Với mong muốn đựoc góp phần nhỏ bé của mình vào việc giáo dục, phát triển nhân cách cho học sinh, đồng thời nâng cao năng lực sư phạm cho bản thân, tôi đã có một số tìm tòi, suy nghĩ tro[r]
Trang 1PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã chỉ rõ “Phát triển giáo dục là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người-yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”
Mục tiêu của giáo dục tiểu học hiện nay là nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện Nhà trường tiểu học là cái nôi cung cấp cho học sinh những tri thức khoa học, kĩ năng, kĩ xảo cần thiết, giúp các em hình thành và phát triển nhân cách
Mỗi môn học ở tiểu học đều góp phần vào việc hình thành và phát triển những cơ sở ba đầu, rất quan trọng của nhân cách con người Trong các môn học
ở tiểu học, môn toán có vị trí rất quan trọng
Trong chương trình dạy-học toán ở tiểu học, thì chương trình toán lớp 3 đóng một vai trò trọng yếu Lớp 3 là lớp kết thúc giai đoạn đầu của bậc tiểu học, phải chuẩn bị đầy đủ kiến thức cơ sở để học sinh học tốt giai đoạn cuối của bậc tiểu học và tiếp các cấp học sau này
Với mong muốn đựoc góp phần nhỏ bé của mình vào việc giáo dục, phát triển nhân cách cho học sinh, đồng thời nâng cao năng lực sư phạm cho bản thân, tôi đã có một số tìm tòi, suy nghĩ trong việc " Bồi dưỡng Toán học sinh lớp 3" để giúp các em học tập tốt hơn bộ môn toán trong đó có giải toán đúng ở chương trình này
Trang 2PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I Cơ sở lý luận và thực tiễn
1 Cơ sở lý luận
Chương trình tiểu học là chương trình đồng bộ được mở rộng và khắc sâu kiến thức môn toán nói chung và phương pháp giải toán nói riêng
Chương trình toán lớp 3 là chương trình chuyển tiếp giữa lớp 1, 2 và lớp
3, 4 Học sinh được củng cố mở rộng phép cộng trừ và làm phép nhân chia Đồng thời rèn luyện kỹ năng tính toán cho học sinh : 4 phép tính + - x : trong phạm vi 1000; và các dạng giải toán điển hình Vì vậy đối với việc giải toán trong từng tiết học để học sinh yếu kém giải toán đúng quả là khó khăn cả về trả lời lẫn tính toán
2 Cơ sở thực tiễn
Thuận lợi:
Đa số học sinh thích học môn toán nhà trường trang bị tương đối đầy đủ
đồ dùng cho dạy học toán Học sinh có đầy đủ phương tiện học tập
Khó khăn:
Học sinh: Môn toán là môn học khó khăn, học sinh dễ chán.
Trình độ nhận thức học sinh không đồng đều
Một số học sinh còn chậm, nhút nhát, kĩ năng tóm tắt bài toán còn hạn chế, chưa có thói quen đọc và tìm hiểu kĩ bài toán dẫn tới thường nhầm lẫn giữa các dạng toán, lựa chọn phép tính còn sai, chưa bám sát vào yêu cầu bài toán để tìm lời giải thích hợp với các phép tính Kĩ năng tính nhẩm với các phép tính (hàng ngang) và kĩ năng thực hành diễn đạt bằng lời còn hạn chế Một số em tiếp thu bài một cách thụ động, ghi nhớ bài còn máy móc nên còn chóng quên các dạng bài toán vì thế phải có phương pháp khắc sâu kiến thức
Với thực tế học sinh lớp tôi, trường tôi còn có một số em giải toán có lời văn thiếu chính xác, chưa đúng, tính toán còn sai, nhiều khi làm bài chưa có kỹ năng phán đoán, suy luận, không biết làm thế nào ? Các em rất sợ học Mà môn toán là môn "Thể thao trí tuệ" vừa giúp các em giải trí tinh thần, vừa giúp việc
Trang 3dạy tốt môn toán là điều cần thiết mà giáo viên cần quan tâm, trong đó "cách giải toán" là chú trọng trong chương trình toán 3
II Giả thuyết
III Quá trình thực hiện, giải pháp mới
1 Điều tra phân loại học sinh yếu kém toán ở lớp
Nhất là những em yếu kém về giải toán, ngay từ đầu năm khi nhận lớp tôi phải phân loại từng em, yếu kém loại toán điển hình nào để tôi có kế hoạch kèm cặp, hướng dẫn phương pháp giải toán kịp thời cho từng em
Lớp tôi có em những em giải toán còn yếu Các em thường sợ làm loại toán này Các em không biết giải, hay trả lời sai, làm tính không đúng Tôi luôn quan tâm động viên các em chăm học, tích cực làm bài để các em tự tin vào khả năng của mình để suy nghĩ, phán đoán tìm cách giải đúng
Trong các giờ lên lớp tôi luôn động viện cho các em suy nghĩ tìm ra cách giải Tôi thường xuyên kiểm tra bài làm của em trên lớp, chấm chữa tay đôi với học sinh để củng cố kiến thức Tuyên dương khen thưởng kịp thời bằng điểm số nếu các em có cố gắng (mặc dù chưa đạt yêu cầu) để các em phấn khởi học tập xoá đi ấn tượng sợ giải toán
Về nhà : Tôi yêu cầu các em làm lại bài toán vừa giải ở lớp để các em yếu kém nắm vững cách giải Lần sau gặp loại bài như thế là làm được ngay Tôi còn yêu cầu phụ huynh kết hợp chặt chẽ với giáo viên, có trách nhiệm hướng dẫn con học ở nhà giúp các em làm đầy đủ bài tập cô giao Ngoài ra tôi còn giao cho những em giỏi toán ở lớp mỗi em giỏi giúp một em kém Lập thành đôi bạn cùng tiến bằng cách : Giờ truy bài kiểm tra bài làm của bạn Nếu bạn giải sai thì hướng dẫn giải lại cho bạn nắm được phương pháp giải toán Khi giao bài về nhà không nên giao nhiều, chỉ cần giao 1 đến 2 bài cho học sinh làm thôi, tôi lồng thêm những bài toán vui gắn với thực tế giúp các em hứng thú học toán hơn
2 Rèn kỹ năng từ dễ đến khó, từ kiến thức cũ đến kiến thức mới
a) ở lớp một: Các em đã học các bài toán đơn giản : giải bẳng 1 phép tính về
thêm bớt nhiều hơn 1 số đơn vị
Trang 4Loại toán này đơn giản Nhưng cũng phải củng cố cho các em nắm vững thì mới làm được các bài toán ở lớp trên
Ví dụ:
- Bắc gấp được 4 cái thuyền, Nam gấp được nhiều hơn Bắc 2 cái Hỏi Nam gấp được mấy cái thuyền ?
- Hà làm được 4 bài toán, Lan làm được 6 bài toán Hỏi ai làm được nhiều hơn và nhiều hơn bao nhiêu bài toán ?
Đây là các bài toán có dữ kiện cụ thể Các em cần suy nghĩ làm tính cộng hay tính trừ là đúng và chú ý dựa vào câu hỏi mà trả lời cho đúng
b) ở lớp hai : Các em được ôn lại các dạng toán lớp 1 và luyện thêm 5 mẫu giải
toán dạng : a + b + c ; a + b - c ; a + (a - b) ; a + (a + b)
Đây là dạng toán tổng hợp giải bằng 2 phép tính Tôi cho các em yếu toán, trung bình ôn luyện các dạng toán này với các số trong phạm vi 100, giúp các em hiểu mối quan hệ giữa các đối tượng với các dữ kiện đơn giản của bài toán Từ đó hình thành tư duy toán cho học sinh, giúp các em phân tích, tổng hợp, giải được các dạng toán nhanh, chính xác Bước đầu có kỹ năng trình bày bài toán
c) Hình thức rèn luyện : Học sinh nhận xét dữ kiện, tóm tắt đề toán, tìm ra cách
giải với cách làm này học sinh mạnh dạn, tự tin vào bản thân, dần dần ham thích giải toán, để thể hiện khả năng chính mình
Vai trò của người thầy rất quan trọng Lời phát biểu của các em dù đúng hay sai, giáo viên cũng phải có lời động viên hợp lý Nếu học sinh phát biểu sai, hoặc chưa đúng, giáo viên động viên "gần đúng rồi, con cần suy nghĩ thêm nữa, thì sẽ đúng hơn " giúp các em cố gắng suy nghĩ làm bằng được, chứ không nên nói "sai rồi, không đúng " làm mất hứng của học sinh, ức chế học sinh tự ti, chán học
Bước này là bước quan trọng giúp học sinh không sợ giải toán, thích thi nhau làm để khẳng định mình, từ đó có kỹ năng giải toán vững chắc với lời giải thông thường ở lớp 1, 2
Trang 53 Định hướng cho học sinh giải được các bài toán có dữ kiện cụ thể sang giải các dạng toán điển hình của lớp 3
- Gấp 1 số lên nhiều lần
- Giảm 1 số đi nhiều lần
- Tìm 1 phần mấy của một số
Giải toán tổng hợp bằng 2 phép nhân chia có liên quan rút về đơn vị Giải bài toán tổng hợp bằng 2 phép chia có liên quan đến rút về đơn vị
Ví dụ: Thuý có 10 nhãn vở, Lan có 20 nhãn vở Hỏi hai bạn có bao nhiêu nhãn vở ? Bạn nào nhiều hơn và nhiều hơn bao nhiêu nhãn vở ? Lan có số nhãn
vở gấp mấy lần Thuý ?
Đối với bài này có nhiều câu hỏi khác nhau, giáo viên phải hướng dẫn học sinh giải tương ứng với yêu cầu của từng câu hỏi
Giải
Hai bạn có số nhãn vở là :
10 + 20 = 30 (nhãn vở)
Đáp số : 30 nhãn vở
Số nhãn vở Lan nhiều hơn Thuý :
20 - 10 = 10 (nhãn vở)
Đáp số : 10 nhãn vở
Số lần Lan gấp Thuý là :
20 : 10 = 2 (lần) Đáp số : 2 lần
Giáo viên phải nhấn mạnh cho học sinh một lời giải 1 phép tính Có bao nhiêu câu hỏi có bấy nhiêu đáp số (chú ý cả tên đơn vị)
Với các yêu cầu giải toán thông thường :
- Nhiều hơn : Làm tính cộng
- Ít hơn : Làm tính trừ
- Gấp 1 số lần : Làm tính nhân
- Kém 1 số lần : Làm tính chia
Trang 6Sau khi rèn luyện 1 số bài toán điển hình để phát triển tư duy học sinh Tôi nâng cao hơn 1 bước bằng cách thông qua bài toán "gốc" có dạng trên tôi cho học sinh nâng cao tư duy lên 1 bước với những dữ kiện trên mà cách giải lại làm tính ngược lại với phép tính trên (vì người ta cho số bé yêu cầu tìm số lớn)
- Có từ ít hơn : Làm tính cộng
- Có từ nhiều hơn: Làm tính trừ
- Có từ gấp : Làm tính chia
- Có từ kém : Làm tính nhân
Ví dụ: Tùng có 12 hòn bi, Tùng có nhiều hơn Hùng 2 hòn bi Hỏi 2 bạn có bao nhiêu hòn bi ?
Giải
Số bi của Hùng có là :
12 - 2 = 10 (hòn bi)
Số bi của 2 bạn đó là :
12 + 10 = 22 (hòn bi)
Đáp số : 12 hòn bi
Ví dụ: Thuỷ có 30 qua tính Thuỷ có gấp 3 lần Hà Hỏi 2 bạn có bao nhiêu que tính ?
Giải
Số que tính của Hà là :
30 : 3 = 10 (que tính)
Số que tính của 2 bạn là :
30 + 10 = 40 (que tính)
Đáp số : 40 que tính
Với biện pháp này : Các em được nâng cao trình độ tư duy lên 1 bước Từ
đó các em chọn cách giải đúng, chính xác để hình thành kỹ năng giải toán có lời văn rõ ràng, chính xác
4 Từ tư duy đúng, tìm được cách giải đúng giúp các em trình bày bài giải đúng
Trang 7Hợp lý về lời giải, về phép tính, cách ghi tên đơn vị và ghi đáp số để hoàn thiện bài toán
Bước này tuy đơn giản nhưng tương đối khó với học sinh Đó là lời văn ngắn gọn, chính xác, đúng nội dung bài để trả lời (phép tính tìm gì ?) theo thứ
tự
Lời giải: Phép tính - lời giải - phép tính - đáp số
Cần lưu ý: Phép tính trong giải toán có lời văn không ghi tên đơn vị (danh số) đó là phép tính trên số nên đặt tên đơn vị trong vòng đơn để giải thích, mục đích thực hiện phép tính
Ví dụ: Có 70 thếp giấy gói đều thành 7 bọc Hỏi có 100 thếp giấy sẽ gói đều được bao nhiêu bọc
Giáo viên phải đưa ra 1 số câu hỏi đàm thoại gợi ý học sinh yếu, kém, TB suy đoán, lựa chọn cách giải đúng
Trước tiên phải hướng dẫn học sinh tóm tắt đầu bài
Tóm tắt:
70 thếp giấy: 7 bọc giấy
100 thếp giấy: ? bọc giấy
Hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn chính xác
Giải
Số thếp giấy 1 bọc có là:
70 : 7 = 10 (thếp giấy)
Số bọc giấy của 100 thếp giấy là :
100 : 10 = 10 (bọc giấy)
Đáp số : 10 bọc giấy
Lưu ý: Đây là bài toán hợp giải bằng 2 phép chia Tên đơn vị của 2 phép tính khác nhau, phép tính trên có đơn vị của đại lượng 1, phép tính dưới có tên đơn vị của đại lượng 2 (đại lượng phải đi tìm Chính là đáp số bài toán)
5 Tính cách giải đúng chưa đủ, giáo viên còn giúp học sinh tìm nhiều cách giải để tìm cách hợp lý nhất, ngắn gọn nhất, phát huy trí lực học sinh tạo điều kiện cho tư duy toán phát triển
Trang 8Bước này đối với học sinh yếu, kém, trung bình giải toán là khó khăn Song người giáo viên phải hướng dẫn gợi mở, giúp học sinh thể hiện được khả năng giải toán của mình là cần thiết
Ví dụ: Thắng cắt được 12 lá cờ Toàn cắt được nhiều gấp đôi Thắng Hỏi
2 bạn cắt được bao nhiêu lá cờ?
Giáo viên phải yêu cầu học sinh đọc kỹ đầu bài toán Tóm tắt đầu bài bằng cách vẽ sơ đồ (nếu vẽ được) để tìm ra cách giải đúng, và nhiều cách khác Tóm tắt
Thắng : 12 lá cờ
Toàn : Gấp đôi (gấp 2)
Giải Cách 1: Số lá cờ bạn Toàn cắt được là :
12 x 2 = 24 (lá cờ)
Số lá cờ 2 bạn cắt được là :
12 + 24 = 36 (lá cờ)
Đáp số : 36 lá cờ
Nhìn vào sơ đồ các em tìm cách giải khác có em sẽ giải như sau :
Cách 2: Số lá cờ 2 bạn cắt được là
12 x 2 + 12 = 36 (lá cờ)
Đáp số : 36 lá cờ
Giáo viên giải thích cho học sinh hiểu : Thực ra cách này chính là cách 1 : giải gộp 2 phép tính trên mà thôi Sau đó giáo viên gợi ý quan sát sơ đồ tìm cách giải khác : Giáo viên cho học sinh nhận xét
Số nhãn vở của Thắng biểu thị mấy đoạn thẳng ? (1 đoạn thẳng)
Số nhãn vở của Toàn biểu thị mấy đoạn thẳng ? (2 đoạn thẳng)
Số nhãn vở của 2 bạn biểu thị mấy đoạn thẳng ? (3 đoạn thẳng)
Vậy nhìn vào sơ đồ em hãy tìm cách giải :
Giải
Số đoạn thẳng cuả Toàn, Thắng cắt được là :
1 + 2 = 3 (đoạn thẳng)
? Lá cờ
Trang 9Số lá cờ của 2 bạn Toàn, Thắng căt là :
12 x 3 = 36 (lá cờ)
Đáp số : 36 lá cờ
Các em phải chú ý tên đơn vị của mỗi phép tính Từ đó học sinh tìm được cách giải toán triệt để bằng nhiều cách giải khác nhau Học sinh nắm chắc đề toán, hiểu kỹ đề, để tìm nhiều cách giải khác có lời văn chính xác, phát triển tư duy toàn diện
6 Kết hợp giải toán là rèn luyện kỹ năng tính toán giúp học sinh giải toán đúng tránh nhầm lẫn khi tính toán
Vì có những em nhiều khi cách giải đúng nhưng tính toán sai dẫn đến kết quả bài toán sai Vậy giáo viên phải nhắc nhở học sinh khi làm bài phải tính toán chính xác, trình bày khoa học rõ ràng Nếu là phép + - x : trong bảng học thuộc
để vận dụng nhanh Nếu là các phép + - x : ngoài bảng các em phải đặt tính cột dọc
Làm ra nháp cẩn thận, kiểm tra kết quả, đúng mới viết vào bài làm Cần rèn luyện kỹ năng tính nhẩm, tính viết thành thạo cho học sinh trong quá trình giải toán, để hoàn thiện bài giải
Trang 10PHẦN III: BÀI HỌC KINH NGHIỆM
1 Kinh nghiệm cụ thể
Từ những bài học trên, qua thực tế giảng dạy và qua một học kỳ tôi rút ra một số kinh nghiệm sau:
a, Giáo viên dạy học phải nắm được chương trình của cấp học mà cụ thể là chương trình của lớp
- Nắm vững chương trình giảm tải từ đó giáo viên lựa chọn phương pháp
và cách thức để truyền đạt nội dung kiến thức sao cho hợp lý đạy hiệu quả
- Bản thân giáo viên phải có kiến thức chắc chắn luôn tiếp cận được những cái mới, luôn trăn trở, suy nghĩ cách truyền thụ nội dung kiến thức một cách khoa học đẽ hiểu nhất cho học sinh
b, Phải nắm chắc khái niệm, hiểu rõ bản chất của vấn đề, nắm chắc các dạng bài, các phương pháp giải các bài tập toán ở các loại sách báo
c, Trong các tiết học cần vận dụng tối đa đồ dùng dạy học, các kiến thức tổ chức như phiếu học tập, chia nhóm, bài tập trắc nghiệm giúp học sinh phát huy tối đa tích cực của từng cá nhân
d, Luôn luôn học hỏi đồng nghiệp, đọc các loại sách tham khảo để nâng cao nghiệp vụ chuyên môn
e, Với từng dạng toán cần đưa ra các kiểu bài để tiến hành thực hiện theo nội dung từ dễ đến khó Giúp các em nắm chắc các dạng toán đó rồi tư duy từ dễ đến khó Giúp các em nắm chắc các dạng giải dạng toán đó rồi tư duy làm được các dạng toán đã học hoặc tương tự như các dạng toán đẫ học
F, Cần chú ý đến công tác phối hợp với gia đình học sinh Chính gia đình là nới đặt nền móng đầu tiên cho sự phát triển nhân cách của tre Gia đình có thuận lợi hơn các thầy cô gióa với sự gần gũi, ruột thịt, cha mẹ có thể dùng tình thương đúng đắn để cảm hóa, uốn nắn, thói hư tật xấu của con mình
II Sử dụng sáng kiến kinh nghiệm
Rèn kỹ năng thực hành phép Cộng(+), Trừ(-), Nhân(x), Chia(:) cho học sinh lớp 3 nói riêng, dạy học Toán ở tiểu học nói chung theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh, đáp ứng được mục tiêu của giáo dục hiện đại