luận văn, khóa luận, cao học, thạc sĩ, tiến sĩ, đề tài
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
ðÀO TIẾN KHUYNH
ðÁNH GIÁ MỨC ðỘ Ô NHIỄM NGUỒN NƯỚCCỦA MỘT SỐ
HỆ THỐNG CHĂN NUÔI LỢN TRANG TRẠI
TẠI HUYỆN VĂN GIANG - HƯNG YÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành : CHĂN NUÔI
Mã ngành : 60.62.40
Người hướng dẫn khoa học: TS VŨ ðÌNH TÔN
HÀ NỘI - 2010
Trang 2LỜI CAM đOAN
Tôi xin cam ựoan ựây là công trình nghiên cứu của tôi, những số liệu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và kết quả nghiên cứu chưa từng ựược sử dụng
Mọi sự giúp ựỡ trong quá trình thực hiện ựề tài ựã ựược cảm ơn và các thông tin trắch dẫn trong báo cáo này ựã ựược ghi rõ nguồn gốc
Hà N ội, ngày 20 tháng 10 n ăm 2010
TÁC GIẢ
đào Tiến Khuynh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
để hoàn thành ựề tài này, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi còn nhận ựược rất nhiều sự quan tâm giúp ựỡ của các thầy cô giáo, ựịa phương, gia ựình và ựồng nghiệp
Tr ước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc: TS Vũ đình Tôn, Bộ môn
Ch ăn nuôi chuyên khoa, Khoa Chăn nuôi và Nuôi trồng thủy sản, Bộ môn Công ngh ệ Môi trường-Khoa Tài Nguyên và Môi trường- Trường đH Nông Nghiệp
Hà N ội, Kỹ Sư- Nguyễn Văn Duy- Trung tâm liên ngành và Phát triển Nông nghi ệp- Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội người ựã tận tình hướng dẫn, chỉ
b ảo giúp ựỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện ựề tài
Tôi xin chân thành c ảm ơn Ban Chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi và Nuôi
tr ồng thủy sản các thầy, cô giáo ựã tận tình giúp ựỡ chỉ bảo tôi trong quá trình h ọc tập, nghiên cứu tại Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội
Tôi xin chân thành c ảm ơn Phòng Nông nghiệp&PTNT huyện Văn Giang, Phòng Ch ăn nuôi Thủy sản- Sở Nông nghiệp &PTNT tỉnh Hưng Yên
ựã giúp ựỡ tôi trong quá trình ựiều tra, nghiên cứu tại ựịa phương
Do th ời gian và kiến thức có hạn, ựề tài của tôi không tránh khỏi những
h ạn chế, thiếu sót Vì vậy rất mong nhận ựược những ý kiến ựóng góp của
th ầy cô giáo và toàn thể bạn ựọc
Xin chân thành c ảm ơn!
Hà N ội, ngày 20 tháng 10 năm 2010
Tác giả
đào Tiến Khuynh
Trang 42.2 Tình hình ô nhiễm môi trường nước trên thế giới và Việt Nam
3 ðỐI TƯỢNG - NỘI DUNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 41
4.1 Tình hình chung về phát triển chăn nuôi tại tỉnh Hưng Yên 494.2 ðiều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Văn Giang 51
Trang 54.3 Tình hình phát triển chăn nuôi lợn trang trại trên ñịa bàn huyện
4.3.2 Tình hình phát triển các hệ thống chăn nuôi lợn trang trại 544.4 Tình hình xử lý và sử dụng chất thải chăn nuôi lợn 614.4.1 Quy mô chăn nuôi và lượng chất thải tạo ra trong các hệ thống 614.4.2 Tình hình xử lý và sử dụng chất thải chăn nuôi trong các hệ thống 654.5 Kết quả khảo sát chất lượng nước mặt, nước ngầm 774.5.1 Kết quả khảo sát chất lượng nước mặt 784.5.2 Kết quả khảo sát chất lượng nước ngầm 82
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
FAO Food and Argiculture Organization
Cs Cộng sự
QCVN Quy chuẩn kỹ thuật Việt Nam
TCCP Tiêu chuẩn cho phép
TCVS Tiêu chuẩn vệ sinh
Trang 7
DANH MỤC BẢNG
2.1 Mức tiêu thụ nước hàng ngày cho các ñối tượng dùng nước 19 2.2 Ước tính chất thải chăn nuôi trong năm 2007 30 2.3 Chất lượng nước thải tại các chuồng nuôi lợn nái, lợn thịt 31 2.4 Hàm lượng các chất vô cơ trong nước thải sinh hoạt ở Mỹ 36
4.2 Tỉ lệ trang trại tỉnh Hưng Yên năm 2009 50 4.3 Tình hình chăn nuôi tại huyện Văn Giang 54 4.4 Các hệ thống chăn nuôi lợn trang trại ñiều tra huyện Văn Giang 55 4.5 Thông tin chung về sử dụng ñất trong các hệ thống chăn nuôi lợn
4.7 Ước tính lượng chất thải từ chăn nuôi tại các kiểu hệ thống 63
4.9 Xử lý chất thải rắn trong các hệ thống chăn nuôi 69 4.10 Xử lý chất thải lỏng trong các hệ thống chăn nuôi 71 4.11 Tình hình sử dụng khí biogas và chất thải sau bể biogas 73 4.12 Kết quả phân tích một số chỉ tiêu hóa học của nước mặt 78 4.13 Kết quả phân tích một số chỉ tiêu hoá học của mẫu nước ngầm 83
Trang 8DANH MỤC SƠ ðỒ
Trang 91 MỞ ðẦU
1.1 ðặt vấn ñề
Vấn ñề ô nhiễm môi trường ñã và ñang rất ñược quan tâm ở nhiều quốc gia trên thế giới, ñặc biệt là ở các nước chăn nuôi phát triển Ở nước ta các trang trại chăn nuôi phát triển phần nhiều mang tính tự phát, chưa theo quy hoạch, chủ yếu trên ñất vườn nhà, ñất mua hoặc thuê tại các ñịa phương Khoảng 80% tổng số cơ sở chăn nuôi còn xây dựng ngay trong khu dân cư, gây ô nhiễm môi trường, tăng nguy cơ dịch bệnh cho ñàn vật nuôi, con người
và ảnh hưởng lớn ñến sự phát triển bền vững của ngành nông nghiệp
Những năm gần ñây cùng với các chính sách của một số ñịa phương về phát triển kinh tế, ñẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện ñại hoá nông nghiệp nông thôn, chuyển ñổi cơ cấu cây trồng và vật nuôi ñi vào ổn ñịnh lâu dài trong chăn nuôi, góp phần thúc ñẩy quá trình phát triển ngành chăn nuôi theo hướng hàng hoá
Theo tổng cục thống kê tính ñến năm 2008 cả nước có 17.635 trang trại chăn nuôi, trong ñó trang trại chăn nuôi lợn là 7.475 trang trại (riêng miền
Bắc là 3.069 trang trại), ñặc biệt là vùng ñồng bằng sông Hồng, [26]
Hưng Yên là một tỉnh vùng ñồng bằng sông Hồng có ngành chăn nuôi phát triển mạnh năm 2008 có 2.104 trang trại chăn nuôi ñến năm 2009 tăng lên 2.414 trang trại, số lượng ñàn lợn chiếm 36,8% trong tổng ñàn lợn vùng ñồng bằng sông Hồng và chiếm 2,3% tổng ñàn lợn cả nước, theo niên giám
thống kê năm 2009 [26] Văn Giang là một trong huyện thuộc tỉnh Hưng Yên
phát triển chăn nuôi trang trại nhiều, ñặc biệt là chăn nuôi lợn trang trại Tuy nhiên bên cạnh những tác ñộng tích cực về mặt kinh tế - xã hội thì việc phát triển chăn nuôi lợn theo quy mô trang trại còn tồn tại một số mặt hạn chế như: việc tăng quy mô ñầu gia súc mà chưa ñi cùng các giải pháp kỹ thuật thích
Trang 10hợp, gây ô nhiễm môi trường, làm giảm năng suất chăn nuôi Mặt khác nó còn ảnh hưởng trực tiếp ựến môi trường sống của vật nuôi cũng như của con người Do vậy việc nghiên cứu hiện trạng và ựề xuất những giải pháp kỹ thuật thắch hợp cho sản xuất nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi trang trại là hết sức cần thiết
Xuất phát từ thực tế này, chúng tôi ựã tiến hành nghiên cứu ựề tài:
Ộđánh giá mức ựộ ô nhiễm nguồn nước của một số hệ thống chăn
nuôi lợn trang trại tại huyện Văn Giang- Hưng YênỢ
1.2 Mục ựắch
- Tìm hiểu về tình hình xử lý và sử dụng chất thải trong các kiểu hệ thống chăn nuôi lợn trang trại tại huyện Văn Giang
- đánh giá mức ựộ ô nhiễm nguồn nước ngầm và nước mặt trong các
ao, hồ do chất thải chăn nuôi lợn thải theo các hệ thống chăn nuôi
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Ý nghĩa khoa học: ựề tài góp phần hoàn thiện hơn về phương pháp nghiên cứu hệ thống chăn nuôi lợn Góp phần làm rõ hơn cơ sở khoa học cho việc phát triển chăn nuôi lợn trang trại
Ý nghĩa thực tiễn: ựánh giá thực trạng các hệ thống chăn nuôi lợn trang trại của huyện Văn Giang, thấy ựược những mặt mạnh và ựiểm hạn chế của từng hệ thống, vấn ựề ô nhiễm từ nguồn chất thải từ các hệ thống trang trại ựể từ ựó có những ựề xuất về giải pháp phát triển chăn nuôi lợn trang trại giúp cho huyện có những ựịnh hướng về chắnh sách phát triển kinh tế, ựặc biệt là kinh tế chăn nuôi trang trại một cách hiệu quả và bền vững
Trang 112 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Một số lý luận về hệ thống nông nghiệp
2.1.1 Khái niệm sản xuất nông nghiệp
Sản xuất nông nghiệp là một phương thức hoạt ñộng của con người ñược tiến hành trên cơ sở các ñiều kiện tự nhiên xã hội ñể sản xuất ra lương thực, thực phẩm và các vật liệu khác bằng sự chọn lọc và sử dụng có ñịnh hướng cây trồng và vật nuôi
2.1.2 Khái niệm hệ thống nông nghiệp
Hệ thống nông nghiệp ñược các nhà ñịa lý sử dụng từ lâu ñể phân kiểu nông nghiệp trên thế giới Nhưng ñể ñi ñến một khái niệm về hệ thống nông nghiệp như ngày nay phải trải qua một quá trình nghiên cứu, thực nghiệm, từng bước ñúc rút và bổ sung không ngừng
Hệ thống nông nghiệp là một phương thức khai thác môi trường ñược tạo thành mang tính lịch sử bền vững với một lực lượng sản xuất phù hợp với ñiều kiện khí hậu của một môi trường nhất ñịnh và ñáp ứng ñược các ñiều kiện cũng như yêu cầu của xã hội tại thời ñiểm hiện tại
2.1.3 Tiếp cận hệ thống nông nghiệp
Hệ thống nông nghiệp là một hệ thống ñộng, muốn tiếp cận ñược ta phải quan sát và phân tích xem nó mạnh ở ñiểm nào, còn yếu kém ở ñiểm nào
ñể từ ñó tìm cách can thiệp tích cực vào hệ thống Ta phải quan tâm từ cội nguồn gốc rễ, từ cái móng, cái nền tạo thành của hệ thống Phải hiểu ñược các mối quan hệ của người nông dân, biết ñược họ muốn gì và cần giúp những gì Người nông dân là những ñơn vị cấu thành nên hệ thống nông nghiệp, do ñó việc quyết ñịnh sản xuất nông nghiệp của nông dân liên quan ñến sự tồn tại và phát triển của hệ thống này Người nông dân khi ñưa ra một quyết ñịnh sản xuất thì luôn gắn liền với một logic nhất ñịnh, chúng ta phải tìm hiểu logic
Trang 12này ñể ñưa ra ñược những giải pháp can thiệp tích cực vào hệ thống nông nghiệp
Hệ thống nông nghiệp muốn tồn tại nó phải phù hợp với một xã hội nhất ñịnh, vì vậy khi tiếp cận hệ thống ta phải luôn coi trọng các mối quan hệ trong xã hội Việc nghiên cứu các mối quan hệ xã hội và quá trình phát triển của một hệ thống trong lịch sử là cơ sở ñể ñánh giá thực trạng của hệ thống tại thời ñiểm ñó
và ñánh giá sự phát triển của hệ thống trong tương lai
Thực tế sự phát triển của hệ thống nông nghiệp trên thế giới ñược thể hiện qua quá trình phát triển mang tính toàn diện của người nông dân trong quá trình sản xuất Sự chuyển ñổi từ nền kinh tế tự cung, tự cấp sang nền kinh tế hàng hoá diễn ra không ñều giữa các vùng, ở các thời ñiểm khác nhau là không giống nhau Do vậy, các giải pháp can thiệp vào hệ thống nông nghiệp cũng không thể giống nhau giữa các vùng và ở các thời ñiểm khác nhau Tiếp cận hệ thống nông nghiệp ta nhận thấy rằng trong hệ thống nông nghiệp có rất nhiều hệ thống con, các hệ thống con này tác ñộng qua lại lẫn nhau
Hệ thống nông nghiệp bao gồm:
- Hệ thống sinh thái nông nghiệp: hoạt ñộng theo quy luật sinh học trao ñổi năng lượng và vật chất với môi trường xung quanh, bao gồm các sinh vật sống như cây trồng, vật nuôi
- Hệ thống kinh tế: hoạt ñộng theo quy luật kinh tế
- Hệ thống kinh tế - xã hội nông nghiệp: chủ yếu bao gồm sự hoạt ñộng của con người tạo ra của cải vật chất cho xã hội Hệ thống này là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân, nó là phần ñại diện cho kinh tế nông thôn
2.1.4 Các hệ phụ của hệ thống nông nghiệp
Ngoài các hệ thống chính, hệ thống nông nghiệp còn ñược chia thành các hệ phụ, các hệ phụ này có mối quan hệ chặt chẽ, ảnh hưởng và tác ñộng qua lại lẫn nhau
Trang 132.1.4.1 H ệ thống trồng trọt
Hệ thống trồng trọt là toàn bộ các thửa ruộng ñược cấy như nhau Hệ thống trồng trọt là một thể thống nhất trong các mối quan hệ tương tác giữa các loại giống cây trồng ñược bố trí trong một khoảng không gian và thời gian nhất ñịnh Khi nghiên cứu hệ thống trồng trọt cần xét các vấn ñề sau:
2.1.4.2 H ệ thống chăn nuôi
2.1.4.2.1 Khái ni ệm về hệ thống chăn nuôi
Hoạt ñộng sản xuất chăn nuôi là do nông dân hay người chăn nuôi tiến hành Họ sử dụng hai nhóm yếu tố chính cho hoạt ñộng sản xuất này ñó là: gia súc và môi trường Theo M.Sebillotle (1974, [18]) cho rằng khoa học chăn nuôi cần phải nghiên cứu các mối quan hệ ñược xây dựng lên từ ñàn gia súc
và môi trường của nó, giữa gia súc và môi trường phải ñược coi là một tổng thể cùng chịu tác ñộng của con người ñể hình thành lên các quy luật hoạt ñộng của ñàn gia súc này Như vậy quan ñiểm hệ thống không những cần phải
tổng hợp các yếu tố lại mà còn phải khớp nối các yếu tố ñó với nhau
Theo Ph.Lhoste (1986, dẫn theo Hán Quang Hạnh, 2007 [7]) HTCN là toàn bộ các kỹ thuật và các thực tiễn ñược sử dụng bởi một cộng ñồng ñể khai thác một khoảng không nhất ñịnh các nguồn tài nguyên thực vật bởi các ñộng vật trong các ñiều kiện tương ứng với các mục tiêu của cộng ñồng và các cản
Trang 14trở của môi trường
Hệ thống chăn nuôi là sự kết hợp các nguồn lực, các loài gia súc, các phương tiện kỹ thuật và các thực tiễn bởi một công ựồng hay một người chăn nuôi nhằm thỏa mãn nhu cầu của họ thông qua các gia súc làm giá trị hóa các nguồn lực tự nhiên (Vũ đình Tôn, 2008) [24]
Như vậy theo ựịnh nghĩa này thì hệ thống chăn nuôi bao gồm 3 cực chắnh:
- ỘCực con ngườiỢ ựó là tác nhân và gia ựình (ựôi khi có thể là một cộng ựồng)
- ỘCực ựất ựaiỢựó là các nguồn lực mà gia súc sử dụng
- ỘCực gia súcỢ ựó là gia súc
Chúng ta thấy Ộcực con ngườiỢ giữ vai trò chủ ựạo trong hệ thống Cực này có thể là người trực tiếp chăn nuôi, gia ựình chăn nuôi, cũng có thể là một cộng ựồng những người chăn nuôi
ỘCực ựất ựaiỢ ựó chắnh là các nguồn lực tự nhiên: chủ yếu là ựất ựai và nguồn nước, ở ựó sản xuất ra nguồn thức ăn cho gia súc thông qua thảm thực vật Con người căn cứ vào ựiều kiện sinh thái cụ thể mà quyết ựịnh sử dụng nguồn lực này như thế nào
ỘCực gia súcỢ là ựối tượng chắnh trong hệ thống chăn nuôi Con người quyết ựịnh chăn nuôi loại gia súc nào hay kết hợp chăn nuôi các loại gia súc nào phụ thuộc rất lớn vào mục tiêu chăn nuôi hay ựiều kiện lãnh thổ (hệ thống sản xuất thức ăn), mối quan hệ này rất chặt chẽ nhất là ựộng vật ăn cỏ, còn các loài khác thì mối quan hệ này có phần lỏng lẻo hơn
* Gia súc: Mỗi một hệ thống chăn nuôi có một loài gia súc và một
giống gia súc riêng Song nhìn chung số lượng loài ựộng vật sử dụng trong chăn nuôi ắt hơn rất nhiều so với các giống thực vật Một số loài ựộng vật chắnh sử dụng trong nông nghiệp theo Ir Geert Montsma, 1982 (đào Thế
Trang 15Tuấn, 2002), [25] gồm:
- Loài ăn cỏ gồm:
+ ðộng vật nhai lại: trâu, bò, dê, cừu, lạc ñà, voi…
+ ðộng vật không nhai lại: ngựa, thỏ
- Các loài khác: lợn, gia cầm, các loài cá, côn trùng (ong, tằm)…
Sở dĩ có ñiều này có thể là do những ñòi hỏi ñặc biệt ñể ñộng vật có thể trở thành gia súc ðồng thời trong các loài cũng có sự khác nhau rất lớn Các loài cũng có thể phân biệt theo khả năng thích nghi với môi trường
* Môi trường: Không chỉ có các ñiều kiện môi trường làm ảnh hưởng ñến
việc chăn nuôi mà con người có tác ñộng rất lớn ñến chăn nuôi (phương thức chăn nuôi) Nói chung, các hệ thống chăn nuôi quảng canh thì yếu tố môi trường là tác nhân chọn lọc chính thông qua việc tạo ra các ñiều kiện thích hợp như chuồng trại, thức ăn, chăm sóc sức khỏe vật nuôi
Trong chăn nuôi các yếu tố môi trường không phải có tác ñộng ñộc lập mà trái lại nó có tương tác lẫn nhau Yếu tố môi trường chia ra làm 3 nhóm chính gồm:
- Môi trường tự nhiên là: khí hậu, ñất ñai, nước
+ Khí hậu bao gồm nhiệt ñộ, ñộ ẩm, lượng mưa: ñây là yếu tố rất quan
trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp ñến chăn nuôi thông qua các ñiều kiện về nhiệt ñộ và ẩm ñộ Thông thường mỗi loài hay giống gia súc có ñiều kiện nhiệt ñộ tối ưu, tối thấp và tối ña Nếu vượt ra khỏi giới hạn này ñều có tác ñộng xấu tới năng suất vật nuôi và thậm chí gây chết thông qua phá vỡ cân bằng thân nhiệt của gia súc Ngoài tác ñộng trực tiếp thì các tác ñộng gián tiếp cũng không kém phần quan trọng thông qua sự phát triển của thảm thực vật,
sự phát triển của các tác nhân gây bệnh
+ ðất, nước: cũng có tác ñộng trực tiếp và gián tiếp ñến sự phát triển gia
súc thông qua sự phát triển của thảm thực vật, nguồn nước uống
Trang 16- Môi trường sinh học gồm thực vật, ñộng vật:
+ Thực vật (Flora): là nguồn cung cấp thức ăn quan trọng cho gia súc
Chất lượng của cây trồng sẽ có ảnh hưởng rõ rệt tới năng suất vật nuôi Một
số loại cây trồng có giá trị dinh dưỡng cao ñã ñược phát triển nhằm nâng cao năng suất chăn nuôi, hay sự kết hợp các cây họ ñậu và cây ho hòa thảo nhằm ñáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cho vật nuôi ñang rất phổ biến
+ ðộng vật (Fauna): Ở ñây ñề cập chủ yếu ñến những ñộng vật ký sinh
hay vật truyền mầm bệnh (các loài hút máu như côn trùng và ve là những tác nhân truyền bệnh chính)
- Môi trường kinh tế- xã hội:
+ Quyền sở hữu ñất ñai: thường có 2 loại ñó là sở hữu cộng ñồng (tập thể)
và sở hữu cá nhân Ở Việt nam khái niệm ñược nhắc ñến chủ yếu là quyền sử dụng ñất ñai Với các hình thức hữu khác nhau sẽ dẫn ñến quyền chăn thả, cũng như mức ñầu tư khác nhau ðất thuộc quyền sở hữu của tư nhân thường ñược ñầu tư thâm canh tạo ra năng suất cao hơn và như vậy có ñiều kiện phát triển chăn nuôi hơn
+ Vốn: có thể là tự có hoặc nguồn vốn vay Nhìn chung việc tiếp cận vốn
vẫn là ñiều kiện quan trọng ảnh hưởng tới phương thức cũng như quy mô chăn nuôi Nguồn vốn dồi dào sẽ có ñiều kiện ñầu tư thâm canh hơn trong chăn nuôi như hình thức chăn nuôi trang trại, chăn nuôi công nghiệp quy mô lớn ðồng thời cũng mang lại những hiệu quả cao hơn do sử dụng con giống tốt, thức ăn chất lượng cao, quy trình vệ sinh, chuồng trại hợp lý…
+ Lao ñộng: là yếu tố rất quan trọng trong phát triển chăn nuôi, nhất là tại
những nước phát triển, sự thiếu hụt lao ñộng thường xuyên xảy ra Lao ñộng ñược ñề cập tới không chỉ là số lượng mà còn cả chất lượng thông qua trình
ñộ khoa học kỹ thuật Lực lượng lao ñộng trong chăn nuôi, nhất là chăn nuôi thâm canh, quy mô lớn lại càng yêu cầu chất lượng cao Hiện tại lao ñộng
Trang 17chăn nuôi tại Việt nam còn ít ñược chú trọng ñến việc ñào tạo tay nghề một cách chính quy, có hệ thống (qua trường lớp) ðồng thời khi chăn nuôi quy
mô lớn thì việc sử dụng máy móc lại càng nhiều và ñiều ñó cũng ñòi hỏi người lao ñộng càng phải có tri thức cao hơn
+ Năng lượng: Nông nghiệp nói chung hay chăn nuôi nói riêng là thực
hiện việc chuyển hóa năng lượng thành dạng có ích cho con người (thức ăn, sợi, lực…) Có rất nhiều dạng năng lượng khác nhau như năng lượng mặt trời, năng lượng sử dụng của con người, súc vật và năng lượng hóa thạch Ở ñây
ñề cập chủ yếu ñến năng lượng hóa thạch Nguồn năng lượng này trong chăn nuôi ñược sử dụng như sau:
- Sử dụng ñể làm ñất, vận chuyển;
- Xây dựng chuồng trại, sưởi ấm ;
- Sản xuất thức ăn công nghiệp;
- Phục vụ cơ giới hóa chăn nuôi;
- Sản xuất phân, thuốc hóa học phục vụ cho cây trồng…
Nhìn chung các cơ sở chăn nuôi càng hiện ñại thì nguồn năng lượng này ñược sử dụng càng nhiều
+ Cơ sở hạ tầng: ðề cập ở ñây bao gồm nhiều yếu tố như hệ thống
ñường bộ, ñường sắt, hệ thống thông tin, nguồn nước, các cơ sở thụ tinh nhân tạo, thị trường … Các ñiều kiện này ảnh huởng rất lớn ñến phát triển chăn nuôi thông qua dịch vụ cung cấp ñầu vào, ñầu ra, sự tiếp cận với các thông tin (khoa học kỹ thuật, thị trường) và có ảnh hưởng trực tiếp ñến phát triển ñàn gia súc thông qua dịch vụ chăm sóc sức khỏe, nguồn thức ăn thô xanh…ðương nhiên sự phát triển các cơ sở hạ tầng chịu ảnh hưởng rất lớn bởi các chính sách liên quan
+ Thị trường: Luôn là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng ñến phát triển chăn
nuôi thông qua nguồn cung cấp ñầu vào và tiêu thụ ñầu ra, nhất là khi chuyển
Trang 18từ sản xuất tự cung tự cấp lên sản xuất hàng hóa Khi còn sản xuất tự cấp tự túc thì nguồn ñầu vào rất hạn chế, chủ yếu sử dụng những nguồn sẵn có của
cơ sở, và tương tự như vậy sản phẩm ñầu ra còn ở mức rất khiêm tốn, chủ yếu phục vụ cho nhu cầu nông hộ Chuyển lên sản xuất hàng hóa số lượng ñầu vào, ñầu ra rất lớn và cơ sở sản xuất ngày càng phụ thuộc vào thị trường nhiều hơn ðồng thời, ta còn thấy thị trường ñược tổ chức ngày càng chặt chẽ, lúc ñầu còn có nhiều người mua và bán, các sản phẩm ñầu vào và ñầu ra ñược ñưa ñến cũng như ñưa ñi xa hơn và số người tham gia vào các kênh cung cấp
và phân phối cũng trở nên ít hơn thông qua các công ty ña quốc gia Ngoài ra mức ñộ ảnh hưởng ñến các cơ sở sản xuất cũng ngày càng lớn hơn khi có những biến ñộng trên thị trường không những ở trong nước mà còn cả thị trường quốc tế
* Ngoài ra các yếu tố văn hóa, tín ngưỡng cũng có ảnh hưởng ñễn sự phát triển chăn nuôi ðạo Hồi là một ví dụ, họ kiêng thịt lợn và sử dụng thịt cừu rất nhiều vào các dịp lễ hội Từ ñó dẫn ñến giá thịt cừu thường rất cao và thịt lợn hầu như không phát triển tại các nước này Ở một số nước thuộc Châu Mỹ la tinh thì số lượng ñàn gia súc ñược coi như là một yếu tố ñể phân biệt ñẳng cấp
xã hội (Chu Thái Hoành, 2002), [8]
2.1.4.2.2 Ph ương pháp nghiên cứu hệ thống chăn nuôi
Những phương pháp sử dụng ñể nghiên cứu các Hệ thống chăn nuôi ñã thừa hưởng ñược những tiến bộ về tiếp cận hệ thống của những lĩnh vực khác Trước ñây các nghiên cứu về chăn nuôi chủ yếu tập trung vào những vấn ñề cấp thiết cần giải quyết ở quy mô ñơn vị sản xuất như vấn ñề bệnh tật của gia súc, vấn ñề nuôi dưỡng, cây thức ăn, giống…Những nghiên cứu như trên ñã mang lại những kết quả ñáng khích lệ tạo ra những con giống có năng suất chất lượng cao Thức ăn hoàn chỉnh ñáp ứng nhu cầu sinh trưởng phát triển của gia súc
Tuy nhiên những nghiên cứu tiếp cận cục bộ như trước không còn hoàn
Trang 19toàn phù hợp với những ựòi hỏi của thực tiễn ngày nay nữa khi chúng ta nghiên cứu chăn nuôi vùng nhiệt ựới (Lhoste,1987, Trần Danh Thìn, 2006 [18]) Như vậy, cần phải ựưa ra một kiểu tiếp cận mới ựó là: tiếp cận hệ thống Phương pháp này không phải là tách biệt mà cũng không phải là ựối lập tiếp cận cục bộ truyền thống mà trái lại hai phương pháp này bổ sung cho nhau giúp chúng ta có thể hiểu rõ hơn về tình hình phát triển chăn nuôi và nhất là ựưa ra các can thiệp vào thực tế một cách hợp lý và có hiệu quả
Tiếp cận nghiên cứu hệ thống chăn nuôi cần tập trung vào những vấn
ựề sau:
- Nghiên cứu tập trung vào con người tác nhân trung tâm của hệ thống;
Hệ thống chăn nuôi có thể chia thành hai tiểu hệ thống (Sơ ựồ 2.1)
+ Hệ thống quản lý hay ựiều hành (người chăn nuôi): là nơi hình thành nên các mục tiêu, các thông tin về môi trường và về cấu trúc và sự vận hành của hệ thống đó là các dạng và các thể thức tổ chức cũng như sự huy ựộng các phương tiện sản xuất và các quyết ựịnh quản lý (huy ựộng sử dụng ựất ựai, lao ựộng và vốn sẵn có)
+ Hệ thống kỹ thuật sinh học của sản xuất: là nơi hình thành các quá trình sản xuất và phương thức chăn nuôi cho phép ựạt ựược mục tiêu của các thực tiễn và các chiến lược của người sản xuất Từ các thông tin thu thập ựược
về khắa cạnh sinh học ựã giúp cho người chăn nuôi ựưa ra các quyết ựịnh sản xuất thông qua các chiến lược, sách lược và các thực tiễn
Như vậy chỉ có tiến hành phân tắch sự tương tác giữa các quyết ựịnh và các ựiều kiện kỹ thuật thì mới cho phép nhận ra ựược các ựiểm mạnh cũng như các ựiểm yếu của hệ thống
Cho nên nghiên cứu hệ thống chăn nuôi cần phải tập trung vào hệ thống ựiều hành tức là người chăn nuôi Hệ thống ựiều hành do một tác nhân hay nhóm tác nhân ựiều khiển Quan tâm ựến yếu tố con người (tức là người chăn
Trang 20nuôi) một mặt là gắn với khoa học nhân văn, nhưng ñồng thời cũng quan tâm ñến mục ñích chủ yếu của nghiên cứu hệ thống chính là tham gia vào công tác phát triển Thực tế, phát triển chính là công việc của con người và tác dụng của nghiên cứu này là sự hiểu biết sâu sắc về chính các tác nhân và sự huy ñộng của họ, thông qua ñó có thể tác ñộng một cách hiệu quả nhất ñến việc cải thiện hiệu quả của hệ thống chăn nuôi
Sơ ñồ 2.1 Hoạt ñộng của hệ thống chăn nuôi
Dựa trên quan ñiểm này thì các nghiên cứu về thực tiễn của người chăn nuôi không chỉ ñể biết sự ña dạng mà cần phải hiểu biết các yếu tố quyết ñịnh
và ñánh giá các tác ñộng của nó Phân tích các thực tiễn của các tác nhân là phục vụ cho công tác phát triển Các thực tiễn chăn nuôi là những cái mang tính
cá nhân của những người chăn nuôi mà ta có thể quan sát ñược trên thực tiễn, ñó chính là những cái có liên quan ñến kinh nghiệm mang tính cá nhân của các tác
Các chiến lược, sách lược Các thực tiễn
Trang 21nhân trong khi thực hiện một kỹ thuật cụ thể, những thực tiễn này có thể cho chúng ta biết ựược những dự kiến và các cản trở trong các nông hộ
- Tiến hành nghiên cứu ựa ngành: Tức là nghiên cứu tổng hợp, quan tâm chủ yếu ựến các mối tương tác hơn là các yếu tố cấu trúc đó chắnh là sự quan tâm ựến các ựặc ựiểm về sự vận hành của một hệ thống chăn nuôi hơn là quan tâm ựến cấu trúc của hệ thống Nó có tác dụng cho triển vọng phát triển, nhận dạng ựược những bế tắc ở hệ thống cung cấp thức ăn, hệ thống ựất ựai hay việc tổ chức xã hội của những người chăn nuôi Những nghiên cứu về các mối tuơng tác trong hệ thống chăn nuôi cũng nhằm ựể giải thắch ựược và hiểu ựược các mối quan hệ nhân quả, ựó chắnh là sự quan tâm ựến các thực tiễn chăn nuôi, việc quản lý các nguồn nhân lực (ựất ựai, lao ựộng, vốn,Ầ) dành cho chăn nuôi, tổ chức của những người chăn nuôi và phương thức giá trị hóa sản phẩm,Ầ ngoài ra còn cần phải quan tâm ựến các yếu tố rủi ro về bệnh tật
và thị trường tiêu thụ sản phẩm (môi trường)
Nghiên cứu hệ thống tập trung vào phối hợp các Ộchuyên ngànhỢ khác nhau, nó cho phép thực hiện chẩn ựoán tổng thể và phân cấp các cản trở chủ yếu trong một môi trường nhất ựịnh
Chăn nuôi thường gắn vào các hệ thống sản xuất hỗn hợp Cho nên trước hết cần ựánh giá cách kết hợp của Ộ tiểu hệ thống chăn nuôiỢ trong một ựơn vị sản xuất Vì vậy cần có sự trao ựổi giữa các nhà kinh tế, các nhà nông học và các nhà chăn nuôiẦ
Mặt khác, quy mô quan sát nghiên cứu ựối với người chăn nuôi ựó là vật nuôi, ựàn, quần thể kết hợp với ựơn vị sản xuất, cộng ựồng, vùngẦ đồng thời kết hợp với cả các thời gian khác nhau (quan sát hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng hay hàng năm) Do ựó một phương pháp tiếp cận nghiên cứu thứ ba ựó là:
- Nghiên cứu trên các quy mô khác nhau: đó chắnh là xác ựịnh các cấp
ựộ quan sát, liên quan ựến ựàn gia súc như cấp ựộ cá thể gia súc, ựàn gia súc
Trang 22rồi quần thể gia súc Việc quan sát các cấp ựộ này còn phải gắn với quy mô chăn nuôi (hộ nông dân chăn nuôi, cộng ựồng những người chăn nuôi trong làng, xã, vùng) Dựa vào mục tiêu nghiên cứu cụ thể ựể quyết ựịnh lựa chọn cấp ựộ quan sát Việc thay ựổi cấp ựộ quan sát là một trong những yếu tố quy ựịnh trong khi tiến hành nghiên cứu hệ thống chăn nuôi, bởi vì nó có thể giúp
ta giải thắch những hiện tượng quan sát ựược ở một cấp ựộ nhất ựịnh thông qua sự hiểu biết của chúng ta ở cấp ựộ khác (Bourboure, 1986, dẫn theo Trần Danh Thìn, 2006 [18])
Như vậy, nếu chúng ta chỉ quan sát ở một cấp ựộ thì rất khó có thể lý giải ựược sự phức tạp này, vì vậy phải tiến hành phân kiểu các thực tiễn chăn nuôi Các trung tâm quyết ựịnh thường gắn với các cấp ựộ quyết ựịnh (cá nhân, cộng ựồngẦ) Tuy nhiên, việc ra quyết ựịnh không phải ựộc lập mà trái lại nó chịu ảnh hưởng lẫn nhau Thông thường các cấp cao hơn sẽ kiểm soát
và quyết ựịnh các cấp bên dưới, ựồng thời các cấp bên dưới trong một chừng mực nào ựó cũng có ảnh hưởng lại các cấp bên trên
Việc quan sát và nghiên cứu trên các quy mô khác nhau rất quan trọng ựể có thể hiểu ựược các hiện tượng nghiên cứu do giữa các cấp ựộ này có quan hệ với nhau Việc quan sát ở cấp ựộ này có thể tìm ra câu giải thắch cho cấp ựộ khác (Vũ đình Tôn, 2008) [8]
2.4.2 Hệ thống VAC
Phát triển bền vững là yêu cầu cấp thiết ựược ựặt ra cho mỗi Quốc gia
và cho toàn nhân loại Bởi vì sự phát triển của kinh tế - xã hội ở mỗi nước không chỉ phải lo ựáp ứng ựầy ựủ của nhu cầu thế hệ hiện tại mà còn phải ựảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của các thế hệ trong tương lai Công nghiệp hoá, phát triển nông nghiệp hiện ựại ở một số nước ựã tỏ ra thiếu bền vững Vì những nền công nghiệp và nông nghiệp ựó ựã gây ra những huỷ hoại
to lớn ựối với tài nguyên thiên nhiên gây ra ô nhiễm môi trường Phát triển
Trang 23bền vững là tìm cách sống hài hoà với thiên nhiên, tạo lập những phương thức sản xuất, những hoạt ñộng ñời sống phù hợp với quy luật khách quan tự nhiên
Ở Việt Nam trong những năm gần ñây nông nghiệp bền vững ñã ñược các nhà hoạch ñịnh chính sách nông nghiệp ñặc biệt quan tâm và ñã ñưa
ra nhiều chương trình phát triển theo hướng này Tuy nhiên, ở Việt Nam ñã có một hệ thống nông nghiệp mang tính chất của nông nghiệp bền vững từ lâu,
ñó là hệ thống VAC Hệ thống VAC là sự kết hợp hài hoà giữa làm vườn, nuôi cá và chăn nuôi gia súc, gia cầm ðây là một mô hình của nông nghiệp bền vững ñặc thù mang sắc thái Việt Nam mà người nông dân Việt Nam ñã xây dựng nên và ngày nay ñã ñược nhiều tác giả bổ sung cải tiến khá hoàn chỉnh Theo ðường Hồng Dật [4], Nguyễn Ngọc Kính [11], Nguyễn Văn Mấn [14] VAC chính là từ viết tắt của Vườn - Ao - Chuồng
V (vườn) tiêu biểu cho trồng trọt Trong quá trình phát triển của VAC, V không những tiêu biểu cho những loại cây ăn quả mà còn ñại diện cho nhiều loại cây khác như: rau, cây thuốc, cây cảnh, hoa…
A (ao) tiêu biểu cho các hoạt ñộng nuôi trồng thuỷ sản ñược tiến hành trong quy mô hệ thống Trong ao có thể nuôi nhiều loại thủy sản khác nhau như: cá, tôm, ba ba Trong các hệ sinh thái VAC, ao không chỉ là nuôi các loài thuỷ sản mà còn là nơi giữ nước, tạo ñộ ẩm cho tiểu vùng khí hậu tại hệ thống ñó và lấy nước rửa vệ sinh chuồng trại chăn nuôi Ngoài ra còn có tác dụng ñiều hoà tiểu khí hậu trong vườn, góp phần quan trọng trong việc giữ gìn tính bền vững cho hệ sinh thái vườn
C (chuồng) tiêu biểu cho các hoạt ñộng chăn nuôi ñược tiến hành trong vườn Trong ñó bao gồm các phương thức nuôi gia súc nhốt trong chuồng và cả phương thức chăn thả trong vườn
Theo nghiên cứu của FAO cho biết quá trình biến ñổi của các hệ
Trang 24thống nông nghiệp ựược bắt ựầu từ khi con người biết khai thác thiên nhiên bằng các biện pháp canh tác và ựược thực hiện vào thời ựại ựồ ựá mới Từ ựó các ngành trồng trọt, chăn nuôi ựã phát triển lan ra khắp các lục ựịa nhằm giải quyết nhu cầu sống cơ bản của con người Hệ thống nông nghiệp ựốt rẫy và
du mục ở vùng tiểu Á có cách ựây khoảng 7000 năm, ở lục ựịa Trung Hoa và Trung Mỹ từ 3000 Ờ 4000 năm, sau ựó lan ra địa Trung Hải và các lục ựịa khác (Dufumier [35], đào Thế Tuấn, 2009 [25] Với hình thức này con người trồng trọt hoa màu, ngũ cốc trong 3 năm, sau ựó bỏ hoá cho rừng tái sinh từ 10- 30 năm, ựất ựược tái tạo lại ựộ phì, với phương thức canh tác này ựủ nuôi sống 20 Ờ 30 người/km2
Cuộc cách mạng ựầu tiên trong nông nghiệp diễn ra ở Tây Âu vào cuối thế kỉ 18 ựầu thế kỉ 19 ựã làm thay ựổi chế ựộ ựộc canh bằng chế ựộ luân canh với 4 khu luân chuyển trong 4 năm giữa ngũ cốc và cỏ 3 lá Trước ựó nông dân vùng này ựộc canh lúa mỳ 2 năm rồi bỏ hoá 1 năm Cuộc cách mạng
về hệ thống canh tác ựã làm thay ựổi cơ cấu cây trồng, ựưa cây thức ăn gia súc và cây họ ựậu vào công thức luân canh, nhờ ựó năng suất cây trồng tăng lên ựáng kể Nhiều chuyên gia phát triển nông thôn chủ trương xây dựng hệ thống Nông - Lâm - Ngư kết hợp ở vùng trũng nhằm nâng cao hiệu quả của
hệ thống canh tác và tắnh ổn ựịnh của chúng Rất nhiều nông dân Philippin ựã trồng chuối tiêu trên bờ ruộng lúa Ờ cá và chuối ựã cho họ một nguồn thu lớn, ngoài chuối còn có một số loài cây ăn quả bản ựịa (theo International Institute
of Rural Reconstruction, 1992[36] Theo Phạm Văn Côn, Phạm Thị Hương,
2004 [2], ở các nước Châu Á gần ựây hình thành một hệ thống sản xuất kết hợp các loại cây trồng trong vườn, các loại gia súc, gia cầm và nuôi trồng thuỷ sản trong một hệ thống nhất và khép kắn trên quy mô hộ gia ựình mà Việt Nam thường gọi là VAC
Kiểu hình sản xuất kết hợp này xuất hiện ựầu tiên ở các vùng nông
Trang 25thôn Trung Quốc đó là kiểu hình sản xuất kết hợp giữa trồng trọt, nuôi cá nước ngọt và chăn nuôi Ban ựầu hệ thống này ựặc trưng ở mức ựộ ựầu tư thấp, hầu như là quảng canh, nhưng nhờ sử dụng chất thải và sản phẩm phụ (của các hệ thống thành phần) ựã mang lại những nguồn lợi nhuận nhất ựịnh phù hợp cho các ựối tượng nông dân nghèo ắt vốn Ngày nay, mô hình sản xuất kết hợp kiểu VAC này ựã tiến bộ nhiều và cũng ựã thu hút ựược sự ựầu
tư thâm canh cao hơn
Hiện nay ở nông thôn Thái Lan ựang phổ biến các loại hình VAC ở quy mô hộ gia ựình, mức ựộ thâm canh cao và sản xuất ra một lượng rau, quả, thịt ựáng kể cho xã hội Các trang trại sản xuất kết hợp phổ biến như: ao cá Ờ
gà công nghiệp, ao cá - vịt - vườn quả; tôm Ờ gia súc; ao cá - vườn rau, Hình thức hợp tác trang trại ở ựây có nghĩa là một nhóm hộ nông dân cùng hợp tác sản xuất một mô hình sản xuất kết hợp giống nhau nhằm tạo ra một số lượng hàng hóa ựủ lớn ựể có thể cạnh tranh với thị trường về những sản phẩm này
và tạo cho mình một chỗ ựứng trên thị trường về sản phẩm mà họ chuyên sản xuất
Như vậy, VAC truyền thống bao gồm 3 yếu tố: Vườn - Ao - Chuồng nhưng 3 yếu tố này gắn bó với nhau rất chặt chẽ, không tách rời nhau, không biệt lập với nhau VAC là những hệ sinh thái ựồng bộ và tương ựối bền vững Các mối quan hệ qua lại giữa 3 yếu tố là những mối quan hệ tương hỗ với nhau, thúc ựẩy nhau phát triển Ngày nay, quan niệm về hệ thống VAC không chỉ gói gọn trong thành phần Vườn - Ao - Chuồng mà tuỳ theo ựiều kiện cụ thể ựể ứng dụng phát triển kết hợp như: Vườn - Chuồng; Ao - Chuồng
2.4.3 Tầm quan trọng của nước dùng trong chăn nuôi
Nước trong tự nhiên bao gồm toàn bộ các ựại dương, biển, vịnh, sông, suối, ao, hồ, nước ngầm, băng tuyết, hơi ẩm trong ựất và trong không khắ Gần 94% nước trên Trái đất là nước mặn, nếu tắnh cả nước nhiễm mặn thì tỷ
Trang 26lệ này lên tới khoảng 97,5% Nước ngọt chiếm một tỉ lệ rất nhỏ (2-3%)
Nước ñóng vai trò rất quan trọng trong việc ñiều hoà khí hậu và cho sự sống trên Trái ðất Nước là dung môi lí tưởng ñể hoà tan, phân bố các chất vô
cơ, hữu cơ, làm nguồn dinh dưỡng cho giới thuỷ sinh cũng như ñộng, thực vật trên cạn, cho thế giới vi sinh vật và cả con người Nước giúp cho các tế bào sinh vật trao ñổi chất dinh dưỡng, tham gia vào các phản ứng hoá sinh và cấu tạo tế bào mới Có thể nói rằng ở ñâu có nước là ở ñó có sự sống và ngược lại Nhu cầu về nước sinh hoạt của người dân ñô thị khoảng 100- 150 lít/ngày ñể cung cấp cho tưới tiêu thuỷ lợi, cho các ngành công nghiệp chế biến nông sản, chế biến các sản phẩm khác như luyện kim, dệt sợi, giấy… Nói chung, nhu cầu về nước ngày càng lớn
Nước là nhu cầu thiết yếu cho mọi sinh vật Không có nguồn nước thì không tồn tại sự sống Thông qua thức ăn, nước uống, nước ñi vào trong cơ thể ñể tham gia vào các quá trình sinh học như trao ñổi chất, trao ñổi năng lượng rồi thải ra ngoài theo con ñường bài tiết
Bình thường, trong cơ thể ñộng vật trưởng thành nước chiếm từ 55 – 65% thể trọng Trong cơ thể, các cơ quan khác nhau thì tỉ lệ nước cũng khác nhau:
ở máu nước chiếm khoảng 85 %, ở gan là 75%, ở cơ là 75%, (ðỗ Ngọc Hoè, 1974), [9]
Khi thiếu nước, các chất hữu cơ trong cơ thể sẽ ñược ôxy hoá tạo nước nội sinh cung cấp cho các phản ứng cần thiết trong cơ thể Cứ 100g protein khi ôxy hoá cho ra 41g nước, 100g tinh bột cho 55g nước, 100g lipit cho 107g nước Quá trình này có thể làm cho con vật bị giảm thể trọng Nếu thiếu nước kéo dài thì sẽ cản trở các phản ứng sinh học của cơ thể, sản sinh các sản phẩm trung gian làm cho con vật mệt mỏi Tuy nhiên, sự dư thừa nước cũng gây ảnh hưởng không tốt tới cơ thể, sản sinh các sản phẩm trung gian làm cho con vật mệt mỏi, làm ảnh hưởng tới sự cân bằng giữa muối và nước, ảnh hưởng
Trang 27tới sự hoạt ñộng của cơ quan bài tiết gây hiện tượng phù, suy thận do làm việc nhiều, (Nguyễn Thị Bích Thuỷ, 1997), [19]
Theo Lại Thị Cúc (2003) [3] mức tiêu thụ nước hàng ngày cho các ñối tượng dùng nước (gồm ăn, uống, vệ sinh thân thể, vệ sinh chuồng…) cho một
số ñối tượng như sau:
Bảng 2.1 Mức tiêu thụ nước hàng ngày cho các ñối tượng dùng nước
ðối tượng dùng nước Lượng nước trong ngày (lít)
2.4.3.1 Các ngu ồn nước sử dụng trong chăn nuôi
Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), nước ngọt chiếm khoảng 2 - 3% toàn bộ lượng nước của cả thế giới Trong ñó, băng tuyết chiếm khoảng 70%, chỉ có gần 1% nước của thế giới là có thể khai thác trực tiếp và ñược chia làm 2 nguồn: nước bề mặt và nước ngầm
Trang 28* N ước bề mặt:
ðây là khái niệm chung chỉ các nguồn nước trên mặt ñất, bao gồm ở dạng ñộng (chảy) như sông, suối, kênh, rạch và dạng tĩnh hoặc chảy chậm như ao, hồ, ñầm, phá.v v Nước mặt có nguồn gốc chính là nước chảy tràn
do mưa hoặc cũng có thể từ nước ngầm chảy ra do áp suất cao hay dư thừa ñộ
ẩm trong ñất cũng như dư thừa số lượng trong các tầng nước ngầm
Nước chảy vào các sông luôn ở trạng thái ñộng, phụ thuộc vào lưu lượng và mùa trong năm Chất lượng nước phụ thuộc nhiều vào các lưu vực Nước qua vùng ñá vôi, ñá phấn thì nước trong và cứng Nước chảy qua vùng
ñá có tính thấm kém thì nước ñục và mềm
Nước cứng thường giầu các ion canxi và magiê, pH cao (thường lớn hơn 7) Nước có pH thấp hơn 7 thường là mềm Khi chảy qua các lưu vực sông ở ñồng bằng, nước có nhiều phù sa, chứa nhiều tạp chất hữu cơ (humic), một số tạp chất chứa ion kim loại, ñặc biệt là nhôm và sắt Nước ở vùng này có ñộ nhiễm mặn cao, ñiển hình nhất là nước ở khu vực sông Hồng vào mùa mưa Sản xuất công nghiệp ñược cho là lĩnh vực thải ra nguồn chất thải lớn nhất vào môi trường nước Các chất thải công nghiệp rất phong phú và ña dạng, chúng tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường nước mặt ở mức ñộ cao, bên cạnh công nghiệp thì nước thải từ nông nghiệp cũng góp phần lớn làm ô nhiễm nguồn nước mặt cũng như nguồn nước ngầm
Trong những năm gần ñây do tốc ñộ phát triển kinh tế của nước ta tăng một cách nhanh chóng, công nghiệp hoá, hiện ñại hoá và chất lượng cuộc sống người dân ngày càng cao cùng với sự ảnh hưởng của biến ñổi khí hậu ñã làm ô nhiễm nguồn nước mặt, nước ngầm Chất lượng môi trưòng nước Việt Nam bị suy giảm cả về số lượng và chất lượng nhanh chóng Theo báo cáo hiện trạng môi trường năm 2009 [33], nước thải từ các khu công nghiệp có thành phần ña dạng, chủ yếu là các chất lơ lửng, chất hữu cơ và một số kim
Trang 29loại nặng Khoảng 70% trong số hơn 1 triệu m3 nước thải/ngày từ các khu công nghiệp ựược xả thẳng ra các nguồn tiếp nhận không qua xử lý ựã gây ra
ô nhiễm môi trường nước mặt Chất lượng nước mặt tại những vùng chịu tác ựộng của nguồn thải từ các khu công nghiệp ựã suy thoái, ựặc biệt tại các lưu vực sông: đồng Nai, Cầu và Nhuệ - đáy Cùng với nước thải sinh hoạt, nước thải từ các khu công nghiệp, nước thải nông nghiệp ựã góp phần làm tình trạng ô nhiễm tại các sông, hồ, kênh, rạch trở lên trầm trọng hơn Những nơi tiếp nhận nước thải ựã bị ô nhiễm nặng nề, nhiều nơi nguồn nước không thể
sử dụng ựược cho bất kỳ mục ựắch nào Nhiều chỉ tiêu như BOD5, COD,
NH4+, tổng N, P ựều cao hơn QCVN nhiều lần, theo báo cáo nước thải của các khu công nghiệp, khu dân cư, ựang ở trong tình trạng ô nhiễm vựot quá mức tiêu chuẩn cho phép 5 - 10 lần (ựối với tiêu chuẩn nước mặt loại B theo TCVN 5942 - 1995) đoạn sông Cầu chảy qua Thái Nguyên nước ựục, có màu ựen, có mùi và giá trị thông số SS, BOD5, COD vượt TCVN 5942 - 1995 loại A từ 2 - 3 lần Sông suối là nguồn tiếp nhận và vận chuyển các chất ô nhiễm trong nước từ các nguồn chất thải, nước thải chứa chất hữu cơ vượt quá giới hạn cho phép sẽ gây ra hiện tuợng phú dưỡng, làm giảm lượng oxy trong nước, các loài thuỷ sinh bị thiếu oxy dẫn ựến một số loài bị chết hàng loạt Theo số liệu báo cáo, sản lượng nuôi trồng thuỷ sản (ựặc biệt là nuôi cá bè trên sông) ựã bị giảm sút nhiều do vấn ựề ô nhiễm nguồn nước mặt điển hình
là các vụ cá lồng chết hàng loạt vào những năm 2002, 2003, 2005 Ngoài ra, chất lượng nước mặt suy giảm cũng ảnh hưởng ựến nguồn nước cấp sinh hoạt trong khu vực
* Nước ngầm:
đây là nguồn nước ựược sử dụng chủ yếu trong sinh hoạt và sản xuất tại hầu hết các nước trên thế giới Nước ựược hình thành do quá trình lọc tự nhiên của các nguồn nước bề mặt, nước mưa, tuyết hoặc do quá trình bốc hơi
Trang 30ñọng lại tại chỗ Do nằm sâu trong lòng ñất nên tính chất của nước ngầm ít chịu ảnh hưởng bởi tác ñộng của con người, ñặc biệt là nguồn nước có ñộ sâu lớn Chất lượng của nước ngầm chịu ảnh hưởng bởi tính chất của lớp ñất thấm nước và lớp ñất không thấm nước mà nước chảy qua
ðất có nhiều mạch nước, các mạch nước này sẽ chịu tác ñộng bởi các yếu tố trong ñất, qua quá trình rửa trôi, quá trình khoáng hoá Các chất trong ñất sẽ vào nước làm cho chất lượng nước thay ñổi làm cho nước có tính axit hay kiềm, gây nước cứng hoặc nước mềm ðất ở Việt Nam chứa nhiều Fe,
Ca, Mg, Mn,… các chất này từ ñất ngấm vào nước sẽ ảnh hưởng tới ñất Trong nước, ñặc biệt là nước thải có chứa nhiều ion Cl-, SO42- , NO3-,… các ion này xâm khoáng hoá, làm cho ñất sẽ bị chua, mặn, hoặc nhiều hay ít mùn Theo Lê Hồng Mận và Cs [15], một năm, ñàn gia súc, gia cầm nước ta thải khoảng 25 - 30 triệu tấn chất thải lỏng (nước tiểu, nước rửa chuồng, nước
từ sân chơi, bãi vận ñộng, bãi chăn) Trong số ñó, có khoảng 20% ñược xử lý qua hầm biogas hoặc qua hệ thống chất thải của các trại chăn nuôi Phần lớn số còn lại ñược sử dụng ngay hoặc cho thải trực tiếp ra môi trường ñã làm tăng ñộ
ô nhiễm và huỷ hoại môi trường Ngoài chất khí, trong chất thải của gia súc, gia cầm còn có các loại mầm bệnh, ký sinh trùng, các vi sinh vật có hại khác nhau như: Enterobacteriae, E Coli, Salmonella, Streptococcus faecalis…ðây là những loài có thể gây hại trực tiếp hoặc gián tiếp ñến sức khoẻ con người Chất thải rắn từ chăn nuôi không qua xử lý ñánh ñống tập trung, do ñó lúc mưa, gió rửa trôi mất nitrogen, phốt pho gây ô nhiễm không khí, thổ nhưỡng và nguồn nước, ảnh hưởng ñến môi trường sinh thái, ảnh hưởng ñến sức khoẻ cộng ñồng Do lượng protein trong thức ăn gia súc, gia cầm không ñược lợi dụng hết nên 50 - 70% lượng nitrogen thông qua phân và nước tiểu bài tiết ra ngoài, không qua xử lý, bộ phận nhỏ bốc hơi, tăng thêm lượng nitrogen trong không khí dễ hình thành mưa axít gây nguy hại cho cuộc sống
Trang 31ðại bộ phận nitrogen bị oxy hố thành nitrate Ngồi việc ơ nhiễm đĩng váng trên tầng mặt thổ nhưỡng, cịn lúc mưa giĩ trơi vào các ao, hồ, sơng, suối, rạch lớn, nhỏ, gây ơ nhiễm nguồn nước Nitrate là tiềm ẩn chất cancerogen Khi sử dụng nguồn nước bị ơ nhiễm nitrate thì hồn tồn ảnh hưởng đến sức khoẻ con người
Photpho trong thức ăn chăn nuơi cũng tồn tại vấn đề là vật nuơi lợi dụng photpho khơng cao Photpho mà gia súc, gia cầm ăn vào thì bài tiết ra ngồi 50%, phủ trên bề mặt thổ nhưỡng, một bộ phận photpho kết hợp với các nguyên tố Ca, Cu, Al… thành các phức chất khơng dung giải làm cho đất cằn cỗi, ảnh hưởng sinh trưởng thực vật Một bộ phận lúc mưa giĩ trơi ra ao, hồ, sơng, suối làm cho các phù du sinh vật và rong tảo sinh sơi nảy nở, giảm dinh dưỡng và oxy trong nước, từ đĩ phá hoại mơi trường sinh thái, cá, tơm và động vật thủy sinh
Việc khai thác quá mức và khơng quy hoạch đã làm cho mức nước ngầm bị hạ thấp Nước ngầm ở nhiều nơi đã bắt đầu nhiễm bẩn phosphat và asen Theo Liên đồn ðịa chất Việt Nam báo cáo năm 2005 thì cĩ tới 24/451 mẫu nước giếng của khu vực Hà Nội cĩ hàm lượng phosphat (PO4 3- - P) vượt quá tiêu chuẩn cho phép (TCCP) Cịn theo kết quả nghiên cứu của cơng ty nước sạch Hà Nội đã cho thấy 93/114 mẫu nước giếng tại Hà Nội cĩ hàm lượng PO4 3- - P cao hơn TCCP Tỷ lệ giếng nước cĩ hàm lượng PO4 3- -P cao hơn TCCP là 71% Nhiều nghiên cứu khác cũng đã chỉ ra nước ngầm tại khu vực Hà Nội bị ơ nhiễm bởi nhiều chất khác Theo kết quả nghiên cứu của Kurosawa và Cộng sự tại một số làng quê quanh khu vực Hà Nội cho thấy nồng độ NH4+ - N như tại Thanh Xuân, Phù ðổng - Gia Lâm (Hà Nội); Phú Lâm (Bắc Ninh) lần lượt là 1,14; 1,79 và 1,17mg/l cao hơn TCCP từ 23,4 - 35,8 lần Nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng này là do việc sử dụng phân đạm với mức độ cao, kết hợp với tình trạng ngập nước của đất trồng lúa
Trang 32Trong ñiều kiện này dạng NO3- - N bị chuyển sang dạng NH4+ - N, (Kiysoshy Kurosawa và Cs, 2005), [37]
2.4.3.2 M ột số chỉ tiêu ñánh giá chất lượng nước
♦ Các chỉ tiêu vật lý
* Mầu sắc:
Nước tự nhiên sạch không mầu Nhìn sâu vào bể ñầy nước sạch ta có
cảm giác nước có màu xanh nhẹ do sự hấp thu chọn lọc các bước sóng nhất ñịnh của ánh sáng Nước có rong tảo phát triển có mầu xanh ñậm hơn Nước
có màu vàng do nhiễm sắt, màu vàng bẩn do nhiễm axit humic có trong mùn Nước thải làm cho nước có mầu nâu ñen hoặc ñen Mỗi loại nước thải ñều có những mầu sắc khá ñặc trưng, nhưng ña số trường hợp nước nhiễm bẩn nặng ñều có mầu nâu hoặc ñen
* ðộ trong của nước:
Nước nguyên chất là môi trường trong suốt có khả năng truyền ánh sáng tốt, nhưng khi trong nước có các tạp chất, huyền phù, cặn rắn lơ lửng, các vi sinh vật và các hoá chất hoà tan thì khả năng truyền ánh sáng của nước giảm ñi Theo TCVN, ñộ trong của nước ñược xác ñịnh bằng phương pháp Sneller và quy ñịnh ñộ trong của nước cấp là 30cm Sneller
* Mùi, vị của nước:
Các chất khí và các chất hoà tan trong nước có mùi vị Nước thiên nhiên có thể có mùi ñất, mùi tanh hoặc mùi ñặc trưng của các chất hoà tan trong nó Nước có thể có vị mặn, ngọt, chát,… tuỳ theo thành phần và nồng
ñộ của các muối hoà tan trong nước
♦ Các chỉ tiêu hoá học
* Nồng ñộ oxy hoà tan DO ( Dissolved Oxygen):
Oxy hoà tan trong nước phụ thuộc các yếu tố: áp suất, nhiệt ñộ, ñặc tính của nguồn nước bao gồm các thành phần hoá học, vi sinh, thuỷ sinh
Trang 33Các nguồn nước bề mặt do có bề mặt thường xuyên tiếp xúc với không khí nên nồng ñộ oxy hoà ta thường cao Mặt khác quá trình quang hợp và hô hấp của vi sinh vật trong nước cũng làm thay ñổi lượng oxy hoà tan trong nước mặt Nước ngầm có nồng ñộ oxy hoà tan thấp do các phản ứng oxy hoá khử xảy ra trong lòng ñất ñã tiêu thụ một phần oxy Oxy hoà tan trong nước không có tác dụng ñối với nước bề mặt về mặt hóa học Khi nhiệt ñộ tăng khả năng oxy hoà tan vào nước cũng tăng Nồng ñộ oxy hoà tan vào nước tuân theo ñịnh luật Henry: Trong nước ngọt ở ñiều kiện 1 atm và 00 C, lượng oxy hoà tan trong nước ñạt tới 14,6 mg/ l Ở 350C và 1atm, giá trị oxy hoà tan chỉ còn 7mg/l Thông thường nồng ñộ oxy bão hoà trong nước giảm, ñồng thời lượng oxy tiêu tốn cho các quá trình sinh học lại tăng lên, do ñó oxy hoà tan trong các nguồn nước giảm ñáng kể vào mùa hè, (Nguyễn Thị Thu Thuỷ, 2000), [20]
Trong thực tế, tính axit hoặc kiềm của nước ít khi biểu thị bằng nồng
ñộ ion H+ hay OH- tính bằng mol/l mà nguời ta biểu thị bằng ñại lượng pH ðại lượng pH có giá trị ñược ñịnh nghĩa theo phương trình:
Trang 34pH = - lg[ H+ ]
Thông thường:
+ Nước mưa sạch : pH = 6,0 – 6,4
+ Nước ngầm: tuỳ theo chất ñất mà có ñộ pH khác nhau Ở vùng ñất cát
do keo ñất ít hay vùng ñá vôi, nồng ñộ Ca2+, Mg2+ cao thì ñộ pH của nước ngầm có tính kiềm Vùng ñất sét có nhiều oxit nhôm (AlO3) hoặc vùng ñất ñồi ñỏ nâu chứa nhiều oxit sắt (FeO3) thì ñộ pH của nước ngầm có tính axit + Nước bề mặt: ñộ pH rất biến ñộng tuỳ thuộc vào thành phần của nước Trong thực tế: ðộ pH rất biến ñộng, phụ thuộc vào tính chất của từng ñịa phương Khi pH của nước thay ñổi sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới tính chất vật
lý, hoá học và các chủng vi sinh vật (VSV) của nguồn nước (ña số các VSV phát triển tốt ở môi trường có ñộ pH = 6,5 – 8,5 Khi môi trường có ñộ pH <
3 thì các VSV ở trạng thái không hoạt ñộng)
Chỉ tiêu vệ sinh ñối với ñộ pH của nước:
Nước dùng trong sinh hoạt: pH = 6,5 – 7,5 ( TCVN 2004)
Nước dùng trong chăn nuôi: pH = 5,0 – 8,5 (TCN 680 – 2006)
* Nhu cầu oxy hoá học COD ( Chemical Oxygen Demand):
COD là lượng oxy cần thiết ñể oxy hoá hoàn toàn các hợp chất hữu cơ trong 1lít nước, ñược tính bằng mgO2/l
1 COD = 19,68 mg CHC
Trong nước luôn chứa một lượng chất hữu cơ (CHC), hàm lượng này càng cao nước càng bẩn Chất hữu cơ bao gồm chất hữu cơ tự nhiên và chất hữu cơ tổng hợp
Chất oxy hoá thường dùng là Kalipermanganat (KMnO4) hoặc Kalibicromat (K2CrO7) Trong ñó ñộ oxy hoá của KMnO4 là chỉ số ñặc trưng
ñể ñánh giá mức ñộ sạch bẩn của nước uống, cũng như nước tự nhiên mà chúng làm ô nhiễm bởi các chất thải công nghiệp KMnO4 là chất oxy hoá
Trang 35mạnh, trong môi trường axit sẽ cho ra nguyên tử [O] ñể oxy hoá các chất hữu
cơ có nguồn gốc thực vật có mặt trong nước, còn trong môi trường kiềm KMnO4 ñược dùng ñể xác ñịnh các chất hữu cơ có nguồn gốc ñộng vật Thông qua việc xác ñịnh chỉ số COD trong môi trường kiềm và môi trường axit, chúng ta có thể biết ñược nguồn gốc ô nhiễm của nước do ñộng vật hay thực vật, từ ñó ñưa ra biện pháp khắc phục
* Nhu cầu oxy sinh hoá BOD (Biochemical Oxygen Demand):
BOD là lượng oxy cần thiết ñể oxy hoá hoàn toàn các hợp chất hữu cơ trong 1 lít nước bởi vi sinh vật, ñược tính bằng mg O2/l
Trong nguồn nước tự nhiên hay nước thải sinh hoạt và chăn nuôi BOD
= 0,5 – 0,7 COD Chất hữu cơ tỉ lệ thuận với giá trị BOD và COD
* Các h ợp chất của Nitơ:
Các hợp chất của Nitơ có trong nước là kết quả của quá trình phân huỷ các hợp chất hữu cơ trong tự nhiên, trong các chất thải và nguồn phân bón mà con người trực tiếp hoặc gián tiếp ñưa vào nguồn nước Trong nước, tuỳ tình trạng của nước mà muối Nitơ tồn tại ở các dạng khác nhau
CHC(N) → Polypeptit → axit Amin → NH4+(NH3)→ NO2- → NO3- → N2 Các muối nitơ vô cơ dễ bị mất do bị oxy hoá, ñất giữ lại, cây xanh sử dụng nên ít tìm thấy trong nước Các muối Nitơ hữu cơ mới có ý nghĩa về mặt vệ sinh Khi nước mới bị nhiễm bẩn bởi phân bón hoặc nước thải, trong nguồn nước có NH3, NO2-, NO3- Sau 1 thời gian NH3 và NO2- bị oxy hoá thành
Trang 36kích thích niêm mạc ñường tiêu hoá gây viêm loét Khi vào tế bào NH4+chuyển thành NH4OH làm ñộ pH ở mô bào và máu tăng lên, NH4+ dễ chuyển thành NO2- gây ngộ ñộc
Chỉ tiêu vệ sinh: Nước sinh hoạt: < 1mg/l (TCVN 2004)
Nước dùng trong chăn nuôi: < 3mg/l
Nếu trong nước chủ yếu là NO2- thì nước ñã bị ô nhiễm trong thời gian dài hơn, ion NO2- vào trong cơ thể tác dụng với Hemoglobin gây ra Methemoglobin Do ñó, nếu NO2- cao, một lượng lớn Hemoglobin bị mất chức năng vận chuyển O2, cơ thể sẽ biểu hiện các triệu chứng: nhức ñầu, chóng mặt, buồn nôn, ỉa chảy… nếu nặng thì tứ chi và mặt tím tái, nếu không cứu chữa kịp thời sẽ dẫn ñến ngạt thở, hôn mê và chết, (Trịnh Thị Thanh, 2000), [17]
Nếu nước chủ yếu là NO3- thì quá trình oxy hoá ñã kết thúc Ở ñiều kiện yếm khí, NO3- sẽ bị khử thành N2 bay lên NO3- là dấu hiệu cho ta biết nước ñã hoàn thành quá trình tự làm sạch Tuy nhiên, khi ở nồng ñộ cao,
NO3- sẽ gây nguy hiểm cho con người và gia súc vì VSV có mặt trong ruột có thể chuyển hoá NO3- thành NO2- ñặc biệt ở ñường tiêu hoá của trẻ em và gia súc non hình thành Methemoglobin làm xuất hiện hiện tượng xanh xao, tím tái nhất là xung quanh mắt và môi Ngoài ra chúng còn có khả năng gây ung thư, quái thai do quá trình nitro hoá các gốc amin và tạo ra nitrosamin
Chỉ tiêu vệ sinh: Nước sinh hoạt: < 10 mg/l
Nước dùng trong chăn nuôi:< 30- 50 mg/l
2.4.4 Chất thải chăn nuôi và ô nhiễm môi trường do hoạt ñộng chăn nuôi
♦ Phát triển chăn nuôi quy mô trang trại ở Việt Nam
Trong thời gian qua, ngành chăn nuôi của nước ta phát triển với tốc ñộ nhanh Tốc ñộ tăng trưởng bình quân giai ñoạn 2001- 2007 ñạt 8,9% Tổng ñàn trâu, bò từ 6,7 triệu con năm 2001 tăng 9,7 triệu con năm 2007 (tăng 7,4% năm), trong ñó ñàn bò sữa tăng bình quân 15% /năm, ñàn bò thịt tăng
Trang 379,7% /năm và ựàn trâu tăng 1,1 % /năm, ựàn lợn tăng từ 21,8 triệu con năm
2001 lên 26,6 triệu con năm 2007 (tăng 3,3 % /năm), ựàn gia cầm trước khi có dịch cúm tăng mạnh, từ 218 triệu con năm 2001 lên 254 triệu con năm 2003 (tăng 8,4 % /năm); hiện nay tổng ựàn gia cầm là 266 triệu con, (Nguyễn Khoa
Lý, 2007), [13] Khoảng 10 năm gần ựây, có sự thay ựổi lớn của ngành chăn
nuôi ựó là có sự chuyển ựổi từ chăn nuôi tự cung, tự cấp, nhỏ lẻ phân tán sang chăn nuôi trang trại tập trung, tiếp cận dần tới công nghiệp hoá chăn nuôi, ựây
có thể coi là bước ựột phá mới trong phát triển của ngành chăn nuôi
Chăn nuôi trang trại phát triển sẽ ựáp ứng nhu cầu thị trường ngày càng nhiều và ựa dạng của nhân dân về sản phẩm chăn nuôi, nâng cao tắnh cạnh tranh năng suất, chất lượng sản phẩm chăn nuôi, tăng cường khả năng tiếp thu công nghệ, tiến bộ khoa học mới, là nhân tố quan trọng thúc ựẩy ngành chăn nuôi phát triển theo hướng công nghiệp hoá, hiện ựại hoá
Trong 5 năm từ 2001Ờ 2006 chăn nuôi trang trại ở nước ta ựã phát triển nhanh về số lượng và quy mô chăn nuôi Số lượng trang trại tăng từ 1.761 năm 2001 lên 17.721 năm 2006, bình quân tăng trong giai ựoạn 2001-
2006 ựạt 58,7%/năm Trong số trang trại chăn nuôi nêu trên, quy mô chăn nuôi trang trại lợn nái phổ biến từ 20- 50 con/ trang trại, lợn thịt từ 100- 200 con/ trang trại, gà thịt từ 2.000- 5.000con/ trang trại, bò sinh sản 10-20con/ trang trại, bò sữa 20- 50 con/ trang trại Sản phẩm chăn nuôi trang trại ngày càng tăng, ước tắnh sản phẩm sữa từ trang trại chiếm trên 40% tổng sản lượng sữa, tương tự như vậy sản phẩm chăn nuôi lợn trang trại chiếm trên 20% và
gà trên 35%, (đào Lệ Hằng, 2008), [6]
Việc tăng ựàn gia súc, gia cầm về số lượng cũng như quy mô ựồng nghĩa với việc số lượng chất thải trong chăn nuôi cũng tăng theo, theo Lochr (1984), lượng phân thải ra hàng ngày bằng 6 - 8% khối lượng cơ thể lợn Hill
và Toller (1982) cho biết, lượng phân thải ra trong một ngày ựêm của lợn có
Trang 38khối lượng dưới 10kg là 0,5 - 1kg, từ 15 - 40kg là 1 - 3kg phân, từ 45 - 100kg
là 3 - 5 kg, Vincent Porphyre, Nguyễn Quế Côi (2006) cho rằng: lợn nái ngoại thải từ 0,94 - 1,79 kg phân/ngày, lợn thịt từ 0,6 - 1,0 kg tuỳ theo các mùa khác nhau, (Vũ đình Tôn, 2008), [21]
♦ Nguồn gây ô nhiễm từ hoạt ựộng chăn nuôi
Thành phần gây ô nhiễm trong các loại chất thải chăn nuôi là các chất hữu cơ, vô cơ và nhiều mầm bệnh Những chất thải này gây ô nhiễm nghiêm trọng cho không khắ, ảnh hưởng tới môi trường sống của dân cư, nguồn nước, tài nguyên ựất và ảnh hưởng chắnh ựến kết quả sản xuất chăn nuôi, (Hoàng Kim Giao, 2006), [5]
Tại Việt Nam, hiện trạng ô nhiễm do chăn nuôi gây ra ựang ngày càng một gia tăng ở mức báo ựộng Chỉ tắnh riêng năm 2007, lượng chất thải do chăn nuôi gây ra ở nước ta như sau, (Cục Chăn nuôi, 2008), [29]
Bảng 2.2 Ước tắnh chất thải chăn nuôi trong năm 2007
Tổng chất thải rắn/ năm (tấn)
Trang 39Nguồn gây ô nhiễm nước từ hoạt ñộng chăn nuôi chủ yếu là từ nước thải, phân thải, nước vệ sinh chuồng trại và nước trong các ao hồ có lượng dư thừa thức ăn cao Trong thực tế nguồn nước thải từ hoạt ñộng chăn nuôi gia súc, gia cầm có lưu lượng nhỏ hơn so với nước thải sinh hoạt Chủ yếu là nước tắm rửa và nước vệ sinh chuồng trại Nước thải từ các chuồng trại chăn nuôi chứa một lượng lớn chất thải rắn không tan như: phân, rác, bùn ñất, thức
ăn thừa rơi vãi, các hợp chất hữu cơ chứa nitơ và phospho Nồng ñộ các tạp chất trong nước thải chuồng trại cao hơn 50- 150 lần so với mức ñộ ô nhiễm của nước thải ñô thị Nồng ñộ hợp chất nitơ từ 1.500- 15.200 mgN/l, của
phospho 70- 1.750 mgN/l, (Nguyễn Khoa Lý, 2007) [13]
Tính chất của nước thải trước khi ñổ vào môi trường có liên quan lớn ñến ñiều kiện vệ sinh môi trường xung quanh Bảng 2.3 cho biết tính chất của nước thải chăn nuôi lợn tại một số tỉnh ở Việt Nam
Bảng 2.3 Chất lượng nước thải tại các chuồng nuôi lợn nái, lợn thịt
Chú ý: TCVS theo tiêu chuẩn vệ sinh Việt Nam 10 TCVN 678- 2006
Nồng ñộ BOD5 trong nước thải chuồng lợn cao hơn TCVS cho phép
từ 3,84- 4,17 lần Nồng ñộ COD trong nước thải vượt quá TCVS từ 5,35- 6,32
Trang 40lần Nồng ựộ sulfua hoà tan trong nước thải dao ựộng từ 27,3- 31,7 mg/l cao hơn tiêu chuẩn vệ sinh 27,3- 31,7 lần tạo nên mùi hôi thối nồng nặc trong không khắ Nồng ựộ Cl- (tắnh theo NaCl) trong nước thải biến ựộng 1.120- 1.880mg/l có thể là nguồn nhiễm mặn ựất và nước
Kết quả cho thấy, chỉ tiêu NH4+-N và tổng N trong nước thải ựều lớn hơn tiêu chuẩn vệ sinh từ 4,24- 6,26 lần, ựối với một số kim loại nặng như Zn ựều vượt quá tiêu chuẩn vệ sinh cho phép, (Vũ đình Tôn, 2008), [21]
Nguồn chất thải rắn và lỏng do vật nuôi thải ra bị tắch tụ lại dẫn ựến các chất ựạm (nitơ) chuyển thành 1 lượng khá lớn khắ NH3 Trong ựiều kiện hiếu khắ, NH3 ựược VSV chuyển thành NO3- Khi thấm xuống ựất, một phần
NO3- ựược vi khuẩn kỵ khắ biến thành NO, NO2-, N2O; phần còn lại, theo thời gian, ngấm vào nước gây ô nhiễm nguồn nước ngầm Khắ NO2 bay vào không khắ, gây tác ựộng xấu ựến tầng Ozon của khắ quyển bao quanh trái ựất, trong ựó
có gây hiệu ứng nhà kắnh Theo tổ chức Nông Lương Thế Giới (FAO), chất thải của gia súc toàn cầu tạo ra 65% lượng N2O trong khắ quyển đây là loại khắ có khả năng hấp thu năng lượng mặt trời cao gấp 296 lần so với khắ CO2 động vật nuôi còn thải ra 9% lượng khắ CO2 toàn cầu, 37% lượng khắ CH4- loại khắ có khả năng giữ nhiệt cao gấp 23 lần khắ CO2, (Nguyễn Khoa Lý, 2007), [13]
Bên cạnh chăn nuôi gia súc, gia cầm thì việc nuôi trồng thuỷ sản góp phần không nhỏ trong việc gây ra ô nhiễm Theo Lăng Ngọc Huỳnh, hình thức nuôi thâm canh theo hướng công nghiệp, thức ăn tổng hợp này có chứa protein thô (chiếm 30- 35%), trong khi ựó thuỷ ựộng vật chỉ hấp thụ 25- 40% lượng N, 17- 25%, lượng P, do hiệu quả hấp thụ N, P trong thức ăn không cao
ựã góp phần làm giảm nguồn ô nhiễm nước, (Giáo trình ô nhiễm nước -
Trường đại học Cần Thơ, 2005), [28]