1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá khả năng sinh trưởng, số và chất lượng tinh dịch của lợn đực giống có nguồn gốc PIC được nuôi tại trạm nghiên cứu và nuôi giữ giống lợn hạt nhân tam điệp ninh bình

83 747 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá khả năng sinh trưởng, số và chất lượng tinh dịch của lợn đực giống có nguồn gốc PIC được nuôi tại trạm nghiên cứu và nuôi giữ giống lợn hạt nhân Tam Điệp – Ninh Bình
Tác giả Đinh Hữu Hùng
Người hướng dẫn PGS.TS. Đinh Văn Chỉnh
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Chăn nuôi
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 906,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn, khóa luận, cao học, thạc sĩ, tiến sĩ, đề tài

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo trường đại học nông nghiệp hà nội

Hà Nội - 2010

Trang 2

Lời cam đoan

- Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và ch−a từng đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào

- Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đ1

đ−ợc cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đ1 đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả

Đinh Hữu Hùng

Trang 3

Lời cảm ơn

Nhân dịp hoàn thành luận văn, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới PGS.TS Đinh Văn Chỉnh, người đ1 trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo tận tình tôi trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn tốt nghiệp Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới Ban l1nh đạo và các cán bộ, công nhân viên thuộc Trung tâm nghiên cứu lợn Thụy Phương, Trạm nghiên cứu và phát triển giống lợn hạt nhân Tam Điệp đ1 nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới các Thầy cô giáo trong Bộ môn Di truyền - Giống vật nuôi – Khoa Chăn nuôi và Nuôi trồng thủy sản đ1 giúp đỡ và đóng góp nhiều ý kiến quý báu trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài

Tôi xin cảm ơn gia đình và các bạn đồng nghiệp đ1 giúp đỡ tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn này

Tác giả luận văn

Đinh Hữu Hùng

Trang 4

Môc lôc

Trang 5

3.5.3 áp dụng chỉ số chọn lọc để phân loại đực giống sau khi kiểm tra

Trang 6

Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t

Trang 7

Danh mục bảng

4.12 Giá trị trung bình các chỉ tiêu trong trường hợp chỉ số chọn lọc đạt

Trang 8

Danh mục biểu đồ

4.9 Tăng khối l−ợng trung bình trong thời gian kiểm tra của các

Trang 9

1 Mở Đầu

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm gần đây, tổng giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi tăng bình quân 8,5%/năm Tỷ trọng của ngành chăn nuôi trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp tăng từ mức 22,4% (năm 2003) lên 24,1% (năm 2007) và chăn nuôi đ1 trở thành ngành sản xuất hàng hoá đặc biệt quan trọng trong nông nghiệp, trong đó có ngành chăn nuôi lợn hiện đang đóng vai trò rất lớn trong việc cung cấp thực phẩm cho người tiêu dùng và xuất khẩu Theo số liệu thống kê, năm 2007 cả nước có khoảng 26,56 triệu con lợn, sản phẩm thịt lợn

là 2,55 triệu tấn tăng 2,1% so với cùng kỳ năm 2006, chiếm khoảng 76 - 77% tổng sản lượng thịt các loại Trong đó có khoảng 3,8 triệu con lợn nái (chiếm 14,3% tổng đàn), lợn nái ngoại có 425,8 ngàn con, nái lai 2.881,6 ngàn con và nái nội khoảng 494,2 ngàn con (Bộ NN & PTNT (2008)[5]

Trước yêu cầu ngày càng cao của thị trường về số lượng và chất lượng, rất cần đến các giải pháp công nghệ phù hợp và qui mô sản xuất đủ lớn để đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng trong nước và phục vụ xuất khẩu

Để có được đàn lợn thịt có tốc độ sinh trưởng nhanh và đạt tỷ lệ nạc ở mức độ tối đa của phẩm giống, bên cạnh nâng cao tiến bộ di truyền, chọn lọc, cải tiến chế độ chăm sóc nuôi dưỡng và điều kiện chuồng trại…thì việc tạo ra những tổ hợp lai trên cơ sở kết hợp được một số đặc điểm của mỗi giống, mỗi dòng và đặc biệt việc sử dụng ưu thế lai trong chăn nuôi lợn là rất cần thiết

Đàn lợn nội trong nước có ưu điểm là mắn đẻ, khả năng thích nghi với

điều kiện ngoại cảnh cao, sức đề kháng với bệnh tật tốt, nhưng có nhược điểm

là tầm vóc nhỏ, tỉ lệ mỡ cao, tỷ lệ nạc thấp và hiện các giống này chưa đáp ứng được nhu cầu của x1 hội Để nâng cao năng suất và chất lượng trong chăn nuôi lợn, nước ta đ1 nhập các giống lợn cao sản từ nước ngoài để phục vụ cho các chương trình nhân giống Các giống lợn ngoại đ1 nhập vào nước ta hiện

Trang 10

nay như: Đại Bạch, Landrace, Duroc, Hampshire, Pietrain … Năm 1997 công

ty PIC Anh đ1 đưa sang nước ta một số dòng lợn ngoại cao sản và được nuôi tại Tam Điệp – Ninh Bình Đến năm 2001 Viện Chăn Nuôi Quốc Gia đ1 tiếp quản và giao lại cho Trung tâm nghiên cứu lợn Thụy Phương, nuôi giữ và phát triển các dòng lợn ngoại đó để nghiên cứu và cung cấp con giống, nhằm nâng cao năng suất và chất lượng đàn lợn ở nước ta

Trong chăn nuôi trước khi sử dụng đực và cái giống của các giống cao sản vào chương trình nhân giống thì nhất thiết phải kiểm tra thành tích của chúng Đực giống giữ một vị trí hết sức quan trọng, bởi con đực là một nửa

đàn giống, và thông qua những đực giống tốt thì có thể cải tạo đàn lợn một cách nhanh chóng

Kiểm tra năng suất lợn đực giống là một biện pháp kỹ thuật đang được

áp dụng rộng r1i, đ1 và đang được triển khai ở một số trung tâm, trạm trại của cả nước Chọn lọc lợn đực giống hậu bị có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nâng cao năng suất chăn nuôi lợn, đặc biệt là đối với các tính trạng về tăng trọng, tiêu tốn thức ăn và thành phần thân thịt

Xuất phát từ đó, chúng tôi tiến hành đề tài: "Đánh giá khả năng sinh trưởng, số và chất lượng tinh dịch của lợn đực giống có nguồn gốc PIC

được nuôi tại Trạm nghiên cứu và nuôi giữ giống lợn hạt nhân Tam Điệp – Ninh Bình"

1.2 Mục đích của đề tài

- Xác định được khả năng tăng khối lượng của lợn đực trong thời gian nuôi kiểm tra

- Xác định được tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng trong thời gian kiểm tra

- Xác định độ dày mỡ lưng và độ dày cơ thăn đo bằng máy siêu âm của lợn đực lúc kết thúc kiểm tra

- Xác định được tỷ lệ nạc của lợn đực thông qua các chỉ tiêu đo siêu âm

Trang 11

- Đánh giá số và chất lượng tinh dịch của lợn đực sau khi kiểm tra về các chỉ tiêu tăng khối lượng, độ dày mỡ lưng và độ dày cơ thăn

- Bước đầu áp dụng chỉ số chọn lọc để chọn lọc được lợn đực giống theo các chỉ tiêu về tăng khối lượng, độ dày mỡ lưng và độ dày cơ thăn

Trang 12

2 Tổng quan tài liệu

2.1 Đặc điểm sinh trưởng của lợn ở giai đoạn hậu bị

Sinh trưởng là một quá trình tích lũy các chất hữu cơ, là sự tăng lên về chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn cơ thể con vật trên cơ sở bản chất di truyền của đời trước qui định và điều kiện môi trường Trong chăn nuôi lợn khả năng sinh trưởng liên quan tới khối lượng cai sữa, khối lượng xuất chuồng, ảnh hưởng rất lớn đến giá thành, hiệu quả chăn nuôi

Khi nghiên cứu về sinh trưởng của lợn người ta thường quan tâm đến độ sinh trưởng tích lũy, độ sinh trưởng tuyệt đối

- Độ sinh trưởng tích lũy: là khối lượng, kích thước, thể tích của gia súc tích lũy được trong một thời gian

- Sinh trưởng tuyệt đối: là khối lượng, thể tích, kích thước cơ thể gia súc tăng lên trong một đơn vị thời gian và được tính theo công thức sau đây :

1 2

1 2

tt

WWA

ư

ư

=

Trong đó : A là sinh trưởng tuyệt đối (g/ngày, kg/tháng)

- ảnh hưởng của dinh dưỡng đến khả năng sinh trưởng

Trong chăn nuôi chi phí cho thức ăn chiếm 70-80% giá thành sản phẩm,

do đó chỉ tiêu về tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng càng thấp thì hiệu quả kinh tế

sẽ cao và ngược lại, qua nghiên cứu và thực tế cho thấy vật nuôi có khả năng sinh trưởng tốt do khả năng đồng hóa cao, hiệu quả sử dụng thức ăn cao thì tiêu tốn thức ăn thấp Tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng chính là tỷ lệ chuyển hóa

Trang 13

thức ăn của cơ thể Chỉ tiêu về tiêu tốn thức ăn và tăng khối lượng có mối tương quan nghịch do đó khi nâng cao khả năng tăng khối lượng có thể sẽ giảm chi phí thức ăn

- ảnh hưởng của chăm sóc nuôi dưỡng, khí hậu, thời tiết

Thời tiết khí hậu ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng của lợn Theo Trần

Cừ và cộng tác viên (1975)[13] nhiệt độ tối ưu chuồng nuôi khi lợn có khối

sóc, nuôi dưỡng ảnh hưởng không nhỏ tới sinh trưởng, phát triển của lợn ở bất

kỳ giai đoạn nào

ở giai đoạn lợn hậu bị (khoảng 75 ngày tuổi đến 180 ngày với lợn ngoại) lợn đ1 bắt đầu thích nghi với giai đoạn tự lập, bộ máy tiêu hóa đ1 bắt

đầu được hoàn thiện và có đầy đủ các men tiêu hóa Do đó quá trình tiêu hóa thức ăn và hấp thu các chất dinh dưỡng tăng lên rõ rệt, vì vậy lợn có tốc độ sinh trưởng nhanh, tiêu tốn thức ăn/1kg tăng khối lượng thấp Tốc độ tăng khối lượng ngày càng tăng cho đến giai đoạn trước khi thành thục về tính

Từ sau 75 ngày trở đi lợn có tốc độ phát triển nhanh trong điều kiện sống tự lập Do đó người ta dựa vào đặc điểm của giai đoạn này để thúc đẩy sự tăng khối lượng đồng thời qua đó rút ngắn thời gian mà vẫn đạt được khối lượng yêu cầu Đó chính là căn cứ để người ta tiến hành đánh giá khẳ năng sinh trưởng của cá thể lợn đực và cái hậu bị

2.2 Khả năng sinh trưởng của lợn đực hậu bị

2.2.1 Các chỉ tiêu trong đánh giá sinh trưởng lợn đực giống

Việc đánh giá khả năng sinh trưởng của gia súc cần được thông qua nhiều chỉ tiêu vì nếu chỉ đánh giá trên một vài chỉ tiêu sẽ không loại trừ được yếu tố ảnh hưởng xấu của các chỉ tiêu khác lên giá trị giống của gia súc đó Nhưng nếu đánh giá quá nhiều chỉ tiêu sẽ làm giảm hiệu quả chọn lọc Trong

Trang 14

chọn lọc các tính trạng có hệ số di truyền cao và có giá trị kinh tế như: Tốc độ tăng khối lượng, tiêu tốn thức ăn, tỷ lệ nạc, … thì việc chọn lọc sẽ đem lại hiệu quả (Lasley, 1963)[26] Do đó, trong kiểm tra cá thể người ta thường chọn ra một số chỉ tiêu như:

- Tuổi bắt đầu và kết thúc kiểm tra

- Khả năng khối lượng trong thời gian kiểm tra

- Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng

- Độ dày mỡ lưng và độ dày cơ thăn

Các chỉ tiêu này có mức độ di truyền khác nhau và có mối tương quan lẫn nhau

2.2.2 Đặc điểm di truyền các tính trạng sinh trưởng

Trong chăn nuôi lợn yếu tố dòng, giống ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng của lợn, các giống khác nhau có khả năng sinh trưởng khác nhau, tiềm năng di truyền về sinh trưởng của gia súc thông qua hệ số di truyền Theo

cao hơn

Một kết quả nghiên cứu khác của Triebler (1982)[109] cho rằng hệ số di truyền về khối lượng sơ sinh và sinh trưởng trong thời gian bú sữa dao động từ 0,05- 0,021 hệ số này thấp hơn so với sinh trưởng ở thời kỳ sau cai sữa, vỗ béo

Hệ số di truyền về khả năng tăng khối lượng/ngày, tiêu tốn thức ăn, đều phụ thuộc vào giống, quần thể, phương thức nuôi, theo Busse và cộng tác viên (1986)[50] hệ số di truyền về chỉ tiêu sinh trưởng trong thời gian kiểm tra ở giai

đoạn từ 20-100kg là 0,50, biến động 0,30 - 0,65 Đối với sinh trưởng tuyệt đối

truyền của một số tính trạng năng suất sinh trưởng như sau:

Trang 15

Tương tự như vậy, khả năng di truyền của độ dày mỡ lưng cũng khá biến động giữa các nghiên cứu, đặc biệt trên giống lợn Yorkshire (từ 0,35 – 0,71) Mặc dù vậy, phần lớn các tác giả đều thống nhất hệ số di truyền của tính trạng dày mỡ lưng ở mức cao, từ 0,5 – 0,7 (Nguyễn Quế Côi và Võ Hồng Hạnh, 2000[8]; Rho và cộng tác viên, 2006[96]; Roh và cộng tác viên, 2006[98])

Hệ số di truyền về tiêu tốn thức ăn ở mức trung bình (Bidanel và cộng tác viên, 1996[47], De Roo, 1988[56], Short và cộng tác viên, 1994[106]) Tuy nhiên, tiêu tốn thức ăn này có thể dễ dàng được cải thiện thông qua chọn lọc và nó thường là một chỉ tiêu quan trọng trong chương trình cải tiến giống lợn Với tiêu tốn thức ăn ở giai đoạn từ 30 đến 100 kg, hệ số di truyền là 0,47 (Busse và Groeneveld, 1986)[51] Tác giả Kovalenko và cộng tác viên

Trang 16

(1990)[76] công bố thí nghiệm trên con lai (Dx LW)xD có mức tiêu tốn thức

ăn là 3,55 kg/kg tăng trọng Nghiên cứu của Sencic và cộng tác viên (1999)[105] đối với lợn Lager White chỉ tiêu này đạt 2,5 kg/kg tăng khối lượng Tính trạng này được quan tâm chọn lọc và có xu hướng ngày càng giảm Mc.Phee và cộng tác viên (1991)[81] cho biết, nhờ biết chính xác hệ số

di truyền thông qua chọn lọc, tiêu tốn thức ăn đ1 giảm được 14% ở lô thí nghiệm so với lô đối chứng

Đối với các chỉ tiêu giết thịt như tỷ lệ móc hàm, chiều dài thân thịt, tỷ lệ

(Sellier, 1998)[104] Đối với độ dày mỡ lưng, hệ số di truyền dao động ở mức

độ trung bình đến cao, từ 0,3 – 0,7 (Adamec và Johnson, 1997[40]; Johnson

và cộng tác viên, 1999[71]; Lutaay và cộng tác viên, 2001[78]; Walker và cộng tác viên, 2002[113]) nên việc chọn lọc cải thiện tính trạng này có nhiều thuận lợi Mc.Phee và cộng tác viên (1991)[81] đ1 công bố kết quả nghiên cứu

so sánh dòng chọn lọc với dòng đối chứng, cho thấy dòng chọn lọc có dày mỡ lưng ở mức thấp hơn 14%

Tỷ lệ nạc là một tính trạng có hệ số di truyền cao, dao động từ 0,3 - 0,8 Johnson (1985)[70] đ1 công bố hệ số di truyền đối với tính trạng tỷ lệ nạc trên 8.234 lợn Landace là 0,7 và trên 4.448 lợn Yorkshire là 0,81 Hovenier và cộng tác viên (1992)[66] khi nghiên cứu theo dõi trên hai đối tượng lợn Duroc

và Yorkshire cho biết hệ số di truyền về tỷ lệ nạc là 0,63

Bên cạnh hệ số di truyền còn có một mối tương quan giữa các tính trạng như tăng khối lượng và tiêu tốn thức ăn có mối tương quan di truyền nghịch và khá chặt chẽ đ1 được nhiều tác giả nghiên cứu kết luận, đó là: - 0,60 (Triebler, 1982)[109]; - 0,3 đến - 0,5 (Pfeiffer và cs, 1998)[94]; - 0,51 đến - 0,56 (Nguyễn Văn Đức, 2001)[19]; - 0,715 (Nguyễn Quế Côi và cộng tác viên, 1996)[7]; - 0,6

đến - 0,8 (Schmitten và cộng tác viên,1989)[103]

Chen và cộng tác viên (2002) cho biết hệ số tương quan di truyền giữa

Trang 17

tăng khối lượng và dày mỡ lưng là - 0,37 Kết quả này cho thấy khi chọn lọc theo hướng tăng khả năng tăng khối lượng thì độ dày mỡ lưng cũng giảm đi,

điều đó chứng tỏ nguồn gen ảnh hưởng tới tăng khối lượng có tác dụng ngược chiều với dày mỡ lưng và làm cho tính trạng này được cải thiện rõ rệt

Một số nghiên cứu cho biết tương quan di truyền nghịch tồn tại giữa tăng khối lượng bình quân và dày mỡ lưng từ -0,06 đến -0,67 (Cameron và Curran, 1994[53]; Bidanel và cộng tác viên, 1996[47]; Lê Thanh Hải và cộng tác viên, 1997[60])

Tương quan di truyền giữa một số cặp tính trạng là thuận và chặt chẽ như tăng khối lượng và thu nhận thức ăn (r = 0,65) Clutter và Brascamp, (1998)[55], tỷ lệ nạc với diện tích cơ thăn (r = 0,65) Cùng với đó là các tương quan nghịch và chặt như giữa tỷ lệ nạc với độ dày mỡ lưng (r = - 0,87) Stewart

và SchincKel (1989)[108]

Ngoài ra, hàng loạt các thông báo của nhiều nhà khoa học đ1 xác nhận các chỉ tiêu thân thịt như tỷ lệ móc hàm, tỷ lệ nạc, độ dày mỡ lưng, chiều dài thân thịt và diện tích cơ thăn ở các giống khác nhau là khác nhau Chẳng hạn như ở lợn Landrace có chiều dài thân thịt dài hơn so với ở lợn Large White khoảng 1,5 cm; ngược lại, tỷ lệ móc hàm ở Large White lại cao hơn so với Landrace (Sather và cộng tác viên, 1991[100]; Hammell và cộng tác viên, 1993[61]), lợn Hampshire có nhiều nạc hơn nhưng và có khối lượng lớn hơn

so với lợn Large White (Berger và cộng tác viên, 1994)[46]

2.2.3 Độ dày mỡ lưng, độ dày cơ thăn đối với lợn đực giống

Đối với lợn đực giống thì độ dày mỡ lưng và độ dày cơ thăn đo bằng siêu âm là chỉ tiêu chọn lọc gián tiếp để cải tiến thành phần thân thịt đặc biệt

là tỷ lệ phần thịt có giá trị hoặc tỷ lệ nạc

Các nghiên cứu nhiều mặt nhằm cải tiến thành phần thịt xẻ cho đến nay vẫn đang được tiến hành để nâng cao tỷ lệ phần thịt có giá trị Nhiều nghiên cứu đ1 chứng tỏ giữa độ dày mỡ lưng được xác định trên thân thịt và tỷ lệ thịt

Trang 18

nạc tồn tại một tương quan âm và có ý nghĩa; độ lớn của hệ số tương quan là khác nhau ở các tài liệu tham khảo và đạt r = -0,56 đến r = -0,82 (Pleiderer, 1984)[91]; r = -0,58 (Khisamieva và cộng tác viên, 1984)[74]; r = -0,56 (Oster, 1987)[85]; r = -0,572 đến r = -0,599 (Đinh Văn Chỉnh, 1995)[12] Như vậy, giữa độ dày mỡ lưng và tỉ lệ thịt nạc trên thịt xẻ có mối tương quan nghịch rất chặt chẽ với nhau Tỷ lệ nạc tăng lên khi độ dày mỡ lưng giảm

Dựa trên cơ sở của các nghiên cứu về mối tương quan giữa độ dày mỡ lưng và tỷ lệ nạc đ1 được xác định sau giết thịt, nên người ta đ1 sử dụng phương pháp đo siêu âm để đo độ dày mỡ lưng ở lợn đang sống nhằm cải tiến thành phần thịt xẻ Ưu điểm của phương pháp đo siêu âm là đạt độ chính xác cao, chi phí thấp, không ảnh hưởng tới sức khỏe và sức sản xuất của gia súc,

đồng thời sử dụng dễ dàng Đo độ dày mỡ lưng của lợn là một trong những phương pháp kiểm tra có ý nghĩa trên gia súc giống

Theo Arnould (1968)[3] từ năm 1959 đ1 dùng phương pháp đo siêu âm vào công tác giống Phương pháp này dựa trên nguyên lý phản xạ của sóng siêu âm đối với tổ chức mỡ và cơ Phương pháp này cho đến nay vẫn được sử dụng và mang lại nhiều kết quả

Từ các kết quả thực nghiệm, nhiều tác giả đ1 thừa nhận giữa độ dày mỡ

đo siêu âm và tỉ lệ phần thịt có giá trị tồn tại một tương quan âm Độ lớn của

hệ số tương quan này là khác nhau trong các tài liệu tham khảo và đạt r = 0,44 đến r = -0,80 (Schoen, 1962; Laeepre và cộng tác viên, 1965; Anderson

Trang 19

0,67 Tỷ lệ giữa độ dày mỡ và cơ là r = -0,54 đến r = -0,75 Chỉ tiêu tổ hợp giữa độ dày mỡ lưng và cơ đ1 dẫn đến kết quả cao hơn so với từng chỉ tiêu riêng lẻ Đồng thời có nhiều nghiên cứu đề cập tới tương quan giữa các chỉ tiêu

đo siêu âm ở các lớp khối lượng khác nhau với tỉ lệ phần thịt có giá trị ở nhiều nước phương pháp đo siêu âm được áp dụng ở 90 kg trong kiểm tra năng suất cá thể

Như vậy, đo siêu âm độ dày cơ thăn và dày mỡ lưng của lợn trước khi

sử dụng chúng vào mục đích nhân giống là hoàn toàn cần thiết, bởi vì biết

được độ dày cơ thăn và độ dày mỡ lưng đo siêu âm thì sẽ ước tính được tỷ lệ nạc của đực giống

2.3 Các chỉ tiêu đánh giá về số và chất lượng tinh dịch của lợn đực giống 2.3.1 Thể tích tinh dịch

Đó là lượng tinh dịch mà lợn đực xuất ra trong một lần thực hiện thành công phản xạ xuất tinh Nó phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố:

+ Các loài khác nhau, các giống khác nhau thì thể tích tinh dịch cũng khác nhau

+ Thể tích tinh dịch có thể còn phụ thuộc vào yếu tố ngoại cảnh như chăm sóc nuôi dưỡng, nhiệt độ, thời tiết, kỹ thuật khai thác, mùa vụ

2.3.2 Hoạt lực của tinh trùng

Là tỷ lệ % tinh trùng có sức hoạt động tiến thẳng so với tổng số tinh trùng mà ta quan sát được Hoạt lực liên quan trực tiếp đến chất lượng tinh dịch Tinh trùng có hoạt lực càng cao thì chất lượng tinh dịch càng tốt

2.3.3 Nồng độ tinh trùng

Là số tinh trùng có trong 1ml tinh nguyên Đây là chỉ tiêu quan trọng

đánh giá chất lượng tinh dịch và quyết định mức độ pha lo1ng tinh dịch trong thụ tinh nhân tạo Các loài khác nhau thì nồng độ tinh trùng cũng khác nhau Thông thường thì gia súc có thể tích tinh dịch thấp thì nồng độ tinh trùng cao

Trang 20

và ngược lại ở lợn, nồng độ tinh trùng từ 200-300 triệu /ml

Nồng độ tinh trùng còn phụ thuộc vào giống và cá thể, tuổi, thời tiết khí hậu và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng Theo Nguyễn Thiện, Nguyễn Tấn Anh (1993) [33]

+ Lợn nội: 1- 2 năm tuổi:C = 40 - 50 triệu /ml

Là khả năng chống chịu của tinh trùng với dung dịch nước muối NaCl 1% và nó được thể hiện bằng lượng dung dịch NaCl 1% cần thiết để pha lo1ng một đơn vị thể tích tinh dịch đến lúc tinh trùng ngừng hoạt động tiến thẳng

Về cơ sở khoa học người ta dựa trên sự tác động của dung dịch NaCl 1% đối với màng bọc lipoprotein của tinh trùng Nếu sức chịu đựng của màng này càng cao thì sức kháng của tinh trùng càng cao và tinh dịch đó càng tốt Qua nhiều công trình nghiên cứu các tác giả đ1 đưa ra quy định sức kháng đạt yêu cầu sau:

Lợn ngoại, lợn lai: R = 3.000lần

Lợn nội: R = 1.500 lần

2.3.5 Tỷ lệ kỳ hình của tinh trùng

Trang 21

Là số tinh trùng có hình dạng bất bình thường so với tổng số tinh trùng đếm

được trong quá trình kiểm tra Theo nhiều tác giả, tinh trùng kỳ hình thường không

có khả năng thụ thai Tinh trùng có thể bị kỳ hình ở đầu, thân, cổ, đuôi Để kiểm tra tỷ lệ kỳ hình người ta thường dùng phương pháp nhuộm (Bleumethylen 5%) và

đếm số tinh trùng bị kỳ hình trong tổng số 500 tinh trùng sau đó tính tỷ lệ % Nếu

tỷ lệ kỳ hình càng cao thì chất lượng tinh dịch càng kém

2.3.6 Tổng số tinh trùng tiến thẳng

Là tổng số tinh trùng tiến thẳng có trong 1 lần xuất tinh, đây là chỉ tiêu tổng hợp của 3 chỉ tiêu V, A, C Chỉ tiêu này đánh giá khái quát chất lượng tinh dịch và quyết định cho việc pha lo1ng Theo Nguyễn Tấn Anh, Nguyễn Thiện, Lưu Kỷ (1995)[2], V.A.C của lợn ngoại ở các tỉnh phía Bắc đạt 26- 41, 6 tỷ/1 lần xuất tinh V.A.C càng cao thì chất lượng tinh dịch càng tốt

2.4 áp dụng chỉ số chọn lọc để phân loại lợn đực giống sau kiểm tra sinh

để chọn lọc hoặc loại thải con vật

Chỉ số chọn lọc là phương pháp phối hợp các nguồn thông tin của chính bản thân con vật, của các con vật có họ hàng với con vật đó để ước tính giá trị giống của con vật

Chỉ số chọn lọc dựa trên giá trị kiểu hình (ký hiệu là I) chính là sự kết hợp các giá trị kiểu hình với các trọng số tương ứng của từng tính trạng và có dạng tổng quát như sau:

Trang 22

I = b1X1 + b2X2 + … +bnXn = ∑

= 1 i

iXib

Trong đó:

n: Số lượng các tính trạng chọn lọc hoặc số nguồn thông tin

Chỉ số chọn lọc sẽ thay đổi tùy thuộc vào giống cũng như điều kiện chăn nuôi Thông thường, tùy thuộc điều kiện nghiên cứu, điều kiện chăn nuôi

mà các tác giả sẽ đưa ra các phương trình chỉ số chọn lọc phù hợp

2.5 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.5.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Đánh giá khả năng sinh trưởng của lợn đực đ1 được nghiên cứu ở nước

ta ngay từ những năm 1959 – 1960 trên một số giống lợn ngoại ở các cơ sở thí nghiệm và trạm trại truyền giống từ đó đến nay, các kiểm tra năng suất luôn

được tiến hành nhằm nâng cao tốc độ tăng khối lượng, giảm tiêu tốn thức ăn

và độ dày mỡ lưng Mặt khác, chỉ tiêu số và chất lượng tinh dịch cũng được đề cập tới trong các kiểm tra này

Phạm Hữu Doanh (1989)[15] đ1 thông báo kết quả đánh giá sinh trưởng cá thể đực giống nuôi trại trạm khảo sát Viện Chăn Nuôi trong hai năm 1986 – 1987 như tăng trọng trong thời gian kiểm tra đạt 532 g/ngày đối với Landrace Bỉ, 473 g/ngày đối với Landrace Nhật và 477 g/ngày đối với Đại Bạch Nhật; tiêu tốn thức ăn/1kg tăng khối lượng tương ứng là 3,96; 3,97 và 3,78 kg/kg

Đinh Hồng Luận (1991)[28] đ1 thông báo kết quả nghiên cứu bổ sung

và hoàn thiện quy trình nuôi và kiểm tra cá thể cho 4 giống lợn: Móng Cái,

Đại Bạch, Landrace và ĐBI.81 Kết quả cho thấy, việc sử dụng đực giống qua kiểm tra cá thể đ1 góp phần làm tăng tốc độ tăng trọng 32 - 117 g/ngày, và làm giảm tiêu tốn thức ăn 600g/1kg tăng khối lượng

Trang 23

Lê Thanh Hải (1992)[20] đ1 thông báo kết quả kiểm tra sinh trưởng ở lợn đực hậu bị giống Yorkshire năm 1988 – 1989 Kết quả cho thấy: tăng trọng 532 g/ngày; tiêu tốn thức ăn 3,68 kg thức ăn/1kg tăng trọng; độ dày mỡ lưng 16,2 mm

Đinh Văn Chỉnh và cộng tác viên (1993)[11] cho biết kết quả kiểm tra sinh trưởng lợn đực giống Đại Bạch, đực lai F1 (LR x ĐB) và Landrace nuôi tại trung tâm giống gia súc Hà Tây Kết quả chứng tỏ lợn đực lai F1 (LR x

ĐB) đạt 90 kg ở 203,7 ngày tuổi, tăng trọng 629,7 g/ngày và tiêu tốn thức ăn 3,39 kg/kg ở lợn đực Đại Bạch và Landrace thuần chủng, các chỉ tiêu nuôi vỗ béo đạt kết quả thấp hơn Cụ thể tuổi đạt 90 kg là 227,5 ngày; tăng trọng 558,5 g/ngày và tiêu tốn thức ăn 3,4 kg/kg ở Đại Bạch, trong khi đó ở Landrace các chỉ tiêu tương ứng là 209; 531,3 và 3,43

Kết quả kiểm tra sinh trưởng của lợn đực Đại Bạch qua 3 đời liên tục cũng được Lê Thanh Hải và cộng tác viên (1994)[21] công bố Đối với đực

Đại Bạch tăng trọng đạt 512 g/ngày ở đời ông, 548 g/ngày ở đời bố và 559 g/ngày ở đời con Tương ứng đối với tiêu tốn thức ăn là 3,43; 3,32 và 3,23 kg/kg; độ dày mỡ lưng 15,76; 15,26 và 13,50 mm Đối với đực lai: tăng trọng

đạt 463 -550 g/ngày; tiêu tốn thức ăn 3,93 – 3,67 kg/kg, độ dày mỡ lưng: 11,92 – 17,52 mm

Nghiên cứu về sự sinh trưởng của lợn đực Đại Bạch trong thời gian kiểm tra năng suất cá thể tại Trạm kiểm tra lợn đực giống Viện Chăn Nuôi Quốc gia, các tác giả Võ Văn Sự và cộng tác viên (1994)[31] đ1 rút ra kết luận sơ bộ rằng: Lợn đực giống Đại Bạch kiểm tra cá thể có thể kết thúc theo sinh trưởng nhỏ hơn 90 kg và tương ứng với 180 ngày tuổi để có thể loại trừ bớt ảnh hưởng của tính dục và sự tích lũy mỡ trong giai đoạn kiểm tra Đồng thời kết quả kiểm tra năng suất cá thể lợn đực (giai đoạn 30 – 90 kg) ở trạm này cho thấy lợn Đại Bạch đạt 673,7 g/ngày Các tác giả đưa ra kết luận là phẩm chất tinh dịch của lợn đực được gây chọn ở Việt Nam thấp hơn so với giống gốc

Việc chọn lọc nhân thuần các giống đực ngoại có năng suất cao phục vụ

Trang 24

các công thức lai để tạo ra các con lai nuôi thịt có năng suất, chất lượng cao là rất cần thiết

56,505% (Nguyễn Thiện, 2002)[14]

Phùng Thị Vân và cộng tác viên (2002)[15] cho thấy con lai hai giống (LìY) đạt mức tăng trọng từ 650,90 đến 667,70 g/ngày, tỷ lệ nạc đạt 58,80%, con lai (YìL) đạt mức tăng trọng từ 601,50 đến 624,40 g/ngày, tỷ lệ nạc đạt 56,50%

Các kết quả nghiên cứu của Lê Thanh Hải (2001)[23] cũng cho biết các công thức lai hai, ba, bốn giống ngoại đạt mức tăng trọng và tỷ lệ nạc cao Con lai ba giống Dì(LìY) có mức tăng trọng trung bình 634 g/ngày, tỷ lệ nạc 55,90

% với tiêu tốn thức ăn 3,30 kg/kg tăng trọng, con lai ba giống Pì(LìY) có mức tăng trọng trung bình 601 g/ngày, tỷ lệ nạc 58,80% với tiêu tốn thức ăn 3,10kg/kg tăng trọng Con lai bốn giống ( PìD)ì(LìY) đạt tăng trọng trung bình 624 g/ngày, tỷ lệ nạc 57,90% với tiêu tốn thức ăn 3,20 kg/kg tăng trọng

Trương Hữu Dũng (2004)[17] cho thấy tổ hợp lai giữa hai giống ngoại

L, Y và ngược lại, ba giống lợn ngoại L, Y và D đạt mức tăng trọng và tỷ lệ nạc cao Con lai (LìY) đạt mức tăng trọng từ 650,90 đến 667,70g/ngày và tỷ

lệ nạc/thịt xẻ từ 57,69 đến 60,00%, con lai (Yì L) đạt mức tăng trọng từ 601,50 đến 624,40 g/ngày và tỷ lệ nạc/thịt xẻ từ 56,24 đến 56,80% Con lai ba giống Dì(LìY) đạt mức tăng trọng từ 617,80 đến 694,10 g/ngày và tỷ lệ nạc/thịt xẻ từ 57,00 đến 61,81%, con lai ba giống Dì(YìL) đạt mức tăng trọng từ 628,40 đến 683,10 g/ngày và tỷ lệ nạc/thịt xẻ từ 56,86 đến 58,71%

ở Việt Nam, việc xây dựng và áp dụng chỉ số chọn lọc trong chương trình chọn lọc cải thiện di truyền giống lợn cũng đ1 được quan tâm nghiên cứu

từ những năm 1980 Đối với hai giống lợn ngoại Yorkshire và Landrace, Nguyễn Văn Thiện và và cộng tác viên (1995)[34] đ1 khuyến cáo áp dụng các

Trang 25

chỉ số chọn lọc kết hợp hai tính trạng tăng khối lượng và tiêu tốn thức ăn cho từng giống có công thức sau:

Trong ủó:

1

Với yêu cầu của thị trường cần nâng cao tỷ lệ nạc trong thân thịt xẻ và cùng với sự phát triển của các kỹ thuật đo lường, tính trạng dày mỡ lưng đ1

được quan tâm và đưa vào chỉ số chọn lọc Do vậy, trong chọn lọc lợn đực giống, ngoài hai tính trạng tăng khối lượng và tiêu tốn thức ăn, độ dày mỡ lưng đ1 được đưa vào mục tiêu nhân giống và đ1 mang lại hiệu quả chọn lọc rất đáng kể Chỉ số chọn lọc ba tính trạng này đ1 được Lê Thanh Hải (1998)[22] đề xuất có dạng như sau:

Trên hai giống lợn Landrace và Yorkshire, Nguyễn Quế Côi và Võ Hồng Hạnh (2000)[20] đ1 xây dựng hàng loạt các chỉ số chọn lọc dựa trên giá trị kiểu hình của các tính trạng sản xuất của lợn đực hậu bị Các chỉ số có dạng như sau:

ðối với lợn ủực hậu bị Landrace trong cỏc trạm kiểm tra năng suất:

ðối với lợn ủực hậu bị Landrace dựng trong cỏc cơ sở nhõn giống:

Trang 26

I = 100 + 0,057 (X1 - X 1) – 1,531 (X3 - X 3) ðối với lợn ủực hậu bị Yorkshire trong cỏc trạm kiểm tra năng suất:

Đối với lợn đực hậu bị Yorkshire dùng trong các cơ sở nhân giống:

Trong đó:

2.5.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Kiểm tra sinh trưởng của lợn đực đ1 được nhiều tác giả ở các nước nghiên cứu và công bố kết quả Trạm kiểm tra đầu tiên được đưa vào hoạt

động năm 1907 ở Đan Mạch và cuối cùng những năm 50 đ1 xuất hiện một loạt các trạm kiểm tra ở Châu Âu ở các trạm kiểm tra, lợn đực giống được kiểm tra năng suất cá thể và bên cạnh đó là kiểm tra anh chị em và đời sau Ngày nay, phương pháp kiểm tra này đ1 ngày càng được hoàn thiện cả về quy trình và phương pháp đánh giá

ở úc, Turner (1980)[110] đ1 tiến hành kiểm tra sinh trưởng của lợn Đại Bạch và Landrace, kết quả nghiên cứu này được dẫn ra như sau: Đối với giống

Đại Bạch: tăng trọng 0,71 – 0,74 kg/ngày; tiêu tốn thức ăn 3,70 – 3,80 kg thức

ăn/1kg tăng trọng; độ dày mỡ lưng là 17,2 -22,6mm Đối với Landrace các chỉ tiêu tương ứng là 0,74 -0,76; 3,70 - 4,00 và 13,6 – 20,4mm

ở Đài Loan, Robert (1980)[97] đ1 dẫn ra kết quả kiểm sinh trưởng của

Trang 27

lợn Đại Bạch và Landrace Kết quả cho thấy đối với đực Đại Bạch tăng trọng 0,68 kg/ngày; tiêu tốn thức ăn là 2,86 kg/kg; độ dày mỡ lưng 2,15 cm; tuổi đạt

90 kg là 172 ngày Đối với Landrace tương ứng là 0,55 kg/ngày; 3,16 kg/kg; 2,68 cm và 173 ngày

Thí nghiệm của Mc Phee (1985)[80] đ1 được tiến hành tại 2 đàn gia súc tương tự di truyền đ1 chỉ ra rằng: sau 3 thế hệ đối với đàn chọn lọc tăng trọng tuyệt đối đạt 870 g/ngày, tiêu tốn thức ăn đạt 2,76 kg và độ dày mỡ lưng là 15,9 mm Trong khi đó đàn đối chứng tương ứng là 790 g, 2,94 kg và 18,4 mm

Theo Oster (1986)[84], tỷ lệ phần thịt có giá trị được tăng lên thông qua kiểm tra thành tích vỗ béo và giết thịt ở Landrace Đức: phần thịt có giá trị tăng từ 45% năm 1963 đến 55% ở năm 1986 và diện tích cơ dài lưng tăng từ

thịt có giá trị với tuổi đạt 100 kg là r = 0,24; với tăng trọng ngày đêm r = -0,29

và với tiêu tốn thức ăn r = -0,11; tương quan giữa tiêu tốn thức ăn và tăng trọng ngày đêm là r = -0,6

Andreew và cộng tác viên (1987)[42] đ1 thông báo kết quả kiểm tra từ năm 1984 đến 1986: Số lượng đưa vào kiểm tra là 1.630 đực non, chọn được

760 (46%) trong đó có 26% loại E, 20% loại I và 54% loại II Đối với Đại Bạch tuổi đạt 90 kg là 170,1 ngày; tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng 2,66 kg/kg; ở Landrace tương ứng là 169 ngày và 2,65 kg/kg

Gracik (1987)[58] nghiên cứu trên giống lợn Landrace ăn tự do đ1 tính

được tăng trọng trong thời gian kiểm tra là 808 g/ngày và tương quan giữa tăng trọng và tiêu tốn thức ăn là r = -0,456; còn khi ăn theo tiêu chuẩn thì giữa tăng trọng và tiêu tốn thức ăn là mối tương quan âm và rất chặt chẽ r = -0,861

Benoit và cộng tác viên (1987)[44] đ1 thí nghiệm với 2 giống lợn Landrace và Đại Bạch đ1 tính được tăng trọng trong thời gian kiểm tra của 2 giống lợn trên tương ứng là 886 và 919 g/ngày; tiêu tốn thức ăn là 2,58 và 2,48 kg; độ dày mỡ lưng ở 90 kg là 12,62 và 11,9 mm

Trang 28

Mani (1989)[79] đ1 thông báo kết quả kiểm tra lợn đực Đại Bạch và Landrace dung trong thu tinh nhân tạo Tăng trưởng trong thời gian kiểm tra

đạt 911 g/ngày; tiêu tốn thức ăn là 2,59 kg/kg ở Đại Bạch; đối với Landrace các chỉ tiêu tương ứng đạt được là 857 g/ngày và 2,66 kg/kg

ở Nhật, Harada và cộng tác viên (1991)[62] đ1 sử dụng phương pháp

đo siêu âm trong kiểm tra năng suất cá thể Các tác giả đ1 tiến hành đo siêu

âm ở trọng lượng 90 và 108 kg Qua so sánh bằng hệ số tương quan giữa số đo siêu âm và số đo thực tế, các tác giả đ1 đi đến kết luận là hệ số tương quan đạt thấp nhất ở vùng vai

ở Thụy Sĩ hơn 30.000 con đực và cái giống được đo siêu âm ở các cơ

sở chăn nuôi năm 1992 Năm 1993 và 1994 số lượng gia súc được đo siêu âm

là hơn 28.000 và năm 1995 là hơn 24.000 (Schmidlin, 1996[102])

Cùng với các thông báo về kết quả kiểm tra độ chính xác của máy và

điểm đo đến độ chính xác của phép đo siêu âm thì có nhiều công bố về kết quả đo siêu âm ở các lớp khối lượng khác nhau (25 đến 110 kg) với tỷ lệ nạc Mersmann 1982[82] đ1 đưa ra kết luận hệ số tương quan cao đạt được ở lớp khối lượng nặng hơn

ở Đức Oster (1994)[87] đ1 dẫn ra các yêu cầu đối với các chỉ tiêu trong kiểm tra sinh trưởng của lợn đực giống là tăng khối lượng (g/ngày tuổi) đạt tối thiểu 500g, độ tăng mỡ lưng dưới 0,7 cm

Ball và cộng tác viên (2003)[43] khi nghiên cứu về sinh trưởng của các giống Landrace và Yorkshire cho biết tăng khối lượng tương ứng là 899g/ngày

và 858 g/ngày, lợn Duroc có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt tăng khối lượng đạt 1100g/ngày

Gschwender (2005)[59] thông báo kết quả kiểm tra thành tích vỗ béo và giết thịt đối với các giống như DE thì các chỉ tiêu về tăng khối lượng (g/ ngày), tiêu tốn thức ăn (kg/kg), tỷ lệ nạc đạt tương ứng là: 965 g/ngày; 2,35 kg/kg; 57,6%; với Duroc là 853 g/ngày; 2,72 kg/kg; 58,5% và Landrace tương

Trang 29

ứng là: 720 g/ngày; 2,50 kg/kg; 64,8%

đực thiến của giống lợn Pietrain đ1 đưa ra kết quả: lợn cái có tuổi giết thịt 202 ngày, tăng khối lượng bình quân trong giai đoạn vỗ béo là 747g/ngày, tỷ lệ nạc là 58,7%; còn ở đực thiến với tuổi giết thịt 197 ngày có tăng khối lượng bình quân là 787g/ngày, tỷ lệ nạc là 55,7%

ở Anh, theo BPLEX, 2009[49] nghiên cứu ở trên 330 lợn Pietrain và cho biết kết thúc ở 103 kg, các chỉ tiêu tăng khối lượng (g/ngày tuổi), tiêu tốn thức ăn (kg/kg), độ dày cơ thăn (mm) và tỷ lệ nạc (%) đạt tương ứng là 710 g/ngày; 2,51 kg/kg; 60,6 mm; 64,5 %

Panpanga Sangsuriya, 2000[89] nghiên cứu trên cơ sở dữ liệu của 22.654 lợn đực kiểm tra năng suất của 4 giống lợn (Đại bạch, Landrace, Duroc và Yorkshire) từ năm 1990 đến năm 2000 tại các trại lợn tại Thái Lan

đ1 xây dựng được chỉ số chọn lọc bao gồm tăng khối lượng/ngày (ADG), tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng (FCR) và dày mỡ lưng (BF) Phương trình chỉ

số cho từng giống cụ thể là:

I = 1.0297ADG - 0.2493FCR + 0.1696BF cho cả 4 giống

I = 1.1892ADG - 0.1281FCR + 0.0011BF cho lợn Đại bạch

I = 1.1573ADG - 0.0670FCR + 0.0033BF cho lợn Landrace

I = 1.0990ADG - 0.0738FCR + 0.0008BF cho lợn Duroc

I = 1.5650ADG - 0.0305FCR + 0.0195BF cho lợn yorkshire

Trang 30

3 Đối tượng, địa điểm, nội dung và phương pháp

nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu gồm 4 dòng lợn đực giống có nguồn gốc PIC

được nuôi tại Trạm nghiên cứu và phát triển giống lợn hạt nhân Tam Điệp – Ninh Bình :

+ VCN01: Là dòng Yorkshire tổng hợp, số lượng 32 con

+ VCN02: Là dòng Landrace tổng hợp, số lượng 47 con

+ VCN03: Là dòng Duroc tổng hợp, số lượng 38 con

+ VCN04: Là dòng Pietrian tổng hợp, số lượng 42 con

3.2 Địa điểm nghiên cứu

Tại Trạm nghiên cứu và phát triển giống lợn hạt nhân Tam Điệp, x1 Quang Sơn - Tam Điệp - Ninh Bình

3.3 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 10/2009 đến tháng 06/2010

3.4 Điều kiện nghiên cứu

- Các đực giống ở trên đều có lý lịch rõ ràng, bố mẹ chúng đều đ1 qua kiểm tra năng suất cá thể

- Các lợn đực hậu bị trước khi đưa vào kiểm tra đều có ngoại hình đẹp, mang đặc điểm của giống, khỏe mạnh, không mắc bệnh truyền nhiễm và bệnh

đường sinh dục

- Nuôi dưỡng, chăm sóc quản lý: Các đực giống được nuôi dưỡng chăm sóc dưới điều kiện của Trạm nghiên cứu và phát triển giống lợn hạt nhân Tam

Điệp

- Mỗi đực giống được nuôi riêng 1 ô chuồng, lợn được nuôi dưỡng theo hình thức cho ăn tự do, có nước uống riêng Hỗn hợp thức ăn sử dụng như sau:

Trang 31

Giai đoạn Loại thức ăn Protêin thô (%) Năng lượng trao

đổi (kcal)

3.5 Nội dung và phương pháp nghiên cứu

3.5.1 Đánh giá khả năng sinh trưởng của lợn đực giống

Khối lượng đưa vào kiểm tra là 25 ± 3kg, khối lượng kết thúc là 90 ± 3kg ở giai đoạn này theo dõi các chỉ tiêu sau:

- Các chỉ tiêu đánh giá sinh trưởng:

+ Tuổi bắt đầu đưa vào kiểm tra lúc 25 ± 3kg (ngày)

+ Tuổi đạt khối lượng 90 ± 3kg (ngày)

+ Thời gian kiểm tra: bằng tuổi đạt khối lượng kết thúc trừ đi tuổi bắt

đầu vào kiểm tra

+ Tăng khối lượng trong thời gian kiểm tra:

Khối lượng kết thúc kiểm tra (kg) – khối

lượng bắt đầu kiểm tra (kg)

TKL/ngày kiểm tra

(g/ngày kiểm tra) =

Thời gian kiểm tra (ngày)

+ Tăng khối lượng/ngày tuổi:

Khối lượng kết thúc (kg) TKL/ngày tuổi (g/ngày

+ Tiêu tốn thức ăn/1kg tăng khối lượng trong thời gian kiểm tra (TTA):

Tổng thức ăn tiêu thụ trong thời gian kiểm tra (kg) TTA (kg/kg) =

Khối lượng tăng trong thời gian kiểm tra (kg)

Trang 32

+ Ước tính tỷ lệ nạc

Ước tính tỷ lệ nạc thông qua độ dày mỡ lưng và độ dày cơ thăn bằng phương trình hồi quy được Bộ Nông nghiệp Bỉ khuyến cáo (Moyennes et de l'Agriculture, 1999)

3.5.2 Đánh giá số và chất lượng tinh dịch

- Sau kết thúc kiểm tra khả năng sinh trưởng, lợn đực hậu bị được lựa chọn để đưa vào huấn luyện nhảy giá, kiểm tra phẩm chất tinh dịch khi đạt 7 –

8 tháng tuổi

- Các đực giống được kiểm tra phản xạ lấy tinh nhân tạo thông qua việc tập nhảy giá và kiểm tra phẩm chất tinh dịch Thời gian tập từ 1-2 ngày 1 lần, nếu đực giống nào không hình thành được phản xạ có điều kiện lấy tinh nhân tạo thì chuyển sang phương pháp phối trực tiếp

- Các chỉ tiêu kiểm tra V, A, C và K

+ Phương pháp xác định thể tích tinh dịch

Xác định bằng cách dùng cốc đong loại có vạch định mức ml; trên miệng

đặt 3-4 lớp vải gạc đ1 được tiệt trùng hoặc giấy lọc chuyên dụng để lọc bỏ chất keo phèn trước khi tinh dịch chảy xuống cốc Đặt cốc tinh dịch trên mặt phẳng nằm ngang rồi đọc kết quả ở mặt cong dưới

+ Phương pháp xác định hoạt lực tinh trùng

Sức hoạt động của tinh trùng hay hoạt lực là tỷ lệ phần trăm số tinh trùng có hoạt động tiến thẳng trong vi trường Hoạt lực là một chỉ tiêu quan trọng, nhận biết được trong sự đánh giá chủ quan và kinh nghiệm của người

kỹ thuật Nhưng quan trọng nhất là kỹ thuật viên xác định được tinh dịch đó

Trang 33

có đủ tiêu chuẩn để sử dụng hay không

Đếm tinh trùng nằm trong khu vực dùng đếm hồng cầu Đếm 4 ô nhỡ ở góc và 1 ô nhỡ ở giữa (mỗi ô nhỡ có 16 ô con, mỗi ô con có diện tích 1/400

Nguyên tắc đếm:

- Trong mỗi ô, chỉ đếm đầu tinh trùng nằm trên 2 cạnh, còn những tinh trùng nằm trên 2 cạnh kia nhường cho ô khác (đối với các tinh trùng nằm trên cạnh)

- Đếm cả 2 bên buồng đếm rồi lấy số trung bình, nếu kết quả ở 2 bên

Trang 34

chênh nhau đến 30 % thì phải làm lại

- Nếu tinh trùng tụ thành từng đám, không đếm được ở trong buồng

đếm thì cũng phải làm lại

Công thức tính C = n V 50000

Trong đó:

C là nồng độ tinh trùng trong 1ml tinh nguyên, triệu/ ml

V là số lần pha lo1ng tinh dịch trong ống hút bạch cầu

50000 là chỉ số qui nồng độ tinh trùng trở về 1ml tinh nguyên

Để cho tiêu bản ngấm thuốc nhuộm (mùa hè để 5 - 7 phút, mùa đông 10 phút) rồi rửa tiêu bản Cách rửa như sau: Dùng ống hút ống nhỏ giọt, giỏ nhẹ nước cất xuống một đầu tiêu bản để cho nước loang nhẹ, làm trôi thuốc nhuộm, không dội mạnh làm trôi tiêu bản Vẩy khô rồi đưa lên kính hiển vi

Trang 35

quan sát ở độ phóng đại 400 - 600 lần

Tỷ lệ tinh trùng kỳ hình được tính theo công thức:

% 100

X1: Tăng khối lượng trong thời gian kiểm tra (g)

X2: Độ dày mỡ lưng khi kết thúc kiểm tra (mm)

X3: Độ dày cơ thăn khi kết thúc kiểm tra (mm)

3.5.4 Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu nghiên cứu được xử lý bằng chương trình SAS và EXCEL tại Bộ môn Di truyền - Giống, khoa Chăn nuôi và Nuôi trồng thủy sản, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội

Trang 36

4 Kết quả và thảo luận

4.1 Sinh trưởng của lợn đực giống

4.1.1 Tuổi bắt đầu và kết thúc kiểm tra

Bảng 4.1: Tuổi bắt đầu và kết thúc kiểm tra

Tuổi bắt đầu kiểm tra

Tương tự như vậy tuổi kết thúc của VCN03 (158,68 ngày) là thấp nhất

và VCN02 (165,74 ngày) là cao nhất, sai khác này có ý nghĩa thống kê (P<0,05), còn hai dòng còn lại VCN01 và VCN04 lần lượt có tuổi kết thúc kiểm tra là 161,84 ngày, 162,48 ngày thì tương đương nhau

4.1.2 Khối lượng bắt đầu và kết thúc kiểm tra

Kết quả khối lượng bắt đầu và kết thúc đánh giá 4 dòng lợn đực hậu bị

được thể hiện ở bảng 4.2

Trang 37

Bảng 4.2 Khối l−ợng bắt đầu và kết thúc kiểm tra

Biểu đồ 4.1 Khối l−ợng bắt đầu kiểm tra

ở các tài liệu tham khảo cho thấy, khối l−ợng đ−a vào kiểm tra 26,6kg

26,67 27,11

25,54

27,60

20,00 22,00 24,00 26,00 28,00 30,00

vcn01 vcn02 vcn03 vcn04

Dũng

vcn02 vcn03 vcn04

Trang 38

ở 3 tháng tuổi đối với Landrace Bỉ (Phạm Hữu Doanh, 1989)[15] và 27,7 kg ở

3 tháng tuổi đưa vào kiểm tra đối với Landrace (Nguyễn Quế Côi và cộng tác viên, 1995[6]), theo Schimidlin (1994)[101] cho biết ở Thụy Sĩ lợn đực Landrace đưa vào kiểm tra ở khối lượng 28,2 kg ứng với 70,8 ngày tuổi, lợn

đực DE tương ứng là 24,0kg và 68,1 ngày tuổi Như vậy tốc độ tăng khối lượng của lợn đực VCN01, VCN02, VCN03, VCN04 trong thời gian theo mẹ

và sau cai sữa đến thời gian kiểm tra ở theo dõi này cao hơn nhiều so với những nghiên cứu công bố trước đây ở trong nước và thấp hơn so với Schimidlin (1994)

Qua các bảng 4.1, 4.2, chúng ta thấy dòng VCN03 có tuổi bắt đầu kiểm tra (74,48 ngày) và khối lượng (25,54 kg) là thấp nhất trong 4 dòng, nhưng khi kết thúc thì khối lượng đạt cao nhất (91,96 kg) và tuổi kết thúc lại thấp nhất (158,68 ngày) Điều này cho thấy rằng khả năng sinh trưởng của VCN03 là tốt nhất, điều này cũng phù hợp vì dòng VCN03 là dòng đực nên chỉ tiêu sinh trưởng phải đặt hàng đầu Còn đối với VCN01 tuy có tuổi tuổi bắt đầu kiểm tra (76,97 ngày) thấp hơn VCN02 (81,49 ngày) và khối lượng tuổi bắt đầu kiểm tra tương đương nhau (26,67; 27,11 kg) nhưng khi kết thúc thì đạt khối lượng tương đương (91,39; 91,12 kg) và tuổi kết thúc có khác nhau (161,84; 165,74 ngày), điều này cho thấy sinh trưởng ở hai dòng này không có sự khác biệt nhiều Hai dòng VCN01 và VCN02 là hai dòng nái có ưu thế về các chỉ tiêu sinh sản Dòng VCN04 là dòng đực Pietrian tổng hợp có sinh trưởng kém hơn nhưng cho tỷ lệ nạc khá cao

Về khối lượng kết thúc kiểm tra: khối lượng kết thúc ở VCN03 (91,96 kg) là cao nhất và thấp nhất ở VCN04 (90,29 kg) có sự sai khác thống kê (P<0,05) Còn VCN02 (91,12 kg), VCN01 (91,39 kg) có khối lượng kết thúc kiểm tra là tương đương nhau Kết quả này cho thấy đực VCN02 và đực các dòng khác đều có tuổi kết thúc trung bình dưới 166 ngày đạt khối lượng trung bình trên 90 kg Như vậy tuổi đạt 90kg trong theo dõi này thấp hơn rất nhiều

so với kết quả trước đây ở Trung tâm giống Phú L1m - Hà Tây với 209 ngày

Trang 39

tuổi ở Landrace và 227 ngày tuổi ở Đại Bạch (Đinh Văn Chỉnh và cộng tác viên 1993[11]), Lê Thanh Hải (1994)[21] thông báo kết quả kiểm tra năng suất cá thể qua 3 đời ông-bố và con có tuổi đạt 90 kg là 209,5 đến 206,8 ngày Tuy nhiên tuổi đạt 90kg trong theo dõi này còn cao hơn so với tuổi đạt khối lượng 90 kg ở Landrace là 151,3 , ở Đại Bạch là 147,6 ngày tuổi (Benoit và cộng tác viên 1986[44]), theo Schimidlin (1995)[102] cho biết đực DE đạt khối lượng 97,1 kg ở 157,8 ngày tuổi, còn Landrace đạt khối lượng 97,9 kg ở 163,8 ngày tuổi, gần đây theo Johnson và cộng tác viên (2002)[115] cho biết

đực Duroc đạt khối lượng 113 kg ở 175 ngày tuổi, Landrace đạt khối lượng 114,5 kg ở 175,6 ngày còn Yorkshire đạt khối lượng 114,3 kg ở 176,3 ngày tuổi, tương tự theo thông báo của Chen và cộng tác viên (2002)[88] công bố tuổi đạt khối lượng 113,5 kg ở Duroc là173 ngày tuổi, Landrace là 175 ngày còn Yorkshire 176 ngày tuổi

Biểu đồ 4.2 Khối lượng kết thúc kiểm tra Qua đó ta thấy việc giảm số ngày tuổi mà vẫn đạt được khối lượng 90

kg như ở các nước khác là điều cần quan tâm Trong hướng nghiên cứu này, bên cạnh việc kiểm tra chọn lọc con giống thì cải tiến môi trường, nhất là điều kiện nuôi dưỡng đóng vai trò rất quan trọng Trên cơ sở như vậy có thể rút

91,39 91,12

91,96

90,29

85,00 87,00 89,00 91,00 93,00 95,00

vcn01 vcn02 vcn03 vcn04

Dũng

vcn02 vcn03 vcn04

Trang 40

ngắn được thời gian nuôi mà vẫn đạt được khối lượng phù hợp với yêu cầu sử dụng đực giống vào nhân giống

4.1.3 Tăng khối lượng của lợn đực giống

Khả năng tăng khối lượng g/ngày kiểm tra và tăng khối lượng g/ngày tuổi đến kết thúc kiểm tra (90 kg) là 2 chỉ tiêu quan trọng và có ý nghĩa kinh tế Tăng khối lượng càng cao thì tuổi đạt 90 kg và thời gian kiểm tra càng thấp, qua đó rút ngắn được thời gian nuôi mà vẫn đạt được kết quả mong muốn

Kennedy, 1994[77]; Lê Thanh Hải và cộng tác viên , 1997[22]; Nguyễn Quế Côi và Võ Hồng Hạnh, 2000[8]; Solanes và cộng tác viên, 2004[107]) Giữa tăng khối lượng trong thời gian kiểm tra và tăng khối lượng/ngày tuổi có mối tương quan dương rất chặt chẽ với r = 0,8 (Oster, 1988)[86] Giữa tăng khối lượng trong thời gian kiểm tra và tiêu tốn thức ăn/1kg tăng khối lượng tồn tại một tương quan âm, hệ số tương quan kiểu hình và kiểu gen dao động từ r = -0,6 đến r = -0,9 (Pfeiffer, 1988[93] và Schmitten, 1989[103], Nguyễn Văn

Đức, 2001[19]) Như vậy những đực giống có tăng khối lượng nhanh thì thường có tiêu tốn thức ăn thấp và ngược lại

- Tăng khối lượng g/ngày của lợn đực ở theo dõi này được thể hiện ở bảng 4.3

Ngày đăng: 22/11/2013, 15:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Bộ Nông Nghiệp (1984). “Quy trình kiểm tra cá thể lợn đực hậu bị (TCVN 3897 - 84)” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy trình kiểm tra cá thể lợn đực hậu bị (TCVN 3897 - 84)
Tác giả: Bộ Nông Nghiệp
Năm: 1984
7. Nguyễn Quế Côi, Nguyễn Văn Thiện, Nguyễn Đức Hán, Nguyễn Văn Lâm (1996), "Một số đặc điểm di truyền và chỉ số chọn lọc về khả năng sinh trưởng của lợn đực hậu bị Landrace", Kết quả nghiên cứu KHNN 1995- 1996, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 272 - 276 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm di truyền và chỉ số chọn lọc về khả năng sinh trưởng của lợn đực hậu bị Landrace
Tác giả: Nguyễn Quế Côi, Nguyễn Văn Thiện, Nguyễn Đức Hán, Nguyễn Văn Lâm
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1996
11. Đinh Văn Chỉnh và Trần Xuân Việt, (1993). Kiểm tra thành tích vỗ béo 1 số lợn đực giống tại Trại nhân giống Phú L1m Hà Tây. Nghiên cứu khoa học kỹ thuật khoa Chăn nuôi thú y (1991 - 1993), NXB Nông nghiệp Hà Néi, 20 - 23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm tra thành tích vỗ béo 1 số lợn đực giống tại Trại nhân giống Phú L1m Hà Tây
Tác giả: Đinh Văn Chỉnh, Trần Xuân Việt
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Néi
Năm: 1993
17. Tr−ơng Hữu Dũng, PhùngThị Vân, Nguyễn Khánh Quắc (2004), “Khả năng sinh tr−ởng và thành phần thịt xẻ của tổ hợp lai Dx (LY) và Dx (YL)", Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (4), tr. 471 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng sinh tr−ởng và thành phần thịt xẻ của tổ hợp lai Dx (LY) và Dx (YL)
Tác giả: Tr−ơng Hữu Dũng, PhùngThị Vân, Nguyễn Khánh Quắc
Năm: 2004
27. Đinh Hồng Luận và Tăng Văn Lĩnh, (1988). “Khả năng sản xuất của đàn lợn ngoại Cuba nuôi tại Việt Nam”. Tạp chí KHKT nông ngiệp, 364 - 370 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng sản xuất của đàn lợn ngoại Cuba nuôi tại Việt Nam
Tác giả: Đinh Hồng Luận và Tăng Văn Lĩnh
Năm: 1988
30. ủy ban KHKT Nhà n−ớc, (1976)- “Tiêu chuẩn nhà n−ớc: Tinh dịch lợn yêu cầu kỹ thuật TCVN 1859 - 1976 (Nhóm N)” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiêu chuẩn nhà n−ớc: Tinh dịch lợn yêu cầu kỹ thuật TCVN 1859 - 1976 (Nhóm N)
Tác giả: ủy ban KHKT Nhà n−ớc
Năm: 1976
31. Võ Văn Sự, Nguyễn Văn Đồng, Lê Đình C−ờng (1994). Kết quả b−ớc đầu nghiên cứu sinh trưởng ở lợn đực Đại Bạch trong giai đoạn kiểm tra cá thể, Tóm tắt kết quả nghiên cứu khoa học 1993, Viện Chăn Nuôi , 22 - 23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả b−ớc đầu nghiên cứu sinh trưởng ở lợn đực Đại Bạch trong giai đoạn kiểm tra cá thể
Tác giả: Võ Văn Sự, Nguyễn Văn Đồng, Lê Đình C−ờng
Nhà XB: Viện Chăn Nuôi
Năm: 1994
34. Nguyễn Văn Thiện, Trần Thế Thông, Nguyễn Thiện, Đinh Hồng Luận, Lê Thanh Hải, Đặng Vũ Bình, Nguyễn Quế Côi, Trần Kim anh, Võ Hồng Hạnh, Võ Văn Sự và Tạ Thị Bích Duyên, 1995. Nghiên cứu dụng chỉ số chọn lọc (SI) và dự đoán không chệch tuyến – Tạp chí khoa học Viện chăn nuôi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu dụng chỉ số chọn lọc (SI) và dự đoán không chệch tuyến
Tác giả: Nguyễn Văn Thiện, Trần Thế Thông, Nguyễn Thiện, Đinh Hồng Luận, Lê Thanh Hải, Đặng Vũ Bình, Nguyễn Quế Côi, Trần Kim anh, Võ Hồng Hạnh, Võ Văn Sự, Tạ Thị Bích Duyên
Nhà XB: Tạp chí khoa học Viện chăn nuôi
Năm: 1995
37. Lê Xuân Tr−ờng, 2006. Đánh giá khả năng sinh tr−ởng và cho thịt của các tổ hợp lai 4 giống (402 x C22) và 5 giống (402 x ca) tại cụm trang trại chăn nuôi lợn ngoại công nghệ cao B1i Đu, x1 Quảng Thành, Thành phố Thanh Hóa- Luận văn Thạc sĩ nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá khả năng sinh tr−ởng và cho thịt của các tổ hợp lai 4 giống (402 x C22) và 5 giống (402 x ca) tại cụm trang trại chăn nuôi lợn ngoại công nghệ cao B1i Đu, x1 Quảng Thành, Thành phố Thanh Hóa
Tác giả: Lê Xuân Tr−ờng
Nhà XB: Luận văn Thạc sĩ nông nghiệp
Năm: 2006
40. Adamec V. and R.K.Johnson (1997),²Genetic analysis of breeding intervals, litter traits and production traits in sows of the national Czech nucleus", Livest.Prod.Sci., (48), pp.13-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Genetic analysis of breeding intervals, litter traits and production traits in sows of the national Czech nucleus
Tác giả: Adamec V., R.K.Johnson
Nhà XB: Livest.Prod.Sci.
Năm: 1997
43. Ball, R.O., Gibson, J.P., C.A.Aker, K.Nadarajah, B.E.Uttaro and A.Forrtin (2003), Differences among breeds, breed origins and gender for growth, carcass composition and pork quality&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Differences among breeds, breed origins and gender for growth, carcass composition and pork quality
Tác giả: R.O. Ball, J.P. Gibson, C.A. Aker, K. Nadarajah, B.E. Uttaro, A. Forrtin
Năm: 2003
46. Berger P. J., L. Christian, C..F. Louis and J..R. Mickelson(1994), “Estimation of genetic parameters for growth, muscle quality, and nutritional content of meat products for centrally tested purebred marked pigs", Research invesment report 1994, NPPC, Des Moines, Iowa, USA,pp.51-63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Estimation of genetic parameters for growth, muscle quality, and nutritional content of meat products for centrally tested purebred marked pigs
Tác giả: Berger P. J., L. Christian, C..F. Louis and J..R. Mickelson
Năm: 1994
48. Boulanrd, J; Fleho, J.Y; Laboe, D; Tiran MH Le; Runavot, JP; Le Tiran, MH, (1986). Performance in 1985, Techni Porce, 9, 4, 19 25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Performance in 1985
Tác giả: Boulanrd, J, Fleho, J.Y, Laboe, D, Tiran MH Le, Runavot, JP, Le Tiran, MH
Nhà XB: Techni Porce
Năm: 1986
51. BusseW., E.Groeneveld (1986) “Schaetzung von Population's Parrametern bei Schweinen der deutschen Landrasse an Daten von den Mariesseer- Herbuch ", Information system, (58), pp.175-183 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Schaetzung von Population's Parrametern bei Schweinen der deutschen Landrasse an Daten von den Mariesseer- Herbuch
55. Clutter A. C. and E.W. Brascamp (1998), “Genetic of performance traits", The genetics of the pig, M.F. Rothschild and , A.Ruvinsky (eds). CAB Internationnal, pp.427- 462 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Genetic of performance traits
Tác giả: Clutter A. C. and E.W. Brascamp
Năm: 1998
59. Gschwender F. (2005) “Leistungsprufung beim Schwein in der Leistungspruef Station der Landwirtschaft". Infodienst 4,pp.77- 90 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Leistungsprufung beim Schwein in der Leistungspruef Station der Landwirtschaft
61. Hammell K.L., J.P. Laforest and J.J. Dufourt (1993), “Evaluation of growth performence and carcass characteristics of commercial pigs produced in Quebec", Canadian J. of Animal science,(73), pp.495-508 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Evaluation of growth performence and carcass characteristics of commercial pigs produced in Quebec
Tác giả: Hammell K.L., J.P. Laforest and J.J. Dufourt
Năm: 1993
63. Hassel, S (1980). - “Einfuss des Pruef und Selektionsgeschehe ineiner Zentralen Jungeberaufzuchtstation auf die Leistungsergebnisse, Diss 1980 KMU Leipzig Sách, tạp chí
Tiêu đề: Einfuss des Pruef und Selektionsgeschehe ineiner Zentralen Jungeberaufzuchtstation auf die Leistungsergebnisse
Tác giả: Hassel, S
Nhà XB: KMU Leipzig
Năm: 1980
67. Huaroto, R Weniger, J; Peschke, W. Sprenge, D.. Blendl. H. M , (1984). Beziehungen zwischen der Eigenleistung von Jungebern deren vollgeschewistern und Nachkommen fuer Mastleistung und Schlachtkoeperwert 35 th Anual Miting of the Commissions EAAP, the Hayue, the Netherlands, 6-9.8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Beziehungen zwischen der Eigenleistung von Jungebern deren vollgeschewistern und Nachkommen fuer Mastleistung und Schlachtkoeperwert
Tác giả: R Huaroto, J Weniger, W Peschke, D Sprenge, H M Blendl
Nhà XB: 35 th Anual Miting of the Commissions EAAP
Năm: 1984
70. Johansson K., K. Anderson and N. Lundeheim (1985), “Evaluation of station testing of pigs. I. Genetic parameter for feed measurements and selection effects on voluntary feed intake”, Cited by Johansson's PhD thesis, Swedish University of Agricultural Scien uppsala, Sweden Sách, tạp chí
Tiêu đề: Evaluation of station testing of pigs. I. Genetic parameter for feed measurements and selection effects on voluntary feed intake
Tác giả: Johansson K., K. Anderson and N. Lundeheim
Năm: 1985

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1: Tuổi bắt đầu và kết thúc kiểm tra   Tuổi bắt đầu kiểm tra - Đánh giá khả năng sinh trưởng, số và chất lượng tinh dịch của lợn đực giống có nguồn gốc PIC được nuôi tại trạm nghiên cứu và nuôi giữ giống lợn hạt nhân tam điệp   ninh bình
Bảng 4.1 Tuổi bắt đầu và kết thúc kiểm tra Tuổi bắt đầu kiểm tra (Trang 36)
Bảng 4.2. Khối l−ợng bắt đầu và kết thúc kiểm tra - Đánh giá khả năng sinh trưởng, số và chất lượng tinh dịch của lợn đực giống có nguồn gốc PIC được nuôi tại trạm nghiên cứu và nuôi giữ giống lợn hạt nhân tam điệp   ninh bình
Bảng 4.2. Khối l−ợng bắt đầu và kết thúc kiểm tra (Trang 37)
Bảng 4.3. Tăng khối l−ợng của lợn đực  VCN01  (n = 32)VCN02  (n = 47)VCN03 (n = 38)VCN04 (n = 42) êu ± SECV%±SECV%±SECV%±SECV% khối g  ày567,73ab± 43,76 7,71552,49b± 40,93 7,41580,44a± 23,18 3,99559,03b± 44,28 7,92 ian   tra  y)84,88a± 8,7610,32 84,26a± 8 - Đánh giá khả năng sinh trưởng, số và chất lượng tinh dịch của lợn đực giống có nguồn gốc PIC được nuôi tại trạm nghiên cứu và nuôi giữ giống lợn hạt nhân tam điệp   ninh bình
Bảng 4.3. Tăng khối l−ợng của lợn đực VCN01 (n = 32)VCN02 (n = 47)VCN03 (n = 38)VCN04 (n = 42) êu ± SECV%±SECV%±SECV%±SECV% khối g ày567,73ab± 43,76 7,71552,49b± 40,93 7,41580,44a± 23,18 3,99559,03b± 44,28 7,92 ian tra y)84,88a± 8,7610,32 84,26a± 8 (Trang 41)
Bảng 4.4. Tiêu tốn thức ăn của lợn đực  VCN01  (n = 32)VCN02  (n = 47)VCN03 (n = 38)VCN04 (n = 42) Chỉ tiêu ± SECV%±SECV%±SECV%±SECV% Thức ăn tiêu thụ  trong thời gian kiểm tra (kg) - Đánh giá khả năng sinh trưởng, số và chất lượng tinh dịch của lợn đực giống có nguồn gốc PIC được nuôi tại trạm nghiên cứu và nuôi giữ giống lợn hạt nhân tam điệp   ninh bình
Bảng 4.4. Tiêu tốn thức ăn của lợn đực VCN01 (n = 32)VCN02 (n = 47)VCN03 (n = 38)VCN04 (n = 42) Chỉ tiêu ± SECV%±SECV%±SECV%±SECV% Thức ăn tiêu thụ trong thời gian kiểm tra (kg) (Trang 45)
Bảng 4.5. Độ dày mỡ l−ng và độ dày cơ thăn - Đánh giá khả năng sinh trưởng, số và chất lượng tinh dịch của lợn đực giống có nguồn gốc PIC được nuôi tại trạm nghiên cứu và nuôi giữ giống lợn hạt nhân tam điệp   ninh bình
Bảng 4.5. Độ dày mỡ l−ng và độ dày cơ thăn (Trang 48)
Bảng 4.6: Tỷ lệ nạc −ớc tính từ độ dày mỡ l−ng và độ dày cơ thăn  Tỷ lệ nạc (%) - Đánh giá khả năng sinh trưởng, số và chất lượng tinh dịch của lợn đực giống có nguồn gốc PIC được nuôi tại trạm nghiên cứu và nuôi giữ giống lợn hạt nhân tam điệp   ninh bình
Bảng 4.6 Tỷ lệ nạc −ớc tính từ độ dày mỡ l−ng và độ dày cơ thăn Tỷ lệ nạc (%) (Trang 51)
Bảng 4.7. Phân loại đực giống VCN01 theo chỉ số chọn lọc - Đánh giá khả năng sinh trưởng, số và chất lượng tinh dịch của lợn đực giống có nguồn gốc PIC được nuôi tại trạm nghiên cứu và nuôi giữ giống lợn hạt nhân tam điệp   ninh bình
Bảng 4.7. Phân loại đực giống VCN01 theo chỉ số chọn lọc (Trang 53)
Bảng 4.8. Phân loại đực giống VCN02 theo chỉ số chọn lọc - Đánh giá khả năng sinh trưởng, số và chất lượng tinh dịch của lợn đực giống có nguồn gốc PIC được nuôi tại trạm nghiên cứu và nuôi giữ giống lợn hạt nhân tam điệp   ninh bình
Bảng 4.8. Phân loại đực giống VCN02 theo chỉ số chọn lọc (Trang 54)
Bảng 4.9. Phân loại đực giống VCN03 theo chỉ số chọn lọc - Đánh giá khả năng sinh trưởng, số và chất lượng tinh dịch của lợn đực giống có nguồn gốc PIC được nuôi tại trạm nghiên cứu và nuôi giữ giống lợn hạt nhân tam điệp   ninh bình
Bảng 4.9. Phân loại đực giống VCN03 theo chỉ số chọn lọc (Trang 55)
Bảng 4.10. Phân loại đực giống VCN04 theo chỉ số chọn lọc - Đánh giá khả năng sinh trưởng, số và chất lượng tinh dịch của lợn đực giống có nguồn gốc PIC được nuôi tại trạm nghiên cứu và nuôi giữ giống lợn hạt nhân tam điệp   ninh bình
Bảng 4.10. Phân loại đực giống VCN04 theo chỉ số chọn lọc (Trang 56)
Bảng 4.11. Tổng hợp phân loại theo chỉ số - Đánh giá khả năng sinh trưởng, số và chất lượng tinh dịch của lợn đực giống có nguồn gốc PIC được nuôi tại trạm nghiên cứu và nuôi giữ giống lợn hạt nhân tam điệp   ninh bình
Bảng 4.11. Tổng hợp phân loại theo chỉ số (Trang 57)
Bảng 4.12. Giá trị trung bình các chỉ tiêu trong tr−ờng hợp chỉ số chọn  lọc đạt  ≥  100 - Đánh giá khả năng sinh trưởng, số và chất lượng tinh dịch của lợn đực giống có nguồn gốc PIC được nuôi tại trạm nghiên cứu và nuôi giữ giống lợn hạt nhân tam điệp   ninh bình
Bảng 4.12. Giá trị trung bình các chỉ tiêu trong tr−ờng hợp chỉ số chọn lọc đạt ≥ 100 (Trang 58)
Bảng 4.13: Số và chất l−ợng tinh dịch ở lần khai thác thứ nhất VCN01 (n = 9) VCN02 (n = 9) VCN03 (n = 9) VCN04 (n = 7)  hỉ tiêu ±SECV%±SECV%±SECV%±SECV% (ml)138,89ab± 15,37 11,06 125,56b ± 44,19 35,20 165,56a ± 36,44 22,01 108,57b ± 21,93 20,20  A  0,82a  - Đánh giá khả năng sinh trưởng, số và chất lượng tinh dịch của lợn đực giống có nguồn gốc PIC được nuôi tại trạm nghiên cứu và nuôi giữ giống lợn hạt nhân tam điệp   ninh bình
Bảng 4.13 Số và chất l−ợng tinh dịch ở lần khai thác thứ nhất VCN01 (n = 9) VCN02 (n = 9) VCN03 (n = 9) VCN04 (n = 7) hỉ tiêu ±SECV%±SECV%±SECV%±SECV% (ml)138,89ab± 15,37 11,06 125,56b ± 44,19 35,20 165,56a ± 36,44 22,01 108,57b ± 21,93 20,20 A 0,82a (Trang 61)
Bảng 4.15: Số và chất l−ợng tinh dịch ở lần khai thác thứ ba  VCN01 (n = 9) VCN02 (n = 9) VCN03 (n = 9) VCN04 (n = 7)  Chỉ tiêu ±SECV%±SECV%±SECV%±SECV% V(ml)175,56b ± 16,67 9,49194,44ab± 21,28 10,94 203,33a ± 18,03 8,87145,71c ± 20,70 14,21  A  0,83a ± 0 - Đánh giá khả năng sinh trưởng, số và chất lượng tinh dịch của lợn đực giống có nguồn gốc PIC được nuôi tại trạm nghiên cứu và nuôi giữ giống lợn hạt nhân tam điệp   ninh bình
Bảng 4.15 Số và chất l−ợng tinh dịch ở lần khai thác thứ ba VCN01 (n = 9) VCN02 (n = 9) VCN03 (n = 9) VCN04 (n = 7) Chỉ tiêu ±SECV%±SECV%±SECV%±SECV% V(ml)175,56b ± 16,67 9,49194,44ab± 21,28 10,94 203,33a ± 18,03 8,87145,71c ± 20,70 14,21 A 0,83a ± 0 (Trang 62)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w