viên của 10
trường MN 31 Bảng 2.3: Thực trạng nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động GD theo
chủ đề 33 Bảng 2.4: Đánh giá các biểu hiện về tầm quan trọng của việc hoạt động giáo
dục theo chủ đề 34 Bảng 2.5: Thực trạng việc thực hiện chương trình GD theo chủ đề ở các trường
mầm non thành phố Uông Bí 35 Bảng 2.6 Những thuận lợi trong của hoạt động giáo dục theo chủ đề ở các
trường mầm non thành phố Uông Bí 37 Bảng 2.7 Những khó khăn của hoạt động giáo dục theo chủ đề ở các trường
mầm non thành phố Uông Bí 38 Bảng 2.8: Đánh giá về tầm quan trọng của việc QLhoạt động giáo dục theo chủ
đề 40 Bảng 2.9: Thực trạng lập kế hoạch hoạt động giáo dục theo chủ đề 41 Bảng 2.10: Thực trạng việc tổ chức triển khai các văn bản chỉ đạo hoạt động
giáo dục theo chủ đề 43 Bảng 2.11: Thực trạng việc tổ chức nội dung giáo dục theo chủ đề 44 Bảng 2.12: Thực trạng đổi mới phương pháp, hình thức giáo dục theo chủ đề 46 Bảng 2.13 Thực trạng việc tổ chức tạo môi trường cho trẻ hoạt động 48 Bảng 2.14: Thực trạng việc tổ chức đánh giá sự phát triển của trẻ 50 Bảng 2.15: Thực trạng việc tổ chức bồi dưỡng cán bộ, giáo viên 52 Bảng 2.16: Thực trạng việc trang bị, hướng dẫn sử dụng tài liệu, thiết bị dạy
học, đồ dùng, đồ chơi và khuyến khích làm đồ dung, đồ chơi tự tạo 54
Trang 11Bảng 2.17: Thực trạng công tác kiểm tra hoạt động giáo dục theo chủ đề của
các trường MN thành phố Uông Bí 56 Bảng 2.18: Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố khách quan đến QL hoạt động
GD theo chủ đề của các trường mầm non 59 Bảng 2.19: Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan đến việc quản lý hoạt
động GD theo chủ đề của các trường mầm non 60 Bảng 3.1: Kết quả khảo nghiệm về tính cần thiết của các biện pháp QL hoạt
động GD theo chủ đề 82 Bảng 3.2: Kết quả khảo nghiê ̣m về tính khả thi của các biê ̣n pháp QL hoạt động
GD theo chủ đề 84 Bảng 3.3: Mối tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp
QL hoạt động GD theo chủ đề 86
Trang 12DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Tính cần thiết của các biện pháp quản lý hoạt động GD theo
chủ đề 84 Biểu đồ 3.2: Tính khả thi của các biện pháp quản lýhoạt động GD theo chủ đề 86 Biểu đồ 3.3: Mối tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thicủa các biện pháp 87
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Giáo dục Mầm non là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục
quốc dân, đặt nền móng cho sự phát triển về thể chất, nhận thức, tình cảm
xã hội và thẩm mỹ cho trẻ em [1.24] Những kĩ năng mà trẻ được tiếp thu qua chương trình GDMN sẽ là nền tảng cho việc học tập và thành công cho trẻ sau này Do vậy, phát triển giáo dục Mầm non, tăng cường khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ là yếu tố quan trọng trong việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước
Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước đã có chính sách cụ thể nhằm phát triển GDMN như: Đầu tư xây dựng trường lớp, cơ sở vật chất; đổi mới phương pháp giảng dạy; cải tiến chế độ tiền lương đối với giáo viên mầm non; xã hội hóa GDMN… Đặc biệt, chương trình GDMN mới ra đời đã đáp ứng xu thế đổi mới nói chung của đất nước và các nước trong khu vực cũng như trên thế giới, tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng phục vụ cho sự nghiệp phát triển đất nước sau này Chương trình GDMN mới có tính mở rất cao, giáo viên có nhiều cơ hội thể hiện sự sáng tạo, trẻ được tạo điều kiện phát huy tính tích cực, phát triển toàn diện về thể lực, trí tuệ và nhân cách Có thể nói sự ra đời của chương trình GDMN mới, trong đó, trọng tâm là hình thức GD theo chủ đề đã tạo ra những bước đột phá, giúp giáo viên tiếp cận với những phương pháp dạy học tiên tiến, hiện đại trên thế giới và trẻ MN thực sự trở thành trung tâm của mọi hoạt động giáo dục
1.2 Giáo dục theo chủ đề đã được triển khai rộng khắp trên cả nước,
song cần phải khẳng định rằng đây là một chương trình rất mới mẻ cả về nội dung, phương pháp, quy trình tổ chức, kiểm tra đánh giá… và hoàn toàn khác
xa so với chương trình giáo dục mầm non trước đây Chính vì vậy, không ít cán
bộ quản lý và cả giáo viên lúng túng, khó khăn trong triển khai chương trình
Trang 14Không những thế, một số CBQL, giáo viên còn thiếu và yếu về kinh nghiệm, trình độ càng khiến cho việc tiếp cận và thực hiện hoạt động giáo dục theo chủ
đề càng bị hạn chế Ngoài ra, các yếu tố khác như cơ sở vật chất, trang thiết bị,
đồ dùng, đồ chơi còn thiếu thốn, nghèo nàn; nhận thức và sự phối kết hợp giữa giáo dục nhà trường với phụ huynh và cộng đồng trong thực hiện chương trình đôi khi chưa được thống nhất cũng tạo ra những tác động tiêu cực đến hiệu quả quản lý và chất lượng giáo dục MN
1.3 Trong thực tế các đề tài nghiên cứu lý luận và thực tiễn về Quản lý
hoạt động giáo dục theo chủ đề chưa phong phú Đặc biệt, chưa có nghiên cứu nào được tiến hành trên địa bàn thành phố Uông Bí
Xuất phát từ những lý do nêu trên, với cương vị là một người làm công tác quản lý trong trường MN, đồng thời, nhận thấy tầm quan trọng và ý nghĩa
của vấn đề này nên tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Quản lý hoạt động giáo dục
theo chủ đề ở các trường mầm non thành phố Uông Bí, Quảng Ninh”
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn, đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề ở các trường mầm non nhằm nâng cao chất lượng GDMN thành phố Uông Bí, Quảng Ninh
3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quản lý hoạt động giáo dục mầm non
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề ở các trường mầm non thành phố Uông Bí, Quảng Ninh
4 Giả thuyết khoa học
Trong thời gian qua, việc tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục theo chủ
đề đã được triển khai ở các trường mầm non thành phố Uông Bí, Quảng Ninh
và đã đạt được những kết quả nhất định Tuy nhiên, kết quả còn hạn chế do
Trang 15nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có nguyên nhân do công tác quản lý
chưa thực sự phù hợp Nếu đề xuất và áp dụng các biện pháp QL hoạt động GD theo chủ đề phù hợp thì sẽ nâng cao được chất lượng GDMN thành phố Uông
Bí, đáp ứng yêu cầu đổi mới GDMN
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về quản lý hoạt động GD theo chủ
đề ở trường mầm non
5.2 Khảo sát thực trạng thực hiện và quản lý hoạt động giáo dục theo
chủ đề ở trường các trường MN thành phố Uông Bí
5.3 Đề xuất biện pháp QL hoạt động giáo dục theo chủ đề ở các trường
MN thành phố Uông Bí Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý đề xuất
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
6.1 Giới hạn về đối tượng nghiên cứu
Vì thời gian hạn chế nên luận văn chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng và một số biện pháp QL hoạt động giáo dục theo chủ đề ở các trường mầm non Uông Bí
6.2 Giới hạn về địa bàn nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu tại 10 trường mầm non trên địa bàn thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh
6.3 Giới hạn về khách thể khảo sát
Để điều tra thực trạng QL HĐGD theo chủ đề chúng tôi khảo sát trên:
110 khách thể, trong đó có 25 cán bộ quản lý và 85 giáo viên thuộc 10 trường mầm non
7 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài sử dụng kết hợp các nhóm phương pháp sau:
Trang 167.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Đọc, phân tích, tổng hợp các nguồn tài liệu từ sách báo, tạp chí, văn bản, nghị quyết, các công trình nghiên cứu, các tài liệu tham khảo khác có liên quan đến đề tài nghiên cứu để làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về QL hoạt động GD theo chủ đề ở trường mầm non
- Phương pháp phân tích lí luận để tìm hiểu lịch sử nghiên cứu
- Phương pháp phân tích hồ sơ quản lí để tìm hiểu những vấn đề thực tiễn của quản lí
- Phương pháp khái quát hóa lí luận để xác định hệ thống khái niệm, quan điểm và xây dựng khung lí thuyết của nghiên cứu
- Phương pháp tổng quan so sánh để tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế qua tài liệu khoa học và các kết quả nghiên cứu quốc tế khác
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra viết
Mục đích của phương pháp này là: khảo sát thực trạng hoạt động giáo dục theo chủ đề và thực trạng quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề ở các trường MN thành phố Uông Bí
- Phương pháp quan sát
Quan sát việc tổ chức các hoạt động giáo dục của GV nhằm thu thập thêm tài liệu để hiểu rõ hơn về thực trạng tổ chức và quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề ở các trường MN
- Phương pháp phỏng vấn
Phỏng vấn một số CBQL và GV của các trường MN nhằm thu thập các thông tin có liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài như: tìm hiểu những thuận lợi, khó khăn hay các nguyên nhân của thực trạng tổ chức và quản lý HĐGD theo chủ đề; tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp QL
Trang 17- Phương pháp chuyên gia
Xin ý kiến của các chuyên gia về tính cần thiết và tính khả thi của các BP
mà đề tài đề xuất
- Phương pháp phân tích và tổng hợp kinh nghiệm thực tiễn
Phân tích nguyên nhân những thuận lợi, khó khăn của các BP đã áp dụng, từ đó rút ra kết luận
7.3 Phương pháp thống kê toán học trong quản lý giáo dục
Sử dụng các công thức toán thống kê để định lượng kết quả nghiên cứu
8 Cấu trúc dự kiến của luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục luận văn bao gồm các chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề ở
trường mầm non
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề ở các
trường mầm non thành phố Uông Bí, Quảng Ninh
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề ở các
trường mầm non thành phố Uông Bí, Quảng Ninh
Trang 18Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
THEO CHỦ ĐỀ Ở TRƯỜNG MẦM NON
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Các nghiên cứu nước ngoài
Tháng 9 - 1968, “Hội nghị tích hợp về việc giảng dạy các khoa học” được tổ chức tại Varna (Bungary) dưới sự bảo trợ của UNESCO đã tập trung làm rõ hai vấn đề: tại sao phải dạy học tích hợp và dạy học tích hợp các khoa
học là gì? Kết thúc hội nghị, các nhà khoa học đều thống nhất rằng: “Một cách trình bày các khái niệm và nguyên lý khoa học cho phép diễn đạt sự thống nhất
cơ bản về tư tưởng của khoa học tránh nhấn quá mạnh hoặc quá sớm sự sai khác giữa các lĩnh vực khoa học khác nhau”
Todd.R.J đã đưa ra các tiêu chí quan trọng của dạy học tích hợp theo chủ
đề bao gồm: “việc học và nghiên cứu các môn học khác nhau, có thời khóa biểu linh động, giáo viên giảng dạy theo nhóm, việc học lấy học sinh làm trung tâm
có sự tương tác trình độ giữa học sinh với học sinh, học sinh với giáo viên và giữa các giáo viên”
Drake M.S cho rằng dạy học theo chủ đề là một mô hình của dạy học tích hợp Mô hình này đòi hỏi giáo viên phải vận dụng kiến thức của nhiều môn học khác nhau Ưu điểm của môn học này là giáo viên vẫn dạy một môn học nhưng trong quá trình dạy lại mở rộng tri thức sang nhiều môn học liên quan khác [1.11]
Beana J đưa ra quan điểm rằng dạy học theo chủ đề rất phù hợp để áp dụng cho những môn học gần nhau về bản chất và mục tiêu phù hợp đối với trẻ
ở bậc tiểu học [dẫn theo 1.27]
Marshall J nghiên cứu cảm xúc và hứng thú của trẻ với phương pháp dạy học tích hợp, trong đó có tích hợp theo chủ đề Tác giả nhận xét: chương
Trang 19trình dạy học tích hợp chú trọng cung cấp kiến thức phù hợp với nhu cầu của học sinh, học sinh sẽ được học cái mình cần và yêu thích nên việc học trở nên nhẹ nhàng và hứng thú hơn [dẫn theo 1.27]
1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước
Trong những năm gần đây, GDMN luôn được sự quan tâm đặc biệt của toàn xã hội Trong quá trình phát triển GDMN ở Việt Nam đã có nhiều chương trình giáo dục ra đời Năm 1994, Bộ GD&ĐT ban hành bộ chương trình mẫu giáo cải cách với tên gọi “Chương trình CS - GD mẫu giáo và hướng dẫn thực hiện” Thực hiện chỉ thị số 14/2001/CT - TTg về việc đổi mới nội dung sách giáo khoa, đổi mới phương pháp GD, đổi mới kiểm tra đánh giá, đổi mới cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học và công tác QLGD, giáo dục mầm non đã thử nghiệm và đưa ra chương trình thí điểm “Đổi mới hình thức tổ chức hoạt động
GD trẻ” Đến ngày 25 tháng 7 năm 2009, chương trình GDMN mới chính thức được ban hành theo nguyên tắc chương trình khung với độ mở cao, phát huy tính sáng tạo của GV và tính tích cực của trẻ và được cấu thành bởi 5 yếu tố: Mục tiêu giáo dục, nội dung GD, phương pháp tổ chức các hoạt động GD, các điều kiện thực hiện đánh giá
Trên thực tế, GD theo chủ đề đã được nghiên cứu cả về mặt lý luận và thực tiễn Giáo dục theo chủ đề được khẳng định là định hướng đúng đắn trong tiến trình đổi mới GDMN hiện nay Vì vậy, khái niệm, quy trình, nội dung, hình thức phương pháp tổ chức giáo dục theo chủ đề được nhiều tác giả nghiên cứu như:
- Tổ Mầm non - Trường CĐSP Sóc Trăng, “Xây dựng hoạt động làm quen với môi trường xung quanh chủ đề phương tiện giao thông đường bộ theo hướng tích hợp” - công trình nghiên cứu khoa học cấp trường GD theo chủ đề
phù hợp với xu thế giáo dục MN ở các nước Châu Âu như: Anh, Pháp, Thụy Điển, Mỹ
Trang 20- Tài liệu Hướng dẫn tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục trong trường mầm non theo chủ đề (2013) đã cung cấp những nội dung cơ bản về quan điểm dạy học tích hợp và mô hình GD theo chủ đề Đồng thời, tài liệu cũng đưa ra những chỉ dẫn rất cụ thể rõ ràng để thực hiện 10 chủ đề giáo dục đối với trẻ 5 - 6 tuổi
Bên cạnh đó, đã có một số công trình nghiên cứu về Biện pháp quản lý thực hiện chương trình GDMN mới, trong đó GD theo chủ đề được đề cập là hình thức
tổ chức của chương trình GDMN mới do Bộ GD&ĐT ban hành Cụ thể:
- Phạm Thị Hải Yến (2010), Biện pháp quản lý thực hiện chương trình GDMN mới của Hiệu trưởng các trường MN trên địa bàn tỉnh Quảng Bình, Đại học Sư phạm Hà Nội
- Nguyễn Thùy Linh (2011), Biện pháp quản lý thực hiện chương trình GDMN mới của Hiệu trưởng trường MN quận Cầu Giấy - Thành phố Hà Nội, Đại học Sư phạm Hà Nội
- Nguyễn Thị Thanh Xuân (2012), Biện pháp quản lý hoạt động chuyên môn trong thực hiện chương trình GDMN mới ở các trường MN Thành phố Hải Dương, Đại học Sư phạm Hà Nội
- Chu Thị Hồng Nhung (2014), Tình hình đổi mới giáo dục mầm non tại Việt Nam qua các giai đoạn, Số 57 - Tạp chí Khoa học ĐHSP HCM
Tuy nhiên, GD theo chủ đề ở MN chỉ là một nội dung nhỏ được lồng ghép trong phần cơ sở lý luận về chương trình GDMN mới Các công trình chủ yếu tập trung làm rõ vai trò tổng thể của Hiệu trưởng trong quản lý thực hiện chương trình GDMN mới chứ không đi sâu vào các nội dung cụ thể của quản lý hoạt động GD theo chủ đề
Nhìn chung, các kết quả nghiên cứu trên đã làm phong phú thêm lý luận về quản lý nói chung và quản lý GDMN nói riêng Song, các công trình nghiên cứu về thực tiễn quản lý hoạt động GD theo chủ đề còn hạn chế, đặc biệt, chưa có nghiên cứu nào được tiến hành trên địa bàn thành phố Uông Bí,
Trang 21tỉnh Quảng Ninh Chính vì vậy, tác giả mạnh dạn lựa chọn đề tài nghiên cứu
“Quản lý hoạt động GD theo chủ đề ở các trường MN thành phố Uông Bí, Quảng Ninh” nhằm tìm hiểu thực trạng cũng như đề xuất các biện pháp quản
lý thiết thực góp phần nâng cao chất lượng GDMN của thành phố Uông Bí một cách đồng bộ, toàn diện
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài
Có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý tùy thuộc vào các cách tiếp
câ ̣n, gốc đô ̣ nghiên cứu và hoàn cảnh xã hô ̣i, kinh tế, chính trị
Theo Harold Koontz, quản lý “là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự phối hợp nỗ lực của cá nhân nhằm đa ̣t được các mu ̣c đích của nhóm” [1.12, tr 33] Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đa ̣t được các mu ̣c đích của nhóm với thời gian, tiền ba ̣c, vâ ̣t chất
và sự bất mãn cá nhân ít nhất Với tư cách thực hành thì cách quản lý là mô ̣t nghê ̣ thuâ ̣t, còn kiến thức có tổ chức về quản lý là mô ̣t khoa ho ̣c
Các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng hoạ t
đô ̣ng quản lý là tác đô ̣ng có đi ̣nh hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bi ̣ quản lý) trong một tổ chức nhằm cho tổ chức vâ ̣n hành và đạt được mục đích của tổ chức
Trang 22Nghiên cứu các đi ̣nh nghĩa trên chúng ta có thể nhâ ̣n thấy mă ̣c dù các tác giả có các quan niệm khác nhau về quản lý nhưng họ đều th ống nhất ở một số điểm là:
+ Quản lý luôn luôn tồn tại với tư cách là một hệ thống gồm các yếu tố: chủ thể quản lý, khách thể quản lý và mục đích hay mục tiêu chung của công tác quản lý
do chủ thể quản lý áp đă ̣t hay do yêu cầu khách quan của xã hô ̣i hoă ̣c do có sự cam kết thỏa thuâ ̣n giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý, từ đó nảy sinh các mối quan hê ̣ tương tác với nhau giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý
+ Bản chất của hoạt động quản lý là cách thức tác động (tổ chứ c, điều khiển, chỉ huy) hợp quy luâ ̣t của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong
mô ̣t tổ chức nhằm làm cho tổ chức vâ ̣n hành đa ̣t hiê ̣u quả mong muốn và đa ̣t
được mu ̣c tiêu đề ra
Như vâ ̣y, quản lý là một hoạt động mang tính tất yếu của xã hội Chủ thể quản lý và khách thể quản lý luôn có mối quan hệ tác động qua lại và chịu tác
đô ̣ng của môi trường Con người là yếu tố trung tâm của hoa ̣t đô ̣ng quả n lý vì thế quản lý vừa là mô ̣t khoa ho ̣c, vừa là mô ̣t nghê ̣ thuâ ̣t
Quản lý là khoa học vì các hoạt động quản lý luôn là một hoạt động có tổ chức, có định hướng trên những quy luật , những nguyên tắc và phưong pháp hoạt đô ̣ng cu ̣ thể Chỉ khi nhận biết đúng các quy luật đó , các đặc điểm của từng cá thể, các đặc trưng tâm lý khác nhau thì tác động của quản lý mới có kết quả Mă ̣c dù trong hoa ̣t đô ̣ng quản lý , nhà quản lý luôn tìm cách đ úc kết kinh nghiê ̣m và cải tiến công viê ̣c để có hiê ̣u quả , tuy nhiên muốn quản lý tốt thì phải học, không thể chỉ làm theo kinh nghiê ̣m được
Quản lý đ ồng thời là mô ̣t nghê ̣ thuâ ̣t vì hoa ̣t đô ̣ng quản lý là mô ̣t hoa ̣t
đô ̣ng thực hành trong thực tiễn vô cùng phong phú và đầy biến đô ̣ng Không có
mô ̣t nguyên tắc chung nào cho mo ̣i tình huống Nhà quản lý phải làm sao để có thể xử lý sáng ta ̣o, thành công mọi tình huống nhằm thực hiện có hiệu quả m ục tiêu đề ra, điều đó phu ̣ thuô ̣c vào bí quyết sắp xếp các nguồn lực, nghê ̣ thuâ ̣t giao tiếp, ứng xử, khả năng thuyết phục, kỹ năng sử dụng biện pháp của từng người
Trang 23Trong luận văn này chúng tôi sử dụng khái niệm quản lý là quá trình tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu nhất định
1.2.2 Quản lý giáo dục
Giáo dục là một hiện tượng xã hội, khởi nguồn với việc thế hệ đi trước truyền thụ những kinh nghiệm, những tri thức tích lũy được cho thế hệ đi sau một cách tự phát Giáo dục còn là một quá trình, một hoạt động xã hội khi dần trở thành một hoạt động có ý thức, có mục đích, có chương trình, kế hoạch để thực hiện cơ chế chuyển giao kinh nghiệm lịch sử xã hội của loài người Ngày nay giáo dục càng trở lên quan trọng hơn bao giờ hết khi được xác định là “con
át chủ bài” để nhân loại tiến lên khi xã hội loài người bước vào thời đại của nền kinh tế tri thức
Trong lĩnh vực giáo dục, quản lý giáo dục là nhân tố tổ chức, chỉ đạo để giáo dục thực hiện được vai trò, mục đích tồn tại của mình Hay nói một cách khác, lịch sử hình thành và phát triển của quản lý giáo dục có mối quan hệ gắn
bó chặt chẽ hữu cơ với lịch sử hình thành và phát triển của giáo dục
Theo tác giả M.I Kônđacốp, quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có
kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở tất cả các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống nhằm đảm bảo việc hình thành nhân cách cho các thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như quy luật chung của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lý của trẻ Quản lý giáo dục tồn tại ở tầm vĩ mô khi ta xem xét
nó đối với một nền giáo dục hay một hệ thống giáo dục Ngược lại, trên quy mô một nhà trường quản lý giáo dục được coi là ở tầm vi mô
Nhận xét về bản chất của quản lý giáo dục nhiều nhà nghiên cứu cho rằng quản lý giáo dục vừa là một khoa học vừa là một nghệ thuật Đó là khoa học, nghệ thuật của việc điều khiển, phối hợp các bộ phận, các phần tử của hệ thống giáo dục để đưa hệ thống đạt được những trạng thái phát triển mới theo yêu cầu của xã hội
Trang 24Về chức năng của quản lý nói chung, quản lý giáo dục nói riêng có bốn chức năng chính: kế hoạch hóa, tổ chức, điều khiển, kiểm tra Tác giả Trần Kiểm đã chỉ ra rằng kế hoạch hóa là hành động đầu tiên của người quản lý Kế hoạch chính là căn cứ pháp lý quy định thành công của tổ chức Kế đó là chức năng tổ chức Thực hiện chức năng này người quản lý phải hình thành bộ máy, quy định chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận, định rõ mối quan hệ giữa chúng Điều hành là bước tiếp theo của người quản lý, ở khâu này người quản
lý phải vận dụng khéo léo các phương pháp và nghệ thuật quản lý để mọi việc diễn ra suôn sẻ theo kế hoach đã dự kiến Cuối cùng, người quản lý thực hiện chức năng kiểm tra nhằm đánh giá việc thực hiện các mục tiêu đã đề ra [1.18]
Một cách khái quát có thể thấy rằng quản lý giáo dục là quá trình tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý và các thành tố tham gia vào quá trình hoạt động giáo dục nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục
1.2.3 Hoạt động giáo dục theo chủ đề
Để hiểu thế nào là giáo dục theo chủ đề trước hết chúng ta cần tiếp cận khái niệm “Dạy học tích hợp” Bởi giáo dục theo chủ đề thực chất là một trong những hình thức của dạy học tích hợp
Lý thuyết tích hợp là một triết lý (trào lưu suy nghĩ) được Ken Wilber đề xuất Lý thuyết tích hợp tìm kiếm sự tổng hợp tốt nhất hiện thực “xưa- pre-modern, nay-modern, và mai sau- postmodern” Nó được hình dung như là một
lý thuyết về mọi sự vật và cung cấp một đường hướng kết hợp nhiều mô thức rời rạc hiện tại thành một mạng hoạt động phức hợp, tương tác nội tại của nhiều cách tiếp cận Lý thuyết tích hợp đã được nhiều nhà thực hành lý thuyết áp dụng trong hơn 35 lĩnh vực chuyên môn và học thuật khác nhau
Điều quan trọng hơn, tích hợp là một tiến trình tư duy và nhận thức mang tính chất phát triển tự nhiên của con người trong mọi lĩnh vực hoạt động khi họ muốn hướng đến hiệu quả của chúng Quan điểm tích hợp cho phép con người
Trang 25nhận ra những điều then chốt và các mối liên hệ hữu cơ giữa các thành tố trong
hệ thống và trong tiến trình hoạt động thuộc một lĩnh vực nào đó Việc khai thác hợp lý và có ý nghĩa các mối liên hệ này dẫn nhà hoạt động lý luận cũng như thực tiễn đến những phát kiến mới, tránh những trùng lắp gây lãng phí thời gian, tài chính và nhân lực Đặc biệt, quan điểm này dẫn người ta đến việc phát triển nhiều loại hình họat động, tạo môi trường áp dụng những điều mình lĩnh hội vào thực tiễn, nhờ vậy tác động và thay đổi thực tiễn Do vậy, tích hợp là vấn đề của nhận thức và tư duy của con người, là triết lý/nguyên lý chi phối, định hướng và quyết định thực tiễn hoạt động của con người
Lý thuyết tích hợp được ứng dụng vào giáo dục trở thành một quan điểm (một trào lưu tư tưởng) lý luận dạy học phổ biến trên thế giới hiện nay Xu hướng tích hợp còn được gọi là xu hướng liên hội đang được thực hiện trên nhiều bình diện, cấp độ trong quá trình phát triển các chương trình giáo dục Chương trình được xây dựng theo quan điểm tích hợp, trước hết dựa trên quan điểm giáo dục nhằm phát triển năng lực người học
Mục đích chung của việc học là hiểu sự liên kết của mọi hiện tượng, sự vật Tích hợp là cách tư duy trong đó các mối liên kết được tìm kiếm, do vậy,
tích hợp làm cho việc học chân chính xảy ra Như thế, với định nghĩa học tập là
cách tìm kiếm các mối liên hệ và kết nối các kiến thức Đó là quy luật tích hợp tất yếu của tiến trình học tập chân chính Cụ thể, sự thâm nhập có tính chất tìm tòi khám phá của học sinh vào quá trình kiến tạo kiến thức, học tập có ý nghĩa (meaningful learning), học sâu sắc và ứng dụng (deep learning) được xem là chủ yếu đối với việc dạy và học hiệu quả Và cách tiếp cận tìm tòi - khám phá
này khuyến khích học sinh thông qua quá trình tìm kiếm tích cực, sẽ kết hợp hơn là mở rộng các kiến thức rời rạc Nhiều nghiên cứu ứng dụng tâm lý
học nhận thức vào giáo dục đã khẳng định: mối liên hệ giữa các khái niệm đã học được thiết lập nhằm bảo đảm cho mỗi học sinh có thể huy động một cách hiệu quả những kiến thức và năng lực của mình để giải quyết tình huống, và có
Trang 26thể đối mặt với một khó khăn bất ngờ, một tình huống chưa từng gặp Nhờ đó, học sinh có điều kiện phát triển những kỹ năng xuyên môn, những khả năng có thể di chuyển [1.23]
Như vậy, muốn đạt được mục tiêu của dạy học tích hợp thì trước hết giáo viên cần xây dựng được “chương trình giáo dục tích hợp” mà theo Drake, Burn (2004) có các hướng tiếp cận nhau sau:
môn học liên quan đến việc học/ nghiên cứu một đơn vị bài học theo chủ đề và bài học này thường được kết thúc bằng một hoạt động đạt đến mức tích hợp cao nhất Đơn vị bài học (units) kéo dài trong dăm ba tuần, và toàn trường có thể tham gia vào Một đơn vị bài học theo chủ đề được toàn trường thực hiện có thể độc lập với kế hoạch học tập thường xuyên Những chương trình học tập theo chủ đề khác có thể được tiến hành ở cùng một khối lớp [1.23]
Quan điểm tích hợp nhìn nhận đứa trẻ như một nhân cách thể trọn vẹn và
sự phát triển của trẻ mang tính tổng thể trên các mặt: thể chất - tâm lí và xã hội Trẻ sống và lĩnh hội các tri thức hiểu biết trong môi trường tự nhiên - xã hội đan quyện với nhau và không chia cắt, một hoạt động thúc đẩy sự phát triển một mặt nào đó thì cũng thúc đẩy phát triển các mặt khác của trẻ, với quan điểm trên chương trình chăm sóc, giáo dục trẻ hiện nay đã được đổi mới trên cơ
sở dạy học tích hợp cho trẻ mầm non
Dạy học tích hợp chính là việc học của trẻ được thực hiện thông qua việc tham gia các hoạt động lồng ghép đa dạng trong môi trường sống của trẻ, nội dung giáo dục và dạy học trọng tâm được lập lại thông qua tổ chức lồng ghép
Trang 27các hoạt động tạo điều kiện cho việc lĩnh hội kiến thức trở nên vững chắc hơn, phù hợp với nhận thức mang tính tổng thể ở trẻ nhỏ
Hoạt động dạy học ở mầm non được tổ chức theo hướng tiếp cận tích hợp các nội dung học, các nội dung học này không phân chia theo các “bộ môn”, không phân bố cụ thể vào các tiết học như ở phổ thông mà theo những chủ đề có chứa đựng những tri thức sơ đẳng của đời sống văn hóa, xã hội và tự nhiên Cách tổ chức này tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động học tập của trẻ mẫu giáo hòa lẫn trong hoạt động tự nhiên đầy hứng thú, sinh động [1.9]
Trẻ mẫu giáo phát triển về nhiều mặt như thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm - xã hội, thẩm mỹ - sáng tạo… các mặt này có liên quan chặt chẽ với nhau Do đó việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và cần được tiến hành đồng thời, không có sự tách bạch
1.3 Hoạt động giáo dục theo chủ đề ở trường mầm non
1.3.1 Chủ đề giáo dục mầm non
Chủ đề là nội dung hoặc phần kiến thức mà trẻ có thể tìm hiểu, khám phá theo nhiều cách khác nhau, dưới sự tổ chức hướng dẫn của giáo viên và diễn ra trong một khoảng thời gian thích hợp, thường là 1-2 tuần [1.19]
Giáo dục theo chủ đề là hướng đổi mới chương trình giáo dục mầm non hiện nay Chủ đề là tâm điểm mà xoay quanh nó giáo viên có thể khai thác những vấn đề mà trẻ hứng thú, quan tâm kích thích hoạt động tư duy của trẻ Mỗi chủ đề đều xác định những đơn vị kiến thức, thái độ, kĩ năng cần cung cấp cho trẻ nhằm phát triển tổng thể các mặt: nhận thức, thể chất, ngôn ngữ, tình cảm và xã hội Sử dụng hình thức mạng “mở” giúp giáo viên nhìn rõ các mối liên quan giữa các nội dung kiến thức và các hoạt động mang tính tích hợp trong phạm vi chủ đề này với chủ đề khác Đồng thời chương trình còn khuyến khích giáo viên áp dụng các phương pháp dạy học khác nhau một cách sáng tạo Tạo điều kiện cho giáo viên đổi mới phương pháp dạy học bằng cách xây dựng các góc hoạt động để có cơ hội sử dụng các phương pháp và kĩ thuật
Trang 28nhằm tích cực hóa hoạt động tư duy của trẻ (giao nhiệm vụ để trẻ suy nghĩ giải quyết vấn đề, gợi mở, sử dụng các câu hỏi mở, động não, trò chơi phân vai theo chủ đề) và phương pháp cùng tham gia (nhóm nhỏ) Giáo viên có thể xác định, lựa chọn và tổ chức nhiều hoạt động để tạo điều kiện cho trẻ có thể “học” qua chơi, “học” qua thực hành Nhờ đó, trẻ có thể lĩnh hội kiến thức và kĩ năng liên quan đến chủ đề một cách tự nhiên và có được những kinh nghiệm mang tính tích hợp cần cho cuộc sống của trẻ Mỗi chủ đề giáo dục cần đảm bảo:
- Xuất phát từ nhu cầu, hứng thú của trẻ và từ cuộc sống
- Được thể hiện trong các hoạt động cả ngày ở trường mầm non
- Được thể hiện ở lựa chọn các vật liệu trong khu vực chơi và trong lớp
- Một chủ đề được tiến hành tối thiểu trong một tuần để đảm bảo vừa có
sự lặp lại và vừa có sự mở rộng cơ hội học cho trẻ hàng ngày
- Một chủ đề lớn (nhóm chủ đề) có thể bao gồm một số chủ đề nhỏ Phạm vi kiến thức và hoạt động của một chủ đề không bị khép kín mà được mở rộng ra một cách rất linh hoạt, cho phép trẻ tìm hiểu và lĩnh hội tùy theo trình
độ phát triển của độ tuổi và của cá thể trẻ Như vậy chủ đề có thể rộng (lớn) cũng có thể hẹp (nhỏ) kiến thức trong 1 chủ đề thường mang tính tích hợp Nói cách khác, để hiểu biết tương đối đầy đủ về một chủ đề nào đó người dạy và người học phải vận dụng tri thức của nhiều ngành khoa học (khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, nghệ thuật, sức khỏe, dinh dưỡng…) [1.19]
1.3.2 Mục tiêu của giáo dục theo chủ đề ở trường mầm non
- Mục tiêu được xây dựng cho trẻ cuối độ tuổi nhà trẻ và cuối độ tuổi mẫu giáo theo lĩnh vực phát triển của trẻ nhằm hướng đến phát triển toàn diện
về thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm - xã hội, thẩm mĩ;
- Chú trọng hình thành ở trẻ những chức năng tâm lí, năng lực chung của con người Phát triển tối đa tiềm năng vốn có, hình thành những kĩ năng sống cần thiết cho trẻ và phù hợp với yêu cầu của gia đình, cộng đồng, xã hội;
- Chuẩn bị tốt cho trẻ vào học giai đoạn sau [1.8]
Trang 291.3.3 Nội dung giáo dục theo chủ đề
Nội dung chăm sóc giáo dục trẻ được đổi mới theo hướng đảm bảo tính tích hợp giữa nội dung nuôi dưỡng, chăm sóc sức khỏe với giáo dục phát triển, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ trong trường mầm non hiện nay Bổ sung một số nội dung thiết thực đảm bảo giáo dục trẻ toàn diện và gắn với cuộc sống thực hàng ngày của trẻ Hệ thống các chủ đề hoặc các vấn
đề giáo dục được thiết kế theo sơ đồ hình “mạng lưới” với hình thức mạng
mở Mỗi chủ đề lớn được xây dựng hướng tới thực hiện mục tiêu cụ thể Mạng hoạt động tích hợp cho phép giáo viên tổ chức, phối hợp các hoạt động giáo dục trong mối liên hệ hỗ trợ tác động qua lại, lẫn nhau giữa hoạt động trọng tâm với các hoạt động có tính chất bổ trợ, nhằm mở rộng và thực hiện nội dung chủ đề có hiệu quả Các hoạt động và phương tiện giáo dục được tổ chức lồng ghép, đan cài và mang tính tích hợp được lựa chọn phù hợp với chủ đề giáo dục đáp ứng nhu cầu hứng thú và phù hợp với điều kiện
cụ thể ở địa phương và nhóm lớp [1.22]
Nói một cách khái quát hơn, nội dung giáo dục theo chủ đề bao gồm các nội dung chính như sau:
- Nội dung giáo dục phát triển thể chất
- Nội dung giáo dục phát triển nhận thức
- Nội dung giáo dục phát triển ngôn ngữ
- Nội dung giáo dục phát triển tình cảm - xã hội
- Nội dung giáo dục phát triển thẩm mỹ [1.19]
1.3.4 Phương pháp tổ chức giáo dục theo chủ đề
Giáo dục theo chủ đề có nội dung rất phong phú, đa dạng Chính vì vậy, giáo viên được thỏa sức sáng tạo trong lựa chọn phương pháp nhằm thực hiện mục tiêu của mỗi chủ đề Khuyến khích giáo viên tận dụng các điều kiện hoàn cảnh ở trong môi trường lớp học và trường học, các nguyên vật liệu sẵn có và các phế liệu thích hợp và an toàn với trẻ để hướng dẫn trẻ tìm hiểu, khám phá
Trang 30và làm các sản phẩm mới mang tính sáng tạo Khi tổ chức các hoạt động, giáo viên có thể tổ chức lồng ghép, đan cài để tạo thành một chỉnh thể [1.17] Theo tác giả Chu Thị Hồng Nhung, có các phương pháp giáo dục theo chủ đề như sau:
- Tổ chức cho trẻ tham gia vào các hoạt động với các hình thức đa dạng, phong phú, đáp ứng nhu cầu, hứng thú và hoạt động tích cực của trẻ;
- Tạo cơ hội cho trẻ hoạt động, trải nghiệm, khám phá bằng vận động thân thể và các giác quan dưới nhiều hình thức;
- Chú trọng tổ chức hoạt động chủ đạo của từng lứa tuổi;
- Chú trọng đến việc trẻ “học như thế nào” hơn là “học cái gì”, coi trọng quá trình hơn là kết quả hoạt động; học một cách tích cực qua tìm hiểu, trải nghiệm, học thông qua sự hợp tác giữa trẻ với người lớn và giữa trẻ với trẻ;
- Coi trọng tổ chức môi trường cho trẻ hoạt động: tạo môi trường kích thích trẻ hoạt động tích cực, sáng tạo và phát triển phù hợp với từng cá nhân trẻ; xây dựng các khu vực hoạt động; tận dụng các điều kiện, hoàn cảnh sẵn có của địa phương; sử dụng các nguyên vật liệu sẵn có của địa phương;
- Chú trọng việc giao tiếp, gắn bó giữa người lớn với trẻ và trẻ với trẻ;
- Phối hợp các phương pháp hợp lí nhằm tăng cường ở trẻ tính chủ động, tích cực hoạt động, đảm bảo trẻ “học mà chơi, chơi mà học”;
- Coi trọng tiếp cận cá nhân trong chăm sóc, giáo dục trẻ [1.17]
1.4 Quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề ở trường mầm non
1.4.1 Vai trò, nhiệm vụ của Ban giám hiệu nhà trường trong quản lý hoạt động GD ở trường mầm non
Điều lệ trường mầm non quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của Ban giám hiệu nhà trường như sau [1.6]:
* Hiệu trưởng: Là người chịu trách nhiệm tổ chức, quản lý các hoạt động
và chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em Để hoàn thành được nhiệm vụ trên, Hiệu trưởng cần:
Trang 31- Xây dựng quy hoạch phát triển nhà trường, lập kế hoạch và tổ chức thực hiện chương trình giáo dục từng năm học, báo cáo đánh giá kết quả thực hiện trước Hội đồng nhà trường và các cấp có thẩm quyền;
- Thành lập các tổ chuyên môn, tổ văn phòng và các hội đồng tư vấn trong nhà trường; bổ nhiệm tổ trưởng, tổ phó Đề xuất các thành viên của Hội đồng trường trình cấp có thẩm quyền quyết định;
Phân công, quản lý, đánh giá, xếp loại, tham gia quá trình tuyển dụng, luân chuyển, khen thưởng đối với giáo viên, nhân viên theo quy định;
- Quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính, tài sản của nhà trường;
- Tiếp nhận trẻ, quản lý trẻ và các hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, quyết định khen thưởng, phê duyệt đánh giá trẻ theo các nội dung nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ
- Dự các lớp bồi dưỡng về chính trị, nghiệp vụ, chuyên môn, tham gia các hoạt động giáo dục 2 giờ trong một tuần, được hưởng chế độ phụ cấp và các chính sách ưu đãi quy định;
- Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở và tạo điều kiện cho các tổ chức chính trị - xã hội trong nhà trường, nhà trẻ hoạt động nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ;
- Thực hiện xã hội hóa giáo dục, phát huy vai trò của nhà trường đối với cộng đồng
* Phó hiệu trưởng: Là người giúp việc cho Hiệu trưởng và chịu trách nhiệm trước Hiệu trưởng Nhiệm vụ của Hiệu phó là:
- Chịu trách nhiệm điều hành công việc do Hiệu trưởng phân công
- Điều hành hoạt động của nhà trường, nhà trẻ khi Hiệu trưởng ủy quyền
- Dự các lớp bồi dưỡng về chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ quản lý, tham gia các hoạt động giáo dục 4 giờ trong một tuần; được hưởng chế độ phụ cấp và các chính sách ưu đãi theo quy định
1.4.2 Nội dung của quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề ở trường mầm non
Trang 321.4.2.1 Lập kế hoạch giáo dục theo chủ đề
Lập kế hoạch giáo dục theo chủ đề thực chất là việc lên kế hoạch giáo dục, kế hoạch dạy học phù hợp với chế độ sinh hoạt cho phù hợp với nội dung chương trình theo từng giai đoạn Trách nhiệm của các giáo viên là lên kế hoạch giáo dục, tổ chức các hoạt động trải nghiệm giúp trẻ khám phá các chủ
đề phù hợp với mục tiêu giáo dục Như vậy, xây dựng kế hoạch giáo dục theo chủ đề là việc dự kiến hệ thống các mục tiêu cần đạt được trên trẻ, xác định và lựa chọn nội dung, phương pháp giáo dục trẻ để thực hiện mục tiêu trong một khoảng thời gian nhất định và lên kế hoạch đánh giá việc thực hiện nội dung giáo dục trong khoảng thời gian đó
Xây dựng kế hoạch giáo dục theo chủ đề cho trẻ mầm non phải có sự chỉ đạo thống nhất các loại kế hoạch trong nhà trường từ kế hoạch năm của Hiệu trưởng đến kế hoạch chuyên môn của Phó Hiệu trưởng và kế hoạch giáo dục trẻ của giáo viên Khi xây dựng kế hoạch giáo dục phải căn cứ vào chương trình, các sách hướng dẫn phù hợp với đặc điểm của trẻ và điều kiện hoàn cảnh kinh
tế văn hóa của địa phương Nhà quản lý cần có sự kiểm tra, giám sát mục tiêu đưa ra trong kế hoạch có hợp lý không, việc lựa chọn phương pháp, biện pháp, điều kiện như thế nào để có sự điều chỉnh, thay đổi kế hoạch
Khi xây dựng kế hoạch giáo dục theo chủ đề cho trẻ mầm non phải đảm bảo một số nguyên tắc sau:
- Xây dựng kế hoạch phải quán triệt mục tiêu GDMN vì nó có vai trò định hướng cho việc lựa chọn nội dung, hình thức, phương pháp tổ chức GD
- Xây dựng kế hoạch phải đảm bảo tính khoa học và tính thực tiễn Cán
bộ quản lý và giáo viên phải nắm vững chương trình giáo dục mầm non cấp quốc gia, quan điểm chỉ đạo và quản lý việc thực hiện chương trình, đặc điểm tâm sinh lý của trẻ ở từng độ tuổi
- Xây dựng kế hoạch phải đảm bảo tính phát triển: việc lựa chọn nội dung, xác định yêu cầu cần đạt, sử dụng các phương pháp GD thể hiện trong kế
Trang 33hoạch phải ở mức độ cao hơn so với khả năng thực hiện của trẻ, hướng vào
“vùng phát triển gần nhất”, khuyến khích trẻ có thái độ tích cực, tìm tòi, khám phá và đạt được những tiến bộ mới
- Xây dựng kế hoạch phải đảm bảo tính toàn diện: kế hoạch không chỉ đề cập đến một hoăc hai chủ đề hoạt động chủ yếu của trẻ mà nội dung kế hoạch phải thể hiện được tất cả các hoạt động giáo dục trẻ nhằm tạo nên những tác động sư phạm mang tính tổng hợp thông qua việc tổ chức đầy đủ các hoạt động chăm sóc và giáo dục trẻ ở mọi thời điểm sinh hoạt hàng ngày
Đảm bảo tính pháp lệnh của kế hoạch: kế hoạch phải được xây dựng trên
cơ sở chương trình GDMN do Bộ GD&ĐT ban hành
Để thực hoạt động GD theo chủ đề ở mầm non, cán bộ quản lý và giáo viên cần xây dựng các kế hoạch sau:
- Kế hoạch năm học
- Kế hoạch chủ đề của mẫu giáo (Kế hoạch tháng của nhà trẻ)
- Kế hoạch hoạt động trong tuần
- Kế hoạch hoạt động trong ngày
- Kế hoạch kiểm tra, đánh giá điều chỉnh hoạt động GD
1.4.2.1 Tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục theo chủ đề
Muốn hoạt động GD trở thành hiện thực, mục tiêu trở thành kết quả thì việc tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch có ý nghĩa quyết định Đây là nội dung
cơ bản tạo ra hiệu quả thực sự của hoạt động quản lý Tổ chức thực hiện kế hoạch GD theo chủ để ở mầm non gồm những nội dung sau:
- Tổ chức triển khai các văn bản chỉ đạo thực hiện chương trình giáo dục theo chủ đề Các văn bản chỉ đạo là cơ sở để thực hiện chương trình GD Chính
vì vậy, việc triển khai tốt các văn bản chỉ đạo tới cán bộ, giáo viên sẽ giúp họ nắm vững, nắm chắc và thực hiện chương trình giáo dục đúng hướng, tránh trường hợp hiểu sai lệch, thực hiện không đúng chỉ đạo
- Tổ chức thực hiện nội dung giáo dục theo chủ đề: nội dung giáo dục được xây dựng theo từng lĩnh vực phát triển đảm bảo phối hợp chặt chẽ nội
Trang 34dung chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ Nội dung GD được tổ chức và cung cấp cho trẻ theo hướng tích hợp theo chủ đề; đảm bảo nguyên tắc đồng tâm phát triển và phù hợp với độ tuổi
- Tổ chức đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức các hoạt động GD: đổi mới phương pháp giáo dục nhằm giúp trẻ phát huy tính tích cực, ham hiểu biết, thích khám phá, sáng tạo, tự tin giải quyết các nhiệm vụ trong đời sống hang ngày của trẻ, rèn luyện kĩ năng sống cho trẻ sẵn sàng bước vào cấp học cao hơn Đổi mới phương pháp giáo dục là yêu cầu cấp thiết để nâng cao chất lượng GDMN, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
Tổ chức tạo môi trường cho trẻ hoạt động: môi trường GD trong trường mầm non có vai trò vô cùng quan trọng nhằm thỏa mãn như cầu vui chơi, hoạt động của trẻ, thong qua đó nhân cách của trẻ được hình thành và phát triển toàn diện Môi trường sạch sẽ, an toàn, có sự giao tiếp cởi mở giữa cô và trẻ sẽ giúp trẻ phát triển về thể chất, thỏa mãn nhu cầu nhận thức, có cơ hội được chia sẻ Việc xây dựng môi trường giáo dục phù hợp là điều kiện, phương tiện để nhà giáo dục tác động đến sự phát triển phù hợp với từng trẻ và từng lứa tuổi
Tổ chức đánh giá sự phát triển của trẻ của giáo viên: đánh giá trẻ là một nội dung quan trọng trong chương trình GDMN, giúp giáo viên hiểu trẻ, biết những điểm mạnh, điểm yếu trong quá trình chăm sóc, giáo dục của mình, từ
đó có thể xây dựng, điều chỉnh kế hoạch phù hợp với sự phát triển của trẻ và thực tế nhóm lớp
- Bồi dưỡng CBQL, GV: trong chủ trương đổi mới GDMN đòi hỏi phải
có một đội ngũ CBQL đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng để có thể đáp ứng với một chương trình GDMN có độ mở rất cao Cán bộ quản lý là những người chỉ đạo chuyên môn trong nhà trường nên cán bộ quản lý có năng lực tốt thì mới có thể chỉ đạo tốt Đội ngũ giáo viên là nhân tố chính quyết định chất lượng của nhà trường vì GV là người xây dựng kế hoạch và trực tiếp chăm sóc
Trang 35- giáo dục trẻ Do vậy, tang cường bồi dưỡng CBQL và GV là vấn đề then chốt trong thực hiện tốt hoạt động GD theo chủ đề
- Trang bị, sử dụng hiệu quả tài liệu, thiết bị dạy học, đồ dung, đồ chơi: việc trang bị đầy đủ đồ dung, đồ chơi, tài liệu, thiết bị dạy học sẽ góp phần đổi mới phương pháp tổ chức các hoạt động giáo dục, nâng cao chất lượng thực hiện chương trình GDMN mới Đồng thời, qua đó giúp giáo viên nhận thức rõ vai trò, tác dụng của đồ dùng, đồ chơi trong việc thực hiện đổi mới, biết khai thác triệt để, hiệu quả vào các hoạt động theo từng chủ đề
1.4.2.3 Kiểm tra đánh giá hoạt động giáo dục theo chủ đề
Kiểm tra là một trong những công việc có vị trí đặc biệt quan trọng trong quản lý nhà trường Quản lý mà không có kiểm tra coi như không quản lý bởi kiểm tra là một khâu của quản lý, là một chức năng cơ bản trong quá trình quản
lý Vì thế, kiểm tra việc thực hiện hoạt động GD theo chủ đề được coi là một nhiệm vụ quan trọng của lãnh đạo nhà trường nhằm đánh giá thực chất việc thực hiện chương trình GD, từ đó, có các biện pháp điều chỉnh cho phù hợp Kiểm tra thực hiện hoạt động GD theo chủ đề bao gồm:
- Kiểm tra thực hiện kế hoạch giáo dục
- Kiểm tra việc tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ
- Kiểm tra cơ sở vật chất, việc tạo môi trường, sử dụng đồ dùng, đồ chơi cho trẻ hoạt động
- Kiểm tra việc đánh giá trẻ của giáo viên
- Kiểm tra hồ sơ, sổ sách chuyên môn của phó hiệu trưởng và giáo viên
- Kiểm tra công tác phối kết hợp với phụ huynh trong thực hiện chương trình
- Thực hiện công tác kiểm tra lại
- Điều chỉnh việc thực hiện chương trình giáo dục theo chủ đề sau kiểm tra, đánh giá
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục theo chủ đề ở trường mầm non
Trang 36Công tác quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề ở trường MN chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, bao gồm cả yếu tố chủ quan và khách quan
1.5.1 Yếu tố chủ quan
- Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ quản lý của CBQL
Sự phát triển của nhà trường phụ thuộc rất lớn vào trình độ chuyên môn, nghiệp vụ quản lý của đội ngũ CBQL Hiệu trưởng nhà trường là người trực tiếp lựa chọn, quyết định cách thức xây dựng và hoạch định chiến lược phát triển nhà trường Tuy nhiên, trong thực tế, còn nhiều cán bộ quản lý vẫn chưa nhận thức được đầy đủ nhiệm vụ, vai trò của mình cũng như sự non kém về trình độ chuyên môn trong quản lý nhà trường chính vì vậy, hiệu quả giáo dục của nhà trường bị suy giảm từ đó, dẫn đến sự suy giảm uy tín của nhà trường
- Tuổi đời và kinh nghiệm của CBQL
Không thể phủ nhận vai trò của kinh nghiệm trong công tác quản lý Để quản lý hiệu quả, CBQL cần sự hiểu biết sâu sắc về các lực lượng tham gia giáo dục như cha mẹ trẻ, chính quyền địa phương, các cấp quản lý Những hiểu biết này được tích lũy và làm sâu sắc thêm trong quá trình công tác của CBQL, giúp họ chủ động và ứng phó tốt với các nhiệm vụ hay vấn đề thường xuyên và đột xuất nảy sinh
- Sự linh hoạt, sáng tạo trong quản lý
Quản lý là một hoạt động nghề nghiệp đặc thù và phức tạp bởi sự đa dạng về đặc điểm nhân cách, tâm lý của các đối tượng tham gia vào giáo dục nhà trường Bên cạnh đó, trong một môi trường giáo dục đang có những biến động toàn diện và mạnh mẽ như hiện nay đòi hỏi nhà quản lý cần phát huy tính linh hoạt sáng tạo để giải quyết tốt những mâu thuẫn trong giáo dục đồng thời, làm tăng tính cạnh tranh và sức hấp dẫn của nhà trường
- Ý thức tự bồi dưỡng của CBQL
1.5.2 Yếu tố khách quan
Trang 37- Cơ sở vật chất, thiết bị đồ dùng, đồ chơi tối thiểu để đáp ứng yêu cầu của HĐGD theo chủ đề
Khác với các cấp, bậc học khác, đặc thù tâm lý của trẻ mầm non là học thông qua hoạt động chơi cho nên mỗi nhà trường cần đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng CSVC, đồ dùng, đồ chơi phục vụ dạy học
- Sự biến đổi của đội ngũ giáo viên
Sự ổn định của đội ngũ giáo viên mầm non là yếu tố rất quan trọng đối với hoạt động của nhà trường Hiện nay, đội ngũ giáo viên mầm non không thiếu về số lượng nhưng chất lượng lại là vấn đề cần phải suy ngẫm Việc tốt nghiệp một khóa đào tạo về giáo dục mầm non chưa đảm bảo giáo viên đó sẽ trở thành giáo viên giỏi nghề, nhất là với một công việc thiên về kĩ năng như dạy trẻ mầm non Chính vì vậy, một trong những yếu tố quyết định đến sự phát triển bền vững của nhà trường là sự ổn định về đội ngũ giáo viên
- Trình độ, năng lực, nhận thức của giáo viên trong tổ chức HĐ giáo dục theo chủ đề
Giáo viên là người tác động trực tiếp đến trẻ và cũng là người trực tiếp tạo ra sản phẩm giáo dục Cho nên, trình độ, năng lực và nhận thức của giáo viên cần được đánh giá, kiểm soát thật tốt Thực trạng chung đối với giáo dục mầm non là trình độ đội ngũ giáo viên không đồng đều, cùng với các chế độ đãi ngộ còn hạn chế dẫn đến nhiều giáo viên giảm lòng yêu nghề, nhiệt huyết với công việc Đây là thách thức lớn đặt ra đối với CBQL nhà trường trong kế hoạch bồi dưỡng, đào tạo để nâng cao trình độ đội ngũ
- Sự ủng hộ của phụ huynh học sinh và cộng đồng
Một trong những nguyên tắc trong giáo dục nói chung và giáo dục mầm non nói riêng là phải kết hợp giữa nhà trường - gia đình - xã hội Trong điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn, nguồn kinh phí cấp cho các trường thường không đủ so với nhu cầu hoạt động thì sự hỗ trợ cả về vật chất và tinh thần của
Trang 38phụ huynh và cộng đồng rất có ý nghĩa đối với nhà trường để nâng cao chất lượng giáo dục
Trang 39Kết luận chương 1
Trong chương 1, chúng tôi đã tìm hiểu lịch sử nghiên cứu vấn đề và một
số khái niệm công cụ của đề tài và các vấn đề lý luận khác liên quan đến quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề ở trường mầm non như: nội dung cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến QL hoạt động GD theo chủ đề… Trên cơ sở đó, tác giả có thể kết luận như sau:
- Giáo dục mầm non là bậc học rất quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân bởi nó có tác động sâu sắc đến sự phát triển cả về thể chất lẫn trí tuệ của trẻ sau này Chính vì vậy, đổi mới phương pháp giáo dục mầm non theo hướng tích hợp theo chủ đề là cần thiết, bắt kịp với xu thế chung của các nước trong khu vực và thế giới
- Giáo dục theo chủ đề là định hướng đúng đắn để đổi mới một cách toàn diện hệ thống giáo dục mầm non Mô hình giáo dục theo chủ đề nằm trong chương trình giáo dục mầm non mới được triển khai từ năm 2000 và hiện nay đã được triển khai rộng khắp cả nước Những ưu điểm và nhược điểm của hình thức giáo dục này đã được tổng kết cả về lý luận và thực tiễn
- Có nhiều yếu tố tác động đến quá trình tổ chức hoạt động giáo dục theo chủ đề ở mầm non, một mô hình còn tương đối mới mẻ ở Việt Nam Cụ thể là: chất lượng đội ngũ giáo viên, điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, sự phối hợp giữa nhà trường - phụ huynh học sinh và cộng đồng xã hội… Trong đó, yếu tố quản lý có vai trò quyết định đối với việc nâng cao chất lượng nói chung của bậc học mầm non
Bởi vậy, nghiên cứu các biện pháp quản lý sẽ giúp cải thiện hiệu quả việc
tổ chức hoạt động giáo dục theo chủ đề ở trường mầm non, góp phần vào cải thiện chất lượng giáo dục Việt Nam
Trang 40Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC THEO CHỦ ĐỀ Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, QUẢNG NINH
2.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu
2.1.1 Đặc điểm địa lý, kinh tế - xã hội thành phố Uông Bí
Uông Bí nằm cách Thủ đô Hà Nội 130 km, cách thành phố Hải Dương
60 km, cách trung tâm thành phố Hải Phòng 30 km, cách thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 45 km; có mạng lưới giao thông đường bộ, đường sắt
và đường thủy rất thuận tiện cho việc giao lưu, tiêu thụ hàng hóa Uông Bí nằm trong vùng tam giác động lực phát triển miền Bắc là Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, do đó rất thuận tiện cho việc thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước Đặc biệt trên địa bàn thị xã có khu di tích lịch sử văn hóa và danh thắng cấp Quốc gia Yên Tử (Kinh đô Phật giáo - Thiền phái Trúc Lâm Việt Nam), Đình Đền Công; các khu di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh như: Hang son, Ba Vàng, Chùa Phổ Am và các khu du lịch sinh thái như: Hồ Yên Trung, Lựng Xanh Đây là những tiềm năng nổi trội, điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế và du lịch, dịch vụ của thành phố cũng như của tỉnh Quảng Ninh; Uông Bí có nguồn tài nguyên khoáng sản than rất lớn (khu vực có trữ lượng than lớn nhất Quảng Ninh) đang được khai thác; đây là ngành công nghiệp quan trọng thúc đẩy các ngành công nghiệp điện,
cơ khí, sản xuất vật liệu xây dựng, phát triển các khu công nghiệp tập trung tại Vàng Danh, khu vực phía Nam Quốc lộ 18A, ven Quốc lộ 10 và khu đê Vành Kiệu Thành phố có vị trí đặc biệt quan trọng về quốc phòng, an ninh,
là tuyến phòng thủ phía Đông Bắc của Tổ quốc