nhận định đúng sai luật hình sự phần tội phạm, được sử dụng trong quá trình học tập tại đại học. do sinh viên trường đại học luật thành phố Hồ Chí Minh soạn ra trong quá trình học tập và được chỉnh sửa bới các giáo viên phụ trách bộ môn. sản phẩm này nếu còn nhiều thiếu sót mong các bạn góp ý để tạo ra những sản phẩm chất lượng hơn
Trang 1Nhận định đúng sai môn luật hình sự phần tội phạm
Câu 1: Hành vi cố ý trực tiếp tước bỏ tính mạng người khác trái pháp luật không gây ra hậu quả chết người thì không cấu thành Tội giết người (Điều
123 BLHS).
Nhận định sai
Giải thích: Vì trong trường hợp này mặt chủ quan là lỗi cố ý tực tiếp nên nếu hậu quả chết người chưa xảy ra thì người phạm tội vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự
về Tội giết người (Điều 123) ở giai đoạn chưa đạt
Câu 2: Tình tiết “giết 2 người trở lên” luôn đòi hỏi phải có hậu quả hai người chết trở lên.
Nhận định sai
Cơ sở pháp lý: Điều 123 BLHS 2015
Giải thích: “Giết nhiều người” có nghĩa là người phạm tội cố ý, mong muốn hậu quả xảy ra Cấu thành tội phạm:
+Mặt khách thể: Tội phạm xâm phạm đến mối quan hệ liên quan đến tính mạng của con người được pháp luật hình sự bảo vệ; quyền được sống của con người được pháp luật bảo vệ
+Mặt chủ thể : Người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự đầy đủ.
+Mặt chủ quan: Lỗi cố ý trực tiếp, mục đích là làm cho người đó chết, tước đoạt mạng sống
+Mặt khách quan:
Hành vi: Hành vi gây chết người
Hậu quả: Tước đoạt hoặc đe dọa tước đoạt mạng sống của người khác (Mục
đích của người phạm tội là tước đoạt mạng sống của người khác, nhưng việc người đó không chết là nằm ngoài mục đích của người phạm tội)
Trang 2Ví dụ: A có thù với B nên A đã bỏ thuốc độc vào nồi canh của nhà B, không ai bị chết nhưng A vẫn bị truy tối về tôi giết người và tình tiết tăng nặng là giết nhiều người nhưng chưa đạt
Câu 3: Hành vi giết trẻ em sinh ra trong vòng 7 ngày tuổi thì chỉ cấu thành Tội giết con mới đẻ (Điều124 BLHS 2015).
Nhận định này là sai
Giải thích: Theo Khoản 1, Điều 124, BLHS 2015 về Tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ:“1 Người mẹ nào do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt mà giết con do mình đẻ ra trong 07 ngày tuổi, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.Theo quy định trên ta thấy, không phải hành
vi giết trẻ sinh ra trong vòng 7 ngày tuổi thì cũng cấu thành Tội giết con mới đẻ (Điều 124, BLHS) Chủ thể của loại tội phạm này là chủ thể đặc biệt - người mẹ do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt
mà có hành vi giết con do mình đẻ ra trong vòng 7 ngày tuổi thì mới là chủ thể của tội giết con mới đẻ quy định tại Điều 124, BLHS Do vậy, nếu là chủ thể thường
mà thực hiện hành vi giết trẻ sinh ra trong vòng 7 ngày tuổi thì không cấu thành Tội giết con mới đẻ mà cấu thành Tội giết người (Điều 123, BLHS)
Câu 4: Mọi trường hợp giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh đều cấu thành Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 125 BLHS 2015)
Nhận định: Sai
Giải thích: Tội phạm này được cấu thành khi đáp ứng đủ 03 yếu tố của mặt khách quan sau:
-Là hành vi tước bỏ tính mạng của người khác
Trang 3-Hoàn cảnh phạm tội: người phạm tội ở trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối người phạm tội hoặc đối với thân thích của người phạm tội Có nghĩa trạng thái bị kích động của người phạm tội là tức thời, phải do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân gây nên sự phản ứng, kích động tới người phạm tội mà dẫn tới hành vi giết người
Ví dụ: Nếu A bị kích động vì hành vi trái pháp luật của B mà giết C, thì hành vi giết người của A không phải là giết người trong trạng thái tình thần bị kích động mạnh
-Hậu quả: nạn nhân chết là dấu hiệu bắt buộc Như vậy nếu nạn nhân không chết hoặc bị thương thì sẽ cấu thành tội phạm khác
Câu 5: Mọi hành vi làm chết người do dùng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho phép trong khi thi hành công vụ đều cấu thành tội làm chết người trong khi thi hành công vụ (Điều 127 BLHS).
Nhận định: Sai
Cơ sở pháp lý: Điều 127 BLHS 2015
Cấu thành tội giết người trong khi thi hành công vụ:
Chủ thể: Người đang thi hành công vụ
Mặt khách quan:
- Hành vi: Dùng vũ lực (trong đó có thể là dùng vũ khí) ngoài trường hợp pháp luật cho phép để thực hiện công vụ
- Hậu quả: Chết người
Mặt chủ quan:
- Lỗi: Cố ý hoặc vô ý
- Động cơ: Thi hành công vụ
Trang 4Nếu hành vi làm chết người do dùng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho phép trong khi thi hành công vụ nhưng không mang động cơ, mục đích liên quan trực tiếp đến việc thi hành công vụ thì không cấu thành tội làm chết người trong khi thi hành công vụ
Câu 6: Nạn nhân tử vong là dấu hiệu định tội của tội bức tử.
Nhận định này là sai
Theo Khoản 1, Điều 130 BLHS về Tội bức tử có quy định:
“1 Người nào đối xử tàn ác, thường xuyên ức hiếp, ngược đãi hoặc làm nhục người lệ thuộc mình làm
người đó tự sát, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”
Nạn nhân tử vong không phải là dấu hiệu định tội của Tội bức tử mà chỉ quy định là hậu quả từ những
hành vi của người phạm tội là việc khiến nạn nhân tiến hành hành vi tự tử, hậu quả sau đó tức là việc nạn
nhân tử vong hay không thì không có dấu hiệu trong việc định tội
Vì vậy, việc nạn nhân tử vong hay không thì không là dấu hiệu định tội của tội bức tử
Câu 7: Cố ý tước đoạt tính mạng của người khác theo yêu cầu của người bị hại là hành vi cấu thành Tội giúp người khác tự sát.
Nhận định này là: Sai
Cơ sở pháp lý: Điều 131 và Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015
Giải thích: Giúp người khác tự sát là hành vi tạo ra những điều kiện vật chất hoặc tinh thần để người khác sử dụng các điều kiện đó để tự sát
Trang 5Hành vi khách quan của Tội giúp người khác tự sát là hành vi tạo ra những điều kiện vật chất hoặc tinh thần để người khác tự sát như cung cấp thuốc độc để nạn nhân tự đầu độc hoặc chỉ dẫn cách tự sát Hành vi khách quan này chỉ đóng vai trò là điều kiện để nạn nhân sử dụng các điều kiện đó mà tự sát Chủ thể tội phạm không trực tiếp tước đi tính mạng của nạn nhân
Còn hành vi cố ý tước đoạt tính mạng của người khác dù có theo yêu cầu của người bị hại hay không đều là hành vi khách quan của tội giết người
Như vậy, cố ý tước đoạt tính mạng của người khác theo yêu cầu của người
bị hại không là hành vi cấu thành tội giúp người khác tự sát
- CSPL: Điều 131, Điều 123 BLHS 2015
Câu 8: Hành vi cố ý gây thương tích cho người khác và tỉ lệ tổn thương cơ thể dưới 11% thì không cấu thành tội cố ý gây thương tích (Điều 134 BLHS 2015).
Nhận định: SAI
Trường hợp cố ý gây thương tích cho người khác với tỉ lệ tổn thương cơ thể dưới 11% nhưng thuộc vào một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều
134 BLHS 2015 thì vẫn xác định là tội cố ý gây thương tích
“Điều 134 Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
1 Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn gây nguy hại cho từ 02 người trở lên;
b) Dùng a-xít sunfuric (H2SO4) hoặc hóa chất nguy hiểm khác gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác;
c) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;
Trang 6d) Phạm tội 02 lần trở lên;
đ) Phạm tội đối với 02 người trở lên;
e) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;
g) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng mình, thầy giáo, cô giáo của mình;
h) Có tổ chức;
i) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
k) Phạm tội trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở cai nghiện bắt buộc;
l) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe do được thuê;
m) Có tính chất côn đồ;
n) Tái phạm nguy hiểm;
o) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.”
Câu 9: Mọi trường hợp đối xử tàn ác với người lệ thuộc vào mình đều cấu thành Tội hành hạ người khác được quy định tại Điều 140 BLHS 2015.
Nhận định sai
Trang 7Giải thích: Việc đối xử tàn ác với người lệ thuộc mình ở đây có thể được hiểu là hành vi của người phạm tội lặp đi lặp lại trong một thời gian dài, dẫn đến việc gây ra sự đau đớn cả về thể sát lẫn tinh thần đối với người lệ thuộc mình thông qua các hành vi như đánh đập, không cho người đó hại ăn uống, chửi mắng thậm tệ, nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nên việc thực hiện hành vi tàn
ác với người lệ thuộc vào mình mà không diễn ra trong thời gian dài thì không được khép vào tội hành hạ người khác
Câu 10: Mọi hành vi giao cấu thuận tình với người dưới 16 tuổi đều cấu thành Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 145 BLHS).
Nhận định sai
Cơ sở pháp lý: Điều 145 BLHS 2015
Theo Khoản 1 Điều 145 BLHS: “ Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi,…”
Theo đó các yếu tố cấu thành của tội này là:
+ Mặt chủ thể: Người phạm tội phải là người đã thành niên, tức là người đã
đủ 18 tuổi trở lên
+ Mặt khách thể: Là quan hệ nhân thân mà nội dung là quyền được bảo vệ
về nhân phẩm, danh dự của trẻ em Đối tượng tác động của tội phạm là trẻ em từ
đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
+ Mặt chủ quan: Người thực hiện phải có lỗi cố ý
+Mặt khách quan:
Trang 8 Hành vi giao cấu có sự đồng ý, chấp nhận của nạn nhân mặc dù người phạm tội không có bất kỳ thủ đoạn nào để ép buộc, khống chế nạn nhân
Không có việc sử dụng vũ lực, đe dọa sử dụng vũ lực, lợi dụng tình trạng không chống cự được của nạn nhân
Đáp ứng được hết các yếu tố cấu thành thì mới phạm tội
Câu 11: Mọi trường hợp giao cấu trái pháp luật là giao cấu trái với ý muốn của nạn nhân.
Nhận định này là sai
Cơ sở pháp lý: Điều 145, Điều 142 Bộ luật Hình sự 2015
Giải thích: Không phải mọi trường hợp giao cấu trái pháp luật chỉ là giao cấu trái với ý muốn của nạn nhân.Trong trường hợp giao cấu thuận tình với người
từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi (theo Khoản 1 Điều 145 BLHS 2015) hoặc giao cấu với người dưới 13 tuổi (dù thuận tình hay trái ý muốn) (theo Điểm b Khoản 1 Điều 142 BLHS 2015) thì vẫn là giao cấu trái pháp luật
Câu 12: Mọi hành vi mua bán người đều cấu thành Tội mua bán người (Điều
150 BLHS 2015).
Nhận định: Sai
Giải thích: Mặt khách quan của tội phạm:
-Hành vi: mua, bán, trao đổi con người để lấy tiền, hàng hóa hoặc các lợi ích khác
-Đối tượng của việc mua bán: nạn nhân phải là người từ đủ 16 tuổi trở lên Như vậy trong trường hợp nạn nhân dưới 16 tuổi thì sẽ cấu thành Tội mua bán người dưới 16 tuổi (Điều 151 BLHS 2015)
Trang 9Câu 13: Hành vi khách quan của các tội phạm quy định trong Chương các tội phạm sở hữu chỉ là hành vi chiếm đoạt tài sản.
Nhận định: SAI
Giải thích: Hành vi phạm tội xâm phạm sở hữu rất đa dạng, không phải chỉ duy nhất hành vi chiếm đoạt tài sản mới là hành vi khách quan của các tội phạm này Ngoài hành vi chiếm đoạt tài sản, còn có các nhóm hành vi khách quan khác như: + Hành vi chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 176 BLHS)
+ Hành vi sử dụng trái phép tài sản (Điều 177 BLHS)
+ Hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 178 BLHS)
+ Hành vi vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản.(Điều 180 BLHS)
Cơ sở pháp lý: Điều 176, 177, 178, 180 BLHS
Câu 14: Không phải mọi loại tài sản bị chiếm đoạt đều là đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu.
=>Nhận định đúng Vì đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu là tài sản, bao gồm:
+ Vật có thực (là sản phẩm lao động của con người; không có tínhnăng đặc biệt)
+ Tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền
+ Các quyền tài sản
Trang 10Câu 15: Mọi hành vi đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản đều cấu thành Tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS).
- Nhận định: Sai
Giải thích: Hành vi đe dọa dùng vũ lực là hành vi khách quan quan trọng trong cấu thành Tội cướp tài sản và hành vi đó bắt buộc diễn ra ngay tức khắc, khiến người
bị hại bị tê liệt ý chí Vì nếu chỉ căn cứ vào hành vi đe dọa dùng vũ lực mà không
có tính tức thời, thì có thể cấu thành một tội phạm khác như Tội cưỡng đoạt tài sản quy định tại Điều 170 BLHS Như vậy không phải mọi hành vi đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản đều cấu thành Tội cướp tài sản
Câu 16: Dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản mà dẫn đến hậu quả chết người
là hành vi cấu thành cả hai tội: Tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS) và Tội giết người (Điều 123 BLHS).
Nhận định này là sai
Xét trong 2 trường hợp sau:
- Trường hợp 1: Nếu người phạm tội cố ý dùng vũ lực chiếm đoạt tài sản của nạn nhân nhưng vô ý với hậu quả chết người thì trong trường hợp này hành vi dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản mà dẫn đến hậu quả chết người thì chỉ cấu thành Tội cướp tài sản và hậu quả chết người là tình tiết định khung tăng nặng (theo Điểm c, Khoản 4, Điều 168, BLHS)
- Trường hợp 2: Nếu người phạm tội cố ý dùng vũ lực chiếm đoạt tài sản của nạn nhân khiến cho nạn nhân tử vong để cướp tài sản thì trong trường hợp này hành vi dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản mà dẫn đến hậu quả chết người thì cấu thành Tội cướp tài sản (Điều 168) và Tội giết người (Điều 123)
Do vậy, chỉ khi rơi vào trường hợp 2 thì hành vi dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản mà dẫn đến hậu quả chết người thì cấu thành Tội cướp tài sản (Điều 168) và Tội giết người (Điều 123)
Trang 11Câu 17: Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản trong Tội trộm cắp tài sản (Điều
173 BLHS) đòi hỏi người phạm tội phải lén lút với tất cả mọi người.
Nhận định: Sai
Cơ sở pháp lý: Điều 173 BLHS 2015
Khách thể của tội trộm cắp tài sản: xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân
Mặt khách quan của tội phạm: Hành vi trộm cắp tài sản là hành vi lén lút, chiếm đoạt tài sản một cách trái pháp luật của người khác
Vì vậy, hành vi chiếm đoạt tài sản trong Tội trộm cắp tài sản đòi hỏi người phạm tội phải lén lút với chủ sở hữu hợp pháp của tài sản chứ không nhất định phải lén lút với tất cả mọi người
Câu 18: Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên mà có biểu hiện gian dối là hành vi chỉ cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS).
Nhận định: SAI
Giải thích:
Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên mà có biểu hiện gian dối là hành vi không chỉ cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS) mà
cò cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoat tài sản (Điều 175 BLHS) nếu thỏa mãn hết các dấu hiệu định tội Xét về biểu hiện khách quan:
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS) quy định người nào dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng trở lên thì cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Trang 12 Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 BLHS) quy định người nào thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ dưới 4 triệu đồng (đối với trường hợp Luật định) bằng việc vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rôi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản (Điểm a Khoản 1) thì cũng
sẽ cấu thành tội này
Trong trường hợp chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên mà có biểu hiện gian dối nhưng biểu hiện gian dối này không là hành vi để Tội phạm chiếm đoạt được tài sản thì sẽ không cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS)
CSPL: Điều 174, 175 BLHS
Câu 19: Dùng gạch tấn công ngườ khác trái phép gây thương tích cho họ với
tỉ lệ thương tích dưới 11% không cấu thành tội cố ý gây thương tích(Điều 134 BLHS).
Cơ sở pháp lý: Điều 134 BLHS
Nhận định sai Vì theo khoản 1 Điều 134 thì khi gây thương tích dưới 11% mà thuộc 1 số các trường hợp tại điểm:
“a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn gây nguy hại cho từ 02 người trở lên; b) Dùng a-xít sunfuric (H 2 SO 4 ) hoặc hóa chất nguy hiểm khác gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác;
c) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;
d) Phạm tội 02 lần trở lên;
đ) Phạm tội đối với 02 người trở lên;
e) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm
đauhoặc người khác không có khả năng tự vệ;