1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

Đề tài: “Rèn kỹ năng viết đúng chính tả cho học sinh Lớp 1”

20 311 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 622,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nhiều hình thức như: Làm trên bảng lớp, làm vào vở hay phiếu bài tập, trò chơi… Mặt khác, giáo viên không những chỉ dạy cho học sinh viết đúng chính tả mà còn phải dạy cho học sinh biết [r]

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Giáo dục là nền tảng của sự phát triển con người về mọi mặt Thời gian qua giáo viên là những người cố gắng hết sức trong sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ Nhờ đó mà ngành giáo dục đã đạt được những thành tích đáng kể Những người làm giáo dục phải có lòng nhiệt huyết với nghề Ngoài việc rèn luyện phẩm chất đạo đức, tác phong, giáo viên còn có nhiệm vụ không kém phần quan trọng đó là không ngừng học hỏi và nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ

Giáo viên luôn là chiếc cầu nối cho học sinh nắm bắt được kiến thức cơ bản về con người, tự nhiên, xã hội… và một số kĩ năng cơ bản: nghe, nói, đọc, viết, của Tiếng việt, là một trong những mảng kiến thức quan trọng ấy Đọc - viết, nghe - viết là những kĩ năng đặc trưng của phân môn Chính tả là một trong những vấn đề đang được quan tâm nhằm nâng cao chất lượng của môn Tiếng Việt trong nhà trường Vì vậy là giáo viên dạy Lớp 1 tôi phải đặc biệt chú ý đến vấn đề học chính tả của các em ngay ở lớp đầu cấp

Chính tả là kỹ năng thật sự cần thiết đối với mọi người, không chỉ đối với học sinh tiểu học Nếu ta đọc một văn bản được viết đúng chính tả, người đọc có cơ sở để hiểu đúng nội dung văn bản đó Trái lại, đọc một văn bản mắc nhiều lỗi chính tả, người đọc khó nắm bắt nội dung và có thể hiểu sai hoặc không hiểu đầy đủ văn bản

Chính vì thế, tôi không muốn học sinh của mình mắc lỗi chính tả khi viết, nên tôi đã nghiên cứu và chọn đề tài “Rèn kỹ năng viết đúng chính tả cho học

sinh Lớp 1”

Trang 2

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Chính tả là một trong những phân môn Tiếng Việt ở tiểu học Phân môn Chính tả trong nhà trường giúp học sinh hình thành thói quen viết đúng chính

tả Đây là phân môn mang đậm dấu ấn truyền thống của việc dạy và học Tiếng Việt Vì tôi đã tìm hiểu và nhận thấy những điểm mới, điểm nổi trội trong nội dung và phương pháp dạy học phân môn này để có những cách tiếp cận và chuyển tải phù hợp hơn đến các đối tượng học sinh, nhằm đạt được hiệu quả tốt trong việc hình hành kĩ năng nghe – viết cho cơ cấu chương trình môn Tiếng Việt nói riêng, các môn học ở trường phổ thông nói chung

Muốn đọc thông viết thạo, học sinh phải được học phân môn chính tả Chính tả là phân môn có tính chất công cụ Nó có vị trí quan trọng trong giai đoạn học tập đầu tiên của học sinh Nó cũng có ý nghĩa quan trọng đối với việc học tập Tiếng Việt Ngoài ra, phân môn Chính tả còn rèn luyện cho học sinh một số phẩm chất như: Tính cẩn thận, óc thẩm mĩ, bồi dưỡng cho học sinh lòng yêu quý Tiếng Việt và chữ Tiếng Việt

Ở bậc tiểu học, phân môn Chính tả có vị trí vô cùng quan trọng Vì học sinh Lớp 1 là giai đoạn đầu cấp và cũng là giai đoạn then chốt trong quá trình hình thành khả năng chính tả cho học sinh Không phải ngẫu nhiên mà ở bậc tiểu học học chính tả còn được bố trí thành một phân môn độc lập (thuộc môn Tiếng Việt) có tiết dạy riêng Giống như các phân môn khác, tính nổi bật của môn Chính tả là tính thực hành, chỉ có thể hình thành các kỹ năng, kỹ xảo cho học sinh thông qua việc thực hành và luyện tập

Đối với học sinh Lớp 1 khi học phân môn Chính tả sẽ gặp những khó khăn nhất định Vì các em là lứa tuổi đầu tiên phải làm quen với môn học này một

Trang 3

nên mỗi khi dạy tiết này tôi đều phải đầu tư, chuẩn bị tranh ảnh, đồ dùng phù hợp để vụ cho tiết dạy không còn khô khan Điều mà tôi băn khoăn lo lắng là làm thế nào để tiết dạy không còn nhàm chán giữa thầy, trò để đạt kết quả cao Nhằm giúp học sinh từng bước làm quen và có kĩ năng viết đúng chính tả tạo cho các em sự thích thú và chủ động, tích cực học tập ở phân môn Chính tả

chính tả cho học sinh Lớp 1”.

Trang 4

II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:

Phân môn Chính tả trong nhà trường có mục đích giúp học sinh nắm vững các quy tắc và hình thành kỹ năng chính tả, nói cách khác, giúp học sinh hình thành năng lực và thói quen viết đúng chính tả Ngoài ra còn rèn cho học sinh lòng yêu quý Tiếng Việt

Về chương trình dạy chính tả bắt đầu ở tuần 25, mỗi tuần có hai tiết tập chép Học sinh nhìn lên bảng, nhìn sách giáo khoa để chép lại bài theo cỡ chữ nhỏ, kết hợp nghe giáo viên đọc từng tiếng – mỗi bài viết từ 20 đến 30 chữ trong thời gian từ 10 đến 15 phút Ở tuần 31, 33, 35, mỗi tuần có một tiết chính

tả (tập chép) và một tiết chính tả (nghe/viết) yêu cầu: Viết đều nét, rõ ràng, thẳng dòng, đúng chính tả

Mục đích dạy phân môn Chính tả là hình thành cho học sinh năng lực viết thành thạo, thuần thục chữ viết theo các “chuẩn chính tả” nghĩa là giúp học sinh hình thành kỹ xảo chính tả và luôn viết đúng chính tả

Phân môn chính tả nhằm ba mục đích, với mức độ như sau:

1/ Rèn kỹ năng nghe, viết đúng chính tả với các chỉ tiêu cần đạt: Viết đúng mẫu, đúng chính tả, không mắc phải 5 lỗi mỗi bài tốc độ viết 1 – 2 chữ /1 phút

2/ Kết hợp việc luyện tập chính tả với việc rèn luyện cách phát âm, củng cố nghĩa từ, trau dồi kiến thức cơ bản về ngữ pháp Tiếng Việt, góp phần phát triển thao tác tư duy: Nhận xét, so sánh, liên tưởng, ghi nhớ

3/ Bồi dưỡng một số đức tính và thái độ cần thiết trong công việc như: Cẩn thận, chính xác, khiếu thẩm mĩ, lòng tự trọng và tinh thần trách nhiệm

Mỗi tuần có 2 bài chính tả, mỗi bài học trong 1 tiết ở chương trình học

kỳ II bắt đầu từ tuần 25 với tổng số bài chính tả mà học sinh được học là 26 bài

Trang 5

hình thức chính tả nghe/viết Mỗi bài chính tả tăng dần độ dài Kết hợp trong bài chính tả cho học sinh làm các bài tập về các từ dễ viết sai chính tả theo quy

tắc như: Luyện viết các vần khó, các chữ bắt đầu bằng g/gh; ng/ngh;

c/k/q,…Tập ghi các dấu câu (dấu chấm, dấu chấm hỏi) Tập trình bày một bài

chính tả ngắn

Trên cơ sở đó, phân môn chính tả còn giải quyết vấn đề dạy cho học sinh biết chữ để học, dùng chữ để học các môn học khác và để sử dụng trong giao tiếp Chính tả trước hết là môn học có tính chất thực hành Nói cách khác, chính tả là những quy ước của xã hội trong ngôn ngữ Mục đích chính tả là làm phương tiện truyền đạt thông tin bằng chữ viết, bảo đảm cho người viết và người đọc đều được hiểu nội dung văn bản Chính tả trước hết là sự quy định có tính chất xã hội, nó không cho phép vận dụng quy tắc một cách linh hoạt, có tính chất sáng tạo cá nhân

Phân môn Chính tả còn có nhiệm vụ: Phối hợp với Tập Viết, tiếp tục củng cố và hoàn thiện tri thức cơ bản về hệ thống chữ viết và hệ thống ngữ âm tiếng việt Phân môn Chính tả dạy cho học sinh hệ thống chữ cái, mối liên hệ

âm – chữ cái – cấu tạo và cách viết chữ Cung cấp tri thức cơ bản về hệ thống quy tắc chuẩn, thống nhất chính tả Tiếng Việt là liên kết và khu biệt khi viết chữ, các quy tắc nhận biết và thể hiện chức năng của chữ viết … Rèn luyện thuần thục kĩ năng viết, đọc, hiểu chữ viết Tiếng Việt

Trong tiếng việt có 14 nguyên âm làm âm chính, trong đó có 11 nguyên

âm đơn: a, ă, â, e, ê, i (y), o, ô,ơ, u, ư và 3 nguyên âm đôi: ia (ya, iê, yê); ua (uô); ưa (ươ)

Trang 6

Vị trí của âm chính trong âm tiết được xác định như sau :

Thanh điệu Vần Phụ âm đầu

Khi viết các dấu ghi thanh ( `, ?, ~, /, ) được đánh lên trên hoặc dưới âm chính

Các nguyên âm đơn có đặc điểm không thay đổi cách viết ở trong các

từ khác nhau (trừ trường hợp i có khi viết y)

 i : viết ngay sau âm đầu: bi, mĩ, kính,…

 y : viết sau âm đệm: quy, quỳnh,…

 Khi đứng một mình viết i đối với từ thuần việt: ầm ĩ,…Viết y đối với từ Hán việt: y tá, ý kiến …

 Các nguyên âm đôi có cách viết khác nhau, tuỳ vào cấu tạo của âm tiết:

đầu âm tiết không có âm đầu)

Xuyến, quyên, yên, yết, yêu…

Trang 7

Mặt khác, còn trang bị cho học sinh một công cụ quan trọng để học tập và giao tiếp (ghi chép, viết, đọc và hiểu bài, làm bài…) phát triển ngôn ngữ

và tư duy khoa học cho học sinh Chính tả còn có quan hệ với chính âm, với tập viết và tập đọc…Phân môn chính tả còn góp phần bồi dưỡng cho học sinh những tình cảm, phẩm chất tốt đẹp qua cách sử dụng ngôn ngữ: Tính khoa học, tính chính xác và tính thẫm mĩ ở học sinh Mục đích của chính tả là rèn luyện khả năng: “Đọc thông, viết thạo” chủ yếu là viết đúng chuẩn mực chữ viết và dạng thức viết

Với tầm quan trọng của phân môn Chính tả như vậy Là một giáo viên dạy lớp 1 tôi thiết nghĩ phải rèn luyện và phát huy kỹ năng viết chính tả cho học sinh ngay từ lớp 1 Từ đó làm nền tảng, là kiến thức cơ bản để các em học chính

tả ở các lớp trên

Trong quá trình lựa chọn và bước đầu nghiên cứu đề tài tôi tiến hành trao đổi trực tiếp với học sinh lớp tôi năm học 2010 - 2011với tổng số học sinh là 35

em và kết quả ban đầu về kỹ năng viết chính tả sau khi dạy thực nghiệm như sau:

Giữa học kỳ II

Kỹ năng

Trang 8

Trong thực tế giảng dạy tôi thấy khi học phân môn chính tả, các em không chú ý, chỉ viết bài theo quán tính, theo phát âm hằng ngày, không tập trung vào bài viết, hoặc giọng đọc của giáo viên nên thường xuyên mắc nhiều lỗi Mặt khác môn chính tả đối với các em lúc này là vô cùng bỡ ngỡ

Trang 9

III BIỆN PHÁP THỰC HIỆN:

1/ Phối hợp với gia đình, nhà trường giúp các em tiến bộ trong học tập:

Sau khi tổ chức dạy thực nghiệm tiết chính tả và có kết quả như bảng thống kê trên tôi xin ý kiến Ban giám hiệu cho họp phụ huynh nhằm thông báo kết quả học tập của các em, khi các bậc phụ huynh nắm được tình hình học tập của con em mình qua phiếu liên lạc, tôi mong muốn các bậc phụ huynh hãy quan tâm, kiểm tra, giúp đỡ con em mình hơn nữa Đặc biệt là chương trình Tiếng việt ở học kỳ II có nhiều thay đổi, mức độ của chương trình được nâng cao, so với học kỳ I học sinh chỉ học âm, ghép vần nhưng học kỳ II các em được tiếp cận với nhiều phân môn như: Tập đọc, Chính tả, Tập viết, Kể chuyện, mỗi phân môn có những đặc thù riêng Mỗi tuần các em được học 2 tiết với hình thức chính tả tập chép và chính tả nghe/ viết

Riêng phân môn Chính tả là phân môn hoàn toàn mới lạ đối với các em, khi học bài chính tả nghe/viết học sinh phải vận dụng các kĩ năng nghe, viết, mà phải nắm được quy tắc chính tả mới viết chính xác bài viết …v.v…

Riêng những gia đình chưa đủ điều kiện quan tâm đến việc học của con

em, nên các em lơ là việc học, tôi trao đổi riêng sau giờ họp nêu rõ lực họcvà khả năng học chính tả của các em, ngoài giờ học trên lớp thì sự hỗ trợ của phụ

của phụ huynh để cùng với giáo viên, nhà trường giúp các em học tập tốt

Sau cuộc họp, tất cả phụ huynh đã đồng ý với đề nghị mà tôi đã đưa ra

2/ Phân loại trình độ và sắp xếp chỗ ngồi:

Học lực của từng em đã được thể hiện rõ, tôi tiến hành xếp lại chỗ ngồi cho học sinh Mỗi tổ xếp xen kẽ theo học lực: giỏi, khá, trung bình, yếu và xen

Trang 10

kẽ các em theo nhóm đã phân loại được như bảng thống kê trên nhằm thực hiện

phương châm: “Học thầy không tày học bạn”

Tôi hy vọng với cách sắp xếp như vậy ngoài các kiến thức cơ bản, hệ thống được học ở giáo viên, trẻ còn có thể hỗ trợ lẫn nhau trong học tập Sự hỗ trợ giữa các học sinh giúp các em tự tin vào khả năng của bản thân và tự rút kinh nghiệm về cách học của chính mình

3/ Đối với giáo viên:

Nắm vững nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy Giọng đọc phải rõ ràng, chuẩn theo tiếng phổ thông Giáo viên phải đầu tư cho tiết dạy, chuẩn bị tranh ảnh (vật thật), phục vụ cho tiết dạy và phần bài tập…) sao cho một tiết dạy chính tả không còn nhàm chán, nặng nề đối với các em nữa

Uốn nắn cách phát âm của học sinh, các em thường có thói quen nói sao viết vậy, đặc biệt là các em ở miền Nam

Ví dụ: khỏe khoắn viết là phẻ phắn, bơi lội viết là bê lội…

Theo phân phối chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt (Lớp 1) Ngoài học phần học âm, học vần, tập đọc, tập viết các em còn phải làm quen một phân môn nữa đó là Chính tả Đây là một phân môn mới mẻ đối với học sinh đầu cấp nên đòi hỏi gidáo viên phải biết đưa ra những biện pháp khéo léo và phù hợp với đối tượng học sinh và làm sao cho tiết dạy không mất thời gian và giúp các

em có hứng thú ở môn học này

- Về cơ bản nói chung phần lớn học sinh viết chính tả đúng hiện nay đều dựa vào nhớ từng từ một Theo cách này học sinh chỉ cần tập trung nhớ mặt chữ của những từ dễ viết sai, nắm vững một số nguyên tắc cơ bản thì việc viết một đoạn văn ngắn đối với các em sẽ không gặp khó khăn

Trang 11

4/ Giúp học sinh nắm vững quy tắc chính tả:

Học sinh phải nắm âm đứng cuối vần, cuối âm tiết trong Tiếng Việt có các phụ âm cuối: p, t, m, n, ng (nh), ch và 2 bán nguyên âm i (y); u (o)

Ví dụ: tắt, xắp, chắc, bám, bán, ngang, cách, tai, tay, tàu,

Những âm tiết có âm cuối là p, t, c chỉ có 2 thanh điệu (/ và )

Ngoài các âm trên, ở ví trí cuối âm Tiếng Việt không có một âm nào khác Đây là một trong những đặc điểm riêng của cấu trúc âm tiết Tiếng Việt

Muốn đạt được những điểm trên đòi hỏi người giáo viên phải biết hướng dẫn học sinh chuẩn bị trước bài và đọc thông, viết thạo bài chính tả sẽ viết, nắm được nội dung chính tả của bài, nhận xét những hiện tượng chính tả hoặc cách trình bày một văn bản Mặt khác, học sinh phát âm chuẩn xác giữa cách đọc và cách viết phải thống nhất với nhau Điều mà giáo viên cần chú trọng ở đây là làm sao cho học sinh của mình không mắc sai nhiều lỗi chính tả khi viết, gặp phải nhiều tiếng có vần khó làm ảnh hưởng đến thói quen của các em

Ví dụ: tàu thủy thì viết tàu thỉ, ngoằn ngoèo thì viết ngoằn ngoè,…

Phân môn Chính tả Lớp 1 nói về hình thức các em chỉ học kiểu bài tập chép (nhìn viết) là hình thức chủ yếu Ở kiểu bài này, giáo viên phải đọc cả bài viết cho học sinh nghe trước khi viết Giáo viên viết theo mẫu chữ hiện hành trên bảng lớp rõ ràng Hình thức tập chép đòi hỏi học sinh chuyển từ hình ảnh thị giác (nhìn bảng viết) thành hành động tái tạo lại dạng thức viết Tập chép là hình thức lặp đi, lặp lại nhiều lần dạng thức viết của các chữ cái các từ trong văn bản Do đó, tập chép vừa giúp học sinh củng cố kỹ năng viết các chữ cái, định hình dạng thức các đơn vị ngôn ngữ, vừa có tác dụng hoàn thiện kỹ năng đọc Ngoài ra, giáo viên còn cho học sinh luyện viết đúng chữ cái ở các vị trí có phụ âm đầu hoặc vần và thanh dễ nhầm lẫn

Trang 12

Nói về dấu thanh gồm 5 thanh đệm (trừ thanh 1 – thanh ngang không có dấu ghi), thanh 2 – dấu huyền (`), thanh 3 – dấu ngã (~), thanh 4 – dấu hỏi (?), thanh 5 – dấu sắc(/), thanh 6 – dấu nặng (.)

Nếu âm chính ghi bằng hai chữ nguyên âm đôi: ia, ya, ie, ua, uô, ưa, ươ thì dấu ghi thanh thường ghi bằng 2 cách:

+ Các âm chính viết ia, ya, ua, ươ ghi dấu thanh trên chữ cái đầu:

Ví dụ: mía, múa, sữa, …

+ Các âm chính viết ie, yê, uô, ươ ghi dấu thanh trên chữ cái sau:

Ví dụ: tiết, thuyền, buổi, …

Điều mà giáo viên cần lưu ý là khi giáo viên đang đọc văn bản của bài viết thì giáo viên phải hết sức tập trung quan sát và phát hiện kịp thời hiện tượng học sinh vội vã ghi lại lời giáo viên đọc Kinh nghiệm cho rằng, ở học sinh cấp 1 với sự vội vã như vậy sẽ không đạt được kết quả tốt Chính vì thế đòi hỏi giáo viên không chỉ dạy mà còn phải biết bao quát lớp học và phải thống nhất một tiến trình một bài dạy môn chính tả sao cho phù hợp với học sinh lớp mình

Khi học sinh viết bài xong, giáo viên nên đọc lại một lần để học sinh rà soát lại bài viết của mình Hướng dẫn học sinh theo dõi bài viết để sửa lời văn Giáo viên cần đọc chậm khi đọc từ khó có thể phân tích cách viết cho học sinh sửa lỗi ngay lúc đó Sau mỗi bài viết là phần bài tập Những hình thức bài tập

thường được sử dụng là: Điền phụ âm đầu g/gh, ng/ngh, c/k/q, … Điền vần và

thanh … Hình thức bài tập chính tả âm, vần phong phú và mang đậm tính tình huống cho học sinh Ngoài ra, giáo viên cần hết sức chú ý cách hướng dẫn học sinh làm bài tập, giúp các em nắm vững yên cầu của bài tập giáo viên nên chuẩn

Ngày đăng: 31/03/2021, 07:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w