1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu xác định một số chỉ tiêu sinh sản và thử nghiệm thụ tinh nhân tạo cho lợn rừng trong điều kiện nuôi nhốt tại khu vực phía bắc việt nam luận án tiến sĩ sinh sản và bệnh sinh sản gia súc 62 64 01 06

131 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 10,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chuyên ngành: Sinh sản và Bệnh sinh sản gia súc Mã số: 62 64 01 06 Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam Mục đích nghiên cứu - Xác định một số chỉ tiêu sinh sản của lợn Rừn

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

PHÙNG QUANG TRƯỜNG

NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH SẢN

VÀ THỬ NGHIỆM THỤ TINH NHÂN TẠO CHO LỢN RỪNG TRONG ĐIỀU KIỆN NUÔI NHỐT TẠI KHU VỰC PHÍA BẮC VIỆT NAM

Chuyên ngành: Sinh sản và bệnh sinh sản gia súc

Người hướng dẫn khoa học:

1 PGS.TS Nguyễn Văn Thanh

2 TS Vũ Như Quán

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chưa từng dùng bảo vệ để lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã được cảm

ơn, các thông tin trích dẫn trong luận án này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận án

Phùng Quang Trường

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án, tôi đã nhận được

sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè,

đồng nghiệp và gia đình

Nhân dịp hoàn thành luận án, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn

sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Văn Thanh và TS Vũ Như Quán đã tận tình hướng dẫn,

dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và

thực hiện đề tài

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, bộ

môn Ngoại – Sản, khoa Thú y - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi

trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận án

Tôi xin chân thành cám ơn Lãnh đạo Trung tâm Nghiên cứu Bò và Đồng cỏ

Ba Vì, đã tạo điều kiện cho tôi được thực hiện đề tài Tôi xin chân thành cảm ơn

TS Tăng Xuân Lưu, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì các chủ

trang trại lợn Rừng tại huyện Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc, huyện Lương Sơn tỉnh Hòa

Bình và huyện Ba Vì Thành phố Hà Nội, đã hướng dẫn, giúp đỡ và tạo điều kiện tốt

nhất cho tôi thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi

điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành

luận án./

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận án

Phùng Quang Trường

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt v

Danh mục các bảng vi

Danh mục ảnh vii

Danh mục hình viii

Trích yếu luận án ix

Thesis abstract xi

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài 3

1.3 Phạm vi nghiên cứu 3

1.3.1 Địa điểm 3

1.3.2 Thời gian 3

1.4 Những đóng góp mới của đề tài 3

1.5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4

Phần 2 Tổng quan tài liệu 5

2.1 Tình hình chăn nuôi lợn Rừng trên thế giới và Việt Nam 5

2.1.1 Nguồn gốc của lợn Rừng 5

2.1.2 Chăn nuôi lợn Rừng trên thế giới 8

2.1.3 Chăn nuôi lợn Rừng tại Việt Nam 11

2.2 Đặc điểm, đặc tính, sinh trưởng và sinh sản của lợn Rừng 13

2.2.1 Đặc điểm và đặc tính của lợn Rừng 13

2.2.2 Khả năng sinh trưởng của lợn Rừng 18

2.2.3 Khả năng sinh sản của lợn Rừng 19

2.2.4 Nuôi dưỡng chăm sóc lợn Rừng 22

2.2.5 Bệnh, tật và khả năng thích ứng và chống bệnh của lợn Rừng đối với môi trường sống 24

2.3 Vai trò của kỹ thuật thụ tinh nhân tạo trong chăn nuôi lợn Rừng 24

Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 26

3.1 Địa điểm nghiên cứu 26

3.2 Thời gian nghiên cứu 27

3.3 Đối tượng nghiên cứu 27

Trang 6

3.4 Nội dung nghiên cứu 27

3.4.1 Xác định một số chỉ tiêu sinh sản của đàn lợn Rừng nhập nội từ Thái Lan bao gồm 27

3.4.2 Thử nghiệm thụ tinh nhân tạo cho lợn Rừng nhập nội từ Thái Lan 28

3.5 Phương pháp nghiên cứu 28

3.5.1 Chuồng trại và phương thức chăn nuôi của đàn lợn nghiên cứu 28

3.5.2 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu sinh sản 30

3.5.3 Thử nghiệm thụ tinh nhân tạo cho lợn Rừng nhập nội từ Thái Lan 32

3.5.4 Phương pháp xử lý số liệu 38

Phần 4 Kết quả và thảo luận 40

4.1 Một số chỉ tiêu sinh sản trên đàn lợn rừng nhập nội từ Thái Lan 40

4.1.1 Tuổi thành thục tính dục 40

4.1.2 Chu kỳ động dục 44

4.1.3 Tuổi phối giống lần đầu 45

4.1.4 Thời điểm phối giống thích hợp 48

4.1.5 Thời gian mang thai 50

4.1.6 Tuổi đẻ lứa đầu 52

4.1.7 Số con sinh ra trong một lứa 55

4.1.8 Khối lượng lợn ở các lứa tuổi khác nhau 57

4.1.9 Tỷ lệ nuôi sống đến 24h 61

4.1.10 Tỷ lệ nuôi sống đến 60 ngày 63

4.1.11 Thời gian động dục lại sau cai sữa 64

4.1.12 Khoảng cách giữa hai lứa đẻ 66

4.2 Kết quả nghiên cứu về thụ tinh nhân tạo cho lợn Rừng 68

4.2.1 Huấn luyện lợn Rừng nhảy giá 68

4.2.2 Đánh giá chất lượng tinh dịch lợn Rừng 71

4.2.3 Bảo tồn tinh dịch lợn Rừng ở dạng lỏng 83

4.2.4 Kết quả dẫn tinh cho lợn cái 87

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 94

5.1 Kết luận 94

5.2 Kiến nghị 95

Danh mục các công trình công bố có liên quan đến luận án 96

Tài liệu tham khảo 97

Phụ lục 104

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt

SE Standard Error: Sai số chuẩn

TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam

TTNT Thụ tinh nhân tạo

V Volume: Lượng xuất tinh

VAC Tổng số tinh trùng sống tiến thẳng/lần khai thác

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

4.1 Tuổi thành thục tính dục của lợn Rừng cái 40

4.2 Chu kỳ động dục của lợn Rừng 44

4.3 Tuổi phối giống lần đầu của đàn lợn Rừng cái 46

4.4 Thời điểm phối giống thích hợp của lợn Rừng 49

4.5 Thời gian mang thai của lợn Rừng 51

4.6 Tuổi đẻ lứa đầu của lợn Rừng 53

4.7 Số lượng con sinh ra/lứa của lợn Rừng cái 55

4.8 Khối lượng lợn Rừng từ sơ sinh đến 10 tháng tuổi tại các địa bàn nghiên cứu 58

4.9 Thời gian động dục lại của lợn Rừng mẹ sau cai sữa lợn con 65

4.10 Khoảng cách giữa 2 lứa đẻ của lợn Rừng 67

4.11 Kết quả huấn luyện khai thác tinh lợn Rừng 69

4.12 Màu sắc tinh dịch của lợn Rừng 72

4.13 Lượng xuất tinh đã lọc của lợn Rừng (V, ml) 73

4.14 Hoạt lực tinh trùng của lợn Rừng (A, cho điểm từ 0,00 đến 1,00) 75

4.15 Nồng độ tinh trùng của lợn Rừng (C, triệu/ml) 77

4.16 Tổng số tinh trùng tiến thẳng trong lần xuất tinh của lợn Rừng (VAC, tỷ/lần) 79

4.17 Tỷ lệ kỳ hình của tinh trùng lợn Rừng (K, %) 80

4.18 pH tinh dịch của lợn Rừng 82

4.19 Tổng hợp số và chất lượng tinh dịch lợn Rừng 83

4.20 Kết quả bảo tồn tinh dịch lợn Rừng trong môi trường L.V.C.N 84

4.20a Chỉ số sức sống tuyệt đối (Sa=∑at) của tinh trùng lợn thí nghiệm được bảo tồn trong môi trường L.V.C.N 85

4.21 Tỷ lệ thụ thai và tỷ lệ đẻ của lợn Rừng và lợn Móng Cái được dẫn tinh bằng tinh dịch lợn Rừng 87

4.22 Tỷ lệ nuôi sống lợn con đến 24 giờ và 60 ngày tuổi sau khi sinh 90

4.23 Khối lượng sơ sinh và khối lượng 60 ngày tuổi (kg) 92

Trang 9

DANH MỤC ẢNH

4.1 Lợn Rừng trong nghiên cứu thành thục về tính ở 182 ngày tuổi 41

4.2 Lợn Rừng trong nghiên cứu phối giống lần đầu 47

4.3 Lợn cái trong nghiên cứu ở thời kỳ “mê ì” cho kết quả phối giống cao nhất 50

4.4 Lợn Rừng trong nghiên cứu đẻ lứa đầu 54

4.5 Số con sinh ra/lứa của lợn Rừng trong nghiên cứu 56

4.6 Lợn Rừng sơ sinh trong nghiên cứu 59

4.7 Lợn Rừng 60 ngày tuổi trong nghiên cứu 59

4.8 Lợn Rừng 8 tháng tuổi trong nghiên cứu 60

4.9 Lợn Rừng 10 tháng tuổi trong nghiên cứu 60

4.10 Làm quen với lợn đực trong nghiên cứu 69

4.11 Huấn luyện lợn đực trong nghiên cứu tiếp xúc giá nhảy 69

4.12 Lợn đực trong nghiên cứu tiếp xúc giá 70

4.13 Khai thác tinh lợn Rừng số 1 trong nghiên cứu 70

4.14 Khai thác tinh lợn Rừng số 2 trong nghiên cứu 71

4.15 Khai thác tinh lợn Rừng số 3 trong nghiên cứu 71

4.16 Tinh dịch lợn Rừng có màu trắng sữa 72

4.17 Kiểm tra chất lượng tinh dịch lợn 76

4.18 Tinh dich lợn Rừng trong nghiên cứu sau khi pha loãng trong môi trường L.V.C.N, bảo quản và đưa đi phối giống 86

4.19 Dẫn tinh cho lợn Rừng trong nghiên cứu 88

4.20 Dẫn tinh cho lợn Móng Cái trong nghiên cứu 88

4.21 Đàn lợn Rừng trong nghiên cứu sinh 10 con bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo 89

4.22 Đàn lợn Móng Cái lai lợn Rừng trong nghiên cứu sinh 10 con bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo 89

4.23 Đàn lợn Rừng và Rừng lai Móng Cái trong nghiên cứu ở 60 ngày tuổi 91

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

2.1 Sọc dưa trên thân của lợn con 14

2.2 Lợn 6 tháng tuổi (không còn sọc dưa) 14

2.3 Răng nanh của lợn Rừng đực 14

2.4 Má bạc ở lợn Rừng trường thành 14

4.1 Đồ thị so sánh tỷ lệ đàn lợn con sinh ra nuôi sống tới 24h tại các địa bàn nghiên cứu 61

4.2 Đồ thị so sánh tỷ lệ đàn lợn nuôi sống tới 60 ngày sau sinh tại các khu vực khác nhau 64

4.3 Đồ thị so sánh số lượng con/lứa giữa lợn Rừng và lợn Móng Cái 89

Trang 11

TRÍCH YẾU LUẬN ÁN

Tên tác giả: Phùng Quang Trường

Tên Luận án: Nghiên cứu xác định một số chỉ tiêu sinh sản và thử nghiệm thụ tinh

nhân tạo cho lợn Rừng trong điều kiện nuôi nhốt tại khu vực phía Bắc Việt Nam

Chuyên ngành: Sinh sản và Bệnh sinh sản gia súc Mã số: 62 64 01 06

Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Mục đích nghiên cứu

- Xác định một số chỉ tiêu sinh sản của lợn Rừng nhập nội từ Thái Lan trong điều

kiện nuôi nhốt tại một số tỉnh phía Bắc Việt Nam

- Khai thác và thử nghiệm thụ tinh nhân tạo cho lợn Rừng và lợn Rừng lai lợn Móng Cái trong điều kiện nuôi nhốt

Đối tượng nghiên cứu

Các chỉ tiêu về sinh sản được thực hiện trên đàn lợn Rừng được sinh ra từ đàn lợn Rừng nhập nội từ Thái Lan được nuôi tại các trang trại tại huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình, huyện Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc và huyện Ba Vì Thành phố Hà Nội

Thử nghiệm thụ tinh nhân tạo cho lợn Rừng Thái Lan trong điều kiện nuôi nhốt: 4 lợn đực Rừng được đánh ký hiệu R1, R2, R3, R4 được huấn luyên khai thác tinh tại trang trại Huệ Linh, lợn Rừng cái và lợn Móng Cái được sử dụng TTNT tại trang trại

Mỹ Hạnh thuộc huyện Ba Vì Hà Nội

Phương pháp nghiên cứu

- Sử dụng các phương pháp thường quy đang được áp dụng cho việc nghiên cứu theo dõi chỉ tiêu sinh sản, đánh giá chất lượng tinh dịch và thử nghiệm thụ tinh nhân tạo

trên lợn Rừng và lợn Rừng lai lợn Móng Cái

- Phương pháp nghiên cứu thử nghiệm thụ tinh nhân tạo cho lợn Rừng trong điều

kiện nuôi nhốt: Phương pháp huấn luyện và khai thác tinh lợn, chất lượng tinh dịch, thử

nghiệm thụ tinh nhân tạo cho lợn Rừng và lợn Móng Cái

- Áp dụng các phương pháp phân tích thống kê toán học trong nghiên cứu để bố trí thí nghiệm, lấy mẫu, xử lý số liệu và đánh giá kết quả đảm bảo yêu cầu khách quan

và độ chính xác cho phép với sự hỗ trợ của một số phần mềm Excel, SPSS

Trang 12

Kết quả chính và kết luận

- Luận án là công trình nghiên cứu có hệ thống về một số chỉ tiêu sinh sản, sức sản

xuất tinh và khả năng ứng dụng Thụ tinh nhân tạo của lợn Rừng Thái Lan nhập nội trong điều kiện chăn nuôi ở Việt Nam

- Kết quả của luận án khẳng định được chất lượng tinh dịch của lợn Rừng Thái Lan trong điều kiện của Việt Nam Đặc biệt, chất lượng tinh dịch đã được nghiên cứu, khẳng định trong thử nghiệm thụ tinh nhân tạo của lợn Rừng và lợn Rừng lai lợn Móng Cái thông qua chỉ tiêu sinh sản của đàn lợn

- Kết quả của luận án là tài liệu tham khảo cho cán bộ chuyên môn, cán bộ quản

lý dùng trong nghiên cứu, giảng dạy, học tập ở các các trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp, cho các nhà nghiên cứu, cán bộ kỹ thuật, sinh viên ngành công nghệ sinh học, nông nghiệp và cho cơ sở chăn nuôi lợn Rừng giống sản xuất tinh phục vụ công tác thụ tinh nhân tạo trên lợn

Trang 13

THESIS ABSTRACT PhD candidate: Phung Quang Truong

Thesis title: Determination of some reproductive features of wild pigs and preliminary

application of artificial insemination in wild sows under captivity in the North of Vietnam

Major: Veterinary Theriogenology Code: 62 64 01 06

Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research Objectives

- Determination of some reproductive features of Thailand-originated wild sows under captivity in Vietnam

- Analyzing wild boars, semen and applying artificial insemination in wild sows

Materials and Methods

Eperimental animals

Reproductive characteristics are investigated in the wild sows born from Thailand-imported sows raised on the farms in Luong Son, Hoa Binh, Tam Dao, Vinh Phuc and Ba Vi, Ha Noi

Four boars coded as R1, R2, R3 and R4 were trained for semen collection Artificial insemination was carried out in wild sows and Mong Cai sows housed at My Hanh farm, Ba Vi, Ha Noi

Method of research

- The study used common methods which are applied in studying reproductive

features, evaluation of semen quality and trial of artificial insemination in wild sows and wild sows crossed breed

Methods of doing artificial insemination in pigs under captivity: Method of training of wild boars for semen collection, and semen quality, preliminary application

of artificial insemination in wild sows and Mong Cai sows

- Using statistical analysis in the research for experimental design, sample collection, data analysis and interpretation of results in an unbiased and exact manner with the assistance of Excel and SPSS programs

Trang 14

Main findings and conclusions

- This dissertation is a systematic research in some reproductive features, semen quality and application of artificial insemination in Thailand wild-imported pigs raised under captivity in Vietnam

- The result of this dissertation has affirmed the semen quality of Thailand wild imoported pigs under captivity in Vietnam Especially, semen quality was re-assessed through the research in aritificial insemination in wild and Mong Cai sows

- The sesults of this dissertation will be a references source for specialists, administrative executive in doing research, teaching, studying at Universities, colleges, middle-ranking schools, scientists, technical executives, students in the major of biotechnology, agriculture and for institutes farms that raising and breeding wild pigs for application of artificial insemination

Trang 15

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Lợn Rừng, một loài vật hoang dã với quần thể khá lớn và phân bố rộng khắp lãnh thổ Âu - Á (Eurasia) từ lâu đã được loài người khai thác làm thực phẩm và các vật dụng Lợn Rừng có nguồn gốc từ Bắc châu Phi và phần lớn từ vùng Âu - Á (Eurasia) kéo từ các đảo nước Anh (British Isles) đến Triều Tiên và các bán đảo Sunda Islands, vùng bắc kéo từ Nam Scandinavia tới Nam Siberia và Nhật Bản

Ý tưởng khai thác lợn Rừng – trong đó có việc chăn nuôi - để phục vụ con người, ở nước ta được Lê Hiền Hào (1973) khởi xướng trong cuốn sách “Thú kinh tế

ở miền Bắc Việt Nam” Tuy nhiên mãi đến năm 2001, một nông dân Bình Phước đã thuần dưỡng một vài con lợn Rừng và lai chúng với một loại lợn đen thường được các đồng bào vùng cao nuôi Đầu tư thấp, dễ nuôi, lợi nhuận cao nên lợn Rừng lai lợn Móng Cái đã tạo nên một sự kiện lớn trong chăn nuôi thời đó Trong thời gian

đó Thái Lan cũng đang có phong trào nuôi lợn Rừng trong các trang trại Năm 2005 một công ty tại Bình Phước đã nhập từ Thái Lan 100 con lợn Rừng Thái Lan về nuôi thử nghiệm và sau đó hàng ngàn con lợn Rừng được tiếp tục nhập khẩu về nuôi tại công ty Một phong trào nuôi lợn Rừng đã được nhen nhóm lên từ đó và được sự ủng hộ của nhà nước Việt Nam với mong muốn đa dạng vật nuôi và tạo điều kiện cho nông dân phát triển ngành chăn nuôi mới mang hiệu quả kinh tế cao

Đã từ lâu, nông dân Việt Nam đã biết nuôi lợn để phục vụ cho nhu cầu của mình và nó đã trở thành một ngành truyền thống Hiện nay, ngành chăn nuôi lợn

đã trở thành ngành sản xuất chính của nền nông nghiệp nước ta Trong chiến lược phát triển kinh tế đến năm 2020, ngành chăn nuôi sẽ được tổ chức lại theo hướng gắn với thị trường, bảo đảm an toàn dịch bệnh, vệ sinh thú y và cải thiện điều kiện an sinh xã hội, nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và vệ sinh an toàn thực phẩm Chăn nuôi sẽ cơ bản chuyển sang hướng sản xuất hàng hóa, trang trại, công nghiệp

Hiện nay, có nhiều giống lợn nhập ngoại được nuôi phổ biến ở khắp các địa phương trong cả nước, giúp nâng cao năng suất chăn nuôi, sản phẩm thịt lợn được cung ứng đầy đủ trên thị trường hàng ngày Nhưng khi đời sống về tinh thần và vật chất của con người ngày càng được nâng cao thì nhu cầu cũng chuyển dần từ số lượng sang chất lượng; nhu cầu về thực phẩm sạch có chất lượng tốt ngày càng lớn

Trang 16

Thịt lợn Rừng thơm ngon đặc trưng, bì giòn, ít mỡ, hàm lượng cholesterol thấp, được rất nhiều người ưa thích và trở thành món ăn đặc sản Nguồn thịt lợn Rừng trước đây chủ yếu là săn bắn trên Rừng, nhưng giờ đây nguồn cung cấp đó đã cạn kiệt; hơn nữa, nhà nước ta đã cấm săn bắn để bảo vệ loài lợn Rừng Chính vì vậy nghề chăn nuôi lợn Rừng hình thành và phát triển đã đáp ứng kịp thời nhu cầu của người tiêu dùng

Lợn Rừng không những thịt thơm ngon mà còn có sức đề kháng tốt, ít bệnh tật,

dễ nuôi; thức ăn của lợn Rừng có thể được tận dụng từ những sản phẩm phụ trong sản xuất nông nghiệp với chi phí thấp Chăn nuôi lợn Rừng không chỉ mang lại nguồn lợi nhuận cao mà còn góp phần làm đa dạng giống vật nuôi, đảm bảo chăn nuôi bền vững, an ninh lương thực và thực phẩm Vì vậy, nghề chăn nuôi lợn Rừng

ở nước ta tuy còn mới mẻ song ngày càng phát triển rộng rãi do nhu cầu sử dụng thịt lợn Rừng làm thực phẩm và xuất khẩu ngày càng tăng

Những năm đầu tiên, ở Việt Nam nuôi chủ yếu loại lợn Rừng có nguồn gốc từ Thái Lan, Trung Quốc; nhập theo con đường tiểu ngạch hay chính ngạch về nuôi, số khác được thuần dưỡng từ lợn Rừng Việt Nam Các nơi nuôi lợn Rừng đều nuôi theo kinh nghiệm hoặc nuôi theo hướng dẫn đơn giản, sơ sài của các tài liệu có nguồn gốc

từ trang trại ở Thái Lan hay là các bài báo viết dưới dạng cảm tính chủ quan

Đối với các nhà khoa học Việt Nam, lợn Rừng thực sự là đối tượng mới, các thông tin hay các nghiên cứu về nó còn rất ít Cũng giống như các loài vật nuôi khác, lợn Rừng nuôi trong gia đình, trang trại cũng gặp phải những khó khăn: Môi tường sống bị thu hẹp, dịch bệnh chưa được nghiên cứu đầy đủ, các tài liệu hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi còn hạn chế, các nghiên cứu về khả năng sinh sản của lợn Rừng chưa nhiều Muốn phát triển đàn lợn Rừng một cách bền vững, bảo vệ được nguồn gen quý giá và tính đa dạng sinh học của thế giới tự nhiên, cần phải có những nghiên cứu sâu hơn, rộng hơn về sinh lý sinh sản của nó để đưa ra được những số liệu khoa học, những thông tin chính xác

Thụ tinh nhân tạo (TTNT) là kỹ thuật mà con người tiến hành lấy tinh dịch từ con đực rồi dùng dụng cụ chuyên dụng bơm tinh dịch vào đường sinh dục con cái khi chịu đực Đây là biện pháp cải tạo giống nhanh nhất, tốt nhất, tiên tiến nhất nhằm tạo

ra đàn con có sản lượng cao, phẩm chất tốt nhất Trong chăn nuôi lợn Rừng tại Việt Nam, việc khai thác, đánh giá chất lượng tinh dịch và thụ tinh nhân tạo trên lợn Rừng

và lợn Rừng lai với lợn bản địa còn rất hạn chế, chưa có nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực này Vì vậy các số liệu khoa học, những thông tin về vấn đề này còn bỏ ngỏ và

Trang 17

mới mẻ Việc nghiên cứu về khai thác, đánh giá chất lượng tinh dịch và thụ tinh nhân tạo trên đối tượng lợn Rừng là một vấn đề cấp thiết hiện nay

1.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

- Xác định, đánh giá một số chỉ tiêu sinh sản của lợn Rừng nhập nội từ Thái Lan qua các chỉ tiêu: Tuổi thành thục về tính, tuổi phối giống lần đầu, thời điểm phối giống thích hợp, thời gian mang thai, tuổi đẻ lứa đầu, thời gian động dục lại sau khi cai sữa, số lượng con sinh ra/lứa, khối lượng ở các lứa tuổi, tỉ lệ nuôi sống đến 24h, tỉ lệ nuôi sống đến 60 ngày, khoảng cách 2 lứa đẻ, chu kì động dục

- Khai thác đánh giá chất lượng tinh lợn Rừng đực Thái Lan và thử nghiệm thụ tinh nhân tạo cho lợn Rừng và lợn bản địa (Móng Cái) trong điều kiện nuôi nhốt: Phương pháp huấn luyện và khai thác tinh lợn, chất lượng tinh dịch, thử nghiệm thụ tinh nhân tạo cho lợn Rừng và lợn bản địa (Móng Cái)

1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI

- Kết quả của luận án là công trình khoa học công bố tổng hợp về một số chỉ tiêu sinh sản của lợn Rừng trong điều kiện nuôi nhốt tại miền Bắc Việt Nam

- Kết quả của luận án là công trình khoa học lần đầu tiên đã đánh giá được số lượng, chất lượng tinh dịch và thử nghiệm thụ tinh nhân tạo cho lợn Rừng và lợn Rừng lai lợn Móng Cái

Trang 18

1.5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

- Kết quả nghiên cứu của đề tài về một số chỉ tiêu sinh sản của lợn Rừng trong điều kiện nuôi nhốt tại miền Bắc Việt Nam là tư liệu cơ sở cho người chăn nuôi và nhà chuyên môn đề ra phương pháp quản lý, chăm sóc nuôi dưỡng nâng cao khả năng sinh sản của lợn Rừng

- Kết quả nghiên cứu về khai thác và thử nghiệm thụ tinh nhân tạo cho lợn Rừng và lợn Rừng lai lợn Móng Cái là cơ sở cho việc nhân giống lợn Rừng chất lượng cao và tăng hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi lợn Rừng Đây là nội dung mới được nghiên cứu tại Việt Nam

- Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở cho việc đề ra những chính sách cụ thể nhằm quản lý và phát triển đàn lợn Rừng cả về số lượng và chất lượng, nâng cao hiệu quả chăn nuôi, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn và nhu cầu ngày càng cao của xã hội

Trang 19

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI LỢN RỪNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 2.1.1 Nguồn gốc của lợn Rừng

Lợn Rừng có nguồn gốc từ Bắc châu Phi và phần lớn từ vùng Âu - Á (Eurasia) kéo từ các đảo nước Anh (British Isles) đến Triều Tiên và các bán đảo Sunda Islands, vùng bắc kéo dài từ Nam Scandinavia tới Nam Siberia và Nhật Bản

Lãnh địa của lợn Rừng đã thay đổi rất lớn một phần do săn bắn, một phần lợn Rừng bị bắt nhốt thoát khỏi quay trở lại hoang dã Sau nhiều năm quần thể bị giảm xuống Tại Anh vào khoảng thế kỷ XIII lợn Rừng bị tuyệt chủng Tại Đan Mạch con lợn Rừng cuối cùng bị bắn vào đầu thế kỷ XIX , những năm 1900 lợn Rừng tại Tunisia, Sudan, Đức, Austria và Italy đều không còn Những năm 1930 tại Nga lợn Rừng từng biến mất hẳn trong tự nhiên (Võ Văn Sự, 2013)

Ngược lại, trong thời gian này lại tồn tại những quần thể lợn Rừng rất lớn tại Pháp và Tây Ban Nha mặc dù chúng cũng bị săn bắn rất nhiều để phục vụ thực phẩm và thể thao

Sự trở lại của các quần thể lợn Rừng bắt đầu từ thế kỷ trước Năm 1950 lợn Rừng một lần nữa đạt đỉnh cao về chiếm lĩnh lãnh thổ tại quê hương của chúng ở vùng châu Á Năm 1960 lợn Rừng lan đến Saint Petersburg và Moscow, năm 1975 người ta bắt gặp loài này ở Archangelsk và Astrakhan Những năm 1970 chúng có mặt tại Đan Mạch và Thụy Sỹ, nơi đây lợn bị bắt nhốt đã đào thoát vào rừng và sống trong hoang dã Vào năm 2000 tại Thụy Điển có khoảng 80.000 con lợn Rừng, nhưng nay có thể đến 100.000 con Những năm 1990 lợn Rừng di chuyển sang vùng Tuscany (Italy) Tại Anh, lợn Rừng lại tái đàn vào những năm 1990 sau khi thoát khỏi các trại nuôi trước đó nhập từ châu Âu (Võ Văn Sự, 2013)

Khoảng năm 1493, Christopher Columbus đã đưa vào vùng West Indies (Mỹ)

8 con lợn Rồi đến giữa thế kỷ XVI, XVII lợn Rừng đã được nhập vào vùng lãnh địa chính của Mỹ Đến thế kỷ XX lợn Rừng Eurasian (Âu, Á) thuần cũng được đưa vào

Mỹ Có rất nhiều quần thể lợn Rừng có tại Australia, New Zealand và Nam – Bắc

Mỹ (Võ Văn Sự, 2013)

Vùng sống của lợn Rừng Eurasian khá đa dạng, từ ôn đới tới nhiệt đới, bán sa mạc tới các rừng ẩm ướt, đồng cỏ cho tới rừng rậm, và thường đến những vùng cây

Trang 20

trồng để kiếm ăn Lợn Rừng sống ngay cả vùng Pyrenees có độ cao 2400 m, nhưng

ở châu Á chúng còn sống cao hơn (Võ Văn Sự, 2013)

Đầu thế kỷ XX, lợn Rừng (thuần) được đưa vào phục vụ săn bắn Đồng thời người ta cũng cho lai với lợn nhà tạo nên thế hệ con lai và nuôi thả rông phục vụ mục đích phục vụ săn bắn, như Nam Mỹ, New Guinea, New Zealand, Australia’ (Võ Văn

Sự, 2013)

Một số loài phụ lợn Rừng được thuần hóa thành lợn nhà, như loài phụ lợn

Rừng phổ thường (Common wild boar - Sus Scrofa Scrofa) (Võ Văn Sự, 2013) Lợn Rừng có tên khoa học là Sus scrofa, được phân loại là động vật có hộp sọ,

có xương sống, có quai hàm, có 4 chân, có màng ối, có vú, có nhau, bộ guốc chẵn, thuộc chi Lợn Chúng được Liên minh bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) xếp vào loài ít quan tâm

Tính tới năm 2005, có 16 phân loài được công nhận Lợn Rừng sống theo nhóm mẫu hệ gồm các con đực non, con cái và con của chúng Con đực trưởng thành thường sống đơn độc trừ khi vào mùa sinh sản.Sói xám là thiên địch chính của lợn Rừng tại hầu hết phạm vi sinh sống của chúng Chúng là tổ tiên của hầu hết các giống lợn nhà và là một loài thú săn trong nhiều nghìn năm

Loài lợn Rừng có tên khoa học là Sus Scrofa, thuộc chi Sus, họ Suidae, bộ

Artiodactyla, lớp động vật có vú, ngành Chordata, giới animalia tiếng Anh là wild hogs, wild boars Synonyms: Eurasian wild boar (Võ Văn Sự, 2013)

Lợn Rừng nằm trong danh sách các loài bị đe dọa (Red List of threatened species) của IUCN (Liên minh bảo tồn thiên nhiên quốc tế) (Võ Văn Sự, 2013)

Các loài phụ (subspecies) được phân biệt bằng độ dài tương đối và hình dạng của xương lệ (lacrimal bone) Loài phụ S scrofa cristatus và S scrofa vittatus có xương này ngắn hơn các loài phụ European Lợn Rừng Tây Ban Nha và Pháp có

nhiễm sắc thể là 36 cặp, ngược lại với các loại lợn Rừng còn lại của châu Âu có 38 cặp, giống như lợn nhà

Các loài phụ được chia làm 4 nhóm:

Nhóm Tây Âu (Western races -scrofa group) gồm: Sus scrofa scrofa, Sus

scrofa baeticus, Sus scrofa castilianu, Sus scrofa meridionalis, Sus scrofa major, Sus scrofa attila, Sus scrofa algira, Sus scrofa lybica, Sus scrofa sennaarensis, Sus scrofa nigripes.

Trang 21

Nhóm Ấn Độ (Indian races -Cristatus) gồm: Sus scrofa cristatus, Sus scrofa

affinis, Sus scrofa davidi

Nhóm miền Đông (Eastern races - Leucomystax) gồm: Sus scrofa ussuricus,

Sus scrofa leucomystax, Sus scrofa riukiuanus, Sus scrofa taivanus, Sus scrofa moupinensis, Sus scrofa sibiricus

Nhóm Sundaic - Vittatus: Sus scrofa vittatus

Theo trung tâm hợp tác nghiên cứu Quốc tế phát triển Nông nghiệp (Pháp) thì lợn Rừng có tới 36 giống phân bố ở hầu khắp các lục địa trên thế giới Nhưng chủ yếu phân bố vùng Bắc Phi; Châu Âu, phía nam nước Nga, Trung Quốc, vùng Trung Đông, Ấn Độ, Sri Lanka, Indonesia (Sumatin, Java, Sumbawa), đảo Corse, Sardiaigue, những vùng sâu, vùng xa của Ai Cập và Sudan Tuy nhiên, theo tài liệu khác thì lợn Rừng cũng được tìm thấy rất nhiều ở miền Tây Ấn Độ, Hoa Kỳ (California, Texas, Florida, Virginia, Hawai ) Australia, New Zealand và các đảo thuộc vùng biển nam Thái Bình Dương

Theo đó vùng duyên hải nam Trung Quốc và nam Việt Nam có giống

Sus.Serofa Moupinensis và Thái Lan có Sus.Serofa Cristatus

Tuy nhiên lợn Rừng tại Thái Lan là phân loài Sus.Serofa Jubatus (Kvisna Keo

Sua Um and Phira Krai Xeng Xri, 2005) Phân loài này cũng có tại Malaysia

Phân loài Sus scrofa moupinensis là loài lợn Rừng nhỏ và bờm ngắn có từ Việt

Nam và Trung quốc

Có nhiều dạng trong phân loài này và có thể có một vài phân loài liên quan Tuy nhiên lợn Rừng miền Nam Việt Nam được gọi là lợn Heude (lấy tên người phát hiện ra nó là Heude (1892) và có tên khoa học là Sus bucculentus) Cũng còn được gọi là “Indochinese Warty Pig” hoặc “Vietnam Warty Pig” Mặc dù vậy 100 năm sau, năm 1995 các nhà sinh học mới phát hiện được hai cái sọ được tìm thấy tại thung lũng Đồng Nai Sau đó phát hiện một mẫu (sọ) nữa được tìm thấy tại tỉnh Sayphou Louang, phía Đông Sông Mê Kong (Vĩ độ 18º19'N, 104º44'E), Lào Tuy nhiên nghiên cứu mới nhất về ADN ti lạp thể mitochondrial DNA cho thấy lợn Rừng ở Miền bắc Việt Nam có lẽ cũng giống như lợn Rừng Miền nam Kết quả cho thấy việc phân biệt này chưa chắc chắn nên có thể gọi chung là lợn Rừng Sus scrofa

Phân loài Sus scrofa vittatus được gọi là Lợn vạch (banded): Đây là loại lợn

có mặt ngắn, lông thưa thớt với vạch trắng trên mồm Có mặt tại Peninsular Malaysia, và Indonesia từ Sumatra và Đông Java đến Komodo Các loài phụ này

Trang 22

có thể là các loài tách biệt nhưng có một số đặc điểm giống các phân loài lợn Rừng

ở Đông Nam Á

Tại Thái Lan hầu như tất cả các vườn quốc gia của họ đều có lợn Rừng, như: Chae Son National Park, Chaloem Phrakiat Thai Prachan National Park, Doi Chong National Park

Doi Inthanon National Park, Doi Luang National Park, Doi Phu Nang National Park, Doi Suthep-Pui National Park, Erawan National Park, Kaeng Chet Khwae National Park

2.1.2 Chăn nuôi lợn Rừng trên thế giới

Trong một số nước như Pháp và Italia, lợn Rừng được nuôi để ăn thịt và thường được bán trong quán ăn hoặc khách sạn, mặc dù người ta cho rằng thịt lợn Rừng có liên quan đến việc lây truyền bệnh Hepatitis E từng đã được phát hiện ở Nhật Ở Đức thịt lợn Rừng được xếp vào hạng thịt đắt tiền

Hình ảnh lợn Rừng ngày nay trong đời sống con người khá đa dạng, nó được khuyến khích săn bắn như ở Pháp, săn bắn để xuất khẩu như ở Malaysia hoặc được nuôi trong các vùng quốc gia phục vụ du lịch như Mỹ, Thái Lan, thịt tươi được bán tại các cửa hàng như Italia, được nuôi thành trang trại như Anh, Mỹ, Pháp, Thái Lan và có nơi còn bỏ mặc chúng ra sinh sống thậm chí ở cả thủ đô như Đức (Võ Văn Sự, 2013)

Pháp là nước nuôi khá nhiều lợn Rừng, có đến 800 trại (Chăm niên Thoong Phăn Chăng, 2005) Ngay trong tự nhiên số này đã rất lớn: năm 2004-2006 ước tính có 415.000 con và năm 2007-2008 đã tăng lên 522.000 con (Selena, 2010) Riêng mùa Đông năm 2010 thợ săn đã săn 500.000 con, gấp 10 lần so với 30 năm trước mặc dù mức độ săn bắn càng ngày càng tăng nhanh, nhưng đàn lợn cũng sinh sản nhanh đến mức mà thợ săn đã kêu gọi một “cuộc chiến với lợn Rừng” (Hugh, 2010)

Nước Anh nuôi lợn Rừng theo kiểu chăn nuôi hữu cơ (organic farming) Tại nước này có hai kiểu được ứng dụng, đó là quảng canh (thả tự do – free managed) và thâm canh (brown-dirt’ farming) Kiểu đầu được ưa chuộng hơn vì đảm bảo được yêu cầu về quyền động vật (animal welfare) và thịt lợn sản xuất ra cũng có vị ngon hơn Kiểu này yêu cầu phải có các trang bị như đất, hàng rào, các công cụ xử lý lợn, đàn giống Tuy nhiên, nhược điểm lớn nhất của kiểu này là lợn phá hủy lớp trên của bề mặt đất Lợn Rừng được xem là động vật nguy hiểm

Trang 23

và nằm trong sự quản chế của luật “Luật động vật nguy hiểm - Dangerous Wild Animals Act 1976 (Modification) Order 1984” (Farm Diversitification, 2010) Theo Farm Diversitification (2010) thì tại nước Anh hiện có 100 trang trại chăn nuôi lợn Rừng, riêng tại Scotland đã có 30 trại với khoảng 2.000 lợn nái sinh sản

Tại Anh, thịt lợn Rừng đã có trong thực đơn của người nước này hàng ngàn năm trước đây Săn bắn lợn Rừng là môn “thể thao”, còn thịt lợn Rừng là thực phẩm cho nô lệ (noble classes) Ba trăm năm trước, lợn được săn bắn nhiều đến mức tận diệt Rất may chúng còn tồn tại ở Đức, Pháp, Đan Mạch và từ các nước này lợn Rừng được đưa quay trở lại nước Anh và được nhân giống, nuôi dưỡng ở những trang trại chăn nuôi thuận lợi (Farm Diversitification, 2010)

Lợn Rừng sinh sản một năm một lần, đẻ con vào mùa Xuân, 6 con/ổ, 12-18 tháng đạt trưởng thành Mức sinh sản như thế không lợi về kinh tế Vì thế một số nông dân lai lợn Rừng với lợn nhà nhằm cải tạo tính trạng này, nhưng mùi vị (flavour) lại không đạt được như lợn Rừng (Farm Diversitification (2010)

Một trang trại có tiếng, đó là Trang trại Graig Farm 9, tại đây lợn tự kiếm ăn trên nền đất và đồng cỏ Tuy nhiên, do hạn chế địa bàn hoạt động nên lợn được bổ sung thêm rau, quả, củ như khoai tây với cám Lợn Rừng được chăn nuôi theo hướng hữu cơ mà như tiêu chí được đề ra của “The Natural Home of Organic Food – Ngôi nhà tự nhiên thực phẩm hữu cơ” (Farm Diversitification, 2010)

Người ta cho rằng lợn Rừng được du nhập đến đây bởi ông thương gia Hernando de Soto vào năm 1539 Tại đây chúng được nuôi thả tự do phục vụ săn bắn Lợn Rừng cũng được thả trên đồng cỏ như ở Anh (Farm Diversitification, 2010) Tại Mỹ:

Có hình thức tạo con lai giữa lợn Rừng và lợn nhà và nuôi thả trong các vuờn quốc gia để phục vụ săn bắn gọi là Wild Game boar Loại lợn này cũng được mổ thịt

và xuất bán Công ty B W Procurement LLC tại bang Texas là một trong những tổ chức hoạt động bán thịt lợn Rừng loại này với chứng chỉ chất lượng của (USDA) (Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ) và EU

Tại Thái Lan:

Theo Chăm niên Thoong Phăn Chăng (2005), việc săn bắn lợn Rừng ở Thái Lan cũng xảy ra nhiều do không bị cấm Có ngày hàng ngàn kilogram thịt lợn Rừng

Trang 24

bị săn bắn được bán trên thị trường Hơn thế, “Tổ hợp tác nuôi lợn Rừng Sa Sơng Sau” cho biết do thiếu nên thịt lợn Rừng cũng được nhập từ Malaysia với số lượng khoảng 10 tấn trong một ngày Tuy nhiên do nhu cầu tăng nên dân chúng đã thuần dưỡng và chăn nuôi chúng

Cũng theo tác giả trên, thì chăn nuôi lợn Rừng ở Thái Lan có thể đã xuất hiện khoảng năm 2000 mới có hai ba trại, thì năm 2002 đã có đến hàng trăm trang trại ở tất cả các tỉnh

Có những giai đoạn nhu cầu nội địa và xuất khẩu tăng, các lái buôn tranh nhau gom hàng, dân chúng đua nhau nuôi lợn Rừng, thành lập các hiệp hội, các trang trại chuyên hóa: lợn giống, lợn sinh sản, hậu bị, lợn thịt Các loại thức ăn chuyên cho lợn Rừng cũng được sản xuất Nhà nước cũng có tác động tới: “Tổ hợp tác nuôi lợn Rừng Sa Sơng Sau” cho biết hiện nay ngân hàng ủng hộ cho vay vốn để nuôi lợn Rừng (Chăm niên Thoong Phăn Chăng, 2005)

Qui mô chăn nuôi cũng khác nhau, nhà nông dân nuôi đôi ba con, nhưng cũng có trang trại đến ngàn con trên một diện tích lớn cả 10 ha Số lợn nái trong một trang trại nuôi lợn sinh sản dao động từ 10 đến 200 nái (Chăm niên Thoong Phăn Chăng, 2005)

Vì sao ở Thái Lan lợn Rừng được đánh giá cao? Theo Chăm niên Thoong Phăn Chăng (2002) thì thịt lợn Rừng khá ngon, đậm đà, không mỡ, các món chế biến từ

da lợn Rừng khá hấp dẫn thực khách bởi dòn, mềm Thêm nữa, người nông dân đã rất khó khăn trong việc nuôi lợn thông thường Trong lúc đó, nuôi lợn Rừng cần ít vốn hơn 5 lần so với việc nuôi lợn thường, lợn ít bệnh, chuồng trại không cầu kỳ, lợn Rừng lại ăn tạp Lợn Rừng đương nhiên hung dữ, nhưng nếu biết cư xử với chúng thì chẳng vấn đề gì

Công ty TNHH trang trại Quốc Tế (huyện Châu Thành tỉnh Nakhon Pa Thổm) cho biết: Lợn Rừng dễ nuôi, không cần chăm sóc quan tâm lắm; Có sức đề kháng cao, từ lúc nuôi lợn Rừng đến nay không hề xuất hiện một thứ bệnh tật nào cho lợn Rừng cả, không giống với lợn nhà; Tiêu thụ lượng thức ăn chỉ bằng 1/5 thức ăn của lợn nhà Và cho rằng: “Lợn Rừng là lợn cho nhà nghèo nuôi để bán cho những người giàu ăn bởi vì chi phí bỏ ra rất ít nhưng lại bán đắt”

Nhân giống: Cũng theo tác giả trên, tại Thái Lan, người ta cũng lai lợn Rừng mặt dài với mặt ngắn để tạo ra con lai thích nghi và khỏe mạnh hơn Đôi nơi còn lai giữa lợn Rừng đực với lợn cái Duroc để tạo con lai thương phẩm

Trang 25

Theo Chăm niên Thoong Phăn Chăng (2002), tỉ lệ chết đến khi cai sữa là 20%, các loại bệnh xảy ra với lợn nhà cũng có thể xảy ra với lợn Rừng và lây sang lợn Rừng được như nhau, như bệnh lây nhiễm vi khuẩn vi rút, nấm mốc, sán lãi kể cả bên ngoài và bên trong Trên thực tế mà nói, thường hay gặp các loại vi trùng lạ ở trong làng mạc mà đem lợn Rừng về nuôi có khả năng lây lan sang lợn nhà được

2.1.3 Chăn nuôi lợn Rừng tại Việt Nam

Theo Lê Hiền Hào (1973), ở miền Bắc, lợn Rừng hầu như có mặt tất cả các vùng, với môi trường sống rất đa dạng Số lượng săn bắn và đánh bẫy được hàng năm khoảng 1 vạn con

Miền Trung (Quảng Ngãi, Khánh Hòa, Phú Yên…) còn có tập quán Tết ăn thịt lợn Rừng lấy “hên” (may) “Từ 20 tháng Chạp âm lịch đến mùng 4 Tết, thịt lợn Rừng

ở thị trấn Trà My (Bắc Trà My), hay Tắk Pỏ có giá dao động từ 400.000 đồng/kg; thịt rắn hổ mang từ 200.000 đồng/kg; thịt nai từ 350.000 đồng/kg…, tăng gấp 2- 3 lần ngày thường” (Ba Em và Bích Đào, 2011)

Theo Võ Văn Sự (2013), chăn nuôi lợn Rừng mang lại hiệu quả kinh tế cao vì các lý do: tốn ít chi phí đầu tư, nguồn thức ăn vô cùng phong phú sẵn có trên mọi vùng trong cả nước nên dễ chủ động lợn Rừng thường có sức đề kháng tốt nên rất ít xảy ra dịch bệnh Thịt lợn Rừng nhiều nạc, ít mỡ, da mỏng thơm ngon rất đặc trưng, hàm lượng cholerterol thấp, người tiêu dùng rất ưa chuộng nên bán được giá cao, tỷ

lệ hao hụt trong chăn nuôi lợn Rừng thấp nên thu nhập từ chăn nuôi lợn Rừng thường cao hơn gấp 2-3 lần so với nuôi lợn nhà

Tuy nhiên lợn Rừng ngày càng trở nên khan hiếm do săn bắn quá nhiều, rừng lại ít đi Mặc dù không nằm trong danh sách “đỏ” nhưng chúng vẫn bị cấm săn bắn

và nuôi nó cũng phải có giấy phép của kiểm lâm, kể cả khi con giống vốn là lợn Rừng nhập từ Thái Lan

Chưa thấy nhiều thông tin nhập thịt lợn Rừng từ nước ngoài về Việt Nam Duy nhất có một trường hợp, đó là từ năm 2004 một quán bán thịt lợn Rừng nhập từ Australia: “Quán Đồi Sung”, đường Trần Quang Khải, quận Tân Bình (Chu Khôi và Đinh Tịnh, 2007)

Chăn nuôi lợn Rừng tại Việt Nam bắt đầu từ năm 2001 với việc ông Bảy Dũng (50 tuổi, cán bộ Phòng Kiểm sát huyện Đông Phú, tỉnh Bình Phước) vốn là một thợ săn Ông thuần hóa một số lợn đực Rừng và đồng thời dùng lợn đực Rừng lai với giống lợn đen của các dân tộc thiểu số vùng đó Đến tháng 10 năm 2006, ông đã bán

Trang 26

được 300-400 con với giá 200.000 đồng/kg Năm đó đàn lợn của ông còn 3 đực giống lợn Rừng Việt Nam (ước tính trên 100kg/con), 25 lợn lai giữa lợn Rừng Việt Nam và lợn bản địa Ông cũng nuôi 1 lợn con (20 kg) lợn Rừng VN Đầu tư ít, thu hoạch lớn, nên nhiều người đã làm theo nhau chăn nuôi loại vật này Và một bước ngoặt lớn đã đến với nghề chăn nuôi mới mẻ này, đó là tháng 5/2005 Công ty TNHH Khánh Giang đã nhập đầu tiên 100 lợn Rừng Thái Lan về Bình Phước Theo Giấy phép số 409/CV - NN - CN ngày 23/3/2005 và số 594/TY - KD ngày 25/5/2005 (Đỗ Kim Tuyên, 2006) Tiếp đó hàng ngàn lợn được các công ty khác nhau, nhiều nhất là

“Công ty Bạn của Bạn” của ông Trương Ngạt nhập về

Theo Đỗ Kim Tuyên (2006), qua nghiên cứu chăn nuôi của Công ty Khánh Giang cho biết, lợn Rừng Thái Lan “ăn và sử dụng có hiệu quả nhiều loại thức ăn có trong tự nhiên hơn bất kỳ vật nuôi nào mà con người đã có”, như “cây chuối, hoa chuối, bẹ chuối, rau muống, rau đắng, ngọn mía, bèo tây, lá rau lấp, ngô hạt, ngô bắp, cây ngô, củ sắn, khoai tây, măng tre, cỏ tươi, xoài, dưa hấu, vỏ mít, rau sống Các loại rau trồng, rau dại, phần bỏ đi của tất cả các loại rau sau khi mua bán loại ra

ở chợ đều có thể làm thức ăn cho lợn Rừng” Chúng có khả năng thích ứng và đề kháng tốt với khí hậu nóng ẩm của Miền Đông Nam Bộ, ít bệnh tật, dễ thích ứng với điều kiện nuôi dưỡng và chăm sóc của nông dân Việt Nam Tỷ lệ sinh sản cao: 2,5 lứa đẻ/năm, 5 - 10 con/lứa Khả năng sử dụng thức ăn rất tốt (chi phí thức ăn hàng ngày chỉ bằng 1/5 lợn nhà), nguồn thức ăn dễ tìm và rẻ Chi phí xây dựng chuồng trại thấp Giá bán giống và sản phẩm lợn Rừng cao do nhu cầu thị trường trong nước

về giống và thịt lợn Rừng hiện nay là rất lớn

Ở Việt Nam, trước đây lợn Rừng được săn bắn tự do, do chúng sinh sản nhiều, phá mùa màng, thậm chí gây tai nạn cho người Cũng như nhiều nước khác, thịt lợn Rừng được xem là thịt đặc biệt, ngọt, thơm, da giòn, ngon Giá bán một kg thịt lợn Rừng săn đắt gấp 2-4 lần thịt lợn thường Đầu lợn được trau chuốt lại treo vào những vị trí trang trọng trong nhà; răng nanh được mài dũa, lắp thêm những nạm bạc

và mắc vào dây chuyền đeo cổ

Ở nước ta có hai dòng lợn Rừng nuôi chính là lợn Rừng Thái Lan và lợn Rừng Việt Nam Lợn Rừng Thái Lan có thân ngắn-béo, má phệ, bụng phệ, chân xoạc, lông ngắn, ít bờm, nhiều con chân trắng Lợn Rừng Việt Nam có thân dài-lép, dáng thon,

má phệ, chân cao, có lông bờm dài, móng chụm và đen Khi mới sinh, lợn Rừng Việt Nam có sọc dưa vàng đậm nét hơn lợn Rừng Thái Lan

Trang 27

Đa phần lợn Rừng nuôi tại Việt Nam là lợn Thái Lan Kỹ thuật nuôi cũng một phần được du nhập từ nước này Theo Tăng Xuân Lưu và cs (2010) lợn Rừng chủ yếu được nuôi ở phía Nam (khoảng 65%) tại các tỉnh: Bình Dương, Bình Phước, Thành phố Hồ Chí Minh Trang trại của công ty Khánh Giang được coi là lớn nhất phía Nam với 200 con lợn Rừng nái Ngoài ra, còn các trang trại khác: Trang trại ở Long An có 60 nái, trang trại ở Vũng Tàu có 80 nái, trang trại ở Tây Nguyên với 35 nái, trang trại ở Nha Trang có 30 nái, trang trại ở Phú Yên có 20 nái, ở Đà Nẵng có 40 nái, trang trại Lý Phong Sắc ở Hà Tĩnh có 30 nái, ở Vĩnh Yên có 80 nái, 8 trang trại ở Hoà Lạc có 170 nái, hệ thống thuộc mô hình của Viện Chăn nuôi đặt tại khu vực Ba

Vì có 120 nái Các trang trại ở các tỉnh khác cũng phát triển rải rác với 5 - 15 nái được bắt nguồn từ các trang trại của Viện Chăn nuôi từ năm 2008 tới nay

2.2 ĐẶC ĐIỂM, ĐẶC TÍNH, SINH TRƯỞNG VÀ SINH SẢN CỦA LỢN RỪNG 2.2.1 Đặc điểm và đặc tính của lợn Rừng

Cơ thể tròn trịa (compact), đầu to, chân hơi ngắn, bộ lông gồm lông thô cứng

và lông mịn hơn, màu biến động từ xám tối tới màu đen hay màu nâu và có sự khác nhau giữa các vùng địa lý Thậm chí đã bắt gặp cả lợn Rừng có màu hơi trắng tại Trung Á, mùa Đông màu lông lợn sẫm hơn Con trưởng thành dài khoảng 120-

180 cm và cao vai khoảng 90 cm, nặng khoảng 50-90 kg với sự dao động lớn theo vùng địa lý Tại Italia lợn Rừng nặng 80-100 kg; tại Tuscany có con nặng 150 kg, tại Pháp là 227 kg, tại Rumani và Nga có khi đến 300 kg (Võ Văn Sự, 2013)

Răng nanh phát triển không ngừng, ở con đực trưởng thành dài khoảng 20 cm (thậm chí 30 cm) và một nửa nhô ra ngoài miệng Các răng nanh trên dưới tương đối khớp với nhau nên khi miệng khép lại chúng tạo nên “cái kìm” sắc Đây là một công

cụ nguy hiểm đối với kẻ thù

Theo Tăng Xuân Lưu (2010), lợn con khi mới sinh ra có các sọc dưa kéo dọc thân màu son, sô cô la và kem Các sọc này sẽ mất đi lúc 6 tháng tuổi Lợn trưởng thành đều có những điểm chung là má bạc, lợn đực thường có bộ răng nanh to và dài

Theo Tăng Xuân Lưu (2010), kích thước như sau: dài thân: 90-200 cm, cao: 55-110cm, dài đuôi: 15-40 cm, nặng: 44-320 kg, tuổi sống: 15-20 năm

Lợn được thuần hóa có thể sổng đi và trở thành tái hoang dã (feral) và tạo nên các vấn nạn như: phá mùa màng, ăn trứng của các loài chim, ăn trứng rùa làm tổ dưới đất, truyền bệnh Lợn tái hoang dã có thể phối với lợn Rừng và đẻ con có ngoại

Trang 28

hình hệt như lợn Rừng Con của chúng sẽ khó phân biệt với con lợn Rừng thật Tại New Zealand loại lợn tái hoang dã được gọi là “Captain Cookers” hoặc “tuskers” Năm 2004, tại Mỹ, đã phân tích gene của một con lợn được nghi là dạng “tái hoang dã” và kết luận nó mang cả hai loại gene của lợn nhà và lợn Rừng

Hình 2.1 Sọc dưa trên thân

của lợn con

Nguồn: Tăng Xuân Lưu (2010)

Hình 2.2 Lợn 6 tháng tuổi (không còn sọc dưa)

Nguồn: Tăng Xuân Lưu (2010)

Hình 2.3 Răng nanh của

mà tại Miền Nam được gọi là lợn Thái mặt dài có các đặc điểm sau:

Hình dáng: Thân thể không mập phệ như lợn nhà và trông như ốm (gầy) Lợn tương đối cao và con lớn có thể cao đến eo người hoặc cao hơn Con đực có thể cao đến 90cm Nếu kể cả lông bờm trên vai dựng đứng thêm 5-6 inch (12-15cm) thì ta thấy độ cao của nó cao gần với eo của người lớn

Trang 29

Phần vai chân trước còn gọi là vai của lợn Rừng thường cao hơn chân sau làm cho hình dạng của lợn Rừng vai cao mông thấp và ở vai 2 bên trên chân trước cả trái lẫn phải sẽ có u hoặc tấm mỡ sụn lồi ra thành chai cứng, đối với độ dày của u chai cứng hoặc tấm mỡ sụn cứng này có độ lớn theo lứa tuổi: 3 tuổi tấm chai này là 3cm nếu 5 tuổi u chai này là 5cm Nhưng đối với lợn nhà giữa vai trước và vai sau không khác nhau lắm và không có u lồi chai như lợn Rừng

Đầu và khuôn mặt: Khuôn mặt của lợn Rừng sẽ có diện mạo là mặt nhọn hoắt, mõm nhọn dài, tai nhỏ dựng cứng ép sát đầu, mắt dữ tợn lồi và ở má của lợn Rừng

sẽ có đường nếp lông trắng vắt ngang qua sống mũi Còn lợn nhà ngược lại là mặt ngắn, mõm ngắn, tai to mắt không dữ và không lồi Nếu lợn quá mập thì mắt híp phần ở má không có đường nếp lông màu trắng vắt qua

Mũi mềm nhưng mạnh khỏe, nguyên do là lợn Rừng thường dùng mũi để đào bới đất, hoặc dũi mô đất mới để kiếm thức ăn Cổ dài, tai nhỏ dựng đứng, mắt to màu đen

Bụng: Bụng của lợn Rừng thon và không sệ xuống

Đuôi: Đuôi nhỏ thon và ngắn

Chân: Chân của lợn Rừng nhỏ và thon giống như chân con mãng, móng chân màu đen, đầu móng dày 2 móng nhọn nhỏ Móng đeo cao khỏi mặt đất về phần lợn nhà chân mập tròn hơi ngắn, móng chân to dày móng dày 2 móng lớn Móng đeo cao khỏi mặt đất không nhiều

Lông: Lúc còn nhỏ màu lông ở thân lợn Rừng con có vệt nhỏ màu vàng lẫn trắng chạy theo độ dài của thân giống như sọc của dưa gang, khi lớn được 5-6 tháng tuổi, sọc dần dần mất đi cho đến màu da và màu lông giống với bố mẹ của nó

Ở lợn trưởng thành:

Lông chải màu đen đậm và màu bông lau dài khoảng 6 inch (15cm) mọc dựng

từ sau ót kéo dài theo sống lưng dài đến cuối mông sát gốc đuôi Lông bờm này có màu đen đậm, lông tương đối ngắn, không mọc dày Hàng lông trên sống lưng dựng đứng lên khi lợn Rừng giật mình hoặc chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu Phần đuôi không

có lông có độ dài đến gối chân sau Lông nhám cứng màu nâu đậm hoặc màu đen Một đặc điểm quan trọng nữa là mỗi sợi lông của lợn Rừng dài và nhám, có lỗ chân lông ở trên lớp da tạo thành cụm, mỗi cụm có 3 lỗ, mỗi lỗ có 1 sợi lông Còn đối với lợn nhà lông được phân bố đều khắp thân mình và không gom thành búi

Trang 30

Trên sống lưng lợn Rừng từ trán cho đến sát đuôi có mào lông, mỗi sợi lông

dài khoảng trên 6cm Mào lông này sẽ dựng đứng lên khi nó nghe âm thanh lạ hoặc

ngửi thấy mùi kẻ thù Lợn nhà không có lông mào

Da: Da của lợn Rừng rất dày, đặc biệt là khu vực vai dày đến 5cm hoặc dày hơn

Răng lợn Rừng có 44 cái, sắp xếp theo công thức 3/4, 1/2, 1/4, 3/4 x 2 Răng

cửa phía hàm dưới sẽ dài hẹp và chìa thẳng ra phía trước để làm nhiệm vụ như cái

xẻng xúc đất, đặc biệt là trong thời gian kiếm ăn bởi việc đào bới trong đất lúc nào

cũng cần đến chẳng hạn

Lợn Rừng có thần kinh đánh mùi rất nhạy cảm nhưng ngược lại thần kinh mắt

không tốt kể cả thần kinh tai cũng không tốt (có đôi khi thần kinh đánh mùi được sẽ

đánh thức tỉnh thần kinh mắt và thần kinh tai nhạy cảm khác thường) ví như thiên

nhiên đã ban cho lợn Rừng có khứu giác phi thường, nó là vũ khí bảo đảm an toàn

khi đi kiếm ăn, khi nghe thấy tiếng ồn ào là tiếng tranh giành ăn, cắn nhau, đuổi cắn

nhau hoặc đùa giỡn nhau Lợn Rừng đều cảm nhận được hết và cảm nhận được từ

xa, dù sao chăng nữa, nếu nó sinh nghi một điều gì hoặc có điềm xấu sắp xảy ra, lợn

Rừng cũng là con vật biết im lặng nhất để tránh nạn, khi kẻ thù đến gần nó sẽ kêu

lớn và cùng nhau chạy ngay vào rừng rậm sâu Khi đã cảm thấy an toàn rồi, lợn

Rừng lại kiếm ăn bình thường Lợn Rừng chạy nhanh gần bằng con mãng (nai),

không sợ nước, bơi giỏi và thích ngâm mình trong bùn sình, kẻ thù chính của lợn

Rừng là cọp, chó rừng và chó săn Tuy nhiên, kẻ thù đáng sợ nhất của lợn Rừng lại

chính là con người

Lợn Rừng được xếp vào loại động vật có linh tính và rất nhanh nhẹn, có tập

tính thích dẫm chân hoặc cào đất chơi Thợ săn thường quan sát dấu chân cào trên

mặt đất để săn bắt Bình thường lợn Rừng là vật ít hung dữ, khi thấy người sẽ bỏ

chạy Nhưng nếu bị dồn đến bước đường cùng hoặc bị thương thì chúng có thể quay

lại tấn công kẻ thù một cách điên cuồng Vì vậy người ta cũng ta thường gọi là “lợn

cùng đường”

Lợn Rừng là loại động vật ăn tạp bao gồm các loại rau cỏ, củ, nấm, khoai,

măng, bắp, dứa, đậu phộng các loại động vật gồm mối, rắn, và chuột Lợn Rừng có

tập tính phàm ăn, thường tranh thức ăn của những con khác, thường đi kiếm ăn vào

lúc sáng sớm nếu ban ngày chúng bị tác động quấy rối thì chúng sẽ đi kiếm ăn vào

ban đêm

Trang 31

Chăm niên Thoong Phăn Chăng (2002), lợn Rừng có bản năng thích đào bới,

vì thế chân hàng rào của chuồng nuôi phải chắc chắn, để tránh chúng thoát ra ngoài Nếu bị làm giật mình hay dồn vào góc, lợn Rừng (đặc biệt lợn cái đang cùng với con) có thể tự bảo vệ mình và con của mình với sức mạnh đáng kể Con đực sẽ cúi đầu xuống, chuẩn bị và nhe răng nanh lên, lợn cái có răng nanh không nhìn thấy

sẽ tấn công bằng đầu, há miệng và ngoạm vào đối thủ Những cú đánh của chúng thường không gây chết cho người, nhưng để lại vết thương nghiêm trọng, tàn tật và chảy máu (Võ Văn Sự, 2013)

Theo Tăng Xuân Lưu và cs (2009), lợn Rừng thường linh hoạt vào lúc sáng sớm và chiều muộn, và trở thành kẻ ăn đêm ở những vùng không yên tĩnh Một ngày chúng dùng 4-8 tiếng để gặm cỏ và di chuyển đến vùng có thức ăn Lúc ăn chúng thường ăn cả đàn Lợn đực độc thân đôi lúc cũng tham gia sinh hoạt cùng với đàn, tại đây chúng phô trương sức mạnh của mình

Lợn đực thường là những con vật hoạt động lúc hoàng hôn (crepuscular), gặm cỏ từ chạng vạng tối tới rạng đông, có khoảng thời gian nghỉ ngơi ban ngày và ban đêm Tại Australia chúng cũng là những sát thủ của dê và cừu non (Võ Văn

Sự, 2013)

Khi nghiên cứu máy bước chân (Radio telemetry) tại miền Nam nước Pháp, lợn Rừng đi 2-15 km/một đêm, mặc dù các khu vực đó chỉ rộng từ 20 đến 150 ha Trong vòng 2 - 3 tháng lợn trưởng thành đi hết một diện tích 500 - 1.000 ha; 1.000 - 2.000 ha, 500 - 5.000 ha theo thứ tự đối với lợn đực trưởng thành, cái trường thành

và lợn hậu bị Trong vòng 6 đến 12 tháng diện tích chúng đi có thể đến 10.000 ha Phạm vi hoạt động có thể còn lớn hơn nếu con vật đó bị trục xuất đi khỏi đàn khiến

nó phải đi lang thang Một nghiên cứu tại châu Âu cho thấy chúng có thể đi xa tới 50 đến 250 km, tuy nhiên mục đích của việc đi xa như thế chưa được nghiên cứu

Các thí nghiệm trên những lợn Rừng đã được đánh số tai và thả cho thấy diện tích chúng ở có khi đến 50-70 km2 Mật độ ở châu Âu 5 con/km2 (Võ Văn Sự, 2013) Các nghiên cứu trên cho thấy đi lại vận động của lợn Rừng là một thói quen, có thể đó là một hoạt động cần thiết cho đời sống của chúng và như thế việc tạo sân rộng ở khu chăn nuôi cho lợn Rừng là điều cần thiết

Trong thiên nhiên lợn Rừng thích sinh sống với nhau thành bầy đàn, đàn nhỏ

có 5 - 6 con, đàn lớn đến 50 con cũng có Trong một đàn lợn có thể chung sống với

Trang 32

nhau nhiều thế hệ, cả đực lẫn cái Con đực cỡ lớn chỉ ở chung trong mùa phối giống, còn bình thường sẽ tách đàn rời đi ở một mình nơi khác, thường gọi lợn đực sống một mình là lợn độc Có thể vì lợn độc có cơ thể cường tráng to lớn có răng nanh dài

và sắc nhọn có khả năng tự bảo vệ mình hoặc có thể vì nó hung dữ, lợn Rừng khác nhỏ hơn không địch lại hoặc không muốn sống chung nên kéo nhau đi khỏi đàn Lê Hiền Hào (1973) nghiên cứu trên lợn Rừng Việt Nam, Chăm niên Thoong Phăn Chăng (2002) nghiên cứu trên lợn Rừng Thái Lan cũng đều nói tới hiện tượng này

Sự vận động của một nhóm cơ bản bao gồm sự ra đi của lợn chuẩn bị đẻ, sự gia nhập của lợn đẻ với con nhỏ, việc gia nhập của lợn cái chưa sinh đẻ, sự đến của đực trưởng thành với sự ra đi đồng thời của các lợn hậu bị Ngược lại với các tính chất của lợn nhà, hoạt động sinh sản của lợn Rừng mang tính thời vụ và liên quan đến nguồn thức ăn hoặc các yếu tố thời tiết Tuy nhiên, tổ chức xã hội cũng đóng vai trò quan trọng trong việc điều khiển thời gian của các sự kiện sinh sản, vì việc sinh đẻ của lợn nái thường xảy ra cùng pha (synchronized) giữa các lợn nái trong cùng nhóm xã hội

Lợn đực trưởng thành thường sống một mình ở mùa không giao phối Tuy nhiên các lợn cái và con cái chúng (cả đực và cái tơ lỡ) thường sống chung thành từng bầy gọi là nhóm Một nhóm khoảng 20 con, có trường hợp đến 50 con Trong 2-3 con cái có một con nổi trội làm chủ soái Cơ cấu nhóm này sẽ thay đổi khi có con cái đẻ tách khỏi hoặc nhập bầy, việc ra đi của lợn đực con đến tuổi lớn (20 tháng) và đón nhận những đực giống mới không có quan hệ gia đình đến phối giống

2.2.2 Khả năng sinh trưởng của lợn Rừng

Theo Tăng Xuân Lưu (2010), kích thước như sau: Dài thân: 90-200cm, Cao: 55-110cm, Dài đuôi: 15-40cm, Nặng: 44-320kg, Tuổi sống: 15-20 năm Con trưởng thành dài khoảng 120-180cm và cao vai khoảng 90cm, nặng khoảng 50-90kg với sự dao động lớn theo vùng địa lý Tại Italia lợn Rừng nặng 80 - 100kg; tại Tuscany có con nặng 150kg, tại Pháp là 227kg, tại Rumani và Nga có khi đến 300kg

Theo Kvisna Keo Sua Um and Phira Krai Xeng Xri (2005), con đực có thể cao đến 90cm, 1 năm tuổi nặng 60-70kg khi làm thịt rồi lượng thịt lấy được chỉ 40kg thịt/con Theo Chăm niên Thoong Phăn Chăng (2002) thì tỉ lệ chết đến khi cai sữa là 20%, lợn 2 tháng tuổi nặng 5-6kg

Theo Lê Hiền Hào (1973), lợn Rừng ở miền Bắc Việt Nam (Sus Scrofa

Linnaeus) mới đẻ ra dài khoảng 280-320 mm, nặng 800-1200 g, 20 ngày tuổi nặng

Trang 33

2-3 kg, bú sữa 2-3 tháng, 7 tháng tuổi nặng 20-25 kg Số con đẻ ra từ 3 đến 10 con, nhưng trung bình chỉ 5-6 con Mùa đẻ kéo dài từ tháng 1 đến tháng 11, tức là gần như quanh năm

Trạm Khuyến nông Cần Giờ đã thực hiện 3 mô hình gồm 8 hộ tham gia với 80 con lợn Rừng lai lợn Móng Cái, mỗi hộ 10 con lợn Rừng lai lợn Móng Cái khoảng 3 tháng tuổi (2 lợn đực và 8 lợn cái Sau 12 tháng theo dõi, tỷ lệ nuôi sống 70 - 95%;

số lợn con/lứa đạt 6 - 8 con; khối lượng bình quân lợn sơ sinh 0,3 – 0,5 kg/con; tăng khối lượng bình quân 180 – 200 g/con/ngày (Trung tâm Khuyến nông TP Hồ Chí Minh, 2010)

Bà Trần Thị Minh (tổ 1, phường Hòa Bình - thị xã Ayun Pa): Lợn Rừng nuôi 6 tháng (khối lượng tương đương 25-30kg) là có thể xuất chuồng, lợn 7-8 tháng tuổi

có thể phối giống

Tại trang trại lợn của Công ty Chín Định (Bến Cát): Sinh trưởng, phát triển và sinh sản: Lợn Rừng thường đẻ mỗi năm 2 lứa, mỗi lứa 5-10 con Khối lượng bình quân lúc trưởng thành, con đực nặng 80-100 kg/con, con cái nặng 50-70 kg/con … Trang trại lợn Rừng miền Bắc (Đông Xuân, Quốc Oai, Hà Nội) có trên 70 lợn Rừng Thái Lan thuần chủng Lợn con có các sọc dưa ở trên lưng, sau bốn tháng nặng khoảng 10 kg, năm tháng sau nặng 35-40kg

Theo Đỗ Kim Tuyên (2006), khi theo dõi lợn rừng ở công ty Khánh Giang - Bình Phước cho biết lợn Rừng Thái Lan 7 - 8 tháng tuổi có khối lượng 40 - 60kg (với lợn cái có thể cho phối giống)

2.2.3 Khả năng sinh sản của lợn Rừng

Theo Tăng Xuân Lưu và cs (2010) cho biết lợn Rừng lúc động dục và phối giống xong, lúc mang thai có thể sống chung với bầy đàn cho đến lúc đẻ con, lúc gần đẻ sẽ tách bầy, làm tổ để đẻ Phần lớn lợn làm tổ bằng cỏ và nhánh cây tùy khả năng của nó kiếm được về đánh đống cao khoảng 1m và kiếm chỗ cao làm tổ Lợn

mẹ sẽ bò vào và bới thành khoanh rỗng giữa đống cỏ rồi đẻ con và nuôi con ở đây 4 tháng cho đến lúc con lớn khỏe mạnh rồi mới đưa con vào nhập đàn và cùng sinh sống bình thường như cũ Hoạt động tình dục và sản xuất hormon testosterone ở lợn đực được kích (triggered) bởi giảm độ dài ngày (day length) và đạt mức cao nhất vào giữa mùa Thu, lúc này lợn đực sống độc thân sẽ gia nhập đàn lợn cái Các con đực sẽ gia nhập các nhóm lợn cái, lợn đực có tập tính chiến đấu với nhau để giành quyền giao phối và con thắng sẽ chiếm hết các lần giao phối trong đàn

Trang 34

Tuổi thành dục lợn cái dao động khá lớn (8 - 24 tháng tuổi), phụ thuộc vào điều kiện môi trường và dinh dưỡng Thời gian mang thai giống lợn nhà (khoảng

114 ngày) Thời gian đẻ (từ con đầu đến con cuối) 2 - 4 giờ Quá trình đẻ diễn ra theo tự nhiên, không cần sự giúp đỡ hoặc can thiệp của con người Lợn Rừng đẻ 2 - 2,5 lứa/năm, lứa đầu (con so) đẻ 3 - 5 con, lứa dạ đẻ nhiều hơn (7 - 12 con) Lợn Rừng sơ sinh có tầm vóc nhỏ, khối lượng bình quân 0,5 - 0,9 kg/con Lợn 1 - 2 tháng tuổi: 5 - 10kg, 3 - 4 tháng tuổi: 15 - 20kg, 8 - 12 tháng: 60 - 70kg, khi trưởng thành: trên 100kg Theo Lê Đình Phùng và Hà Thị Nguyệt (2011), lợn Rừng Thái Lan có

số con sơ sinh 5,87 con/lứa, số con còn sống đến cai sữa 4,43 con/lứa, khối lượng sơ sinh đạt 0,37 kg/con, khối lượng cai sữa lúc 120 ngày tuối đạt 13,83 kg/con, khoảng cách lứa đẻ là 229,3 ngày Bên cạnh đó, đã có ít công trình nghiên cứu lai giữa lợn Rừng Thái Lan và với lợn địa phương (Nguyễn Ngọc Phục và cs., 2010)

Số con/ổ khác nhau theo các vùng địa lý Tại Công viên quốc gia “Great Smoky Mountains“ Mỹ, số con/ổ là 3,3, tại Santa Catalina Island, California là 5 con/ổ, tại Châu Âu, số con nhiều hơn, có thể là: 4-6 con/ổ nhưng cũng có khi 2-3 con/ổ Tỉ lệ đực/cái: 1:2 Lợn con nặng 750g - 1000g lúc sơ sinh Thói quen đào ủi bắt đầu có rất sớm ngay lúc trong một vài ngày đầu sau sinh Lợn con cai sữa sau 3-4 tháng Khoảng

2 tuần tuổi chúng bắt đầu ăn thức ăn cứng như giun dế và ấu trùng Ở Thái Lan lợn con bỏ bú mẹ là có độ tuổi 60 - 90 ngày tuổi (Tăng Xuân Lưu và cs., 2010)

Theo Võ Văn Sự (2013), tuổi phối lần đầu là 6,29 tháng, tỉ lệ phối chửa: 79,18%, khoảng cách hai lứa đẻ là: 197,5 ngày, số con sơ sinh từ 2 đến 11, trung bình cho lứa 1: 5,17 con và lứa 2 là: 6,67 con, khối lượng sơ sinh trung bình 0,50kg,

số ngày cai sữa 70 ngày, khối lượng cai sữa: 7,2kg

Lợn cái sẽ rời đàn đi làm ổ đẻ trước lúc đẻ 1-3 ngày Thời gian đẻ kéo dài 2-

3 giờ và mẹ cùng lợn con sẽ ở trong ổ hoặc gần ổ trong 4-6 ngày Sau 4-5 ngày sau

đó, lợn mẹ và con sẽ quay lại nhóm và lợn con bú lẫn những lợn mẹ khác cũng đang cho con bú (Tăng Xuân Lưu và cs., 2010)

Động dục: 3-5 ngày, biểu hiện: nước nhờn chảy Nếu nuôi chung ngày thứ 3 mới chịu giao hợp thì hôm đó ít nhất phải 3 lần mới thụ tinh thành công Phối 1 lần mất 5 phút 1 năm đẻ 2,5 lứa (Võ Văn Sự, 2013)

Trước lúc đẻ lợn mẹ thường đi kiếm chỗ khuất, trên vạt đất đó lợn mẹ bới xuống sâu 5-10 cm, sau đó lợn mẹ cắp rơm rác và cành cây chất xung quanh cao 1 m

để làm ổ đẻ Ngày đẻ lợn mẹ đến đó đẻ và nuôi con đến khi cạn sữa Hàng ngày lợn

Trang 35

mẹ chỉ đi khỏi ổ để kiếm ăn Lợn mẹ có khả năng cắp con về một chỗ khi lợn con tản mạn, đến khi 3-4 tháng lợn mẹ đưa con về nhập lại đàn cũ

Khi gần đẻ, âm hộ đỏ lên và vú căng sữa Khi đẻ lợn bồn chồn Lợn đẻ trong 2 tiếng Khi đẻ không nên quấy rầy, nếu quấy rầy lơn mẹ sẽ dừng đẻ và sau đó một thời gian lâu mới đẻ quay trở lại hoặc khiến lợn chạy lung tung, gây nguy hiểm cho con non (Tăng Xuân Lưu và cs., 2010)

Theo Chăm niên Thoong Phăn Chăng (2002) thì bản năng của lợn mẹ không nằm đè lên lợn con (trừ các giống lợn như Vân Pa, hoặc lợn Landrace )

Đối với lợn con sinh ra, cần có khoảng rộng để chúng có thể chạy nhảy, hoạt động tìm kiếm thức ăn

Theo Kvisna Keo Sưa Um and Phira Krai Xeng Xri (2005), khi đẻ lợn nái sẽ

tự tạo ra ổ Khi sắp sửa đẻ phải nhốt con mẹ riêng tránh tình trạng lợn khác ăn thịt lợn con, con mới đẻ có dính chất bầy nhầy trên thân, mùi tanh, hấp dẫn cho các con lợn Rừng khác vào ăn thịt lợn con Do vậy trong chăn nuôi lợn Rừng khi lợn mẹ chuẩn bị đẻ cần phải nhốt lợn mẹ mỗi con 1 chuồng Ngoài ra chúng ta còn lấy rơm,

cỏ, cành cây quẳng vào chuồng để lợn mẹ làm ổ đẻ

Nếu có nước trong chuồng trại lợn sẽ làm cho đất chỗ đó bị ẩm ướt có bùn, khi lợn con đẻ ra đất bùn có khả năng dính vào mũi nghẹt thở làm cho lợn bị chết

Trong khi lợn Rừng đang đẻ, con người không nên đứng gần vì lúc này lợn mẹ rất dữ tợn và có thể làm cho lợn mẹ bị căng thẳng, bồn chồn, chạy đi chạy lại dẫm lên con làm cho lợn con chết

Không nên cho con đực vào chuồng con cái để giao phối vì con cái có thói quen giữ gìn chuồng và như thế con đực không phối được

Đối với lợn Rừng ở Việt Nam, Lê Hiền Hào (1973), lợn Rừng thường sống trầm lặng và chỉ hộc lên khi có chuyện bất ngờ

Nếu nuôi chung đực và cái thì tỉ lệ đực/cái nên là 1:5 - 1:7 Lợn đực dùng phối phải tương đương với lợn cái về khối lượng Đối với lợn đực giống thì khẩu phần cho chúng 1,5 % khối lượng cơ thể

Nên cho lợn đẻ khi đạt được 40-60 kg tức là 9 tháng tuổi

Nên tẩy giun cho lợn trước lúc phối hoặc khi mang thai được 2-3 tháng Bỏ lần động dục ban đầu không cho phối đối với lợn đẻ lứa đầu Tuy nhiên, đối với lợn đã

Trang 36

đẻ 1 lần thì nên cho phối ngay lần động dục đầu Để đảm bảo tỷ lệ thụ thai cao nên

sử dụng phương pháp phối giống lặp lại

Sau khi phối: Con cái cần được yên tĩnh để đậu thai Tháng đầu thai còn nhỏ nên chưa phải bồi dưỡng cho lợn mẹ, nhưng sau đó cần cho ăn thêm Tốt nhất là cho sống riêng từng cá thể nhằm đảm bảo cho yên tĩnh, tránh tranh nhau, đánh nhau Phối lại sau khi đẻ: Bình thường sau khi đẻ 5 ngày lợn mẹ đã động dục trở lại nhưng không rụng trúng Rụng trứng chỉ xảy ra khi đã thôi không tiết sữa

2.2.4 Nuôi dưỡng chăm sóc lợn Rừng

Theo Kvisna Keo Sưa Um và Phira Krai Xeng Xri (2005), chuồng trại: Nền chuồng lợn có thể là xi măng hoặc đất

Chuồng lợn đẻ và chuẩn bị: Tốt nhất là nền xi măng không trơn, tránh cho lợn đào bới, ẩm ướt có hại cho lợn con Trước lúc đẻ nên bỏ rơm rác khô sạch cho chúng làm ổ, tránh để chúng phải tự đào bới Nếu có nước trong chuồng trại, lợn sẽ làm cho đất chỗ đó bị ẩm ướt có bùn, khi lợn con đẻ ra đất bùn có khả năng dính vào mũi nghẹt thở làm cho lợn bị chết Theo thói quen lợn con mới đẻ ra quen cào chân và ủi,

vì vậy lợn con có thể bị thương và nhiễm khuẩn

Chăm sóc lợn con mới đẻ ra: cần cắt răng nanh cho lợn con để tránh lợn con gây sát thương cho mẹ và nhiễm trùng, quay lại gây hại cho lợn con Bổ sung chất sắt cho lợn con ngay sau khi đẻ 2-3 ngày Từ ngày 15 trở đi, nên có thức ăn bổ sung cho lợn con Nên có máng riêng và ngăn không cho mẹ ăn

Tiêm phòng: sau khi tẩy giun 7 ngày tiêm phòng các loại vác xin phòng bệnh như: Lở mồm long móng, dịch tả và 1 tháng sau tiêm nhắc lại Ngoài ra các loại bệnh khác đang xảy ra lúc đó

Mùa Đông đến cần phải đảm bảo đủ nhiệt cho con đẻ ra

Ghép con: Có thể bị mẹ nuôi hoặc con của mẹ nuôi xua đuổi, cắn chết Vì thế cách thức là bôi, phun cho tất cả các con đến bú nhờ và con của mẹ nuôi những mùi như cây hành, tỏi, quế Nếu con của mẹ nuôi cắn thì nên cho lợn con bú nhờ bú riêng Và nếu cuối cùng mẹ nuôi không cho bú thì buộc lòng phải nuôi bộ: sữa + kháng sinh, hoặc các loại sữa thay thế sữa mẹ

Cai sữa: Khi con hết bú thì có thể tách luôn Tùy theo sức khỏe của đàn con, nếu còn yếu và mẹ còn sữa thì nên để cho bú tiếp Làm từ từ trong một thời gian,

và quan sát liệu con có ăn uống bình thường Sau khi cai sữa 7-10 ngày phải xổ

Trang 37

giun cho lợn con bằng thuốc piperazin được trộn vào thức ăn Tỉ lệ chết đến khi cai sữa là 20%

Tại Việt Nam:

Theo Võ Văn Sự và cs (2008), trước khi lợn đẻ khoảng 1 tháng, thường cho lợn mẹ ăn thêm cám hỗn hợp như HIGRO, VINA9, bổ sung thêm vitamin A, D, E Khi lợn mẹ đẻ xong cho ăn thêm rau lang để tăng thêm nguồn sữa Lợn con mới đẻ

ra có sọc vằn, khoảng 10- 15 phút sau đó biết tìm vú mẹ để bú Khoảng 2 tháng, lợn con đã tự ăn và có thể cho xuất chuồng

Theo Tăng Xuân Lưu và cs (2010) cho rằng, lợn Rừng Việt Nam lai Thái Lan được coi là con lai ưu việt nhất, do con lai ở đời này đã loại bỏ được những nhược điểm ở lợn Rừng Thái và phát huy được những ưu điểm của lợn Rừng Việt Nam, lợn

mẹ trưởng thành cũng chỉ khoảng 35-50kg, mõm dài và nhọn, cổ dài thắt ngấn, đầu nhỏ, không có má, dáng cao, thân dài, đẻ con vừa phải (khoảng 5-7 con/lứa) Áp dụng đúng kỹ thuật nuôi lợn không có mỡ (95% là thịt nạc), bán được giá và được thị trường ưa chuộng

Về kỹ thuật nuôi: Sau khi tách mẹ nếu không chọn làm giống thì đưa lợn vào nuôi thương phẩm và cần chú ý một số điểm sau:

- Về chuồng trại: Tốt nhất là có khoảng trống cho lợn chạy nhảy, ngoài chuồng

có mái che khi mưa nắng, cần có khoảng đất trống cho lợn đào bới, diện tích tuỳ vào

số lượng nhiều hay ít, đào bới sẽ giúp lợn săn chắc hơn, qua đó sẽ làm giảm lượng

mỡ, nếu lợn nuôi thương phẩm có nhiều loại to nhỏ cần có khu nhốt riêng từng loại, nếu không có điều kiện như vậy thì ít nhất cũng phải có chỗ ăn riêng cho từng loại

để tránh con to ăn tranh của con nhỏ

- Về khẩu phần ăn: Thời gian đầu tách mẹ nuôi thương phẩm nên cho lợn ăn nhiều chất tinh hơn, khoảng 30% cám gạo, 70% chất xơ (rau, củ, quả…) để giúp lợn

có đà phát triển Khoảng 17kg trở lên giảm lượng thức ăn tinh xuống còn 10%, 90% thức ăn xơ, nếu có nguồn thức ăn xơ dồi dào như rau, củ, quả thì có thể cho lợn ăn toàn chất xơ càng tốt Chất lượng thịt đạt tiêu chuẩn cao nhất từ 20kg trở lên

- Về cách cho ăn: Toàn bộ thức ăn dù là thức ăn tinh hay thức ăn xơ, cũng đều phải cho ăn sống, không nên nấu chín cho lợn ăn, lợn Rừng thích nhấm nháp và ăn tạp, ăn rải rác cả ngày nên có điều kiện thì cho lợn ăn làm nhiều lần trong ngày (4 - 5 lần) nhưng ít nhất cũng phải 3 lần trong ngày: (sáng, trưa, chiều tối) đối với thức ăn

Trang 38

xơ, điều này cũng không mất quá nhiều thời gian vì lợn ăn sống nên chỉ cần vứt ra là xong Trung bình lợn tăng trưởng 3- 3,5 kg/tháng là đảm bảo chất lượng

Thời gian lợn con tập ăn không nên cho ăn các loại rau, quả tươi sống, khi được 2 tháng tuổi trở lên bắt đầu cho ăn làm quen với các loại rau, củ quả, 3 tháng tuổi cho ăn bình thường như lợn trưởng thành Chuồng nuôi phải thoáng mát, sạch

sẽ, khi lợn mẹ đẻ không nên can thiệp cứ để lợn mẹ được tự nhiên Khi lợn con ăn

no thì tách mẹ (thường là 2 tháng tuổi) (Tăng Xuân Lưu và cs., 2010)

2.2.5 Bệnh tật và khả năng thích ứng và chống bệnh của lợn Rừng đối với môi trường sống

Theo Võ Văn Sự (2013) cho biết các loại bệnh xảy ra với lợn nhà cũng có thể xảy ra với lợn Rừng và lây sang lợn Rừng và ngược lại, như bệnh lây nhiễm vi khuẩn vi rút, nấm mốc, nội ngoại ký sinh trùng

Đây là một khâu gây nhiều tranh cãi nhất trong các hộ nuôi lợn Rừng Đa phần người chăn nuôi không quan tâm đến việc phòng bệnh, họ cho rằng trong bản chất lợn Rừng rất khỏe Nhiều trang trại chăn nuôi, đặc biệt là nông dân, nuôi lợn Rừng cũng hệt như lợn nhà theo cách thức truyền thống: nuôi lẫn lộn cùng với các loài vật khác, với các giống lợn khác nhau, không tiêm phòng, không có các biện pháp cách

ly với các nguồn bệnh, người “tứ xứ” đến thăm bất kỳ lúc nào và chuồng nào Cho đến nay một số bệnh đã xảy ra chết lợn mẹ và lợn con do tiêu chảy, viêm phổi Tuy nhiên loại bệnh mà “hủy diệt” nhiều nhất đối với lợn con là bệnh phân trắng, viêm phổi Những nguyên nhân sâu xa khiến tỉ lệ chết cao như vậy chính là môi trường chuồng trại bị ô nhiễm

Tỉ lệ chết lợn con ở Thái Lan là 20% (Chăm niên Thoong Phăn Chăng, 2002)

Các bệnh ở Thái Lan theo Kvisnam Keo Sa Um et al (2005), gồm các bệnh:

bệnh thổ tả (tiêu chảy ói mửa), bệnh sốt xuất huyết, bệnh giả chó dại, bệnh sưng phổi do virus, bệnh sán lá gan, và bệnh tiêu chảy do độc của Bactery (vi khuẩn và các bệnh khác)

2.3 VAI TRÒ CỦA KỸ THUẬT THỤ TINH NHÂN TẠO TRONG CHĂN NUÔI LỢN RỪNG

Thụ tinh nhân tạo (TTNT) cho lợn là một chuỗi kỹ thuật liên hoàn từ việc lấy tinh của con đực đem xét nghiệm, pha chế, bảo quản và bơm vào đường sinh dục nhiều con cái, có sự tham gia kỹ thuật khéo léo của con người Việc TTNT cho lợn

Trang 39

có rất nhiều ưu điểm như: đỡ tốn công di chuyển lợn đực giống; tránh sự mất sức của lợn đực; phòng ngừa sự lây bệnh của con cái lây cho con đực rồi con đực có thể lại truyền cho các con cái sau này Tinh dịch của lợn được kiểm tra về số lượng lẫn chất lượng, phát hiện tinh trùng kỳ hình và sự nhiễm bệnh ở con đực nên hạn chế được các bệnh di truyền từ bố sang con Hơn nữa TTNT có thể thụ tinh đồng loạt cho nhiều con cái, tạo điều kiện cho nghiên cứu về lĩnh vực di truyền học, đỡ tốn kém do nuôi quá nhiều đực giống và khắc phục được tình trạng đực giống quá lớn với con cái nhỏ hơn Ngoài ra, tinh dịch có thể được bảo quản nhiều ngày ở nhiệt độ thấp từ 16 – 18oC và dễ dàng được vận chuyển đi xa đồng thời kéo dài thời gian khai thác đực giống, lợi nhuận thu được nhiều hơn so với lợn đực phối giống trực tiếp Được du nhập vào nước ta từ những năm 1950 đến nay, TTNT đã và đang đóng một vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao năng suất của các giống vật nuôi

và đem lại hiệu quả to lớn đối với người chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng Kể từ khi được ứng dụng ở Việt Nam cho đến nay, kỹ thuật TTNT đã được phổ biến ở khắp các địa phương trong cả nước

Theo Võ Văn Sự (2013), khi huấn luyện khai thác tinh lợn 2 con lợn đực để lấy tinh bằng phương pháp nhảy giá gỗ thì hai lợn đều nhảy giá nhưng không xuất tinh,

để lấy được tinh lợn Rừng thì phải sử dụng lợn cái làm giá Lượng xuất tinh cao nhất

là 210ml và trung bình là 170-190ml Hoạt lực trung bình của lợn Rừng là 0,9 điểm Việc sử dụng thụ tinh nhân tạo cho lợn Rừng trong chăn nuôi lợn Rừng ở Việt Nam chưa thấy được đề cập đến nhiều, chưa có nhiều nghiên cứu về huấn luyện khai thác, đánh giá chất lượng tinh dịch và thụ tinh nhân tạo cho lợn Rừng và lợn Rừng lai lợn Móng Cái hoặc với các giống lợn bản địa khác

Đây là lĩnh vực nghiên cứu mới để trả lời cho câu hỏi trong thực tế sản xuất đó là: Có thể khai thác tinh lợn Rừng đực để thụ tinh nhân tạo cho lợn được hay không?

Trang 40

PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

* Nội dung 1: Các chỉ tiêu sinh sản trên đàn lợn Rừng nhập nội từ Thái Lan được thực hiện tại các địa điểm: Vĩnh Phúc, Hòa Bình và Hà Nội Cụ thể:

+ Tại Vĩnh Phúc: đàn lợn được nuôi tại Trang trại ông Khổng Văn Sinh ở thôn Đền Thõng, xã Đại Đình, huyện Tam Đảo: qui mô 300 con

+ Tại Hòa Bình: đàn lợn được nuôi tại trang trại lợn Rừng Thuận Linh của gia đình anh Hoàng Văn Thuận, xóm Quê Sụ, xã Cao Răm huyện Lương Sơn qui mô 320 con + Tại Hà Nội: Trang trại Lợn Rừng Huệ Linh, Chiến Hồng (Xã Vân Hòa), Mỹ Hạnh, Liên Mẫn, (Xã Tản Lĩnh), Hồng Sử (xã Cẩm Lĩnh) thuộc huyện Ba Vì: qui

+ Bảy lợn Rừng đực được nuôi huấn luyện khai thác; Có 4 lợn Rừng được huấn luyện khai thác tinh thành công được đánh số ký hiệu là R1, R2, R3 và R4 tại trang trại lợn Rừng Huệ Linh thuộc xã Vân Hòa, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội Ba lợn Rừng còn lại không nhảy giá hoặc nhảy giá nhưng không xuất tinh đã được sử dụng cho phối giống trực tiếp

+ Ba lợn Rừng cái ở lứa đẻ thứ 2 cho phối giống bằng tinh lợn Rừng bằng phương pháp TTNT được nuôi tại trang trại lợn Rừng Mỹ Hạnh thuộc xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội

+ Ba lợn cái Móng Cái ở lứa đẻ thứ 2 cho phối giống bằng tinh lợn Rừng bằng phương pháp TTNT được nuôi tại trang trại lợn Rừng Huệ Linh thuộc xã Vân Hòa, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội

Ngày đăng: 30/03/2021, 23:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Chu Khôi và Đinh Tịnh (2007). “Hốt bạc” nhờ chăn nuôi lợn Rừng. Truy cập ngày 25/07/2015 tại http://vietbao.vn/Kinh-te/Hot-bac-nho-chan-nuoi-lon-rung/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hốt bạc
Tác giả: Chu Khôi và Đinh Tịnh
Năm: 2007
9. Farmvina (2016). Phương pháp nuôi heo rừng đực giống. Trong “Heo rừng đực làm giống nuôi như thế nào?”. Truy cập ngày 5/8/2016 tại www.farmvina.com/heo- rung-duc/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Heo rừng đực làm giống nuôi như thế nào
Tác giả: Farmvina
Năm: 2016
11. Hoàng Nghĩa Sơn (2014). Nghiên cứu ứng dụng thụ tinh nhân tạo phục vụ nhân giống heo rừng Tây Nguyên (Sus scrofa) và lai tạo heo rừng thương phẩm. Tạp chí Sinh học. 36: 36SE-TN161. Truy cập ngày 14/06/2015 tại www.taynguyen3.vast.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sus scrofa
Tác giả: Hoàng Nghĩa Sơn
Năm: 2014
12. Hoàng Nghĩa Sơn, Lê Thành Long và Nguyễn Thị Phương Mai (2014). Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của lợn rừng (Sus scrofa) Tây Nguyên. Tạp chí Sinh học.36: 36SE-TN161. tr. 253-258 Sách, tạp chí
Tiêu đề: (Sus scrofa)
Tác giả: Hoàng Nghĩa Sơn, Lê Thành Long và Nguyễn Thị Phương Mai
Năm: 2014
42. Anonymous (2015c). Wild boar Sus scrofa. In “BioKIDS - Kids' Inquiry of Diverse Species, Sus scrofa, wild boar ...“. Retrieved on 10/12/2015 at www.biokids.umich.edu/critters/Sus_scrofa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sus scrofa
46. Chongkasikita N., T. Vearasilpa and U. Meulen (2001). Effect of breeding on different production parameters in wild pigs (Sus scrofa), crossbred pigs and Meishan pigs in Thailand. Deutscher Tropentag - Bonn. Conference on International Agricultural Research for Development. pp. 9-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sus scrofa
Tác giả: Chongkasikita N., T. Vearasilpa and U. Meulen
Năm: 2001
48. Chung K. H., I. C. Kim and J. H. Son (2013). Effects of Different Concentrations of Escherichia coli and Days of Preservation on Boar Sperm Quality. Reprod Dev Biol.37 (4). pp. 213-217 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Escherichia coli
Tác giả: Chung K. H., I. C. Kim and J. H. Son
Năm: 2013
52. Eskebo I. (2011). Heat and mating behaviour pregnancy – The wild boar (page 32). In “Farm animal behaviour. Characteristics for assessment of health and welfare” (236 pages). Retrieved on 14/10/2016 at https//books,google.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Farm animal behaviour. Characteristics for assessment of health and welfare
Tác giả: Eskebo I
Năm: 2011
65. Knox R., K. Willenburg and G. Miller (2005). The Optimal Time For Breeding Swine. In “Swine Reproduction - Illinois Livestock Trail”. Retrieved on 07/07/2015 at http://livestocktrail.illinois.edu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Swine Reproduction - Illinois Livestock Trail
Tác giả: Knox R., K. Willenburg and G. Miller
Năm: 2005
1. Ba Em và Bích Đào (2011). Phát tài nhờ chăn nuôi heo rừng. Sài Gòn Tiếp Thị, 10/02/2011 tại https://nonghoc.com/show-article/41803/phat-tai-nho-nuoi-heo-rung.aspx Link
7. Đỗ Kim Tuyên (2006). Một số đặc điểm của lợn Rừng thuần dưỡng của Thái Lan nhập về Việt Nam. Cục Chăn Nuôi. Truy cập ngày 29/5/2015 tại http://www.vcn.vnn.vn/ printpreview.aspx?id=2753 Link
32. Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 9713:2013 - Lợn giống nội - Yêu cầu kỹ thuật. Truy cập ngày 8/3/2016 tại http://tieuchuan.mard.gov.vn/Documents/ Uploads/TCVN%209713-2013.doc Link
33. Trung tâm Khuyến nông TP.HCM (2010). Lượng giá mô hình nuôi heo rừng lai ở Cần Giờ. Truy cập ngày 23/12/2015 tại http://www.thiennhien.net/news/158/ARTICLE/ 10329/ 2010-01-04.html Link
39. Anonymous (2012) Feral Hog Reproductive Biology. Retrieved on 16/05/2012 at http://articles.extension.org/pages/63668/feral-hog-reproductive-biology Link
54. Farm Diversitification (2010). British wild boar (2010). All you need to know about wild boar. Retrieved on 10/02/2014 at http://www.sac.ac.uk/consulting/services/fh/farmdiversification/database/novellivestock/wildboar Link
60. Hugh S. (2010). French hunters urged to declare war on the boar. Retrieved on 4/7/2014 at http://www.bbc.co.uk/news/world-europe-11948612?print=true Link
67. Mauget R. (2013). Seasonality of Reproduction in the Wild Boar (pp. 509-512). In Control of Pig Reproduction, eds. Cole D.J.A. and Foxcroft G.R. (2013). Retrieved on 12/05/2015 at https://books.google.com Link
74. Selena M. (2010). What the French can teach us about wild boar. Retrieved on 2/15/2015. at http://www.shootingtimes.co.uk/features/385173/ Link
75. Subalini E., G. L. L. P. Silva and C. M. B. Demetawewa (2010). Phenotypic Characterization and Production Performance of Village Pigs in Sri Lanka. Retrieved on 12/12/2010 at https://www.researchgate.net Link
2. Chăm niên Thoong Phăn Chăng (2005). Kỹ thuật nuôi heo rừng (Võ Văn Sự biên dịch). Đại học Nông nghiệp quốc gia, Bangkok Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm