Để thực hiện việc thanh toán nhận thức triết học trước đây của mình, đặc biệt là quan điểm đối lập của hai ông về chủ nghĩa duy vật lịch sử với quan điểm triết học cổ điển đức. Vì vậy, từ năm 1845, ở Brucxen Bỉ, .Mác và Ăngghen cùng nhau viết các tác phẩm, đề xuất nhiều quan điểm triết học đối lập với các quan điểm tư tưởng của triết học cổ điển Đức lúc đó. Mặt khác, kể từ khi Mác chưa qua đời, đã nhiều lần phê phán triết học của Hêghen và Phoiơbắc, nhưng chưa có lần nào hệ thống và ...
Trang 1TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA PH ĂNGGHEN TRONG TÁC PHẨM LÚT VÍCH PHOIƠBĂC VÀ SỰ CÁO CHUNG
CỦA TRIẾT HỌC CỔ ĐIỂN ĐỨC
Để thực hiện việc thanh toán nhận thức triết học trước đây của mình, đặc biệt là quan điểm đối lập của hai ông về chủ nghĩa duy vật lịch sử với quan điểm triết học cổ điển đức Vì vậy, từ năm 1845, ở Brucxen Bỉ, Mác và Ăngghen cùng nhau viết các tác phẩm, đề xuất nhiều quan điểm triết học đối lập với các quan điểm tư tưởng của triết học cổ điển Đức lúc đó Mặt khác, kể từ khi Mác chưa qua đời, đã nhiều lần phê phán triết học của Hêghen và Phoiơbắc, nhưng chưa có lần nào hệ thống và đày đủ trong suốt thời gian đó thế giới quan của Mác được hình thành có hệ thống và ngày càng phát triển, có ảnh hưởng lớn đối với các đảng cộng sản và giai cấp công nhân ở nhiều nước trên thế giới Hơn nữa các quan điểm triết học đó vẫn đang có ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều nước Châu Âu, và ngay ở Đức các quan điểm triết học đó vẫn được giảng dạy như những quan điểm triết học chính thống
Trong hoàn cảnh đó và sau khi Mác đã qua đời, Ăngghen muốn trình bày một cách có hệ thống quan điểm của Mác và Ăngghen đối với triết học của Hêghen và Phoiơbắc Ăngghen thấy cần phải đánh giá một cách khách quan, công bằng cả thành tựu và hạn chế trong triết học của Hêghen và Phoiơbắc .Mác và Ăngghen đã kế thừa và phát triển nền triết học đó, làm cho triết học trở thành khoa học và cách mạng, thành thế giới quan chân chính của giai cấp vô sản, đồng thời phê phán một số luận điệu xuyên tạc quan điểm, tư tưởng triết học của Mác và Ăngghen
Tác phẩm này được đăng trên tạp chí "Neue Zeit" trong số 4 và số 5, năm 1886, và đến năm 1888 xuất bản thành sách, nguyên tác là tiếng Đức, về sau được dịch ra nhiều thứ tiếng Nga, Bungari, Pháp và nhiều tiếng nước
Trang 2khác Tác phẩm được nhiều lần dịch ra tiếng Việt, hiện nay bản dịch mới nhất được in trong Mác và Ăngghen, toàn tập, Nxb CTQG - Sự thật, H.1995, Tập 21
Ăngghen viết tác phẩm "Lút-Vích L.Phoiơbắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức" một mặt, do yêu cầu đấu tranh chống lại sự xuyên tạc bảo
vệ sự trong sáng của triết học mácxít Thông qua phê phán những nhà triết học cụ thể là Hêghen và Phoiơbắc để trình bày những quan điểm cơ bản của triết học Mác, vạch rõ sự khác nhau cơ bản giữa triết học Mác và các thứ triết học khác Mặt khác, do nhu cầu đấu tranh của phong trào cộng sản và công nhân thúc giục Ăngghen viết tác phẩm này để cung cấp cho phong trào thực tiễn một thế giới quan khoa học và cách mạng, hoàn bị và triệt để, là vũ khí tư tưởng, lý luận sắc bén để đấu tranh cách mạng
II KẾT CẤU VÀ TƯ TƯỞNG CƠ BẢN CỦA TÁC PHẨM
Kết cấu của tác phẩm: Tác phẩm được kết cấu gồm 4 chương và phần kết
luận
Chương I, Angghen đánh giá triết học của Hêghen
Chương II và III, Ăngghen đánh giá triết học của Phoiơbắc
Chương IV, Ăngghen phân tích sự khác biệt giữa triết học Mác và triết học Phoiơbắc
Phần kết luận,Ăngghen kết luận về triết học Mác, triết học cổ điển Đức
và thế giới quan của giai cấp công nhân
Tư tưởng cơ bản của tác phẩm: Thông qua phê phán phép biện chứng
duy tâm của Hêghen, chủ nghĩa duy vật siêu hình của Phoiơbắc, trình bày một cách cơ bản, có hệ thống chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, làm cơ sở lý luận cho chiến lược, sách lược đấu tranh của giai cấp công nhân và các Đảng Cộng sản
III NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TÁC PHẨM
Trang 3Tác phẩm tập trung phê phán triết học của Hêghen, vạch rõ mâu thuẫn bên trong giữa hệ thống bảo thủ và phương pháp cách mạng của triết học Hêghen
1 Mối liên hệ giữa triết học với những điều kiện kinh tế- xã hội, lịch sử
Giai cấp tư sản Đức vừa có mặt cách mạng, vừa có mặt bảo thủ, điều
đó phản ánh bộ mặt nước Đức lúc bấy giờ là một nước tư sản trẻ, ra đời sau Anh và Pháp Chính tính hai mặt đó đã làm cho cuộc cách mạng tư sản Đức không triệt để, họ vừa muốn làm cách mạng vừa muốn thoả hiệp, mặt khác lại sợ phong trào quần chúng nên có xu hướng cải lương Do đó, giai cấp tư sản Đức không đảm đương được vai trò cách mạng của mình mà, lịch sử Đức lúc này đặt ra
Trong cách mạng xã hội thì cách mạng trong triết học diễn ra trước cuộc cách mạng chính trị, sau đó mới đến cách mạng kinh tế Nhưng triết học chỉ là
sự phản ánh, triết học phản ánh một tiến trình lịch sử, phản ánh nguyện vọng
và lợi ích giai cấp nhất định "Và cách mạng lại phải núp sau những giáo sư
ấy (giáo sư do Nhà nước Phổ bổ nhiệm (tác giả), sau những lời thông thái rởm và tối nghĩa của họ, trong những câu văn nặng nề và buồn tẻ của họ" 1
Triết học G.Ph Hêghen là triết học chính thống, triết học nhà nước của Vương quốc Phổ, phản ánh tính hai mặt của giai cấp tư sản do đó đã trở nên bảo thủ, không thể hiện vai trò cách mạng, không trở thành lý luận thúc đẩy cách mạng Tuy nhiên, triết học G.Ph Hêghen vẫn có những yếu tố cách mạng nhưng bị mặt bảo thủ che lấp
2 Về luận điểm nổi tiếng của Hêghen: "Tất cả cái gì là hiện thực,
đều là hợp lý và tất cả cái gì là hợp lý, đều là hiện thực"
Đây là luận điểm có tính chất giảng hoà: Người cách mạng cũng hiểu được và bọn phản động cũng dễ thừa nhận Với luận điểm này của Hêghen,
1 C Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 21, Nxb CTQG-ST, H.1995, tr.391-392.
Trang 4thực chất đã bênh vực tính hợp lý của Nhà nước Phổ, xác nhận về mặt triết học cho sự tồn tại của chế độ chuyên chế, của nhà nước cảnh sát, chế độ kiểm duyệt khắt khe của Nhà nước Phổ Tuy vậy, ngay ở đây Hêghen cũng đã thừa nhận cái hiện thực đang tồn tại phải là cái có tính tất yếu Ăngghen nhận xét:
"Nhưng theo Hêghen thì tuyệt nhiên không phải tất cả những gì hiện đang tồn tại cũng đều là hiện thực Theo ông, thuộc tính hiện thực chỉ thuộc về những
gì đồng thời là tất yếu" 2
Ăngghen phân tích: Cái lạc hậu, cái lỗi thời phải diệt vong, nhường chỗ cho cái tiến bộ, cái hợp lý Như vậy, theo Hêghen sẽ không có cái gì tồn tại vĩnh viễn, chỉ có những cái hợp lý, hợp qui luật mới là hiện thực, còn tất cả những cái không hợp lý, trái qui luật thì đều mất tính hiện thực của nó, mặc
dù nó vẫn còn đang tồn tại, nhưng nó đã mất tính tất yếu, mất quyền tồn tại và nhất định sẽ bị tiêu diệt Ăngghen so sánh Cộng hoà La Mã với Đế quốc La
Mã, nền quân chủ Pháp với đại cách mạng Pháp năm 1789 Ăngghen nói: "Và cũng như vậy, trong quá trình phát triển, tất cả những gì trước đây là hiện thực thì hiện nay trở thành không hiện thực, mất tính tất yếu, mất quyền tồn tại, mất tính hợp lý của chúng; và hiện thực mới, đầy sinh lực, thay thế cho hiện thực đang tiêu vong " 3
Như vậy, theo Ăngghen thì luận điểm trên của Hêghen đã dẫn đến một luận điểm khác: Mọi cái đang tồn tại đều đáng tiêu vong Luận điểm này rất phù hợp với qui tắc của phương pháp tư duy của Hêghen
3 Mâu thuẫn giữa hệ thống triết học duy tâm và phương pháp biện chứng cách mạng trong triết học Hêghen
Ăngghen đã đánh giá một cách khoa học triết học của Hêghen Trước hết, Ăngghen đã chỉ ra mâu thuẫn cơ bản của triết học Hêghen, đó chính là mâu thuẫn giũa phép biện chứng với hệ thống triết học Nếu phép biện chứng
2 Sđd, tr.392
3 3 Sđd, tr.393
Trang 5là hạt nhân hợp lý, là mặt tiến bộ của triết học Hêghen, thì ngược lại, hệ thống triết học của Hêghen lại duy, tâm siêu hình Chính yêu cầu của hệ thống đã dẫn đến việc Hêghen thừa nhận điểm cuối cùng trong nhận thức triết học và
thực tiễn lịch sử Ăngghen chỉ rõ : “ Tuyên bố rằng toàn bộ nội dung giáo điều của hệ thống Hêghen đều là chân lý tuyệt đối, vậy là trái với phương pháp biện chứng của ông ta, phương pháp đã phá bỏ mọi cái có tính chất giáo điều Như thế nghĩa là mặt cách mạng của học thuyết Hêghen đã bị đè bẹp bởi sự trưởng thành quá khổ của mặt bảo thủ của nó Và điều mà đúng với nhận thức triết học thì cũng lại đúng với cả thực tiễn lịch sử nữa’’ 4 Theo
Ăngghen đặc điểm đó của triết học Hêghen thể hiện tính thoả hiệp của giai cấp tư sản Đức nhỏ bé về kinh tế và yếu hèn về chính trị không đủ sức làm cách mạng tư sản trong hiện thực như cách mạng tư sản pháp(1789), mà chỉ nong muốn có những cuộc cải cách ôn hoà của giai cấp thông trị Song Ăngghen cũng chỉ rõ những đóng góp to lớn của Hêghen trong sự phát triển
tư tưởng triết học nhân loại :“ nhưng tất cả những diều đó không ngăn trở hệ thống của Hêghen bao trùm một lĩnh vực hết sức rộng hơn lĩnh vực của bất
cứ hệ thống nào trước kia, và phát triển, trong lĩnh vực đó ; một sự phong phú về tư tưởng mà ngày nay người ta vẫn còn ngạc nhiên Hiện tượng học tinh thần ( ), lôgích học, triết học tự nhiên, triết học tinh thần, triết học này lại được nghiên cứu theo các bộ môn lịch sử riêng biệt của nó : triết học lịch
sử, triết học pháp quyền, triết học tôn giáo, lịch sử triết học, mỹ học, v.v -trong từng lĩnh vực lịch sử khác nhau ấy, Hêghen cố gắng phát hiện ra và chứng minh sự tồn tại của sợi chỉ xuyên suốt, tức là của sự phát triển và vì Hêghen không nhưng chỉ là một thiên tài sáng tạo, mà còn là một nhà bác học có tri thức bách khoa, nên những phát biểu của ông tạo thành thời đại ” 5
4 Sđd, tr.396.
5 Sđd, tr 397.
Trang 6Chính mâu thuẫn cơ bản nói trên của triết học Hêghen đã làm nảy sinh những trường phái khác nhau trong số những học trò của ông Phái Hêghen già là phái bảo thủ bám lấy hệ thống của Hêghen, ngược lại phái Hêghen trẻ lại bám lấy phương pháp biện chứng là chủ yếu Cuộc đấu tranh của hai phái này xoay quanh hai vấn đề tôn giáo và chính trị Mặc dù là cấp tiến, nhưng phái Hêghen trẻ vẫn chưa thoát khỏi mâu thuẫn cố hữu của triết học Hêghen,
vì những người thuộc phái này đề cao vai trò của “ tự ý thức”, coi tự ý thức có
vai trò to lớn đối với hiện thực Và theo Ăngghen : “đông đảo những người kiên quyết nhất trong phái Hêghen trẻ bị những tất yếu thực tiễn của cuộc đấu tranh của họ chống lai tôn giáo hiện có, kéo trở về chủ nghĩa duy vật anh-pháp” 6 Một trong những đại diện của phái Hêghen trẻ, theo Ăngghen, đó
chính là Phoiơbắc với tác phẩm bản chất đạo cơ đốc đã giải quyết được mâu
thuẫn trên và phục hồi chủ nghĩa duy vật
4 Ăngghen đánh giá chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc
Ăngghen đã đánh giá cao vai trò của Phoiơbắc trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, phục hồi và phát triển chủ nghĩa duy vật Ăngghen
coi tác phẩm bản chất đạo cơ đốc của phoiơbắc “ có tác dụng giải phóng và
đưa một cách không úp mở chủ nghĩa duy vật trở lại ngôi vua” Tư tưởng duy vật của phoiơbắc có ảnh hưởng to lớn đối với thế giới quan triết học của Mác
và Ăngghen lúc bấy giờ và “ là khâu trung gian” giữa triết học của Hêghen và triết học của Mác và Ăngghen
Trong khi đánh giá công lao to lớn của Phoiơbắc đối với việc đấu tranh chống lại chủ nghĩa duy tâm, phục hồi và phát triển chủ nghĩa duy vật, Ăngghen cũng khẳng định rằng Phoiơbắc vẫn chưa vượt khỏi những hạn chế lịch sử của chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVIII Ăngghen đã chỉ ra ba hạn chế lớn như sau :
Thứ nhất, chủ nghĩa duy vật đó chủ yếu là có tính chất máy móc.
6 Sđd, tr 401.
Trang 7Thứ hai, chủ nghĩa duy vật đó có đặc trưng siêu hình, có nghĩa là không
biện chứng
Thứ ba, chủ nghĩa duy vật đó không triệt để, duy tâm trong cách hiểu về
các hiện tượng xã hội
Ăngghen, chỉ rõ rằng Phoiơbắc có công lao phê phán chủ nghĩa duy tâm của Hêghen, song thiếu sót lớn của Phoiơbắc là đã không kế thừa những hạt
nhân hợp lý của Hêghen là phép biện chứng “ Phoiơbắc đã đập tan hệ thống của Hêghen và chỉ đơn giản gạt nó ra một bên thôi song chỉ tuyên bố một triết học nào đó là sai lầm thì chưa có nghĩa là thắng được nó” 7.Ăngghen
cũng đòi hỏi“phải tiêu diệt hình thức của nó bằng phê bình, nhưng cứu lấy nội dung mà nó đã đạt được” 8
Ăngghen khẳng định, vượt xa phoiơbắc, trên cơ sở chủ nghĩa duy vật, Mác đã phê phán chủ nghĩa duy tâm của Hêghen, nhưng kế thừa hạt nhân hợp
lý của triết học Hêghen là phép biện chứng, cải tạo nó thành phép biện chứng duy vật, biến chủ nghĩa duy vật thành chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
Trong khi chỉ ra những hạn chế của triết học Phoiơbắc, Ăngghen cũng
phân tích những nguyên nhân đẫn đến những hạn chế đó của phoiơbắc :“Đó
là lỗi tại những điều kiện thảm hại ở Đức hồi đó, những điều kiện đã khiến cho nhưng ghế giáo sư triết học đều do bọn chiết trung chủ nghĩa chuyên giết rệp chiếm đoạt hết, còn Phoiơbắc, người vượt tát cả những bọn đó một trời một vực, lại buộc phải nông dân hoá và rầu rĩ trong một làng nhỏ Nếu như phoiơbắc vẫn không tiếp thu được quan điểm về lịch sử về tự nhiên và đã trút bỏ được tất cả những gì là phiến diện trong chủ nghĩa duy vật Pháp, thì
đó không phải là lỗi tại ông”9.Chính trong điều kiện xã hội và điều kiện sống
7 Sđd, tr.402.
8 Sđd, tr.402.
9 Sđd, tr 412
Trang 8như thế, nên chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc là không biện chứng và về xã hội cũng không thoát khỏi chủ nghĩa duy tâm cổ truyền Ăngghen đã trích lời
của Phoiơbắc như sau :“Đi lùi lại đằng sau tôi hoàn toàn nhất trí với các nhà duy vật chủ nghĩa, nhưng tiến lên phía trước, tôi không nhất trí với họ” 10
Cho nên, Phoiơbắc là nhà duy vật ở nửa dưới, còn nửa trên ông lại là duy tâm Ông phê phán chủ nghĩa duy tâm, coi nó là tư biện, trừu tượng, nhưng sang lĩnh vực lịch sử ông xem xét con người và xã hội cũng trừu tượng không kém Trong tác phẩm này, Ăngghen cũng tập trung làm rõ quan điểm duy tâm của phoiơbắc trong các vấn đề về tôn giáo và đạo đức
Về vấn đề tôn giáo, Ăngghen chỉ rõ, phoiơbắc không đặt ra vấn đề xoá
bỏ tôn giáo, mà muốn hoàn thiện nó Triết học cũng phải hoà tan vào tôn giáo Ông còn coi các thời đại loài người chỉ khác nhau ở sự thay đổi về phương diện tôn giáo Tôn giáo theo ông là mối quan hệ thương yêu giữa người với người và tình yêu nam nữ là hình thức cao nhất Từ khi có loài người, mặc dù
có những quy định của nhà nước về hôn nhân, song tình yêu và tình bạn là không thay đổi Như vậy, chủ nghĩa duy tâm của phoiơbắc, theo Ăngghen là ở chỗ ông coi các mối quan hệ thuần tuý giữa người với người là tôn giáo
Ăngghen viết :“chủ nghĩa duy tâm của phoiơbắc là ở chỗ ông ta xét các mối quan hệ giữa người với người, dựa trên cảm tình đối với nhau không phải chỉ đơn giản đúng y như bản thân chúng là như vậy đối với ông ta, điều chủ yếu không phải ở chỗ những quan hệ thuần tuý giữa người với người tồn tại,
mà là ở chỗ những quan hệ ấy phải được coi là một thứ tôn giáo mới, chân chính” 11 Phoiơbắc muốn xây dựng một thứ tôn giáo không cần thượng đế đó
là tôn giáo tình yêu Ăngghen cũng phê phán luận điểm sai lầm của phoiơbắc coi các thời đại của loài người chỉ khác nhau bởi những thay đổi về phương diện tôn giáo mà thôi
10 Sđd, tr 413.
11 Sđd, tr 417.
Trang 9Trong vấn đề đạo đức theo Ăngghen, phoiơbắc hoàn toàn duy tâm khi coi lòng mong muốn hạnh phúc là bẩm sinh của con người, do đó nó phải là
cơ sở của đạo đức Và để thực hiện lòng mong muốn đạo đức đó, phoiơbắc đòi hỏi phải có sự tự hạn chế hợp lý bản thân mình và tình yêu giữa người với người lại trở thành những quy tắc cơ bản của đạo đức trong xã hội áp bức bóc lột, trong xã hội có đối kháng giai cấp và sự bất bình đẳng trong xã hội, thì điều đó thật là không tưởng Ăngghen đã phê phán quan điểm về đạo đức của
phoiơbắc như sau :“Nó được gọt giũa cho thích hợp với mọi thời kỳ, mọi dân tộc, mọi hoàn cảnh, và chính vì thế mà không bao giờ nó có thể đem áp dụng được ở đâu cả trong thực tế, mỗi giai cấp và ngay cả mỗi nghề nghiệp đều
có đạo đức riêng của mình ”12 Như vậy, quan niệm về đạo đức của phoiơbắc vẫn chưa thoát khỏi sự trừu tượng, vì ông hiểu con người một cách trừu tượng phi lịch sử, không thấy con người là sản phẩm của xã hội, của hoàn cảnh lịch sử và con người cũng là chủ thể của hoạt động Điều đó được
Ăngghen nhận xét rằng, Phoiơbắc “bám hết sức chặt lấy giới tự nhiên và con người ; song đối với ông, cả tự nhiên lẫn con người vẫn chỉ là những danh từ
mà thôi Ông không biết nói với chúng ta một cái gì chính xác về tự nhiên hiện thực, cũng như về con người hiện thực" 13
Trên cơ sở phê phán một cách khoa học triết học của hêghen và triết học của Phoiơbắc, Ăngghen đã chỉ ra cho chúng ta thực chất cuộc cách mạng trong lịch sử triết học do Mác và Ăngghen thực hiện
5 Thực chất cuộc cách mạng trong lịch sử triết học do Mác và Ăngghen thực hiện
Trước hết, Ăngghen khẳng định sự hình thành chủ nghĩa duy vật biện chứng là kết quả của quá trình cải tạo căn bản phép biện chứng của Hêghen
12 Sđd, tr 425.
13 Sđd, tr 426.
Trang 10và khắc phục tính phiến diện, không triệt để của chủ nghĩa duy vật nhân bản của Phoiơbắc
Phép biện chứng duy vật đã kế thừa tất cả những yếu tố tiến bộ của các hình thức trước đó của nó, trong đó trực tiếp là phép biện chứng của Hêghen Nhưng phép biện chứng của triết học Mác hoàn toàn đối lập với
phép biện chưng duy tâm của hêghen Ăngghen viết :“ở Hêghen, sự phát triển biện chứng biểu hiện trong giới tự nhiên và trong lịch sử chỉ là sự sao chếp lại sự tự vận đông của ý niệm, một sự tự vận động diễn ra vĩnh viễn, không biết ở đâu, nhưng dù sao cũng độc lập với mọi bộ óc đang tư duy của con người Sự xuyên tạc có tịnh chất tư tưởng hệ ấy là cái cần phải gạt bỏ Chúng tôi lại xem xét một lần nữa một cách duy vật rằng những ý niệm trong đầu óc của chúng ta, coi đó là những phản ánh của sự vật hiện thực, chứ không xem xét những sự vật hiện thực, coi đó là những phản ánh của giai đoạn này hay giai đoạn khác của ý niệm ” 14 Trên cơ
sở đó , Ăngghen nhắc lại định nghĩa kinh điển về phép biện chứng :“phép biện chứng được quy thành khoa học về các quy luật chung của sự vận động của thế giới bên ngoài cũng như của tư duy con người ” 15 và chỉ ra tính thứ nhất của biện chứng khách quan và tính thứ hai của biện chứng chủ quan, biện chứng của ý niệm chỉ là sự phản ánh vào ý thức sự vận động biện chứng của thế giới hiện thực, cho nên quá trình cải tạo phép biện
chứng duy tâm của Hêghen bằng cách “đặt đầu lên trên hay nói đúng hơn,
từ chỗ trước kia nó đứng bằng đầu, bây giờ người ta đặt nó đứng bằng chân” 16
Ăngghen nhắc lại cơ sở khoa học tự nhiên dẫn đến sự các chung của phép siêu hình và sự hình thành phép duy vật biện chứng.chính việc phát triển
14 Sđd, tr 429.
15 Sđd, tr 429.
16 Sđd, tr 430.