1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tính tuân thủ pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp tại cục thuế tỉnh thái bình

131 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 2,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu của đề tài là phân tích, đánh giá thực trạng và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tính tuân thủ pháp luật về thuế TNDN của các doanh nghiệp, đề xuất giải pháp nhằm tăng cường

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

BÙI THỊ THANH HUYỀN

NGHIÊN CỨU TÍNH TUÂN THỦ PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI CÁC DOANH

NGHIỆP TẠI CỤC THUẾ TỈNH THÁI BÌNH

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo

vệ lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám

ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Tác giả luận văn

Bùi Thị Thanh Huyền

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn

bè, đồng nghiệp và gia đình

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết

ơn sâu sắc tới PGS.TS Trần Quang Trung đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Kế toán quản trị và kiểm toán, khoa Kế toán và quản trị kinh doanh - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ, công chức tại Văn phòng Cục thuế tỉnh Thái Bình đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Tác giả luận văn

Bùi Thị Thanh Huyền

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan I Lời cảm ơn II Mục lục III Danh mục chữ viết tắt VI Danh mục bảng VI Danh mục hộp X Danh mục sơ đồ X Trích yếu luận văn XI Thesis abstract XIII

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu của đề tài 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3

Phần 2 Tổng quan tài liệu 4

2.1 Cơ sở lý luận về tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế 4

2.1.1 Các vấn đề chung về thuế thu nhập doanh nghiệp 4

2.1.2 Cơ sở lý luận về sự tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế 8

2.2 Cơ sở thực tiễn 24

2.2.1 Kinh nghiệm của các nước oecd trong việc nâng cao tính tuân thủ pháp luật của người nộp thuế 24

2.2.2 Kinh nghiệm quản lý thu thuế tndn của một số địa phương trong nước trong việc nâng cao tính tuân thủ của người nộp thuế 26

2.2.3 Bài học rút ra cho cục thuế tỉnh thái bình về nâng cao tính tuân thủ pháp luật thuế 31

Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 33

Trang 5

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 33

3.1.1 Đặc điểm chung của tỉnh thái bình 33

3.1.2 Khái quát về cục thuế tỉnh thái bình 35

3.2 Phương pháp nghiên cứu 40

3.2.1 Phương pháp khảo sát và thu thập số liệu 40

3.2.2 Phương pháp phân tích số liệu 41

3.2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 42

Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 44

4.1 Đặc điểm doanh nghiệp trên địa bàn thuộc sự quản lý của văn phòng cục thuế tỉnh thái bình 44

4.1.1 Tình hình phát triển của các doanh nghiệp và phân cấp quản lý của cục thuế tỉnh thái bình 44

4.1.2 Kết quả thu thuế tndn từ các doanh nghiệp do văn phòng cục thuế tỉnh quản lý46 4.2 Thực trạng tuân thủ pháp luật thuế tndn của doanh nghiệp tại cục thuế tỉnh thái bình 49

4.2.1 Đánh giá chung về tính tuân thủ pháp luật thuế 49

4.2.2 Tuân thủ việc đăng ký thuế của doanh nghiệp 50

4.2.3 Tuân thủ khi kê khai thuế của dn 51

4.2.4 Tuân thủ thông qua chấp hành nộp thuế 59

4.2.5 Tuân thủ thông qua phối hợp với cơ quan qlt 61

4.2.6 Thực trạng kiểm soát thuế tndn của hệ thống kiểm soát 62

4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tính tuân thủ pháp luật thuế tndn của doanh nghiệp75 4.3.1 Yếu tố khách quan 75

4.3.2 Yếu tố chủ quan 77

4.4 Một số giải pháp nhằm nâng cao tính tuân thủ pháp luật thuế của các doanh nghiệp tại cục thuế tỉnh thái bình 86

4.4.1 Đánh giá chung về tuân thủ thuế của doanh nghiệp tại cục thuế tỉnh thái bình 86 4.4.2 Đề xuất giải pháp nâng cao tính tuân thủ pháp luật thuế tndn tại văn phòng cục thuế tỉnh thái bình 90

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 102

5.1 Kết luận 102

5.2 Kiến nghị 103

Trang 6

5.2.1 Đối với bộ tài chính 103

5.2.2 Đối với tổng cục thuế 105

5.2.3 Kiến nghị với ubnd tỉnh thái bình 106

Tài liệu tham khảo 107

Phụ lục 110

Trang 7

DNNN Doanh nghiệp nhà nước

DNVVN Doanh nghiệp vừa và nhỏ

GRDP Tổng sản phẩm quốc nội của địa phương GTGT Giá trị gia tăng

IRAS Cục thu nội địa Singapo

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng3.1 Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội của tỉnh Thái Bình giai đoạn 2015-2017 34

Bảng3.2 Tổng hợp trình độ cán bộ của Cục Thuế TỈNH Thái Bình 38

Bảng3.3 Tình hình cơ sở vật chất tại Cục Thuế tỉnh Thái Bình 39

Bảng3.4 Phân bổ mẫu điều tra thực tế 41

Bảng4.1 Số lượng DN trên địa bàn tỉnh Thái Bình theo cơ quan thuế quản lý 45

Bảng4.2 Số lượng doanh nghiệp theo hình thức sở hữu do Văn phòng Cục Thuế tỉnh Thái Bình quản lý 45

Bảng4.3 Tổng hợp kết quả thực hiện thu ngân sách tỉnh Thái Bình 47

Bảng4.4 Tổng hợp kết quả thu ngân sách của các DN thuộc VP Cục quản lý 48

Bảng4.5 Tổng hợp kết quả thu thuế TNDN của các DN thuộc VP Cục quản lý 48

Bảng4.6 Tỷ lệ DN ở từng cấp độ tuân thủ thuộc các nhóm doanh nghiệp có đặc điểm hoạt động khác nhau 49

Bảng4.7 Số hồ sơ đăng ký thuế được tiếp nhận qua cơ quan thuế 50

Bảng4.8 Thực trạng tuân thủ thông qua hồ sơ khai thuế của các DN theo loại hình kinh tế 52

Bảng4.9 Tuân thủ kê khai thuế TNDN của doanh nghiệp 53

Bảng4.10 Tình hình vi phạm, xử phạt VPHC trong lĩnh vực kê khai thuế 54

Bảng4.11 Thực trạng nợ đọng tiền thuế TNDN của DN do VP Cục quản lý 60

Bảng4.12 Số thuế TNDN nợ đọng trên tổng số thuế nợ đọng của các Doanh nghiệp thuộc địa bàn nghiên cứu 60

Bảng4.13 Số DN không phối hợp với cơ quan QLT 61

Bảng4.14 Kết quả hoạt động tuyên truyền 63

Bảng4.15 Số hồ sơ được tiếp nhận qua cơ quan thuế 64

Bảng4.16 Kết quả hoạt động hỗ trợ năm 2015 - 2017 65

Bảng4.17 Số lượng thư mời và tỷ lệ doanh nghiệp đến cơ quan thuế thực hiện đối chiếu tiền thuế nợ 67

Bảng4.18 Kết quả công tác cưỡng chế nợ thuế đối với doanh nghiệp 68

Bảng4.19 Kết quả Kiểm tra thuế đối với DN 71

Bảng4.20 Số thuế truy thu qua Kiểm tra 73

Trang 10

Bảng4.21 Tình hình xử lý vi phạm qua thanh tra, kiểm tra 74

Bảng4.23 DN nhận thức về hành vi nợ thuế 82

Bảng4.24 Đánh giá của DN khi chịu sự tác động Kiểm tra từ CQ thuế 83

Bảng4.25 Ý kiến của người nộp thuế về hoạt động quản lý của cơ quan thuế 84

Bảng4.26 Số lượng lao động theo định biên và thực tế tính đến 31/12/2017 85

Trang 11

DANH MỤC HÌNH

Hình2.1 Mô hình quản lý tính tuân thủ của người nộp thuế 10

Hình2.2 Các nhóm người nộp thuế - số người nộp thuế và các đặc tính đóng góp và số thu thuế 12

Hình2.3 Đánh giá sự tuân thủ của người nộp thuế 13

Hình2.4 Các yếu tố tác động đến sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp 19

Hình3.1 Bản đồ hành chính tỉnh Thái Bình 33

Hình4.1 Cấu trúc công nghệ thông tin trong quản lý thuế hiện đại 94

DANH MỤC HỘP Hộp4.1 Tác động của xã hội đến thực hiện nghĩa vụ với ngân sách 75

Hộp4.2 Sự phối hợp với các sở ban ngành trong quản lý thu 76

Hộp4.3 Ảnh hưởng của nhân tố chính sách, pháp luật 76

Hộp4.4 Sai sót trong kê khai quyết toán thuế TNDN 77

Hộp4.5 Ảnh hưởng của quy mô, thời gian hoạt động của doanh nghiệp 78

DANH MỤC SƠ ĐỒ Sơ đồ3.1 Tổ chức bộ máy Cục Thuế tỉnh Thái Bình 37

Trang 12

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Bùi Thị Thanh Huyền

Tên luận văn: Nghiên cứu tính tuân thủ pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp đối với

các doanh nghiệp tại Cục Thuế tỉnh Thái Bình

Ngành: Kế toán định hướng ứng dụng Mã số: 8340301

Tên cơ sở đào tạo: Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam

Kết quả nghiên cứu chính và kết luận

Hiện nay, sự đa dạng hành vi khi tuân thủ pháp luật thuế của DN đang trở thành thách thức ngày càng lớn đối với nhiệm vụ thu, đảm bảo sự tuân thủ pháp luật thuế nói chung và pháp luật về thuế TNDN nói riêng trở thành bài toán lớn đối với cơ quan quản

lý thu Trong điều kiện nguồn lực cho quản lý thuế là rất hạn hẹp, sự phức tạp từ các

DN ngày một tăng lên dẫn đến nhiều khó khăn hơn đối với cơ quan thuế trước sức ép phải tăng thu NSNN hàng năm để đảm bảo nhu cầu chi tiêu cho một xã hội đang phát triển Đây là khó khăn lớn mà ngành thuế cần phải vượt qua

Tuy nhiên thực tế thì vấn đề sự hiểu biết và ý thức chấp hành hay sự tuân thủ chính sách thuế TNDN của người dân chưa được đồng đều, làm sáng tỏ những khía cạnh lý luận của tuân thủ thuế, đánh giá được thực mức độ tuân thủ của người nộp thuế trên địa bàn là cơ sở quan trọng để cơ quan quản lý thuế có biện pháp phù hợp, hiệu quả trong công tác chống thất thu cho ngân sách Xuất phát từ những lý do trên và với mong muốn áp dụng những kiến thức đã được học tập, nghiên cứu, tôi đã lựa chọn đề tài:

“Nghiên cứu tính tuân thủ pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp tại Cục Thuế tỉnh Thái Bình”

Mục tiêu của đề tài là phân tích, đánh giá thực trạng và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tính tuân thủ pháp luật về thuế TNDN của các doanh nghiệp, đề xuất giải pháp nhằm tăng cường sự tuân thủ pháp luật thuế của các doanh nghiệp do văn phòng Cục thuế Thái Bình quản lý trong thời gian tới

Nghiên cứu thu thập số liệu từ các báo cáo tổng kết công tác thu ngân sách nhà nước của tỉnh Thái Bình từ năm 2015 đến năm 2017 Tiến hành điều tra, nghiên cứu chuyên sâu, chọn mẫu điều tra, phỏng vấn một số doanh nghiệp trên do văn phòng Cục Thuế giám sát kê khai và một số cán bộ chủ chốt làm việc tại các phòng, bộ phận có tiếp xúc trực tiếp với người nộp thuế trong công tác quản lý thu thuế TNDN, sử dụng phương pháp thống kê mô tả, so sánh để phân tích

Thực trạng tính tuân thủ pháp luật thuế TNDN tại Cục Thuế tỉnh Thái Bình từ năm 2015 đến năm 2017 cho thấy trong những năm gần đây tính tuân thủ pháp luật thuế

Trang 13

TNDN của các DN do Văn phòng Cục Thuế giám sát kê khai đã được thực hiện tương đối tốt, tuy nhiên việc đăng ký thuế, quản lý thông tin người nộp thuế còn gặp một số khó khăn, vẫn còn có các DN cố tình chậm đăng ký nộp thuế so với quy định hoặc chưa đăng ký thuế nhưng vẫn tiến hành sản xuất kinh doanh và có lợi nhuận; chậm nộp tờ khai quyết toán thuế TNDN, còn nhiều doanh nghiệp kê khai sai, hạch toán sai, dây dây dưa nợ đọng thuế khiến cho số thuế phải nộp không đúng với thực tế Trình độ cán bộ làm công tác thuế vẫn còn có hạn chế nhất định, chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các phòng ban dẫn đến đôi khi còn bỏ sót nguồn thu

Kết quả nghiên cứu cho thấy, các yếu tố ảnh hưởng đến tính tuân thủ pháp luật thuế TNDN của DN tại Cục thuế Thái Bình gồm: Nhóm yếu tố về tình hình kinh tế xã hội; Sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý trên địa bàn; Nhóm yếu tố từ bản thân người nộp thuế; Quy mô và loại hình sở hữu; Mức độ hiểu biết về luật thuế, tuân thủ pháp luật thuế và am hiểu, đánh giá về kế toán thuế; Thời gian hoạt động của DN; Chi phí cần thiết để tuân thủ pháp luật thuế của DN; Ảnh hưởng tâm lý do sự phức tạp của các quy phạm pháp luật;

Qua phân tích, đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng nghiên cứu đề xuất thực hiện tốt và đồng bộ các các giải pháp sau: Hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật thuế theo hướng đơn giản, minh bạch, ít có sự sửa đổi bổ sung bất thường; Xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá tính tuân thủ của người nộp thuế; Tăng cường công tác tuyên truyền hỗ trợ, cung cấp dịch vụ cho đối tượng nộp thuế; Tăng cường công tác quản lý Người nộp thuế, quản lý doanh thu, chi phí cũng như công tác thu nộp thuế TNDN; Tăng cường hơn nữa công tác thanh tra, kiểm tra thuế TNDN; Thực hiện nghiêm túc cưỡng chế thuế và thu nợ thuế; Kiện toàn bộ máy quản lý thuế trong đó đặc biệt chú trọng xây dựng lực lượng cán bộ thuế đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới; Ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý thu thuế TNDN và cung cấp dịch vụ cho người nộp thuế; Đẩy mạnh dịch vụ tư vấn thuế; Kết hợp với các cơ quan chính quyền địa

phương trong quản lý thuế

Trang 14

THESIS ABSTRACT

Author: Bui Thi Thanh Huyen

Thesis Title: Research on the compliance of corporate income tax law of enterprises at

Thai Binh Tax Department

Major: Applied Accounting Code: 8340301

Educational Institution: Vietnam National University of Agriculture

Main findings and Conclusions:

In recent, the diversity of behavior of compliance of tax law of enterprises is becoming a big challenge for the task of tax collecting and ensuring the compliance of the tax law and corporate income tax law In the situation of limited resources for tax administration and the complexity of business is increasing, it leads to more difficulties for the tax authorities to collecting for annual bigger budget revenues for a developing society This is a big challenge for the Thai Binh Tax Department to overcome

However, the understanding and perception of people about compliance with corporate income tax policies are not equal Clarifying the theoretical aspects of tax compliance and assessing the compliance of taxpayers in research area is an important target for the tax administration to taking appropriate and effective soluitons to combat budget deficits From the above issues and the desire to apply the knowledge were

studyed, thesis title was selected is: “Research on the compliance of corporate income tax law of enterprises at Thai Binh Tax Department”

This study aims to analyze the current situation and assess factors affecting the compliance of corporate income tax law and to propose solutions to enhancing the compliance of the tax law of enterprises under Thai Binh Tax Department in the future This study used datas collected from reports of the state budget revenue of Thai Binh province from 2015 to 2017 The analysis methods used in this study are as investigation, in-depth investigation, sampling, interviews with some of the above enterprises are reported by the Office of Taxation Department, descriptive and comparative statistical method

The status of the compliance of corporate income tax law in Thai Binh Tax Department from 2015 to 2017 shows that: in recent, the compliance corporate income tax law of enterprises under Office of Taxation Department is relatively good, however, tax registration and information management of taxpayers still have difficulties There are still companies deliberately delaying the registration of tax payment as compared

Trang 15

with the regulations or not registering tax yet but they still do business for profits There are some enterprises, submit payment of corporate income tax finalization declaration late, have wrong accounting, tax debt, lead to tax amount to be incorrect The quality of tax officials is still limited There is no coordination among tax units leading to loss of revenue

The research results show that factors affecting to the compliance of corporate income tax law at Thai Binh Tax Department are such as: Group of socio-economic factors; Coordination between management agencies in research area; Internal factors of taxpayer; Scale and type of ownership; The level of understanding of tax law, compliance with tax law and knowledge of tax accounting of taxpayer; Time of operation of enterprises; Necessary expenses to comply with the tax law of the enterprise; Psychological impact due to the complexity of the legal norms

This study proposed some solutions to enhance the compliance of the tax law of enterprises under Thai Binh Tax Department in the future such as: Completion of system of tax policies and laws in the direction of simple, transparent, and limit of extraordinary amendment or supplement; Creating a system for assessing the compliance of taxpayers; Enhancing the operation of propaganda, Providing services to taxpayers; Strengthening the management of taxpayers, revenue costs as well ,the collection and payment of corporate income tax; Further strengthening the inspection and examination of business income tax; Consolidating the tax administration, paying special attention to the building of tax authorities to meet the requirements of the new period; Application of information technology to corporate income tax management and providing services to taxpayers; Promotion of tax consulting services; Cooperate of local government agencies in tax administration The solutions should be proposed to the Government, the Ministry of Finance, the General Department of Taxation and the provincial People's Committees to improving management of corporate income tax collection in Tax Department of Thai Binh province

Trang 16

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Thuế là một trong những chính sách kinh tế xã hội hết sức quan trọng của Đảng và Nhà nước ta, là công cụ điều tiết nền kinh tế phát triển theo định hướng

xã hội chủ nghĩa, tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất kinh doanh phát triển, giải quyết các vấn đề kinh tế xã hội đất nước, góp phần vào tích luỹ Ngân sách, tăng tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân, góp phần đảm bảo công bằng

xã hội và hội nhập quốc tế Một hệ thống thuế có hiệu lực và hiệu quả là mục tiêu quan trọng của mọi quốc gia Các sắc thuế khác nhau được áp dụng để bao quát, quản lý nguồn thu và tạo nguồn thu ổn định cho NSNN đồng thời thực hiện chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế Trong các sắc thuế hiện hành thì Thuế Thu nhập doanh nghiệp được áp dụng phổ biến tại các nước trên thế giới và thường đóng vai trò quan trọng trong hệ thống thuế Ở Việt nam, thuế thu nhập doanh nghiệp được áp dụng từ năm 1999 và thay thế pháp luật thuế Lợi tức (Luật thuế thu nhập doanh nghiệp đầu tiên của Việt nam được thông qua ngày 10/5/1997 và có hiệu lực thi hành từ 01/01/1999), từ đó đến nay đã trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung

và thay thế

Hiện nay việc thực thi Luật thuế TNDN ở Việt Nam đang phát sinh những khó khăn, vướng mắc về miễn giảm thuế, xác định chi phí được trừ, doanh thu chịu thuế Số lượng các doanh nghiệp có rủi ro về thuế TNDN ngày càng lớn, mức độ gian lận tinh vi, nhiều doanh nghiệp đã lợi dụng kẽ hở của chính sách để chiếm đoạt tiền thuế của Nhà nước Do đó, thách thức lớn đối với nhiệm vụ thu ngân sách đó là sự đa dạng hành vi khi tuân thủ pháp luật thuế của DN, đảm bảo

sự tuân thủ pháp luật thuế nói chung và pháp luật về thuế TNDN nói riêng trở thành bài toán lớn đối với cơ quan quản lý thu Trong điều kiện nguồn lực cho quản lý thuế là rất hạn hẹp, sự phức tạp từ các DN ngày một tăng lên dẫn đến nhiều khó khăn hơn đối với cơ quan thuế trước sức ép phải tăng thu NSNN hàng năm để đảm bảo nhu cầu chi tiêu cho một xã hội đang phát triển Đây là khó khăn lớn mà ngành thuế cần phải vượt qua

Ở Thái Bình, cùng với sự phát triển kinh tế của cả nước, các khu công nghiệp, cụm công nghiệp được hình thành, các dự án đầu tư mới được thành lập

và mở rộng, số lượng doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh tăng cao Tuy nhiên thực tế

Trang 17

thì vấn đề sự hiểu biết và ý thức chấp hành hay sự tuân thủ chính sách thuế TNDN của người dân chưa được đồng đều, làm thế nào để người dân tuân thủ tự nguyện là yếu tố cần được xây dựng trong cơ chế vận hành của mô hình quản lý thuế hiện đại Làm sáng tỏ những khía cạnh lý luận của tuân thủ thuế, đánh giá được thực mức độ tuân thủ của người nộp thuế trên địa bàn là cơ sở quan trọng

để cơ quan quản lý thuế nói chung và Cục Thuế Thái Bình nói riêng có biện pháp phù hợp, hiệu quả trong công tác chống thất thu cho ngân sách Có thể nói đây là vấn đề quan tâm của cơ quan thuế, cơ quan hải quan, cộng đồng doanh nghiệp cũng như mọi thành viên trong xã hội

Xuất phát từ những lý do trên, việc lựa chọn đề tài nghiên cứu luận văn thạc

sỹ “Nghiên cứu tính tuân thủ pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp tại Cục Thuế tỉnh Thái Bình” có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận

1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

- Thực trạng nhận thức về việc chấp hành chính sách pháp luật thuế TNDN của các DN đăng ký kê khai nộp thuế ở Văn phòng Cục Thuế tỉnh Thái Bình như thế nào?

- Những nhân tố nào ảnh hưởng đến tính tuân thủ pháp luật thuế TNDN của các DN?

Trang 18

- Những giải pháp nào nhằm tăng cường tính tuân thủ pháp luật thuế TNDN đối với các DN đã được thực hiện ở địa bàn nghiên cứu?

1.4 ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.4.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là các văn bản quy định về thuế TNDN, sự thực thi tính tuân thủ pháp luật thuế TNDN tại Cục Thuế tỉnh Thái Bình và các doanh nghiệp do Văn phòng Cục Thuế tỉnh Thái Bình trực tiếp quản lý

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về tính tuân thủ pháp luật thuế của các doanh nghiệp kê khai nộp thuế tại Văn phòng Cục thuế tỉnh Thái Bình trong kê khai thuế, tính thuế và nộp thuế TNDN

- Phạm vi không gian: Đề tài được nghiên cứu tại Văn phòng Cục Thuế tỉnh Thái Bình và các doanh nghiệp do Văn phòng Cục Thuế tỉnh Thái Bình trực tiếp quản lý

- Phạm vi thời gian: Số liệu thứ cấp phục vụ nghiên cứu được thu thập trong giai đoạn 2015-2017, số liệu sơ cấp được điều tra thu thập trong năm 2017 Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 2/2017 đến tháng 5/2018

Trang 19

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TUÂN THỦ PHÁP LUẬT THUẾ CỦA NGƯỜI NỘP THUẾ

2.1.1 Các vấn đề chung về thuế thu nhập doanh nghiệp

2.1.1.1 Khái niệm, vai trò về thuế thu nhập doanh nghiệp

Theo Lê Văn Ái (2002), thuế là khoản đóng góp bằng tiền mà các tổ chức,

cá nhân có đủ điều kiện phải nộp cho Ngân sách nhà nước theo nguyên tắc không hoàn trả trên cơ sở pháp luật Và thuế TNDN được hiểu là là sắc thuế tính trên thu nhập chịu thuế của các doanh nghiệp trong kỳ tính thuế

Thuế TNDN có vai trò rất quan trọng, thể hiện ở các khía cạnh sau:

Thứ nhất, thuế TNDN được sử dụng để điều tiết thu nhập của các nhà đầu

tư nhằm góp phần đảm bảo công bằng xã hội Trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở nước ta, tất cả các thành phần kinh tế đều có quyền tự do kinh doanh và bình đẳng trên cơ sở pháp luật Các doanh nghiệp với năng lực tài chính mạnh, quản lý tốt nguồn vốn và nguồn nhân lực thì doanh nghiệp đó sẽ có ưu thế và có

cơ hội để nhận được thu nhập cao, ngược lại các DN với năng lực tài chính, quản

lý yếu kém, lực lượng lao động bị hạn chế sẽ nhận được thu nhập thấp, thậm chí không có thu nhập Do đó, Nhà nước sử dụng thuế TNDN làm công cụ điều tiết thu nhập của các chủ thể có thu nhập cao, đảm bảo yêu cầu đóng góp của các chủ thể kinh doanh vào NSNN được công bằng, hợp lý

Thứ hai, thuế TNDN là một trong các nguồn thu quan trọng của NSNN và

có xu hướng tăng lên cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế Khi nền kinh tế phát triển, đầu tư gia tăng, thu nhập của các DN và của các nhà đầu tư tăng lên làm cho khả năng huy động tài chính cho nhà nước thông qua thuế TNDN ngày càng ổn định và vững chắc

Thứ ba, thuế TNDN là công cụ quan trọng góp phần khuyến khích, thúc

đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển theo định hướng kế hoạch, chiến lược, phát triển toàn diện của Nhà nước Chính sách thuế ưu đãi, khuyến khích đối với các chủ thể đầu tư, kinh doanh vào những ngành, lĩnh vực và những vùng, miền mà Nhà nước có chiến lược ưu tiên phát triển trong từng giai đoạn nhất định, thông qua việc quy định đối tượng nộp thuế, đối tượng chịu thuế, sử dụng thuế suất và

Trang 20

các ưu đãi thuế TNDN, nhà nước thực hiện các mục tiêu quản lý kinh tế vĩ mô khuyến khích phát triển sản xuất, dịch vụ

Thứ tư, thuế TNDN còn là một trong những công cụ quan trọng của Nhà

nước trong việc thực hiện chức năng điều tiết các hoạt động kinh tế-xã hội trong từng thời kỳ phát triển kinh tế nhất định

Thuế TNDN là loại thuế có vai trò quan trọng trong hệ thống pháp luật thuế của Việt Nam cũng như toàn thế giới Hiện nay ở các nước phát triển, thuế TNDN giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo ổn định nguồn thu NSNN và thực hiện phân phối thu nhập Thuế TNDN ngày càng trở thành nguồn thu quan trọng của NSNN ở các nước áp dụng thuế, ví dụ ở Nhật Bản thuế thu nhập công ty có thời kỳ lên tới 30% tổng thu NSNN, ở Pháp, Mỹ, Canada thuế thu nhập công ty thường chiếm khoảng 20%-25% tổng thu từ thuế và con số này

là tương đối ổn định Mức thuế cao hay thấp áp dụng cho các chủ thể thuộc đối tượng nộp thuế TNDN là khác nhau, phụ thuộc vào quan điểm điều tiết thu nhập

và mục tiêu đặt ra trong phân phối thu nhập của từng quốc gia trong từng giai đoạn lịch sử nhất định

Tại Việt Nam, theo pháp luật thuế lợi tức, thuế TNDN thì các nội dung cụ thể về phạm vi đối tượng nộp thuế, thu nhập chịu thuế, hệ thống thuế suất, chế độ miễn giảm thuế và các vấn đề quản lý thuế được quy định khác nhau, nhưng có một số nguyên tắc chung để xác định cơ sở tính thuế, các ưu đãi thuế, về cơ bản phù hợp với thực tế và thông lệ quốc tế

2.1.1.2 Đặc điểm cơ bản của Thuế thu nhập doanh nghiệp

Theo tác giả Lê Thanh Hà (2007), thuế TNDN là thuế trực thu, đánh vào thu nhập chịu thuế trong kì của các doanh nghiệp và đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là các doanh nghiệp, các nhà đầu tư thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, đồng thời cũng là người chịu thuế Các đặc điểm cơ bản của thuế TNDN như sau:

- Thuế TNDN mang đầy đủ tính chất của thuế trực thu, thường mang tính lũy tiến, đảm bảo công bằng xã hội

- Thuế TNDN đánh vào thu nhập chịu thuế của các cơ sở kinh doanh nên nó phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp hoặc các nhà đầu

tư Thuế TNDN được xác định trên cơ sở thu nhập chịu thuế, nên chỉ khi các doanh nghiệp, các nhà đầu tư kinh doanh có lợi nhuận mới phải nộp thuế TNDN

Trang 21

- Thuế TNDN chỉ áp dụng cho thu nhập được hình thành thông qua quá trình phân phối lần đầu và phân phối lại thu nhập quốc dân

- Thuế TNDN là thuế khấu trừ trước thuế thu nhập cá nhân Theo đó phần thu nhập của các cá nhân nhận được từ hoạt động đầu tư như: lợi tức cổ phần, lãi tiền gửi ngân hàng, lợi nhuận do góp vốn liên doanh, liên kết là phần thu nhập được chia sau khi nộp thuế TNDN Do vậy, thuế TNDN cũng có thể coi là một biện pháp góp phần quản lý thuế thu nhập cá nhân

2.1.1.3 Căn cứ tính thuế Thu nhập doanh nghiệp

Theo quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp (Quốc hội, 2013), thuế TNDN phải nộp được xác định theo công thức sau:

Thuế TNDN

phải nộp = (

Thu nhập tính thuế -

Phần trích lập quỹ KH&CN (nếu có)

- Thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế bao gồm thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ và thu nhập khác

- Thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ bằng doanh thu của hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trừ chi phí được trừ của hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đó

- Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là toàn bộ tiền bán hàng hóa, tiền gia công, tiền cung cấp dịch vụ bao gồm cả khoản trợ giá, phụ thu, phụ trội mà doanh nghiệp được hưởng không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền

- Doanh nghiệp được trừ mọi khoản chi nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau: (1) Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động SXKD của DN (2) Khoản chi có đủ hoá đơn, chứng từ hợp pháp theo quy định

(3) Khoản chi nếu có hoá đơn mua hàng hoá, dịch vụ từng lần có giá trị từ

20 triệu đồng trở lên (giá đã bao gồm thuế GTGT) khi thanh toán phải có chứng

từ thanh toán không dùng tiền mặt

Trang 22

- Các khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế bao gồm: (1) Khoản chi không đáp ứng đủ các điều kiện quy định đã nêu trên

(2) Chi khấu hao tài sản cố định không đúng quy định: Chi khấu hao đối với TSCĐ không sử dụng cho hoạt động SXKD, chi khấu hao đối với TSCĐ không có giấy tờ chứng minh thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp…

(3) Phần chi vượt định mức tiêu hao nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu, năng lượng, hàng hoá đối với một số nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu, năng lượng, hàng hóa đã được Nhà nước ban hành định mức

(4) Chi phí của doanh nghiệp mua hàng hóa, dịch vụ (không có hóa đơn, được phép lập Bảng kê thu mua hàng hóa, dịch vụ mua vào theo mẫu số 01/TNDN) nhưng không lập Bảng kê kèm theo chứng từ thanh toán cho người bán hàng, cung cấp dịch vụ; chi tiền thuê tài sản của cá nhân không có đầy đủ hồ sơ, chi tiền lương, tiền công; tiền thưởng cho người lao động chứng từ theo quy định

(5) Phần chi trang phục bằng hiện vật cho người lao động không có hóa đơn, chứng từ Phần chi trang phục bằng tiền cho người lao động vượt quá 05 (năm) triệu đồng/người/năm

(6) Chi thưởng sáng kiến, cải tiến mà doanh nghiệp không có quy chế quy định cụ thể về việc chi thưởng sáng kiến, cải tiến, không có hội đồng nghiệm thu sáng kiến, cải tiến

(7) Các khoản chi khác không đúng quy định: Chi phụ cấp tàu xe đi nghỉ phép; khoản chi trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động; đóng góp hình thành nguồn chi phí quản lý cho cấp trên… không theo đúng quy định hiện hành

- Thu nhập khác là các khoản thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế mà khoản thu nhập này không thuộc các ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh ghi trong đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp

- Xác định lỗ và chuyển lỗ: Lỗ phát sinh trong kỳ tính thuế là số chênh lệch âm về thu nhập tính thuế chưa bao gồm các khoản lỗ được kết chuyển từ các năm trước chuyển sang Doanh nghiệp sau khi quyết toán thuế mà bị lỗ thì chuyển toàn bộ và liên tục số lỗ vào thu nhập của những năm tiếp theo Thời gian chuyển lỗ tính liên tục không quá 5 năm kể từ năm tiếp sau năm phát sinh lỗ

- Trích lập quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp: Doanh nghiệp được được trích tối đa 10% thu nhập tính thuế hàng năm trước khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp để lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ

Trang 23

- Trong thời hạn 5 năm kể từ khi trích lập, nếu Quỹ phát triển khoa học và công nghệ không được sử dụng hết 70% số đã trích hoặc sử dụng không đúng mục đích thì doanh nghiệp phải nộp ngân sách nhà nước phần thuế thu nhập doanh nghiệp tính trên khoản thu nhập đã trích lập quỹ mà không sử dụng hoặc

sử dụng không đúng mục đích và phần lãi phát sinh từ số thuế thu nhập doanh nghiệp đó

- Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp: Mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2015: Thuế suất 20%: Áp dụng cho những DN có doanh thu nhỏ hơn 20 tỷ Thuế suất 22%: Áp dụng cho những DN có Doanh thu lớn hơn 20

tỷ Kể từ ngày 01/01/2016, trường hợp thuộc diện áp dụng thuế suất 22% chuyển sang áp dụng thuế suất 20%”

2.1.2 Cơ sở lý luận về sự tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế

2.1.2.1 Tính tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế

a Một số khái niệm liên quan đến sự tuân thủ pháp luật thuế

- Khái niệm tuân thủ pháp luật thuế:

Tuân thủ pháp luật thuế theo cách hiểu đơn giản nhất là mức độ đối tượng chấp hành nghĩa vụ thuế với các quy phạm được quy định trong luật thuế Theo

Lê Hồng Hải (2007), tuân thủ pháp luật thuế là việc người nộp thuế được cơ quan quản lý thuế ghi nhận, đánh giá dựa trên các tiêu chí so sánh, đối chiếu, kiểm chứng (hậu kiểm) về chấp hành các chính sách pháp luật thuế như: đáp ứng và đáp ứng một cách tự nguyện hay không tự nguyện các quy định về quản lý thuế đối với pháp luật thuế

Theo Mc Barnet (dẫn bởi Nguyễn Văn Thọ, 2014), dựa vào mục đích và lợi ích của mình, người nộp thuế có thể lựa chọn một trong các phương án sau:

(1) Tuân thủ mục đích của luật

(2) Thoả hiệp bằng việc thương lượng cách mà luật thuế cụ thể nào đó hoạt động trong những hoàn cảnh nhất định và tuân thủ luật theo cách mà các mục tiêu được tuyên bố của luật có thể không thực hiện được

(3) Chuyển đổi các quyết định luật theo cách cụ thể, tạo điều kiện tích cực cho việc trốn thuế

(4) Phá vỡ hoặc không tuân thủ luật với hy vọng không bị phát hiện bằng cách thiết lập hệ thống kế toán để che dấu bất kỳ sự kiểm tra nào

Trang 24

Cũng theo Mc Barnet (dẫn bởi Nguyễn Văn Thọ, 2014), phần lớn các DN lớn có xu hướng là “Sáng suốt, sàng lọc” trong việc lựa chọn sự tuân thủ, họ có

xu hướng chọn cách trốn thuế theo phương án thứ hai và thứ ba, còn DN nhỏ lựa chọn phương án trốn thuế theo cách thứ tư

Do vậy, tuân thủ pháp luật thuế nghĩa là tuân thủ mục đích của luật trong khi đảm bảo tăng cường tính chắc chắn mà mục đích đó có thể được thực hiện trên thực tế Sự tuân thủ pháp luật thuế của DN còn được hiểu là hành vi chấp hành nghĩa vụ thuế theo đúng mục đích của luật một cách đầy đủ, tự nguyện và đúng thời gian

- Khái niệm hành vi không tuân thủ pháp luật thuế có dự tính: Hành vi

không tuân thủ pháp luật thuế bao gồm trốn thuế và tránh thuế Trên cơ sở pháp

lý, trốn thuế và tránh thuế là hai phạm trù không tuân thủ mục đích của luật nhưng hàm ý hoàn toàn khác nhau

+ Trốn thuế là hình thức không tuân thủ mục đích của luật, đó là việc giảm mức gánh thuế do vi phạm cơ sở pháp lý Ví dụ, khi DN cố gắng kê khai thấp thu nhập chịu thuế, kê khai chi phí kinh doanh lớn hơn thực tế hay tránh việc kê khai thu nhập chịu thuế, tránh việc kê khai thu nhập phát sinh từ vốn, lao động và các yếu tố khác theo nguyên tắc kế toán thuế thì DN đó đã vi phạm luật

+ Tránh thuế là hình thức không tuân thủ mục đích của luật nhưng hình thức này không vi phạm luật Tránh thuế là nỗ lực giảm mức gánh thuế dựa trên

cơ sở pháp lý liên quan đến, thể hiện ở các trường hợp chủ yếu sau:

(1) Khai thác những kẽ hở của luật hay các thủ thuật trì hoãn, kéo dài thời gian phải thực hiện, nhưng không vượt quá hạn mức để giảm gánh nặng thuế

(2) Phân bổ, bố trí lại hoạt động kinh doanh để “tiết kiệm thuế”, chuyển thu nhập từ (ví dụ) hoạt động sản xuất sang hoạt động gia công để được hưởng những ưu đãi về ngành nghề kinh doanh trong lĩnh vực thuế, xuất khẩu, mà khi

áp dụng điều đó, DN sẽ chỉ phải nộp tỷ lệ thuế thấp hơn hoặc có thể được miễn giảm, nếu trong điều kiện đặc thù, cá biệt họ có thể di chuyển nơi nộp thuế để khai thác “thiên đường” thuế của các quốc gia khác

Theo Lê Hồng Hải (2007), xét theo góc độ tâm lý hành vi của DN thì do

sự khác nhau về cơ sở pháp lý nên hành vi trốn thuế và tránh thuế là hoàn toàn khác nhau và tác động đến việc lựa chọn hành vi tuân thủ pháp luật thuế của họ Tránh thuế được đánh giá là tích cực hơn trốn thuế Kiến thức về thuế của NNT

Trang 25

càng tốt thì tránh thuế được nhận thức là công bằng hơn được lựa chọn hình thức trốn thuế nhiều hơn Ngược lại, kiến thức về thuế càng hẹp thì NNT có xu hướng lựa chọn hình thức trốn thuế nhiều hơn

b Các mức độ tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế

Trên thế giới đã có nhiều mô hình quản lý thuế theo phương phương pháp sát tuân thủ Một trong các mô hình tiêu biểu là mô hình của Grabosky và Braithwaite (OECD, 2003) Đây là mô hình quản lý thuế xác lập trên cơ sở đánh giá mức độ tuân thủ của NNT, theo đó cơ quan thuế áp dụng biện pháp ứng xử thông qua các phương pháp quản lý khác nhau với từng nhóm đối tượng để đạt hiệu quả quản lý cao nhất (Hình 2.1)

Hìnha2.1 Mô hình quản lý tính tuân thủ của người nộp thuế

Nguồn OECD (2003)

Quyết tâm không tuân thủ

Áp dụng toàn bộ các quyền lực theo luật

Không muốn tuân thủ, nhưng sẽ tuân thủ nếu cơ quan thuế quan tâm

Ngăn chặn thông qua các biện pháp phát hiện vi phạm

Cố gắng tuân thủ nhưng không phải lúc nào cũng thành công

Hỗ trợ

để tuân thủ

Sẵn sàng tuân thủ

Tạo điều kiện thuận lợi

Chiến lược nhằm giảm bớt

Kinh tế

Xã hội

học

Trang 26

Trong mô hình tuân thủ, bên trái của tháp thể hiện bốn mức độ tuân thủ của NNT, bên phải hình tam giác là các chiến lược quản lý tương ứng của cơ

quan thuế áp dụng với từng nhóm NNT:

- Nhóm không hợp tác: Ở đỉnh tháp tuân thủ là thái độ không hợp tác thể hiện những NNT quyết không tuân thủ Những đối tượng có thái độ này hoặc là

cố tình trốn thực hiện nghĩa vụ của mình hoặc là chọn lựa cách đứng ngoài Đây

là nhóm mà cơ quan thuế phải dành nhiều nguồn lực nhất trong việc quản lý Với nhóm này, cơ quan thuế cần áp dụng toàn bộ quyền lực theo luật pháp quy định

để ngăn chặn và xử lý hành vi chống đối hoặc trốn thuế

- Nhóm chống đối: Thái độ của những người chống đối thể hiện sự sẵn sàng đối đầu Đối với nhóm người này, hệ thống thuế thật vô lý, rắc rối và không linh hoạt Thái độ này thể hiện những NNT không muốn tuân thủ nhưng cũng có thể phải tuân thủ nếu họ biết rằng hành vi của họ có thể bị xử lý Với nhóm này,

cơ quan thuế cần có biện pháp tuyên truyền, giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật

và biện pháp theo dõi, kiểm tra để răn đe, ngăn chặn

- Nhóm cố gắng tuân thủ: Thái độ của nhóm này tích cực hơn, về cơ bản

họ muốn tuân thủ nhưng gặp khó khăn và không phải lúc nào cũng tuân thủ được Có thể họ chưa hiểu rõ về nghĩa vụ của mình, nhưng chủ định cua họ là nếu có bất cứ tranh chấp nào thì tính hợp tác và trung thực sẽ chiến thắng Đối với nhóm NNT này, cơ quan thuế cần trợ giúp họ bằng cách cung cấp các thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời và cung cấp các dịch vụ tư vấn, giải đáp và các dịch vụ tiện ích khác để họ thực hiện tốt nghĩa vụ của mình

- Nhóm NNT sẵn sàng tuân thủ: Đây là nhóm chiếm số lượng lớn nhất trong tổng số NNT của mỗi quốc gia Thái độ của nhóm này là sẵn sàng làm điều đúng, họ có ý thức ủng hộ cho hệ thống thuế, chấp nhận và thực hiện có hiệu quả các yêu cầu cảu hệ thống thuế Do vậy, cơ quan thuế cần tạo điều kiện tốt nhất để NNT thuộc nhóm này hoàn thành nghĩa vụ thuế của mình

Điều quan trọng là phải nhận thấy rằng mỗi NNT tuỳ từng thời kỳ có thể thuộc một trong các nhóm nêu trên Cũng có thể ở tại thời điểm nào đấy có thể có những NNT thuộc tất cả các nhóm thái độ này không phải đặc tính cố định của một đối tượng hoặc một nhóm, mà nó phản ánh được mỗi quan hệ giữa cá nhân hoặc nhóm NNT với những yêu cầu về thuế đặt ra cho họ

Trang 27

Mức đóng góp số thu về thuế của NNT là khác nhau đối với các nhóm người nộp thuế là khác nhau được mô tả theo nghiên cứu của Quỹ Tiền tệ Quốc

tế - IMF (OECD, 2003) được thể hiện ở Hình 2.2

Hìnhb2.2 Các nhóm người nộp thuế - số người nộp thuế và các đặc tính

đóng góp và số thu thuế

Nguồn OECD (2003)

Ở hầu hết các quốc gia, các đối tượng nộp thuế vừa và nhỏ chỉ đóng góp một phần nhỏ trong tổng thu về thuế, song việc cải thiện mức độ tuân thủ của khu vực này có ý nghĩa quan trọng vì nó không chỉ đảm bảo sự bình đẳng giữa các đối tượng nộp thuế và còn giúp tiết kiệm nguồn lực cho cơ quan thuế

2.1.2.2 Đánh giá sự tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế

Trong điều kiện áp dụng cơ chế tự tính, tự khai, tự nộp thuế, thực hiện tổ chức quản lý thuế theo chức năng, đề cao vai trò tự giác của NNT Do vậy, hiện nay có nhiều nước chủ yếu sử dụng các tiêu chí đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật thuế của NNT dựa trên cơ sở mức độ tuân thủ thực hiện các nghĩa vụ thuế của NNT theo quy định của pháp luật như: mức độ tuân thủ về đăng ký thuế, nộp

hồ sơ khai thuế, mức độ tuân thủ về kê khai thuế và mức độ tuân thủ trong nộp thuế (Hoàng Văn Bằng, 2009) Sự đánh giá tuân thủ thuế của người nộp thuế trong cơ chế tự tính, tự khai, tự nộp được mô tả như ở Hình 2.3

có đăng ký

Trang 28

Hìnhc2.3 Đánh giá sự tuân thủ của người nộp thuế

a Tuân thủ trong việc đăng ký thuế

Đăng ký thuế là việc người nộp thuế kê khai với cơ quan thuế các thông tin định danh của mình Với tổ chức kinh doanh đó là các thông tin về tên tổ chức, trụ sở chính, địa chỉ các cơ sở sản xuất, cửa hàng, chi nhánh, vốn kinh doanh, ngành nghề kinh doanh, người đại diện theo pháp luật… (Lê Xuân Trường, 2010) Đăng ký thuế là bước đầu tiên để người nộp thuế thực hiện nghĩa

vụ thuế của mình

Theo Luật Quản lý thuế số 78 (Quốc hội, 2006), người nộp thuế phải đăng

ký thuế trong thời hạn 10 ngày làm việc, tính từ một trong các mốc thời gian sau:

- Ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép thành lập và hoạt động hoặc giấy chứng nhận đầu tư;

- Ngày bắt đầu hoạt động kinh doanh đối với tổ chức không thuộc diện đăng ký kinh doanh hoặc hộ gia đình, cá nhân thuộc diện đăng ký kinh doanh nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh;

- Ngày phát sinh trách nhiệm khấu trừ thuế và nộp thuế thay;

- Ngày phát sinh nghĩa vụ thuế thu nhập cá nhân;

- Ngày phát sinh yêu cầu được hoàn thuế

Hoàng Văn Bằng (2009) cho rằng để đánh giá mức độ tuân thủ trong việc đăng ký thuế, cần thiết phải sử dụng các chỉ tiêu sau:

(1) Số NNT vi phạm về thời gian đăng ký thuế Trên thực tế có thể có một

số đối tượng chậm đăng ký thuế để trì hoãn, để tránh nghĩa vụ thuế Nếu chỉ tiêu này cao chứng tỏ mức độ tuận thủ trong việc đăng ký thuế chưa tốt

(2) Tỷ lệ NNT vi phạm về thời gian đăng ký thuế so với tổng số đối tượng phải đăng ký thuế Chỉ tiêu này được đo bằng tỷ lệ phần trăm giữa số NNT vi

Trang 29

phạm về thời gian đăng ký thuế so với tổng số đối tượng phải đăng ký thuế Nếu chỉ tiêu này cao chứng tỏ mức độ tuân thủ trong việc đăng ký thuế chưa tốt

Tuy nhiên, bên cạnh những người nộp thuế tuân thủ pháp luật, tự giác đăng ký thuế thì vẫn còn một số người nộp thuế có hoạt động kinh doanh, hoặc phát sinh nghĩa vụ thuế nhưng không kê khai, đăng ký với cơ quan thuế hoặc kê khai thay đổi đăng ký thuế chậm so với thời hạn qui định Hành vi không tuân thủ hay rủi ro khi tuân thủ trong việc đăng ký thuế của DN có thể xảy ra dưới các hình thức như việc DN không thực hiện kê khai đăng ký thuế, hoặc kê khai thay đổi thông tin đăng ký thuế chậm so với thời hạn được quy định, không thực hiện khai báo khi thông tin đăng ký thuế có sự thay đổi

Mặt khác, do có sự chênh lệch giữa số lượng doanh nghiệp đăng ký kinh doanh và số lượng doanh nghiệp thực tế có hoạt động kinh doanh Có những doanh nghiệp sau khi đăng ký kinh doanh đã chuyển địa điểm, trụ sở và hoạt động ngoài vòng pháp luật Cũng có không ít doanh nghiệp đã được cấp giấy phép đăng ký kinh doanh, cấp mã số thuế nhưng không đi vào hoạt động, hoặc thay đổi chức năng hoạt động nhưng không đăng ký lại Chính những “doanh nghiệp ma” này là mầm mống của các hoạt động làm ăn phi pháp như mua bán hóa đơn nhằm trốn lậu thuế, sản xuất hàng giả ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường kinh doanh

b Tuân thủ về khê khai thuế

Theo Nghị định số 85 (Chính phủ, 2007): Khai thuế là việc người nộp thuế tự xác định số thuế phải nộp phát sinh trong kỳ kê khai thuế theo quy định Pháp luật thuế của từng “Sắc thuế” Người nộp thuế sử dụng hồ sơ khai thuế của từng loại thuế theo quy định của Luật quản lý thuế để kê khai số thuế phải nộp với cơ quan thuế và tự chịu trách nhiệm về tính chính xác của các số liệu trong

hồ sơ khai thuế

Quy định tại Luật thuế số 78 (Quốc hội, 2006), người nộp thuế phải tính

số tiền thuế phải nộp ngân sách nhà nước (trừ trường hợp cơ quan thuế ấn định thuế); phải khai chính xác, trung thực, đầy đủ các nội dung trong tờ khai thuế với

cơ quan thuế theo mẫu quy định (Bộ Tài chính, 2013) và nộp đủ các chứng từ, tài liệu quy định trong hồ sơ khai thuế; phải nộp hồ sơ khai thuế cho cơ quan thuế theo đúng thời hạn quy định, trừ trường hợp đã chấm dứt hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế và trường hợp tạm ngừng kinh doanh

Trang 30

Tuân thủ về kê khai thuế gồm tuân thủ về nộp tờ khai và tuân thủ trong kê khai thuế (Hoàng Văn Bằng, 2009)

- Tuân thủ về nộp tờ khai thuế: Sự tuân thủ có thể được đánh giá với các chỉ tiêu khác nhau, gồm:

(1) Tuân thủ trong nộp tờ khai của NNT Chỉ tiêu này đo lường tỷ lệ giữa

số tờ khai được nộp và số NNT thực tế được đăng ký tại cơ quan thuế Các tờ khai được nộp có thể bao gồm cả tờ khai đúng hạn và tờ khai chậm nộp Nếu chỉ tiêu này cao chứng tỏ mức độ tuân thủ pháp luật thuế tốt hơn

(2) Tuân thủ trong việc nộp tờ khai đúng hạn Chỉ tiêu này được đo bằng

tỷ lệ giữa số tờ khai nộp đúng hạn trên tổng số tờ khai đã được nộp Nếu chỉ tiêu này cao chứng tỏ mức độ tuân thủ pháp luật thuế tốt hơn

(3) Mức độ tuân thủ trong nộp tờ khai nói chung Chỉ tiêu này được xác

định bằng tỷ lệ giữa số tờ khai đã nộp đúng hạn chia cho tổng số NNT đã đăng

ký Mức độ tuân thủ kê khai nói chung này được ước tính là kết quả của hai chỉ trên Nếu chỉ tiêu này cao chứng tỏ mức độ tuân thủ pháp luật thuế tốt hơn

- Tuân thủ trong kê khai thuế: Tuân thủ trong kê khai thuế được hiểu là tỉ

lệ giữa số thu nhập hay doanh thu kê khai với số thu nhập/doanh số được chờ đợi

sẽ kê khai Nói đến mức độ tuân thủ về kê khai thuế là nói đến việc kê khai trung thực các khoản thu nhập, doanh thu, và sản lượng liên quan đến thuế trực thu hay thuế gián thu Tuân thủ trong kê khai có thể được phát hiện, đánh giá trong quá trình tính và kế toán thuế

- Tuân thủ trong kế toán thuế, quyết toán thuế: Tuân thủ trong kế toán thuế thể hiện ở việc phản ánh, ghi chép trung thực các nghiệp vụ liên quan đến việc tính toán xác định số thuế phải nộp Tuân thủ trong quyết toán thuế là việc NNT thực hiện tổng hợp kê khai, tính toán xác định việc thực hiện nghĩa vụ thuế trong

kỳ kê khai quyết toán theo quy định vủa pháp luật thuế về tính trung thực, tính đầy đủ, về thời hạn

Theo quy định tại Luật số 78/2006/QH11 (Quốc hội, 2006), hạn nộp cuối cùng của hồ sơ khai thuế TNDN là ngày thứ chín mươi kể từ ngày kết thúc năm dương lịch hoặc năm tài chính

Thông tư số 78 của Bộ Tài chính (2014a) quy định chi tiết thời điểm khai thuế thu nhập doanh nghiệp như sau:

- Khai thuế thu nhập doanh nghiệp theo từng lần phát sinh đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản áp dụng đối với doanh nghiệp không có chức

Trang 31

năng kinh doanh bất động sản và doanh nghiệp có chức năng kinh doanh bất động sản nếu có nhu cầu; tổ chức nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam hoặc có thu nhập tại Việt Nam mà tổ chức này không hoạt động theo Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp có thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng vốn

- Khai quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp bao gồm khai quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp năm và khai quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp đến thời điểm có quyết định về việc doanh nghiệp thực hiện chia, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp, giải thể, chấm dứt hoạt động

Hồ sơ khai quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp bao gồm:

+ Tờ khai quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp theo mẫu số 03/TNDN ban hành kèm theo Thông tư này

+ Báo cáo tài chính năm hoặc báo cáo tài chính đến thời điểm có quyết định về việc doanh nghiệp thực hiện chia, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp, giải thể, chấm dứt hoạt động

c Tuân thủ trong nộp thuế

Theo qui định của Luật quản lý thuế (Quốc hội, 2006), người nộp thuế ngoài việc tự kê khai, tính thuế còn phải tự nộp thuế vào NSNN.Việc nộp thuế ở đây bao hàm cả nộp đủ và nộp đúng thời hạn qui định, đây là nội dung phản ánh mức độ tuân thủ trong nộp thuế Để đánh giá sự tuân thủ pháp luật thuế trong khâu nộp thuế, Hoàng Văn Bằng (2009) cho rằng cần sử dụng các chỉ tiêu sau:

(1) Tỷ lệ số NNT đúng hạn trên tổng số NNT Chỉ tiêu này cho biết tỷ lệ

NNT tuân thủ tự giác trong việc đảm bảo thời hạn nộp thuế theo quy định của pháp luật Nếu chỉ tiêu này cao chứng tỏ mức độ tuân thủ pháp luật thuế tốt hơn

(2) Tỷ lệ số thuế được nộp đúng hạn trên tổng số thuế phải nộp theo nghĩa

vụ thuế của NNT Chỉ tiêu này cho biết tỷ lệ số thuế đã được NNT đảm bảo thời

hạn thực hiện nghĩa vụ nộp thuế Nếu chỉ tiêu này cao chứng tỏ mức độ tuân thủ pháp luật thuế tốt hơn

(3) Tỷ lệ giữa số thuế nợ đọng so với tổng số thuế phải nộp Nếu chỉ tiêu

này thấp chứng tỏ mức độ tuân thủ pháp luật thuế tốt hơn

Theo cơ chế “tự khai tự nộp” hiện nay thời hạn nộp thuế chậm nhất là ngày cuối cùng của thời hạn nộp hồ sơ khai thuế đối với trường hợp NNT tự tính nộp thuế (Quốc Hội, 2006) Việc NNT không tuân thủ trong việc nộp thuế là hành vi NNT-DN không nộp hoặc nộp chậm số tiền thuế phát sinh phải nộp đối

Trang 32

với hồ sơ đã kê khai hoặc so với tiền thuế ấn định của cơ quan thuế hoặc theo thông báo của cơ quan quản lý thuế

Theo đánh giá của ngành Thuế và Hải quan (Tổng cục Thuế, 2012), Luật quản lý thuế đã góp phần thay đổi cơ bản diện mạo công tác thu thuế, quản lý của

cơ quan thuế, chuyển từ quản lý truyền thống mang tính thủ công sang phương thức quản lý hiện đại theo cơ chế người nộp thuế tự tính, tự khai, tự nộp thuế và

tự chịu trách nhiệm về thực hiện nghĩa vụ thuế theo pháp luật thuế, hỗ trợ người nộp thuế thực hiện tốt nghĩa vụ thuế, đồng thời đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra đã góp phần làm tăng thu ngân sách Trong giai đoạn hiện nay mặc dù tình hình kinh tế thế giới có nhiều biến động, giá cả các nguyên nhiên vật liệu đầu vào của sản xuất tăng cao; ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế thế giới Trong bối cảnh nêu trên, vai trò và hiệu quả của Luật Quản lý Thuế đối với công tác thu ngân sách đã được thể hiện rõ nét Bộ Tài chính đã quyết liệt chỉ đạo các đơn vị thực hiện các biện pháp như: rà soát các nguồn thu, đảm bảo thu đúng, thu đủ, nộp kịp thời vào ngân sách; tăng cường đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại, chống thất thu thuế qua giá tính thuế; tháo gỡ kịp thời các vướng mắc phát sinh liên quan đến công tác quản lý thuế Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, những cải cách thủ tục hành chính thuế và ý thức của người nộp thuế ngày càng được nâng cao, số thuế thu nộp NSNN gia tăng qua các năm

Tuy nhiên, tình trạng nợ đọng thuế vẫn còn phổ biến do một số người nộp thuế còn chây ỳ, dây dưa, nợ đọng thuế Tình trạng nợ đọng thuế của người nộp thuế một phần do gặp khó khăn trong kinh doanh ảnh hưởng tới khả năng nộp thuế, tuy nhiên chủ yếu vẫn là do ý thức tự giác nộp thuế còn thấp, cố tình chiếm dụng tiền thuế của nhà nước để làm lợi cho bản thân Không ít các doanh nghiệp

bỏ trốn, mất tích hoặc cố tình kê khai lỗ để trốn thuế Tình trạng này không những ảnh hưởng tới thu NSNN mà còn làm méo mó cơ chế thị trường, tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh trong nền kinh tế, đòi hỏi cơ quan quản lý thuế phải

có các biện pháp quyết liệt để giảm bớt tỷ lệ nợ đọng thuế

d Tuân thủ thông qua phối hợp với cơ quan quản lý thuế

Theo Hoàng Văn Bằng (2009), phối hợp với cơ quan quản lý thuế theo nghĩa đơn thuần là hành vi tiếp nhận, chấp hành yêu cầu, chấp hành các quyết định về việc cung cấp các thông tin, số liệu phục vụ việc thanh tra, kiểm tra, đối chiếu, xác minh về hoạt động kinh doanh, về các bản kê khai số thuế phải nộp, số

đã nộp thuế của DN với cơ quan thuế Đây là một hoạt động rất phổ biến của cơ quan thuế với DN, hoạt động này không diễn ra thường xuyên, nhưng nó là yêu

Trang 33

cầu bắt buộc của hoạt động quản lý nhà nước nói chung, của cơ quan QLT nói riêng, nhằm đánh giá sự tuân thủ pháp luật thuế của NNT nói chung và DN nói riêng khi thực hiện, theo quy định của Luật Quản lý thuế hiện hành

Theo quy định hiện hành, việc tuân thủ của DN thông qua tiếp nhận các quyết định, thông báo, yêu cầu của CQT về việc xác định, giải thích các số liệu, tính hợp pháp của chứng từ sổ sách, về nộp thuế, hành vi tuân thủ này của DN là điều bắt buộc và thông thường, tuy nhiên trong thực tế, thường diễn ra không theo sự mong muốn của cả hai bên

Các quy định là điều cần thiết khi thực hiện việc xác lập quyền và nghĩa

vụ của cả hai bên, ta có thể thấy trách nhiệm phối hợp với CQT là điều rất cần thiết và là yếu tố khách quan khi bên thực hiện và bên giám sát cùng chung về một đích đó là xác định kết quả của việc thực hiện tuân thủ các quy định của pháp luật thuế có đúng hay không, điều đó sẽ luôn đúng trong lý thuyết, tuy nhiên, trong thực tế hiện nay, việc trốn thuế, tránh thuế hay cố tình vi phạm pháp luật thuế đang diễn ra khá phổ biến thì việc phối hợp lại là cả một vấn đề đối với

DN, đối với các DN hoạt động, tuân thủ theo mức độ tốt, họ luôn tôn trọng và

“chào đón” các sự kiểm tra, giám sát của bộ phận chức năng, còn đối tượng có vi phạm, đa phần họ sẽ tránh né, tỏ thái độ không phối hợp và đặc biệt có đối tượng còn thể hiện rõ sự chống đối, phản kháng lại hoạt động này

Việc tính toán và phân tích các chỉ tiêu về tuân thủ pháp luật thuế để đánh giá mức độ tuân thủ thuế, tìm ra các nguyên nhân và có kế hoạch, biện pháp quản

lý phù hợp nhằm đảm bảo công bằng, góp phần nâng cao mức độ tuân thủ pháp luật thuế của NNT

2.1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ pháp luật thuế của DN

Sự tuân thủ pháp luật thuế của DN có thể thể hiện qua các yếu tố tác động đến sự tuân thủ như mô tả ở Hình 2.4 Cơ quan thuế muốn hiểu sự tuân thủ pháp luật thuế của DN phải hiểu được môi trường trong đó các DN hoạt động và xác định được những yếu tố tác động đến sự tuân thủ pháp luật thuế Phân tích đầy đủ các yếu tố này cho phép cơ quan thuế hiểu rõ tại sao DN tuân thủ hoặc không tuân thủ (OECD, 2004)

Theo OECD (2004), những nhân tố ảnh hưởng đến tính tuân thủ của NNT

có thể được khái quát thành các nhóm sau:

- Nhóm yếu tố về tình hình kinh tế - xã hội: Đây là nhóm yếu tố vĩ mô

phản ánh tình hình kinh tế - xã hội nói chung của một quốc gia như tốc độ tăng

Trang 34

trưởng kinh tế, tình hình lạm phát, tình hình chính trị Vì đây là yếu tố vĩ mô nên nhóm yếu tố này ảnh hưởng đến tính tuân thủ của tất cả các nhóm NNT Thông thường, khi nền kinh tế phát triển, tình hình chính trị, xã hội ổn định thì nhóm yếu tố này có thể bỏ qua vì khi đánh giá mức độ ảnh hưởng tới tính tuân thủ của NNT qua các năm là tương đối ổn định Tuy nhiên, trong trường hợp tình hình kinh tế xã hội bất ổn thì tác động của nhóm yếu tố này đến tình tuân thủ của NNT lại rất lớn cả về phạm vi và mức độ ảnh hưởng Cụ thể như sau:

Thứ nhất, yếu tố kinh tế: Lãi suất thị trường và lãi suất ngân hàng là yếu

tố tác động đến quyết định tuân thủ, trì hoãn hay không tuân thủ pháp luật thuế Trong trường hợp lãi suất tăng, một NNT có tinh thần và đạo đức thuế không tốt

sẽ có khả năng trì hoãn việc nộp thuế; hoặc tuân thủ nhưng không tự nguyện; hoặc có khả năng trốn thuế hay tránh thuế Vì vậy, lãi suất thị trường thường được các nhà phân tích tiếp cận theo cách lấy kinh tế làm cơ sở cho việc thiết lập các hình phạt đối với NNT khi họ không tuân thủ

Lạm phát cũng có ảnh hưởng đến sự tuân thủ pháp luật thuế của NNT khi

nó tác động vào mức sinh lợi từ hoạt động sản xuất kinh doanh Lạm phát quá cao sẽ cản trở hành vi tuân thủ pháp luật thuế Lạm phát ổn định ở mức hợp lý sẽ kích thích sản xuất kinh doanh và tác động đến sự tuân thủ pháp luật thuế của NNT thông qua hiệu ứng thu nhập

Hìnhd2.4 Các yếu tố tác động đến sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp

Miễn cưỡng tuân thủ

Cố gắng tuân thủ

Chấp nhận tuân thủ

Sự tuân thủ pháp luật thuế của NNT

Trang 35

Thứ hai, yếu tố xã hội: Các nhân tố xã hội ảnh hưởng sâu sắc đến nội

dung cơ bản của từng sắc thuế và cả hệ thống chính sách thuế, từ đó tác động đến

sự tuân thủ pháp luật thuế thông qua những nhân tố như chuẩn mực xã hội, sự hỗ trợ xã hội và trách nhiệm của NNT trong cộng đồng xã hội

Chuẩn mực xã hội là những tiêu chuẩn hành vi trong tuân thủ pháp luật thuế do xã hội mong muốn và được chấp nhận chung của đa số người trong xã hội Khi NNT xác định được nhóm xã hội tác động lên hành vi tuân thủ pháp luật thuế của họ thì chuẩn mực xã hội sẽ tác động lên đạo đức thuế của NNT thông qua ảnh hưởng xã hội và sự hỗ trợ xã hội

Tư lợi cá nhân có thể thúc đẩy hành vi khi con người cảm thấy bản thân

họ là các cá nhân độc lập với các cá nhân khác, trong khi trách nhiệm công dân

có thể thúc đẩy hành vi khi con người cảm thấy họ là thành viên của một nhóm, của cộng đồng xã hội Trong cộng đồng đó, sự tuân thủ pháp luật thuế sẽ phụ thuộc vào ảnh hưởng xã hội lên nhận thức của NNT rằng, hầu hết mọi người đều tuân thủ, chỉ một số người là không tuân thủ và hầu hết mọi người là những công dân tốt

Sự tuân thủ sẽ hạn chế khi đối tượng nhận thức rằng, ít người có trách nhiệm công dân Tiếp theo, sự đồng thuận về thuế của một đối tượng sẽ tác động lên chuẩn mực xã hội về sự tuân thủ pháp luật thuế và tác động tích cực lên các NNT khác Vì vậy, chuẩn mực xã hội tác động lên hành vi tuân thủ pháp luật thuế là yếu tố mà cơ quan thuế cần quan tâm

Dư luận xã hội, danh tiếng, vị thế và vai trò của NNT trong cộng đồng xã hội Vai trò của NNT trong xã hội và những chuẩn mực hành vi của họ cũng rất quan trọng NNT không chỉ tối ưu hoá hành vi một cách cô lập và ích kỷ mà còn

bị tác động bởi dư luận tích cực từ xã hội do tuân thủ đầy đủ nghĩa vụ thuế và từ

đó làm hình thành nên danh tiếng vị thế và vai trò của NNT trong cộng đồng xã hội Tiếp đó, danh tiếng, vai trò của NNT sẽ tác động đến sự vươn lên, thực hiện tốt nghĩa vụ thuế

Theo quan điểm thông thường về hành vi ứng xử của NNT thì NNT còn tuân thủ thuế nếu họ thấy rằng sự không tuân thủ có chi phí cao hơn có nghĩa là những khoản tiền phạt mà NNT phải gánh chịu trong trường hợp trốn thuế bị phát hiện vượt quá số thuế mà họ phải nộp Trong thực tế có trường hợp quản lý thuế yếu hoặc rất tốt nhưng người nộp thuế vẫn sẵn sàng nộp thuế hoặc trốn thuế Điều này có thể không phụ thuộc hoàn toàn vào cơ quan thuế mà còn phụ thuộc

Trang 36

vào những giá trị xã hội, đạo đức, nhận thức của người dân về tính công bằng và mức độ phức tạp của pháp luật thuế Vai trò các nhân tố văn hoá, xã hội là không thể phủ nhận, nhưng tính tuân thủ pháp luật thuế sẽ không cao nếu hoạt động trốn thuế không bị trừng phạt nghiêm minh

- Nhóm yếu tố chính trị, luật pháp:

+ Hiệu quả của chi tiêu công: Ngân sách Nhà nước (NSNN) được sử dụng như thế nào là một trong những vấn đề được NNT quan tâm nhất NSNN được sử dụng cho đầu tư vào cơ sở hạ tầng kỹ thuật, xã hội, phục vụ trở lại cho NNT, nuôi bộ máy công quyền và những mục đích chung khác Nhận thức của NNT về tính hiệu quả của các khoản chi tiêu này sẽ tác động đến sự tuân thủ pháp luật thuế của NNT Tham nhũng, thất thoát ngân sách, đầu tư công kém hiệu quả sẽ là những yếu tố cản trở hành vi tuân thủ tích cực

+ Chính sách thuế: Chính sách thuế ổn định, có thể dự đoán, rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu và công bằng là những tiền đề đầu tiên để có một quá trình quản lý thuế hiệu lực và hiệu quả Chính sách phức tạp, không rõ ràng, không phù hợp với thực tế sẽ làm tăng cơ hội cho NNT có hành vi lợi dụng kẽ hở của chính sách, các hành vi không tuân thủ sẽ gia tăng Sự ổn định và dễ dự đoán được coi là cốt lõi của một hệ thống thuế tốt, sự thay đổi thường xuyên của chính sách sẽ gây ra hiểu lầm hoặc vẫn thực hiện theo luật cũ do NNT chưa cập nhập kịp những thay thổi của luật

- Nhóm nhân tố xuất phát từ bản thân người nộp thuế:

+ Mức độ tuân thủ pháp luật thuế của NNT phụ thuộc vào yếu tố hiểu biết

về luật thuế, những yêu cầu của luật thuế, thủ tục hoàn thành nghĩa vụ thuế Vì vậy tình trạng thiếu thông tin và kiến thức cơ bản về hoạt động kế toán, điển hình đối với các DN vừa và nhỏ sẽ làm gia tăng lỗi trong kê khai và thanh toán thuế, tăng chi phí tuân thủ pháp luật thuế và cản trở sự tuân thủ pháp luật thuế

+ Nhận thức về sự công bằng và bình đẳng trong tuân thủ nghĩa vụ thuế

Sự không tin tưởng do nhận thức của NNT về sự không công bằng trong hệ thống và nền kinh tế ngầm sẽ dẫn đến sự chấp nhận trốn thuế Nhận thức về tính công bằng trong tiếp cận thông tin và thủ tục hành chính thuế tác động không nhỏ đến tâm lý tuân thủ pháp luật thuế, đặc biệt khi hệ thống thủ tục tuân thủ phức tạp và rườm rà Ngược lại, sự tuân thủ của NNT cũng sẽ tác động đến đạo đức thuế của những đối tượng khác thông qua nhận thức về sự công bằng

Trang 37

+ Nhận thức của người nộp thuế đối với sự đối xử của chính quyền và cơ quan quản lý thuế Khi cơ quan thuế được nhận thức là người đại diện và hoạt động vì lợi ích Nhà nước và cộng đồng, coi NNT là khách hàng, thì sự tuân thủ pháp luật thuế sẽ đạt được ở mức cao Một chính quyền không đại diện cho quyền lợi chung sẽ giảm sự hợp tác và tăng sự chống đối

+ Những khác biệt của từng cá nhân: Các nhân tố cá nhân tác động đến hành vi bao gồm giới tính, lứa tuổi, trình độ học vấn, đạo đức, ngành nghề, tính cách, hoàn cảnh và việc đánh giá rủi ro của từng người

+ Cảm nhận về rủi ro: Nếu một NNT có cơ hội không tuân thủ và nghĩ rằng chỉ có rủi ro không đáng kể nếu bị phát hiện thì NNT đó có thể chấp nhận rủi ro này Điều này có thể dẫn đến việc kê khai thấp một số loại thu nhập nào đó; Một số người nhìn nhận việc tránh thuế là một trò chơi và có thắng thua, họ thích thử nghiệm kỹ năng của mình trong việc tránh các nghĩa vụ và tránh để không bị bắt

+ Các tác động về kinh tế: Thứ nhất là gánh nặng về tài chính, luôn có một mối liên hệ giữa số nợ thuế và hành vi tuân thủ Nếu nghĩa vụ thuế lớn thì NNT

có thể tránh phải nộp toàn bộ hoặc tìm cách điều chỉnh số liệu báo cáo để làm giảm nghĩa vụ thuế; Thứ hai là chi phí tuân thủ, các chi phí này bao gồm thời gian bỏ ra để hoàn tất thủ tục thuế, chi phí chi kế toán viên và có thể bao gồm

cả chi phí về mặt tâm lý như căng thẳng thần kinh do NNT không biết chắc họ có đáp ứng các quy định của luật thuế hay không Người nộp thuế phải bỏ ra một số khoản chi phí trên để tuân thủ các nghĩa vụ thuế, do đó làm cho số thuế phải chịu của NNT cao hơn số thuế thực nộp

- Nhóm nhân tố về hoạt động quản lý của cơ quan thuế:

Quản lý thu thuế của Nhà nước có tính quyết định đến mức độ tuân thủ thuế của doanh nghiệp Quản lý thu thuế thông qua việc tổ chức thực hiện các luật thuế và thanh tra kiểm tra để đảm bảo và tăng cường tính pháp chế, nâng cao

ý thức chấp hành luật thuế và xây dựng nền văn hoá thuế trong cộng đồng các doanh nghiệp Quá trình quản lý thuế của Nhà nước luôn hướng tới sự ổn định và mức độ minh bạch cao, giảm chi phí tuân thủ, giảm rủi ro do tham nhũng và phiền hà cho doanh nghiệp; Cung cấp các dịch vụ hỗ trợ thuế sẽ giúp doanh nghiệp giảm gánh nặng tìm kiếm thông tin về quy định của luật thuế cũng như quy trình tuân thủ; Đồng thời tổ chức cưỡng chế hợp lý thể hiện ở tần suất thanh

Trang 38

tra thuế, khả năng phát hiện trốn thuế của thanh tra thuế, các biện pháp cưỡng chế thuế, mức độ nghiêm khắc của hình phạt do trốn thuế; Có các biện pháp khuyến khích sự tuân thủ tốt như tuyên dương doanh nghiệp, công nhận hình ảnh

vị thế của doanh nghiệp, các phần thưởng khuyến khích bằng tinh thần và bằng vật chất Tác động của các yếu tố này vào hiệu ứng lan toả nhằm nâng cao tinh thần thuế của doanh nghiệp (Lê Hồng Hải, 2007)

Trình độ, chất lượng công tác quản lý thuế của Nhà nước có tính quyết định đến mức độ tuân thủ pháp luật thuế của NNT Những yếu tố thuộc quản lý

thuế của Nhà nước bao gồm:

+ Tính ổn định, minh bạch, rõ ràng của quy trình và thủ tục tuân thủ pháp luật thuế như các quy trình đăng ký, kê khai, nộp thuế, sự ổn định và mức độ minh bạch cao sẽ giảm chi phí tuân thủ và giảm rủi ro do tham nhũng

và phiền hà

+ Tính đơn giản, dễ hiểu của quy trình và thủ tục tuân thủ pháp luật thuế Với khả năng hạn chế về nhân lực hiện nay, nhiều cơ quan thuế không thể kiểm soát để đảm bảo sự tuân thủ pháp luật thuế một cách toàn diện khi số lượng NNT ngày càng tăng lên Vì vậy, việc áp dụng một hệ thống đơn giản đặc biệt là cho đối tượng NNT vừa và nhỏ sẽ làm giảm gánh nặng quản lý của cơ quan thuế và gánh nặng tuân thủ pháp luật thuế cho NNT

+ Tính sẵn có, phù hợp và dễ tiếp cận của các dịch vụ hỗ trợ và tư vấn thuế sẽ giúp NNT giảm gánh nặng tìm kiếm thông tin về quy định của luật thuế cũng như quy trình tuân thủ Những dịch vụ cung cấp nghèo nàn, khó tiếp cận thường là lý do giải thích cho chi phí tuân thủ pháp luật thuế cao, đặc biệt là đối với các NNT là hộ KD, là DN nhỏ Đây cũng là một trong những nguyên nhân cơ bản của trốn thuế

+ Tính cưỡng chế hợp lý của quản lý thuế được thể hiện ở tần suất thanh tra thuế, khả năng phát hiện trốn thuế và rủi ro về thuế, các biện pháp cưỡng chế thuế, mức độ nghiêm khắc của hình phạt do trốn thuế

+ Tính động viên, khuyến khích sự tuân thủ mà đặc trưng là các hình thức khuyến khích, tuyên dương NNT thực hiện tốt nghĩa vụ thuế, công nhận hình ảnh

vị thế của NNT bằng các phần thưởng khuyến khích tinh thần và vật chất

Bên cạnh đó, sự tuân thủ pháp luật thuế của NNT còn phụ thuộc vào tính trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp của các cán bộ, công chức quản lý thuế;

Trang 39

Việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ nghĩa vụ thuế giúp

cơ quan thuế đánh giá sự đa dạng phức tạp của môi trường NNT, từ đó phát triển các hướng khác nhau để quản lý thuế Sự phức tạp của những yếu tố tác động đến

sự tuân thủ pháp luật thuế và mối quan hệ giữa những yếu tố này đòi hỏi cơ quan thuế cam kết thực hiện lâu dài các chiến lược tăng cường sự tuân thủ pháp luật thuế của NNT, theo đó thách thức lớn nhất là tăng sự tuân thủ pháp luật thuế trong khi giảm chi phí tuân thủ và thích ứng đối với NNT, tăng sự tin tưởng của NNT đối với cơ quan thuế

- Sự phát triển của dịch vụ liên quan đến quá trình tuân thủ pháp luật thuế: Dịch vụ làm thủ tục về thuế, dịch vụ kế toán, kiểm toán cũng có ảnh hưởng

nhất định đến tuân thủ thuế Đặc trưng của các dịch vụ này là có tính chuyên nghiệp, chuyên môn hoá cao Khi các dịch vụ này phát triển, NNT có nhiều cơ hội sử dụng chúng, có thể tạo điều kiện tiết kiệm chi phí, ngoài ra còn góp phần nâng cao tính tuân thủ pháp luật thuế, giảm thiểu hành vi vi phạm trong quá trình thực hiện nghĩa vụ thuế

2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

2.2.1 Kinh nghiệm của các nước OECD trong việc nâng cao tính tuân thủ pháp luật của người nộp thuế

Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) được thành lập năm

1961 trên cơ sở Tổ chức Hợp tác Kinh tế Châu Âu (OEEC) với 20 thành viên sáng lập gồm các nước có nền kinh tế phát triển trên thế giới như Mỹ, Ca – na – đa và các nước Tây Âu Mô hình quản lý thuế của các nước OECD được coi

là mô hình quản lý thuế có hiệu quả với tỷ lệ huy động cao (năm 2006: 9 nước OECD có tỷ lệ thuế /GDP lớn hơn 40%; 7 nước có số thu thuế trên GDP nhở hơn 30%; 14 nước có tỷ lệ thuế 30% đến 40% so với GDP) và tỷ lệ nợ đọng thấp (năm 2005 đến 2007: 13 cơ quan thuế có tỷ lệ nợ nhỏ hơn 5%; 6 cơ quan thuế có tỷ lệ nợ từ 5 – 10%, 4 cơ quan thuế có tỷ lệ trên 20%; 1 cơ quan thuế

Trang 40

- Hoạt động thu thuế: Để đánh giá và thu đầy đủ thuế thu nhập, các nước thường áp dụng cơ chế khấu trừ tại nguồn Theo điều tra của cơ quan thuế Mỹ tỷ

lệ không tuân thủ pháp luật thuế lớn nhất đối với các thu nhập mà không phụ thuộc vào cơ chế khấu trừ hoặc không phụ thuộc vào cơ chế báo cáo của bên thứ

ba (khoảng 54% thu nhập ròng từ các chủ trang trại, tiền thuê và tiền bản quyền không được báo cáo)

- Quản lý thu thuế nợ đọng: Các nước OECD quản lý nợ đọng thuế tương đối hiệu quả chủ yếu sử dụng các biện pháp sau: Sử dụng khấu trừ tại nguồn; Sử dụng mạnh công cụ cưỡng chế thuế hoặc phạt thuế; Có chính sách xoá nợ thuế với những khoản thuế không thể thu hồi có điều kiện ràng buộc; Sử dụng các biện pháp thanh toán hiện đại: phone banking, thanh toán qua thẻ trực tiếp…

- Cung cấp dịch vụ hỗ trợ người nộp thuế: Cung cấp các dịch vụ hoàn thuế điện tử (thuế TNCN, thuế GTGT); trả lời thắc mắc của người nộp thuế bằng văn bản, qua điện thoại,…Sử dụng các hình thức dịch vụ điện tử: điền hồ sơ điện tử, thanh toán nợ thuế điện tử, tiếp cận tài khoản của người nộp thuế qua mạng

-Hoạt động thẩm tra: Bao gồm hoạt động kiểm toán thuế, kiểm soát thuế nhằm nâng cao tính tuân thủ của NNT

- Xây dựng cơ sở pháp lý cho quản lý thuế:

Xây dựng quyền của người nộp thuế: Quyền được thông báo, được giúp

đỡ, lắng nghe; Quyền chống án; Quyền không phải nộp quá số thuế cần thiết; Quyền riêng tư; Quyền giữ bí mật

Các quy định về nộp phạt, giải quyết tranh chấp: Theo tổng hợp của các nước OECD từ 3 loại thuế: thuế thu nhập công ty, thuế TNCN, thuế GTGT, các hành vi vi phạm được chia làm 3 loại: không nộp tờ khai đúng hạn, không nộp thuế đúng hạn, không báo cáo chính xác nghĩa vụ thuế phải nộp Không nộp đúng hạn các nước phạt theo tỷ lệ nhất định (Pháp phạt 10% cộng lãi suất 0.4%/tháng; Úc phạt 110 đô la Úc nếu nộp chậm trong vòng 28 ngày) Khi không báo cáo chính xác nghĩa vụ thuế phải nộp, mức phạt phụ thuộc vào tính nghiêm trọng của việc vi phạm Với những vi phạm ở mức độ thấp, tỷ lệ phạt khoảng 10-30% của thuế trốn Vi phạm mức độ nghiêm trọng hơn, tỷ lệ phạt 40-100% của thuế trốn

Giải quyết tranh chấp là một nội dung của quản lý thuế Thời gian mà người nộp thuế có thể kháng án với việc giải quyết tranh chấp khác nhau giữa các

Ngày đăng: 30/03/2021, 23:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
38. OECD (2003). “Rick Management” , Tax guidance series, Centre for Tax policy and administration Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rick Management
Tác giả: OECD
Năm: 2003
32. OECD (2004). Kinh nghiệm quản lý thuế của OECD tại http://www.google.com.vn/url?url=http://tailieu.ttbd.gov.vn:8080/index.php/tai-lieu/tai-lieu-bien-tap/item/download/ truy cập ngày 28/6/2017 Link
39. Phạm Đình Thi (2009). Các yếu tố tác động đến sự tuân thủ pháp luật thuế của Doanh nghiệp, Tạp chí thuế Nhà nước tháng 3/2009 , http://www.gdt.gov.vn Link
40. Phạm Đình Thi (2007). Tác động của Luật Quản lý thuế đối với cơ quan thuế và người nộp thuế, Tạp chí Thuế số 1 và 2, kỳ 1, 2 tháng 1 năm2007, http://www.gdt.gov.vn Link
1. Bộ Tài chính (2014a). Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 của Chính phủ quy định và hướng dẫn thi hành Luật thuế TNDN Khác
2. Bộ Tài Chính (2014). Thông tư 151/2014/TT-BTC, ngày 10 tháng 10 năm 2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 91/2014/NĐ-CP ngày 01/10/2014 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều tại các Nghị định về thuế Khác
4. Bộ Tài chính (1990). Quyết định số 14/TC/QĐ/TCCB của Bộ Tài chính về việc thành lập các đơn vị trực thuộc Bộ Tài chính Khác
5. Bộ Tài chính (2010). Quyết định số 108/QĐ-BTC của Bộ Tài chính hướng quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục thuế trực thuộc Tổng cục thuế Khác
6. Chính phủ (2007). Nghị định số 85/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế Khác
7. Chính phủ (2013). Nghi định số 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 của Chính phủ quy định và hướng dẫn thi hành Luật thuế TNDN Khác
8. Chính phủ (2014). Nghị định số 91/2014/NĐ-CP ngày 01/10/2014 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều tại các Nghị định về thuế Khác
9. Cục Thuế tỉnh Thái Bình (2015). Báo cáo tổng kết công tác tuyên truyền hỗ trợ hỗ trợ NNT – Kê khai - Tin học - Thuế Thu nhập cá nhân Khác
10. Cục Thuế tỉnh Thái Bình (2016). Báo cáo tổng kết công tác tuyên truyền hỗ trợ hỗ trợ NNT – Kê khai - Tin học - Thuế Thu nhập cá nhân Khác
11. Cục Thuế tỉnh Thái Bình (2017). Báo cáo tổng kết công tác tuyên truyền hỗ trợ hỗ trợ NNT – Kê khai - Tin học - Thuế Thu nhập cá nhân Khác
12. Cục Thuế tỉnh Thái Bình (2015). Báo cáo tổng kết công tác thuế của Cục Thuế tỉnh Thái Bình Khác
13. Cục Thuế tỉnh Thái Bình (2016). Báo cáo tổng kết công tác thuế của Cục Thuế tỉnh Thái Bình Khác
14. Cục Thuế tỉnh Thái Bình (2017). Báo cáo tổng kết công tác thuế của Cục Thuế tỉnh Thái Bình Khác
15. Cục Thuế tỉnh Thái Bình(2015). Báo cáo tổng kết công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế Khác
16. Cục Thuế tỉnh Thái Bình(2016). Báo cáo tổng kết công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế Khác
17. Cục Thuế tỉnh Thái Bình(2017). Báo cáo tổng kết công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w