1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Nội dung và phương pháp dạy giải toán có lời văn cho học sinh lớp 3 hiện nay, ở trường Tiểu học Đức Hòa – Sóc Sơn – Hà Nội.

20 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 234,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung và phương pháp dạy giải toán có lời văn cho học sinh lớp 3 hiện nay, ở trường Tiểu học Đức Hòa – Sóc Sơn – Hà Nội... Lý do chọn đề tài:.[r]

Trang 1

a mở đầu

I Lý do chọn đề tài:

Toán học, một môn học nghiên cứu về thế giới hiện thực và ứng dụng nó vào cuộc sống Môn toán có tác dụng bồi dưỡng trí thông minh, tư duy độc lập, linh hoạt, sáng tạo trong quá trình hình thành nền nếp và tác phong làm việc khoa học

Nội dung dạy toán ở lớp 3 kế thừa nội dung giải toán có lời văn ở lớp 1;2 mở rộng và phát triển nội dung phù hợp với sự phát triển nhận thức của học sinh lớp 3 Các bài toán:

" Gấp, giảm một số lần"; "So sánh hơn, kém nhau một số lần" ở lớp 3 cũ nay được chia nhỏ và tường minh hơn thành 4 dạng toán: " Gấp một số lên nhiều lần'; " Giảm đi một số lần"; ' So sánh số bé bằng một phần mấy số lớn'; "So sánh số lớn gấp mấy lần số bé'

Việc đưa các bài toán có nội dung hình học (Tính chu vi diện tích hình chữ nhật, hình vuông) mà toán 3 cũ không có đã góp phần khắc sâu các mạch kiến thức đã học:

số học , đại lượng, đo đại lượng nhằm đáp ứng mục tiêu của chương trình Toán 3 mới Chương trình Toán 3 mới đã giảm các bài toán phức tạp, các bài toán “sao” (ở SGK Toán 3 cũ ) và chỉ trình bày các bài toán cơ bản, ít phức tạp, tập chung giải quyết cho học sinh việc học phương pháp giải toán đơn ( có 1 phép tính ) sang giải bài toán hợp (

có hai phép tính )

Các bài toán trong SGK Toán 3 đã lựa chọn nội dung đảm bảo tính cập nhật, gắn liền với cuộc sống, gần gũi xung quanh trẻ và tình huống “ có thực” đối với học sinh lớp

3 Tăng cường các bài tập thực hành và rèn luyện kĩ năng giải toán như: Trình bày, diễn

đạt nói và viết ( tóm tắt bài toán, lập đề toán, nêu câu lời giải…) Cùng thao tác tư duy trong giải toán ( phân tích bài toán, tìm yêu cầu của bài toán, liên hệ giữa “cái chưa biết’

và “ cái đã biết ” để tìm cách giải Điều này còn được thể hiện qua các bài tập thực hành rèn luyện kĩ năng giải toán có nội dung hình học ( Tính chu vi, diện tích hình chữ nhật, hình vuông )

Chính vì những lí do trên nên tôi quyết định chọn đề tài: “Nội dung và phương pháp dạy giải toán có lời văn cho học sinh lớp 3, trường Tiểu học Đức Hòa - Sóc Sơn - Hà Nội.

Với mong muốn tìm hiểu sâu đề tài để góp phần nâng cao chất lượng dạy học toán

ở Tiểu học cho bản thân ở những năm tiếp theo

Trang 2

II Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài gồm những mục tiêu sau:

- Tìm hiểu kĩ về nội dung chương trình Toán 3, cụ thể là mạch kiến thức: "Giải toán

có lời văn"

- Tìm hiểu phương pháp giải toán có lời văn ở Toán 3 để nhằm góp phần vào việc nâng cao chất lượng dạy giải toán 3

III Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu SGK, vở bài tập, SGV môn toán 3

- Tìm hiểu yêu cầu kiến thức, kĩ năng cần đạt được khi dạy giải toán ở Tiểu học

- Tìm hiểu nội dung, phương pháp dạy học các dạng toán có lời văn ở lớp 3

- Trình bày cụ thể một số bài dạy

IV Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu:

Nội dung và phương pháp giải toán SGK Toán 3 chương trình mới

- Phạm vi nghiên cứu:

SGK, SGV chương trình Toán 3 phần: "Giải toán có lời văn"

V Phương pháp nghiên cứu

- Đọc tài liệu nghiên cứu SGK, sách hướng dẫn có liên quan

- Tự bản thân phân tích, hệ thống hoá tài liệu, SGK

- Thông qua kinh nghiệm giảng dạy thực tế

- Trao đổi với đồng nghiệp

Trang 3

b Nội dung Chương I: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn

I Cơ sở lí luận:

1 Vị trí, tầm quan trọng của môn toán ở bậc Tiểu học.

Chúng ta đã biết, giáo dục Tiểu học là bậc học có vị trí quan trọng trong trong sự nghiệp giáo dục Tiểu học là bậc học có nền móng đầu tiên hình thành và phát triển kiến thức cho học sinh

Mục tiêu giáo dục tiểu học đang hướng tới đào tạo những con người lao động chủ

động, sáng tạo và linh hoạt, sẵn sàng và thích ứng với điều kiện xã hội đang đổi mới từng ngày, từng giờ như hiện nay

Để đáp ứng được muục tiêu đó, trong chương trình của bậc Tiêu học, môn toán có

vị trí rất quan trọng Đây là một trong hai môn chiếm nhiều thời gian nhất trong toàn bộ chương trình Với tư cách là một bộ môn khoa học - môn toán giáo dục học học sinh

được nhiều mặt như: rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận để phát triển tính lôgic, bồi dưỡng và phát triển nhiều thao tác trí tuệ cần thiết để nhận biết thế giới hiện thực, trừu tượng hoá, khái quát hoá: kĩ năng phân tích, tổng hợp, so sánh, dự

đoán, chứng minh, bác bỏ Môn toán còn giúp học sinh nhận biết được số lượng và hình dạng không gian của sự vật, hiện tượng trong thế giới hiện thực Từ đó học sinh có

phương pháp nhận thức một số mặt của thế giới xung quanh và biết cách hoạt động có hiệu quả trong đời sống Ngoài ra môn toán còn góp phần giáo dục lí trí và đức tính tốt như: cần cù, chịu khó, ý thức vượt khó, cách suy nghĩ độc lập, linh hoạt, sáng tạo, làm việc có kế hoạch, có nề nếp và có tác phong khoa học, góp phần hình thành nhân cách cho học sinh - nhân cách của người lao động

2 Vị trí, tầm quan trọng của dạy giải toán có lời văn ở Toán 3.

Mặc dù thời gian dành cho giải toán có lời văn chỉ chiếm 9% tổng thời gian dạy toán trong chương trình Toán 3 Nhưng nó có vai trò không kém phần quan trọng

- Dạy học giải toán là một trong những con đường hình thành và phát triển trình độ tư duy ở học sinh ( phát triển và tự giải quyết vấn đề, tự nhận xét, tự so sánh phân tích

Trang 4

- Các bài toán có lời văn ngoài cách được trình bày thành những tiết riêng như:" Gấp một số lên nhiều lần", " Giảm đi một số lần", " So sánh số lớn gấp mấy lần số bé", Học sinh còn được thược hành xen kẽ trong các tiết học khác vì vậy giải toán còn góp phần củng cố, khắc sâu cho học sinh về kĩ năn tính toán: cộng, trừ, nhân, chia ( số học), củng

cố về các đơn vị đo đại lượng, đổi đơn vị đo, thực hành các phép tính trên đơn vị đo (với các bài toán có nội dung hình học)

- Nội dung các bài toán có lời văn gần gũi với cuộc sống hàng ngày của học sinh nên dạy giải toán cho phép mỗi cá nhân học sinh tự khám phá, tự phát hiện và giải quyết bài toán thông qua việc thiết lập mối quan hệ giữa kiến thức mới và kiến thức có liên quan đã học, kinh nghiệm của bản thân ( được học ở trường, trong đời sống thực tế )

3 Nội dung Toán 3:

Toán 3 gồm các nội dung: Số học ( số và phép tính ), đại lượng, các yếu tố hình học, gải toán có lời văn; một số yếu tố đại số và yếu tố thống kê được tích hợp trong nội dung số học vì vậy mục tiêu của dạy học toán 3 nói chung là giúp học sinh:

1 Biết đếm (từ một số nào đó đếm thêm một số đơn vị ) trong phạm vi 100 000

2.Biết đọc, viết các số trong phạm vi 100 000

3 Biết so sánh và sẵp xếp các số theo thứ tự từ bé đến lớn hoặc ngược lại

4 Biết thực hiện các phép tính cộng, trừ, nhân, chia trong phạm vi 100 000

5 Biết tính giá trị biểu thức số có đến hai dấu phép tính ( Có hoặc không có dấu ngoặc)

6 Biết tìm một thành phần chưa biết của phép tính

7 Biết tìm một trong các thành phàn bằng nhau của một số (trong phạm vi phép chia

đơn giản đã học)

8 Biết đo và ước lượng các đại lượng thường gặp: Ki - lô - gam, gam, giờ, phút, ngày, tháng, năm, biết sử dụng lịch và đồng hồ, nhận biết bước đầu về thời điểm và khoảng thời gian , có hiểu biết ban đầu về diện tích một hình và đơn vị đo diện tích (chỉ giới thiệu cm2)

9 Biết thêm về hình chữ nhật, hình vuông: nhận biết các yếu tố của hình ( góc,cạnh,

đỉnh) và đặc điểm của hình chữ nhật, hình vuông Biết tính chu vi, diện tích hình chữ nhật, hình vuông

10 Bước đầu vận dụng kiến thức, kĩ năng của môn toán để giải quyết các vấn đề đơn

Trang 5

- Đọc và sắp xếp các số liệu (trong một bảng)

- Giải toán có lời văn ( không qúa hai bước tính)

Trong 4 mạch kiến thức cơ bản của toán 3, mỗi mạch kiến thức đều có những yêu cầu cơ bản cần đạt được hay còn gọi là " chuẩn kiến thức"

Vậy mức độ chuẩn kiến thức của việc dạy toán 3 là:

Học sinh biết giải và trình bày bài giải các bài toán giải bằng hai phép tính ( bài toán hợp dạng đơn giản)

Học sinh biết giải và trình bày bài giải các bài toán về:

" Gấp một số lên nhiều lần'; " Giảm đi một số lần"; ' So sánh số bé bằng một phần mấy

số lớn'; "So sánh số lớn gấp mấy lần số bé'

Biết giải và trình bày bài giải các bài toán liên quan đến rút về một đơn vị, các bài toán

có nội dung hình học

Tự đặt đề toán theo điều kiện cho trước

II Cơ sở thực tiễn.

1 Tình hình chung của trường Tiểu học Đức Hoà:

Trường Tiểu học Đức Hoà là trường nằm ở vùng nông thôn của huyện Sóc Sơn Đội ngũ giáo viên lớp 3 là 4 người Đa số các đồng chí giáo viên giàu kinh nghiệm giảng dạy Học sinh với số lượng 114 em, 4 lớp, học sinh học hai buổi trên ngày 100%

Việc thực hiện thay SGK lớp 3 mới thực hiện trong thời gian ngắn, là một vấn đề còn mới mẻ đối với mỗi giáo viên Thực tế đó đòi hỏi mỗi GV phải chủ động, tích cực tìm hiểu về nội dung chương trình, về SGK cũng như về phương pháp giảng dạy Từ đó có những phương pháp dạy học thích hợp giúp học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức mới, phát huy tối đa hiệu quả của phương pháp dạy học: "Tích cực hoá hoạt động của học sinh".

Hơn nữa thời gian học tập, bồi dưỡng về chương trình thay sách giáo khoa cho giáo viên còn hạn chế (chỉ 1; 2 ngày) cho môn toán Nếu chỉ trong thời gian ít ỏi như vậy, mỗi giáo viên không thể nắm bắt một cách sâu sắc, kĩ càng về nội dung chương trình và SGK nên không thể chủ động trong giảng dạy dẫn đến chất lượng giảng dạy không được như mong muốn

Trang 6

Giải toán có lời văn không phải là yếu tố mới mẻ đối với học sinh lớp 3 nhưng trong thực tế giảng dạy chúng ta đều thấy rằng học sinh còn rất lúng túng trong việc tìm mối

quan hệ giữa "cái đã biết" và " cái cần tìm" Nhiều học sinh còn có câu trả lời sai so với

phép tính và bài toán

Ví dụ: Một miếng bìa hình chữ nhật có chiều dài 14 cm, chiều rộng 5 cm Tính diện tích miếng bìa đó

Học sinh trình bày:

Diện tích của hình chữ nhật đó là:

14 x 5 = 70 (cm2)

Đúng ra các em phải ghi câu lời giải:

"Diện tích của mảnh bìa đó là:" hoặc "Diện tích của mảnh bìa hình chữ nhật đó là:" Tuy nhiên với chủ trương chung trong việc thay đổi phương pháp dạy học Cán bộ giáo viên tiếp thu và vận dụng nhanh chóng đạt hiệu quả Đặc biệt trong việc tổ chức dạy học theo hướng "Tích cực hoá hoạt động của học sinh".đã được mọi GV nghiên

cứu tổ chức thực hiện trong giờ lên lớp Chính vì thế kết quả giáo dục - dạy học đã ngày càng nâng cao

2 Chất lượng môn toán của học sinh lớp 3:

Học kì I, năm học 2009 - 2010:

(Tập hợp theo bảng sau)

Lớp

Trang 7

Chương II: nội dung, chương trình và phương phá p dạy giải

toán ở sách giáo khoa toán 3

I Nội dung chương trình.

Nội dung chủ yếu dạy học giải toán bao gồm:

1) So sánh hai số hơn kém nhau một số đơn vị - ( Tiết 12 )

2) Tìm một trong các phần bằng nhau của một số -(Tiết 25)

3) Gấp một số lên nhiều lần- (Tiết 33)

4) Giảm đi một số lần - (Tiết 37)

5) Giải bài toán bằng hai phép tính - (Tiết 50, tiết 51)

6) So sánh số lớn gấp mấy lần số bé - (Tiết 57)

7) So sánh số bé bằng một phần mấy số lớn - (Tiết 61)

8) Bài toán liên quan đến rút về đơn vị - (Tiết 122, tiết 157)

9) Bài toán có nội dung hình học ( Tính chu vi, diện tích hình chữ nhật, hình vuông) Ngoài ra nội dung giải toán còn được sắp xếp hợp lí, đan xen và phù với các mạch kiến thước khác trong SGK (Các bài toán về số học, đo đại lượng )

II Phân tích nội dung và phương pháp dạy giải toán.

(Các dạng bài cụ thể ở sách giáo khoa Toán 3 )

Dạng 1: So sánh hai số hơn kém nhau bao nhiêu đơn vị.

Đây chính là bài: "Ôn tập giải toán" trang 12 - SGK Toán 3 - Tiết 12

Đối với những bài tập này, Giáo viên cần chú ý cho học sinh biết thuật ngữ " hơn",

"kém" để học sinh có định hướng đúng về cách giải bài tập Những bài tập dạng này học sinh đã học kĩ ở các lớp 1; 2 nên trong phạm vi đề tài này tôi xin phép không đề cập đến

Dạng 2: Tìm một trong các phần bằng nhau của một số:

Cách tìm một trong các phần bằng nhau của một số được khái quát như sau:

"Muốn tìm một trong các phần bằng nhau của một số ta lấy số đó chia cho số phần".

Dạng bài tập này được học ở tiết 25 Mục tiêu dạy bài này là giúp học sinh biết cách tìm một trong các phần bằng nhau của một số và vận dụng để giải các bài toán có nội dung thực tế Kiến thức của bài học được vận dụng trên cơ sở học sinh đã có biểu tượng

Trang 8

về: ; ; ; đã học ở lớp 2, ở lớp 2 các em đã biết tìm ; ; ; trên một số

2

1

3

1

4

1

5

1

2

1 3

1 4

1 5 1

hình ảnh cụ thể như: chia một hình vuông thành một số ô, chia số con gà, số con

chim và chỉ dừng lại ở mức độ nhận biết chứ chưa hình thành cách tìm Lên lớp 3 đã

được khái quát hơn, trừu tượng hơn một số bước đó là học sinh biết tìm ra một trong các

phần bằng nhau của một số như: Ki - lô - gam, số mét, số lít

Sau đây là phương pháp dạy học bài: " Tìm một trong các phần bằng nhau của một số".

* Hướng dẫn học sinh tìm một trong các phần bằng nhau của một số:

Giáo viên nêu bài toán: Chị có 15 cái kẹo, chị cho em số kẹo đó Hỏi chị cho

3 1

em mấy cái kẹo?

Giáo viên cho học sinh đọc kĩ đề và trả lời câu hỏi:

+ "Bài toán cho biết gì?"

(Chị có 15 cái kẹo, chị cho em số kẹo)

3 1

+ "Bài toán hỏi gì?"

(Chị cho em mấy cái kẹo? )

Bước 1: Sử dụng đồ dùng trực quan.

- GV đưa ra 15 cái kẹo và hỏi"

"Số kẹo này được chia làm mấy phần bằng nhau?" (3 phần)

" Vì sao lại chia làm 3 phần?" (Vì chị cho em số kẹo)

3 1

- Yêu cầu HS chia số kẹo thành 3 phần bằng nhau và hỏi: "Vậy 1/3 số kẹo là bao nhiêu cái?"

(HS có thể đếm để trả lời: 5 cái kẹo)

Bước 2: Khái quát bằng sơ đồ đoạn thẳng.

( GV vẽ lên bảng )

15 cái kẹo

? cái kẹo

Trang 9

+ Biểu thị 15 cái kẹo bằng một đoạn thẳng.

GV dùng phương pháp giảng giải, minh hoạ để giải thích cho học sinh cách chia

đoạn thẳng ra làm 3 phần bằng nhau (GV vừa nói vừa thao tác trên bảng - vẽ và chia

đoạn thẳng vừa vẽ ra làm 3 phần bằng nhau)

+ Gọi học sinh lên chỉ ra phần đoạn thẳng chỉ 1/ 3 số kẹo

+1/3 số kẹo này chị đã làm gì? (Chị đã cho em)

+ Vậy muốn tìm số kẹo chị cho ấy, em làm như thế nào? ( HS trả lời )

+ Như vậy muốn tìm 1/3 của 15 ta làm như thế nào? (Lấy 15 : 3)

+ GV ghi: Chia 15 cái kẹo làm 3 phần bằng nhau thì mỗi phần sẽ là 1/3 số kẹo

+ Yêu cầu HS tự nêu lời giải của bài toán

* Lưu ý: Dạng bài này nên tóm tắt bằng sơ đồ doạn thẳng.

Bước 3: Khắc sâu kiến thức.

- GV có thể hỏi:

+ Vậy 1/5 của 15 cái kẹo là bao nhiêu cái kẹo? (3 cái )

+ Làm thế nào để tìm 3 cái? ( Lấy 15 : 5 = 3 (cái kẹo))

+ Em có thể thay 1/3 bằng 1 phần mấy (1/4 ; 1/6) Học sinh thay và nêu cách tìm số kẹo

* Lưu ý: Vì học sinh mới chỉ học số tự nhiên nên GV cần chú ý đến điều kiện chia hết

khi nêu câu hỏi

Bước 4: Khái quát hoá kiến thức.

GV đưa ra trường hợp tổng quát nhất

- Mốn tìm một trong các phần bằng nhau của một số ta làm thế nào?

( Muốn tìm một trong các phần bằng nhau của một số ta lấy số đó chia cho số phần) Bước 5: Luyện tập thực hành.

HS làm bài tập 1; 2 - SGK Toán 3

Bài tập 2: Yêu cầu học sinh tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng

- Học sinh đọc đề

Trang 10

- Tóm tắt 40m

?m

* Chú ý: Chia đoạn thẳng làm 5 phần có độ dài bằng nhau

- Thiết lập mối quan hệ giữa cái đã biết và cái chưa biết:

+ Bài này thuộc dạng toán gì? (Tìm một trong các phần bằng nhau của một số.) + Tìm số vải bán đi như thế nào? (40 : 5 = 8 (m))

- Trình bày lời giải: (HS nêu miệng và trình bày lời giải vào vở )

- ứng dụng kiến thức:

+ Tập đặt đề toán theo kiến thức đã học ( GV yêu cầu HS trao đổi theo nhóm tự đặt

đề theo dạng bài đã học)

Ví dụ 1: Nam có 20 viên bi, Nam cho Tùng 1/4 số bi đó Hỏi Nam đã cho Tùng mấy viên bi?

Ví dụ 2: Nhà Lan có nuôi 25 con gà Mẹ đã bán đi 1/5 số gà đó.Hỏi mẹ Lan đã bán đi bao nhiêu con gà?

Ví dụ 3: Chị có 24 nhãn vở, chị cho em 1/6 số nhãn vở đó Hỏi chị cho em bao nhiêu nhãn vở?

* Lưu ý: Trước bài này HS mới chỉ học đến bảng chia 6 nên khi đặt đề cũng chỉ dừng lại

ở tìm đến 1/6 mà thôi

Dạng 3: Gấp một số lên nhiều lần.

Nội dung của bài được phát biểu một cách tổng quát như sau: "Muốn gấp một số lên nhiều lần, ta lấy số đó nhân với số lần."

Bài này được dạy ở tiết 33 Mục tiêu; Nhằm giúp HS biết thực hiện gấp một số lên nhiều lần (Bằng cách nhân số đó với số lần), giải được bài tập ứng dụng thực tế Phân biệt nhiều hơn một số đơn vị với gấp lên một số lần

Kiến thức của bài học được vận dụng trên cơ sở HS đã học nhân số có hai chữ số với

số có một chữ số, các bảng nhân từ bảng nhân 2 đến bảng nhân 7

Ngày đăng: 31/03/2021, 07:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w