1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi bắc đuống trên địa bàn tỉnh bắc ninh

94 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 7,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số khái niệm cơ bản Theo quy định phân cấp quản lý khai thác bảo vệ công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh của UBND tỉnh Bắc Ninh 2014 thì: - Công trình thuỷ lợi là cơ sở kin

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN VĂN TRƯỜNG

HOÀN THIỆN PHÂN CẤP QUẢN LÝ KHAI THÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI BẮC ĐUỐNG

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng:

Luận văn nghiên cứu là của cá nhân dựa trên cơ sở lý thuyết được học tập và qua tham khảo tình hình thực tiễn phân cấp công trình thủy lợi Bắc Đuống, nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

Các số liệu, bảng biểu, sơ đồ và những kết quả trong luận văn là trung thực, các giải pháp đưa ra xuất phát từ thực tiễn nghiên cứu và kinh nghiệm phù hợp với địa phương Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Trường

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường, tôi xin trân trọng gửi lời cảm

ơn đến Trường Học viện nông nghiệp Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn

Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo TS Đỗ Quang Giám đã tận tình chỉ dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn

Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn đến chị cục thủy lợi tỉnh Bắc Ninh, công ty KTCT thủy lợi Bắc Đuống,và một số ban ngành liên quan đã tạo điều kiện thuận lợi, cung cấp cho tôi số liệu, kiến thức, kinh nghiệm thực tế về công tác phân cấp quản lý công trình thủy lợi Bắc Đuống

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các đồng chí, đồng nghiệp, bè bạn và gia đình đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ, động viên khích lệ tôi, đồng thời có những ý kiến đóng góp trong quá trình tôi thực hiện và hoàn thành luận văn

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Trường

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt vi

Danh mục bảng vii

Danh mục hình và sơ đồ viii

Trích yếu luận văn ix

Thesis abstract xii

Phần 1 Mở đầu 1

1.1. Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 2

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3

Phần 2 Tổng quan tài liệu 4

2.1 Cơ sở lý luận 4

2.1.1 Một số khái niệm cơ bản 4

2.1.2 Quản lý khai thác công trình thuỷ lợi 4

2.1.3 Các loại hình quản lý khai thác công trình thủy lợi 5

2.1.4 Nội dung phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi 6

2.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến phân cấp quản lý khai thác công trình thuỷ lợi 14

2.2. Cơ sở thực tiễn 16

2.2.1 Cơ sở pháp lý về phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi 16

2.2.2 Kinh nghiệm phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi ở nước ngoài 22

2.2.3 Kinh nghiệm phân cấp quản lý khai thác công trình thuỷ lợi ở Việt Nam 27

2.2.4 Bài học về phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi 34

Phần 3 Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu 39

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 39

Trang 5

3.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên tỉnh Bắc Ninh 39

3.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội tỉnh Bắc Ninh 43

3.1.3 Giới thiệu công ty TNHH MTV Khai thác công trình Thủy lợi Bắc Đuống 44

3.2. Phương pháp nghiên cứu 47

3.2.1 Chọn điểm nghiên cứu 47

3.2.2 Phương pháp thu thập tài liệu 47

3.2.3 Phương pháp phân tích 48

3.2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 49

Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 50

4.1 Thực trạng phân cấp quản lý công trình thuỷ lợi bắc đuống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 50

4.1.1 Hiện trạng hệ thống công trình thủy lợi Bắc Đuống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 50

4.1.2 Mô hình phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi Bắc Đuống 51

4.1.3 Tình hình phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi Bắc Đuống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 54

4.2 Đánh giá chung về phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi bắc đuống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 60

4.2.1 Những kết quả đạt được 60

4.2.2 Những tồn tại và nguyên nhân 62

4.2.3 Ý kiến đánh giá của cán bộ quản lý các xí nghiệp KTCT thủy lợi, cán bộ quản lý cụm thủy nông và người dân trên địa bàn 64

4.3 Các giải pháp hoàn thiện phân cấp quản lý khai thác cttl bắc đuống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 67

4.3.1 Hoàn thiện chính sách, cơ sở pháp lý cho phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh 67

4.3.2 Nâng cao trình độ cán bộ quản lý và công nhân vận hành, người dân trong vùng công trình thủy lợi Bắc Đuông 68

4.3.3 Giải quyết lạo đông dôi dư của công ty khi thực hiện phân cấp 69

4.3.4 Tăng cường đầu tư xây dựng, cơ sở vật chất , áp dụng khoa học kỹ thuật trong phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi Bắc Đuống 70

Trang 6

4.3.5 Tăng cường công tác thông tin, truyền thông 71

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 72

5.1 Kết luận 72

5.2 Kiến nghị 73

5.2.1 Đối với tỉnh (UBND tỉnh, Sở NN&PTNT và các cấp chính quyền) 73

5.2.2 Đối với Công ty khai thác công trình thủy lợi Bắc Đuống và tổ chức quản lý thủy nông địa phương 73

Tài liệu tham khảo 74

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Công ty TNHH MTV Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên HTTL Hệ thống thủy lợi

HTXNN Hợp tác xã nông nghiệp

NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

UBND Ủy ban nhân dân

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Hồ chứa và diện tích tưới đảm nhiệm 27

Bảng 2.2 Tổng hợp doanh nghiệp KTCTTL toàn quốc năm 2013 29

Bảng 3.1 Nhiệt độ, độ ẩm bình quân các tháng trong 3 năm (2014-2016) 42

Bảng 3.2 Lượng mưa trung bình các tháng, 3 năm ( 2014- 2016) 42

Bảng 3.3 Đối tượng khảo sát điều tra 48

Bảng 4.1 Các loại công trình thủy lợi Bắc Đuống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 50

Bảng 4.2 Quy định phân cấp công trình thủy lợi 56

Bảng 4.3 Các loại công trình thủy lợi do Công ty KTCT thủy lợi Bắc Đuống quản lý 58

Bảng 4.4 Các loại công trình thủy lợi do các HTX quản lý 60

Bảng 4.5 Hiệu quả tiết kiệm điện năng tiêu thụ của các trạm bơm tưới, tiêu 61

Bảng 4.6 Kế hoạch và thực hiện kiên cố hóa, nạo vét kênh, duy tu trạm bơm và cống 65

Bảng 4.7 Ý kiến đánh giá của cán bộ quản lý cụm thủy nông về hiệu quả quản lý khai thác công trình sau khi phân cấp 66

Bảng 4.8 Ý kiến đánh giá của người dân dùng nước 67

Trang 9

DANH MỤC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ

Hình 2.1 Sơ đồ phân cấp quản lý thủy lợi điển hình ở Trung Quốc 23

Hình 2.2 Bản đồ phân cấp quản lý KTCTTL tại trạm thuỷ nông Hồng Phong 25

Sơ đồ 2.3 Sơ đồ phân cấp tổ chức quản lý khai thác công trình thủy lợi ở nước ta 30

Hình 3.1 Sơ đồ vị trí hệ thống thủy lợi tỉnh Bắc Ninh 39

Hình 4.1 Hệ thống công trình thủy lợi Bắc Đuống 51

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Nguyễn Văn Trường

Tên luận văn: “ Hoàn thiện phân cấp quản lý khai công trình thủy lợi Bắc Đuống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh”

Ngành: Quản trị kinh doanh Mã số: 60 34 01 02

Cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở đánh giá thực trạng phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi Bắc Đuống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, từ đó đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi Bắc Đuống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

Phương pháp nghiên cứu

- Chọn điểm nghiên cứu

Phiếu điều tra được lập điều tra cán bộ quản lý xí nghiệp thủy nông huyện, các cụm thủy nông địa bàn và người dân trên địa bàn công trình thủy lợi Bắc Đuống -Phương pháp thu thập số liệu

Số liệu thứ cấp: các thông tin được thu thập từ các tài liệu có sẵn như: quy hoạch thủy lợi tỉnh Bắc Ninh, các báo cáo thống kê của Chi cục thủy lợi Bắc Ninh về kênh mương, cống, trạm bơm… trang web của cổng thông tin điện tử tỉnh Bắc Ninh, tổng cục thống kê; các tài liệu báo cáo tốt nghiệp tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam,

và trường Đại học Thủy Lợi, các sách, báo, tạp chí, bài nghiên cứu liên quan đến quản

lý khai thác hệ thống thủy lợi

Số liệu sơ cấp: phương pháp này chủ yếu thu thập số liệu từ phỏng vấn thông qua một bảng câu hỏi được xây dựng trước Sau đó, thực hiện phỏng vấn trực tiếp với cán bộ quản lý, công nhân vận hành và người dân hưởng lợi từ hệ thống thủy lợi

- Phương pháp xử lý số liệu: Làm sạch số liệu điều tra, đưa số liệu vào phần mềm exel phân loại, tổng hợp số liệu điều tra

Trang 11

- Nhằm hoàn thiện phân cấp quản lý khai thác CTTL trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, các giải pháp đã được đưa ra như: hoàn thiện chính sách, cơ sở pháp lý cho phân cấp quản lý khai thác CTTL; nâng cao trình độ cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý và công nhân vận hành, người dân hưởng lợi từ hệ thống thủy lợi; tăng cường đầu tư xây dựng,

cơ sở vật chất kỹ thuật; tăng cường áp dụng khoa học công nghệ; tăng cường công tác thông tin, truyền thông trong hệ thống thủy lợi tỉnh Bắc Ninh

Công tác Phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi Bắc Đuống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh đang từng bước đi vào hoàn thiện và có hệ thống nên cơ bản đảm bảo công tác quản lý khai thác CTTL phục vụ tưới, tiêu nước cho sản xuất nông nghiệp và dân sinh Tuy nhiên, công tác phân cấp quản lý khai thác CTTL Bắc Đuống trên địa bàn tỉnh Bắc Nình vẫn còn nhiều tồn tại Tình trạng vi phạm hành lang bảo vệ CTTL diễn ra phức tạp.Trình độ của công nhân vận hành của công ty Bắc Đuống dôi dư sau khi phân cấp trong khi tại các trạm bơm địa phương quản lý trình độ công nhân vận hành còn thấp, đa phần chưa được đào tạo Nguồn kinh phí cho các HTX nhận bàn giao công trình từ công ty Bắc Đuống chưa đảm bảo để duy tu bảo dưỡng công trình hiện đang quản lý

Nhằm hoàn thiện phân cấp quản lý khai thác CTTL Bắc Đuống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, các giải pháp đã được đưa ra như: hoàn thiện chính sách, cơ sở pháp lý cho phân cấp quản lý khai thác CTTL; nâng cao trình độ cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý và công nhân vận hành, người dân hưởng lợi từ hệ thống thủy lợi; tăng cường đầu tư xây dựng, cơ sở vật chất kỹ thuật; tăng cường áp dụng khoa học công nghệ; tăng cường công tác thông tin, truyền thông trong HTTL tỉnh Bắc Ninh

Trang 12

THESIS ABSTRACT

Based on the assessment of the status of decentralized management of exploitation of Bac Duong irrigation works in Bac Ninh province, there are some solutions improve the efficiency of decentralization of exploitation and management of Bac Duong irrigation works on Bac Ninh province

- Select study sites

The questionnaire was surveyed by the managers of the district irrigation, agro-forestry and local people in the area of irrigation works

- Method of data collection

Secondary data: information collected from available materials such as Bac Ninh irrigation planning, statistical reports of Bac Ninh Irrigation Department, canals, drains, pump stations Portal of Bac Ninh province, general statistics office; graduation reports from the Vietnamese National University of Agriculture, and Water Resources University, books, newspapers, journals and research articles related to irrigation management

Primary data: This method mainly collects data from interviews through a built questionnaire Then, conduct face-to-face interviews with managers, operators and beneficiaries from the irrigation system

pre Data processing method: Clean up survey data, put data into exel software to sort out and synthesize survey data

- Decentralized management of exploitation of Bac Duong irrigation works in Bac Ninh province was decentralized to Bac Duong Co., Ltd and co-operative management irrigation level I and II irrigation works managed the exploitation level III and IV irrigation works managed by agricultural service cooperatives The project selected the local area of Bac Duong company management in Bac Ninh province to investigate

- The thesis analyzes objective and subjective factors affecting the

Trang 13

decentralization of management of exploitation of hydraulic works such as climate, socio-economic development, investment capital, management level, Organization management, policy mechanism, infrastructure and science and technology

- In order to complete decentralized management of exploitation of hydraulic works in Bac Ninh province, the solutions have been put forward such as improving the policy and legal basis for decentralized management of exploitation of hydraulic works; Improve the level of leaders, managers and operators, people benefit from the irrigation system; To increase investment in construction, material and technical foundations; Promote the application of science and technology; Strengthening the information and communication activities in the irrigation system of Bac Ninh province

The decentralization of irrigation management of Bac Duong irrigation works in Bac Ninh province is step by step completed and systematic, so basically ensuring the management of exploitation of irrigation works for irrigation and drainage Agricultural production and people's livelihood However, decentralization of Bac Dau irrigation works management in Bac Ninh province still exists The situation of violating the protection corridor has been complicated The level of the workers of Bac Duong company is redundant after decentralization, while at the local pump stations, the management level of the workers is still low Most of them have not been trained Funding for cooperatives receiving works from Bac Duong company is not guaranteed

to maintain maintenance works currently managed

In order to complete the decentralization of exploitation and management of Bac Duong hydropower project in Bac Ninh province, the solutions have been introduced such as improving the policy and legal basis for decentralized management of exploitation of hydraulic works; Improve the level of leaders, managers and operators, people benefit from the irrigation system; To increase investment in construction, material and technical foundations; Promote the application of science and technology; Strengthening information and communication activities in the Bac Ninh provincial software system

Trang 14

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

Phân cấp quản lý hệ thống công trình thủy lợi nhằm đảm bảo hiệu quả phục

vụ sản xuất nông nghiệp, dân sinh và các ngành kinh tế khác Nhiều công trình thủy lợi ở nước ta hiện nay có hiệu quả tưới thấp Nguyên nhân cơ bản đối với hiệu quả thấp ở các công trình thủy lợi là do yếu tố thể chế hơn là yếu tố kỹ thuật

Do vậy cần phải tìm ra hệ thống thể chế , mô hình quản lý phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả của hệ thống tưới tiêu Do đó, cần phải có sự tham gia của Nhà nước trong phân phối, sử dụng nước từ các công trình thủy lợi Tuy nhiên, cũng chính đặc tính đó đã tạo ra nhiều cấp độ công việc có tính phức tạp khác nhau trong chuỗi công tác quản lý vận hành và khai thác nó phục vụ tưới tiêu và phát triển kinh tế - xã hội

Công ty TNHH MTV Khai thác công trình Thủy lợi Bắc Đuống và các tổ hợp tác thuộc các huyện, thị, thành phố (Quế Võ, Yên Phong, Tiên Du, Từ Sơn , Bắc Ninh) khai thác quản lý công trình thủy lợi Bắc Đuống với nhiệm vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn Trải qua nhiều thời kỳ, các chủ thể đã thực hiện tốt việc khai thác vận hành hệ thống thuỷ lợi phục vụ kịp thời cấp nước tưới và tiêu nước, giúp tăng vụ, tăng năng suất cũng như bảo vệ thành quả sản xuất nông nghiệp của nhân dân Tuy nhiên, khi chính sách kinh tế - xã hội thay đổi, những

cơ chế quản lý trong lĩnh vực khai thác công trình thủy lợi cũng bị tác động, làm cho hoạt động của các tổ chức quản lý khai thác công trình (KTCT) thủy lợi luôn trong tình trạng thiếu nguồn tài chính cho duy tu, bảo dưỡng, vận hành bền vững

hệ thống Công tác tổ chức quản lý khai thác công trình thủy lợi (CTTL) còn nhiều yếu kém, bất cập, chưa gắn quyền lợi với chất lượng và hiệu quả công việc của người lao động trong doanh nghiệp quản lý khai thác công trình thủy lợi cũng như quyền lợi của người sử dụng nước để sản xuất và chưa phát huy được tính chủ động, trách nhiệm của cơ sở trong việc quản lý khai thác công trình thủy lợi ở các địa phương

Trong 20 năm trở lại đây dưới sự lãnh đạo của Đảng và các cấp chính quyền tỉnh Bắc Ninh đang phát triển mạnh về công nghiệp- dịch vụ, nhưng đối với ngành nông nghiệp vẫn đang rất được tỉnh quan tâm đầu tư hiện đại hóa đưa máy móc vào phục vụ nông nghiệp, xây dựng hệ thống tiêu đảm bảo cấp, thoát nước cho khu vực thành thị, khu công nghiệp và các vùng nông nghiệp trọng

Trang 15

điểm Tuy vậy, các hoạt động quản lý khai thác công trình thuỷ lợi còn nhiều mặt hạn chế như tổ chức quản lý còn cồng kềnh, kém hiệu quả, mối quan hệ giữa doanh nghiệp quản lý khai thác công trình thuỷ lợi với địa phương, các tổ chức hợp tác, hộ dùng nước còn lỏng lẻo Sử dụng nước còn lãng phí, tuỳ tiện, trách nhiệm trong bảo vệ công trình trong không được quan tâm, công tác duy tu bảo dưỡng công trình trông chờ vào sự quan tâm đầu tư của Nhà nước Công tác phân cấp quản lý khai thác công trình thuỷ lợi ở các địa phương nhìn chung còn chưa thống nhất, chưa bám sát vào tình hình, tính chất, điều kiện kinh tế xã hội, dân trí của từng địa phương nên đã tạo ra sự chồng chéo trong quản lý công trình thuỷ lợi, phân công trách nhiệm không rõ ràng của các cơ quan quản lý dẫn đến tình trạng trông chờ, ỉ nại Yêu cầu đặt ra là cân phải phân cấp cụ thể trong quản lý khai thác công trình thủy lợi, xác định rạch ròi trách nhiệm của từng bên trong quản lý khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi

Xuất phát từ những vấn đề thực tiễn ở địa phương, em tiến hành nghiên cứu luận văn thạc sỹ kinh tế với đề tài “Hoàn thiện phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi Bắc Đuống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh”

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu chung

Đánh giá thực trạng phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi Bắc Đuống, đề xuất giải pháp hoàn thiện phân cấp quản lý khai thác công trình này nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng công trình

1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi

Trang 16

Vấn đề phân cấp và thực hiện phân cấp quản lý khai thác công trình thuỷ lợi Bắc Đuống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

1.3.2.1 Phạm vi về thời gian

Vấn đề thực hiện phân cấp quản lý khai thác công trình thuỷ lợi do công

ty TNHH MTV KTCT thủy lợi Bắc Đuống quản lý được tiến hành nghiên cứu trong thời gian 3 năm (từ năm 2013-2015)

Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 3/2016 đến tháng 5/2017

1.3.2.2 Phạm vi về không gian

Đề tài nghiên cứu được thực hiện trong hệ thống thủy lợi Bắc Đuống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh Trong đó tập trung nghiên cứu tại địa bàn thuộc Công ty TNHH MTV Khai thác công trình Thủy lợi Bắc Đuống quản lý

1.3.2.3 Phạm vi nội dung

Đề tài nghiên cứu những nội dung có liên quan đến việc phân cấp quản

lý công trình thủy lợi, kết quả, hiệu quả thực hiện phân cấp quản lý công trình thủy lợi

Trang 17

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1.1 Một số khái niệm cơ bản

Theo quy định phân cấp quản lý khai thác bảo vệ công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh của UBND tỉnh Bắc Ninh (2014) thì:

- Công trình thuỷ lợi là cơ sở kinh tế - kỹ thuật thuộc kết cấu hạ tầng nhằm khai thác nguồn lợi của nước; phòng, chống tác hại của nước và bảo vệ môi trường, cân bằng sinh thái sinh thái; bao gồm: hồ chứa, đập, cống, trạm bơm, giếng, đường ống dẫn nước, kênh, công trình trên kênh, đê kè và bờ bao các loại;

- Kênh dẫn là công trình làm nhiệm vụ dẫn nước tưới, tiêu, tưới tiêu kết hợp từ công trình đầu mối (hoặc từ kênh cấp trên) đến hệ thống kênh cấp dưới (hoặc mặt ruộng) để tưới, tiêu hoặc tưới tiêu kết hợp cho một lưu vực nhất định -Trạm bơm

+ Trạm bơm tưới là công trình làm nhiệm vụ bơm cấp nước tưới cho một diện tích canh tác nhất định

+Trạm bơm tiêu là công trình làm nhiệm vụ bơm tiêu nước cho một diện tích lưu vực nhất định

+ Trạm bơm tưới tiêu kết hợp là công trình làm nhiệm vụ bơm cấp nước tưới cho một diện tích canh tác nhất định và bơm tiêu nước cho một diện tích lưu vực nhất định

- Cống đầu kênh là công trình dẫn nước hoặc tiêu nước cho một diện tích hưởng lợi nhất định thuộc trách nhiệm quản lý của người hưởng lợi Chi phí quản

lý vận hành, tu sửa và bảo vệ các công trình từ sau cống đầu kênh đến mặt ruộng

do người hưởng lợi đóng góp (gọi tắt là phí dịch vụ thuỷ nông nội đồng)

- Công trình trên kênh là công trình nằm trên kênh làm nhiệm vụ dẫn, điều tiết nước của kênh đó

2.1.2 Quản lý khai thác công trình thuỷ lợi

Công tác quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi bao gồm ba nội dung chính sau:

- Quản lý nước: Điều hoà phân phối nước, tiêu nước công bằng, hợp lý

Trang 18

trong hệ thống công trình thuỷ lợi, đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất nông nghiệp, đời sống dân sinh, môi trường và các ngành kinh tế quốc dân khác

- Quản lý công trình: Kiểm tra, theo dõi, phát hiện và xử lý kịp thời các sự

cố trong hệ thống công trình thuỷ lợi, đồng thời thực hiện tốt việc duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa nâng cấp công trình, máy móc, thiết bị; bảo vệ và vận hành công trình theo đúng quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật, đảm bảo công trình vận hành an toàn, hiệu quả và sử dụng lâu dài

- Tổ chức và quản lý kinh tế: Xây dựng mô hình tổ chức hợp lý để quản

lý, sử dụng có hiệu quả nguồn vốn, tài sản và mọi nguồn lực được giao nhằm thực hiện và hoàn thành tốt nhiệm vụ khai thác, bảo vệ công trình thuỷ lợi, kinh doanh tổng hợp theo qui định của pháp luật

Trong nội dung quản lý khai thác công trình thuỷ lợi lại được phân ra hai khu vực quản lý:

- Khu vực nhà nước

- Khu vực địa phương, dân cư quản lý

Mục tiêu quản lý khai thác công trình thuỷ lợi:

- Khai thác tối đa các nguồn lực nhằm bảo đảm công trình hoạt động theo đúng năng lực thiết kế trong suốt tuổi đời của nó

-Quản lý tưới, điều hành, phân phối và cung cấp nước cho các tổ chức dùng nước đạt hiệu quả

-Cải tạo, nâng cấp, sửa chữa, duy tu bảo dưỡng và phát triển mới công trình thuỷ lợi bảo đảm hệ thống công trình luuôn đạt hiệu quả

-Tổ chức thu, chi tài chính theo quy định phục vụ hoạt động khai thác công trình thuỷ lợi

- Khai thác tối đa những ưu điểm của hệ thống công trình, tạo tiềm lực mạnh về kinh tế của các tổ chức quản lý và khu vực như môi trường, du lịch, dịch vụ và các tác động xã hội

- Phát triển, mở rộng đa mục tiêu khai thác tưới nếu có khả năng

(Pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi số 32, 2001)

2.1.3 Các loại hình quản lý khai thác công trình thủy lợi

Các loại hình tổ chức phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi đang tồn tại ở nước ta hiện nay rất phong phú từ tên gọi tới phạm vi ngành

Trang 19

nghề Tuy nhiên, theo Nguyễn Thị Thu Hoa (2014) có thể quy thành 4 loại hình chính như sau:

- Doanh nghiệp

- Tổ chức hợp tác dùng nước

- Đơn vị sự nghiệp

- Cá nhân

Doanh nghiệp Khai thác công trình thuỷ lợi

Doanh nghiệp Khai thác công trình thuỷ lợi là doanh nghiệp được giao nhiệm vụ quản lý, khai thác và bảo vệ toàn bộ công trình hoặc hạng mục công trình thuỷ lợi

Tổ chức hợp tác dùng nước

Tổ chức hợp tác dùng nước là hình thức hợp tác của những người cùng hưởng lợi từ công trình thuỷ lợi, làm nhiệm vụ quản lý, khai thác và bảo vệ công trình, phục vụ sản xuất, dân sinh

Đơn vị sự nghiệp quản lý khai thác hệ thống thủy lợi được thành lập theo quy định của pháp luật về đơn vị sự nghiệp để quản lý hệ thống công trình phục

vụ từ hai huyện trở lên không phức tạp trong quản lý vận hành Bộ NN&PTNT quyết định thành lập đơn vị sự nghiệp quản lý khai thác công trình thủy lợi phục

vụ từ hai tỉnh trở lên UBND cấp tỉnh quyết định thành lập đơn vị sự nghiệp quản

lý khai thác công trình thủy lợi trong phạm vi tỉnh

Cá nhân quản lý khai thác công trình thủy lợi

Người có đủ điều kiện, năng lực theo quy định của pháp luật, có thể được giao quản lý khai thác và bảo vệ CTTL do nhà nước đầu tư xây dựng CTTL do

cá nhân đầu tư xây dựng, phải được tổ chức quản lý khai thác theo quy định của

cơ quan nhà nước có thẩm quyền

2.1.4 Nội dung phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi

2.1.4.1 Khái niệm phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi

Theo Huppert et al (2001) thì Phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi là sự phân công trách nhiệm từ các cơ quan quản lý công trình thủy lợi Trung ương cho các cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp dưới, ở địa phương Tác giả Huppert et al (2001) đã khuyến nghị việc quản lý CTTL hiệu quả không chỉ

Trang 20

đơn thuần là thiết kế một tổ chức quản lý thích hợp, mà cần phải tạo nên một mô hình gồm nhiều tổ chức khác nhau, được phân cấp nhiệm vụ và quyền lợi rõ ràng nhưng lại hoạt động và kết hợp với nhau trong một khung thể chế thống nhất phù hợp Nghiên cứu về phân cấp quản lý CTTL, quản lý tưới ở các nước Châu Á, Wantanabe (2003) cho thấy sự phân cấp quản lý ở một số nước Châu Á chủ yếu là làm rõ được trách nhiệm đối với vận hành và duy tu bảo dưỡng và cơ chế tài chính của các công ty, hoặc tổ chức quản lý CTTL do nhà nước thành lập

và các tổ chức của các đối tượng, người dùng nước

Như vậy, phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi là sự phân công trách nhiệm từ các cơ quan quản lý công trình thủy lợi Trung ương cho các cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp dưới, ở địa phương Việc phân cấp quản lý cho các tổ chức quản lý địa phương là cơ sở để thực hiện chuyển giao trách nhiệm quản lý công trình thủy lợi cho các tổ chức hợp tác dùng nước thực hiện quan điểm, chủ trương của thế giới và trong nước về quản lý công trình thuỷ lợi Việc phân cấp quản lý khai thác công trình thuỷ lợi phù hợp có ảnh hưởng lớn đến việc nâng cao hiệu quả quản lý tưới, tiêu Nhiều nghiên cứu khoa học cho thấy việc phân công, phân cấp quản lý khai thác công trình thuỷ lợi là cần thiết Đây là một trong những yêu cầu đảm bảo cho các hệ thống công trình thuỷ lợi phát huy hiệu quả đảm bảo phục vụ sản xuất nông nghiệp, dân sinh và các ngành kinh tế khác đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá hiện đại hoá sản xuất nông nghiệp

Việc nghiên cứu đề xuất chính sách phân cấp quản lý khai thác công trình thuỷ lợi cần dựa trên các bài học kinh nghiệm thực tiễn ở các vùng miền để có nội dung, phương pháp nghiên cứu thích hợp Nghiên cứu đề xuất chính sách phân cấp quản lý công trình thuỷ lợi cần xuất phát từ những nguyên lý cơ bản trong việc xây dựng các mô hình tổ chức quản lý để đảm bảo tính thống nhất trong quản lý khai thác hệ thống công trình thủy lợi

Thực tế đòi hỏi phải tổ chức lại sản xuất theo hướng công ty không quản

lý các công trình thuỷ lợi mà năng lực của cộng đồng có thể quản lý, để tinh giảm biên chế, giảm chi phí quản lý, tăng thu nhập, tạo điều kiện để củng cố và phát triển nguồn nhân lực nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý khai thác công trình thuỷ lợi

Chính phủ (2008) đã ban hành Nghị định 115/2008/NĐ-CP quy định về miễn giảm thuỷ lợi phí, quy định miễn thuỷ lợi phí đối với trường hợp sử dụng nước từ công trình thuỷ lợi được đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn ngân sách nhà

Trang 21

nước và cả trường hợp công trình thuỷ lợi đầu tư bằng nguồn vốn không thuộc ngân sách nhà nước Chính sách này quy định rõ các tổ chức được ngân sách cấp,

sử dụng kinh phí cấp bù miễn thuỷ lợi phí bao gồm cả các công ty KTCT thủy lợi, các tổ chức sự nghiệp và các TCHT dùng nước Đây là chính sách thuận lợi cho việc phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi Năm 2009, Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn đã ban hành Thông tư số 65/2009/TT-BNNPTNT

về hướng dẫn tổ chức hoạt động và phân cấp quản lý, khai thác công trình thủy lợi (Bộ NN&PTNT, 2009)

Nhà nước đã ban hành một số chính sách về công tác quản lý và khai thác công trình thuỷ lợi, tuy nhiên các chính sách này còn chung chung, dẫn đến tình trạng thực hiện không thống nhất ở các địa phương, chồng chéo chức năng nhiệm

vụ giữa các cơ quan quản lý nhà nước các cấp, cũng như giữa các tổ chức quản lý KTCT thủy lợi Do vậy, việc nghiên cứu cơ sở khoa học và đề xuất chính sách về phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi, đảm bảo tính thống nhất trong hệ thống quản lý để nâng cao hiệu quả quản lý khai thác phù hợp với đặc thù của từng vùng là cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao Chính sách về phân cấp quản lý sẽ thúc đẩy tiến trình đổi mới công tác quản lý đối với các công ty KTCT thủy lợi, tiến trình chuyển giao công trình thuỷ lợi cho các tổ chức hợp tác (TCHT) dùng nước và tăng cường sự hợp tác giữa công ty KTCT thủy lợi và các TCHT dùng nước phù hợp với chính sách của Chính phủ về miễn giảm thuỷ lợi phí cho người dân

2.1.4.2 Đặc điểm và mục tiêu phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi

Công trình thủy lợi có thể thay đổi do sự thay đổi của cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất, do sự đô thị hoá nhanh chóng dẫn đến thay đổi nhu cầu cấp, thoát nước trong khi CTTL đã được xây dựng từ trước theo mục tiêu, nhiệm vụ cũ Những nguyên nhân làm cho CTTL mất cân bằng, gây ra mâu thuẫn giữa cung cấp nước và yêu cầu nước thường xẩy ra ở các kênh mương cấp dưới và cơ sở, điều này chỉ có thể giải quyết tốt nếu có sự phân cấp quản lý KTCT thủy lợi cho các đơn vị, tổ chức dùng nước

Đặc điểm của CTTL là đối tượng được quản lý, điều khiển với cơ chế ra quyết định theo hai chiều: dưới lên trên rồi trên xuống dưới phải thành một thể thống nhất, đồng bộ Đơn vị quản lý công trình đầu mối ở trung tâm không thể đưa ra tất cả các quyết định khả thi để điều khiển hệ thống một cách có hiệu quả

từ đầu mối đến tận mặt ruộng hay đến các đối tượng khác nhau có nhu cầu cấp,

Trang 22

thoát nước khác nhau Họ chỉ có thể tổng hợp để điều chỉnh, thống nhất các quyết định của những đơn vị, người quản lý các hệ thống con ở cấp dưới cho tới mặt ruộng để thành một kế hoạch điều phối thống nhất, do vậy đòi hỏi phải có sự phân cấp và thống nhất quản lý

Việc quản lý và phân cấp quản lý khai thác các CTTL ở Việt Nam còn thêm phần khó khăn hơn nhiều nước khác do các điều kiện kinh tế, kỹ thuật, luật pháp, thể chế ở nước ta còn nhiều bất cấp, hơn nữa do trình độ dân trí, ý thức tự giác chấp hành, làm chủ của đa số bộ phận người dân, những đối tượng được hưởng lợi từ các CTTL mà chủ yếu là đại đa số nông dân ở nông thôn còn thấp kém nên gây khó khăn thêm cho quản ký các CTTL cũng là lý do đòi hỏi phân cấp quản lý cho các đơn vị cấp dưới để giải quyết các khó khăn, bất cập ở cơ sở

Phân cấp để nâng cao hiệu quả quản lý khai thác công trình thủy lợi Mục đích phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi là phân công trách nhiệm, quyền hạn rõ ràng giữa các cấp phụ trách quản lý KTCT thủy lợi để tránh chồng chéo, ỷ lại, tăng cường tính tự chủ, sáng tạo cho các cấp quản lý, đảm bảo tính thống nhất quản lý điều hành để nâng cao hiệu quả quản lý khai thác công trình thuỷ lợi Cụ thể

- Phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi sẽ làm rõ được trách nhiệm đối với vận hành và duy tu bảo dưỡng và cơ chế tài chính đối với công ty, hoặc tổ chức quản lý khai thác CTTL do nhà nước thành lập và các tổ chức dùng nước

- Phân cấp để giảm chi phí của Chính phủ, do Chính phủ không thể đủ nguồn lực về nhân lực và tài chính để bao cấp cho hoạt động quản lý, khai thác công trình thủy lợi trên quy mô cả nước Nhà nước chỉ có thể bao cấp xây dựng công trình và hỗ trợ một phần kinh phí cho việc quản lý, vận hành công trình thủy lợi lớn, còn cộng đồng người dùng nước cần tự quản lý, vận hành công trình thủy lợi nhỏ và hệ thống thủy lợi nội đồng ở các hệ thống lớn

- Phân cấp để tăng cường trách nhiệm của người sử dụng nước Do công trình thủy lợi trực tiếp phục vụ tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp của người nông dân, hiệu quả hoạt động của công trình thủy lợi sẽ tác động trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và thu nhâp của người dân, nên người dùng nước sẽ có trách nhiệm hơn trong việc quản lý, bảo vệ công trình Nguồn nhân lực xã hội ngày càng khan hiếm, giá trị nhân công lao động trong nền kinh tế thị trường ngày càng cao trong khi đó hệ thống thuỷ lợi trải rộng trên phạm vi lớn nên các doanh nghiệp không thể đủ nhân lực để tiếp cận tới tất cả các công việc trong hệ

Trang 23

thống Để tăng hiệu quả sử dụng lao động nhất thiết phải sử dụng lao động tại chỗ, là các tổ chức dùng nước Do vậy, đây được coi là đặc điểm mang tính tất yếu trong tổng hoạt động quản lý dịch vụ thuỷ lợi ở các hệ thống lớn và phân cấp là để thực hiện mục tiêu nâng cao hiệu quả sử dụng lao động trong ngành

- Phân cấp quản lý khai thác là cơ sở để chuyển giao công trình thủy lợi cho người dùng nước quản lý, nâng cao tính tự chủ của các tổ chức quản lý, tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong công tác thủy lợi, đảm bảo công trình thủy lợi, đặc biệt là cấp xã, thôn có chủ quản lý thật sự, đảm bảo tính bền vững trong hoạt động của các tổ chức quản lý, khai thác công trình thủy lợi

- Phân cấp quản lý công trình thủy lợi cho các tổ chức hợp tác dùng nước

là đảm bảo sự đồng bộ khép kín về công tác quản lý, làm tốt chức năng cầu nối giữa doanh nghiệp nhà nước khai thác công trình thủy lợi với các dịch vụ liên quan giúp người dùng nước sử dụng nước hiệu quả

- Phân, giao trách nhiệm quản lý, vận hành và duy tu, bảo dưỡng công trình thủy lợi phục vụ nội xã cho các hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp nhằm khắc phục những bất cập của tổ chức quản lý khai thác công trình thủy lợi hiện tại, phát huy vai trò, trách nhiệm của người dùng nước, đảm bảo các hệ thống thuỷ lợi, công trình thủy lợi đều có chủ quản lý.Khả năng của cộng đồng hoàn toàn có thể quản lý các công trình thủy lợi nhỏ, có tính chất kỹ thuật đơn giản Huy động được nguồn lực xã hội vào khai thác công trình thủy lợi ngày một hiệu quả, đáp ứng yêu cầu sản xuất nông nghiệp, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái bền vững.(Nguyễn Hữu Trung, 2011)

2.1.4.3 Nguyên tắc phân cấp quản lý công trình thủy lợi

Nguyên tắc của phân cấp quản lý nhà nước về thủy lợi là nhằm phát huy tính năng động, sáng tạo, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của mỗi cấp chính quyền địa phương trên cơ sở phân định rõ ràng, cụ thể nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm của mỗi cấp trong bộ máy chính quyền nhà nước, đảm bảo sự quản

lý thống nhất của các cấp chính quyền nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, phục vụ tốt hơn nhu cầu và lợi ích của nhân dân, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN

Chức năng nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan quản lý nhà nước về khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi như Sở NN&PTNT, Chi cục thuỷ lợi tỉnh, Phòng NN&PTNT huyện cần rõ ràng, không chồng chéo tạo điều kiện cho công

Trang 24

tác chỉ đạo điều hành ở các địa phương thông suốt, hiệu quả Cần phân định rõ ràng, cụ thể nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm của mỗi cấp trong bộ máy chính quyền nhà nước

Chính quyền địa phương các cấp được tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc thực hiện các nhiệm vụ của quản lý nhà nước trên địa bàn theo luật định Quá trình phân cấp quản lý luôn gắn cùng quá trình phối hợp giữa các ngành và các cấp chính quyền; phải đảm bảo nền hành chính thống thông suốt Phân cấp quản lý không chỉ đơn giản là “cắt khúc” hay chia đều nhiệm vụ cho từng cấp chính quyền thực hiện mà còn đòi hỏi trách nhiệm phối hợp (hướng dẫn, kiểm tra, hỗ trợ) của cấp trên và (tổ chức thực hiện) của cấp dưới

Phân cấp quản lý cần xác định rõ ràng các nhiệm vụ đích thực của mỗi cấp, làm cho mỗi cấp nhận rõ và chủ động, sáng tạo làm đúng những nhiệm vụ phải làm và cần làm Cấp trên không bao biện, làm thay, cấp dưới không trông chờ, ỷ lại Công tác quản lý nhà nước về khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi ở các cấp cần tập trung vào nội dung quản lý chuyên môn, giảm tính sự vụ, hành chính Cơ quan chuyên môn quản lý nhà nước về công trình thuỷ lợi ở các cấp cần tiến tới hiện đại hoá theo hướng chuyên môn sâu, giảm các công tác mang tính sự vụ, hành chính, và tránh hành chính hoá các công việc mang tính chất chuyên môn

*Nguyên tắc cơ bản phân cấp quản lý khai thác công trình thuỷ lợi

- Việc tổ chức quản lý khai thác công trình thuỷ lợi phải bảo đảm tính hệ thống của công trình, kết hợp quản lý theo lưu vực và vùng lãnh thổ Bảo đảm an toàn và khai thác có hiệu quả các công trình thuỷ lợi trong việc tưới tiêu, cấp nước phục vụ các ngành sản xuất, dân sinh, kinh tế - xã hội và môi trường

- Mô hình tổ chức quản lý khai thác công trình thuỷ lợi phải phù hợp với tính chất, đặc điểm hoạt động, yêu cầu kỹ thuật quản lý, vận hành và điều kiện cụ thể của từng vùng, từng địa phương Bảo đảm mỗi hệ thống công trình, công trình thuỷ lợi phải do một tổ chức, cá nhân trực tiếp quản lý, vận hành và bảo vệ

- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trực tiếp tổ chức quản lý hoặc phân cấp cho UBND cấp tỉnh trong vùng hưởng lợi tổ chức quản lý hệ thống công trình thuỷ lợi liên tỉnh

- Việc quản lý, vận hành và bảo vệ các công trình đầu mối lớn, công trình quan trọng, hệ thống kênh trục chính và các kênh nhánh có quy mô lớn, kỹ thuật

Trang 25

vận hành phức tạp phải do doanh nghiệp có năng lực và kinh nghiệm trong quản

lý, khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi thực hiện để bảo đảm vận hành công trình an toàn, hiệu quả Do vậy mà việc phân cấp cho các địa phương cần phải căn cứ vào quy mô của công trình, mức độ phức tạp trong quản lý và mức độ nguy hiểm đối với vùng hạ du khi công trình xảy ra sự cố

- Tổ chức, cá nhân được giao hoặc có tham gia quản lý, khai thác và bảo vệ công trình, hệ thống công trình thuỷ lợi phải có đủ năng lực, kinh nghiệm phù hợp với quy mô, tính chất, yêu cầu kỹ thuật của từng công trình,

hệ thống công trình được giao, chịu trách nhiệm trước cơ quan đặt hàng (hoặc

cơ quan hợp đồng dịch vụ), cơ quan quản lý nhà nước trên địa bàn và pháp luật về kết quả thực hiện nhiệm vụ quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi trong phạm vi được giao

- Phân cấp quản lý KTCT thủy lợi phải đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất nông nghiệp, đời sống xã hội trước mắt, đồng thời phải đảm bảo sự phát trển bền vững, phù hợp với tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn

- Thực hiện phân cấp cần chuyển giao công trình thủy lợi cho các tổ chức hợp tác dùng nước, tránh tình trạng chuyển giao cho các đơn vị hành chính dẫn đến tình trạng công trình vô chủ

- Phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi cho cơ sở phải giữ vững được sự ổn định trong suốt quá trình trước, trong và sau bàn giao, đáp ứng yêu cầu sản xuất nông nghiệp, đời sống kinh tế - xã hội ngày một hiệu quả hơn Bảo đảm tính hệ thống, đồng bộ, không cát cứ cục bộ, củng cố vững chắc mối quan

hệ giữa các Công ty khai thác công trình thủy lợi với địa phương, cơ sở và tổ chức hợp tác dùng nước Bàn giao nguyên trạng công trình, đồng loạt, nhanh gọn, đơn giản, dân chủ và đúng pháp luật giữa công ty khai thác công trình thủy lợi với các Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp dưới sự giám sát của chính quyền Nhà nước có trách nhiệm sửa chữa, tu bổ để bảo đảm năng lực phục vụ của công trình trước, trong hoặc sau bàn giao

* Cách tiếp cận phân cấp theo cấp chính quyền

- Đối với cấp tỉnh: Cấp tỉnh là cấp có tính chất chiến lược, có đủ các yếu

tố về nhân tài, vật lực và thẩm quyền để quyết định các vấn đề của địa phương như: quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội, xây dựng kết cấu hạ tầng cơ

Trang 26

sở, các công trình phúc lợi công cộng, phân bổ ngân sách địa phương cho đầu tư xây dựng cơ bản; tổ chức và bộ máy chính quyền cấp huyện, cấp xã, quyết định biên chế và phụ cấp cho cán bộ xã cũng như các chính sách: thu hút đầu tư, thu hút nhân tài, các khoản phí, lệ phí

Cần đẩy mạnh hơn nữa vai trò của Uỷ ban nhân dân (UBND) trong việc chỉ đạo các cơ quan tham mưu cũng như đơn vị quản lý khai thác công trình thuỷ lợi thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý khai thác hiệu quả công trình thủy lợi

Về mặt tổ chức, UBND tỉnh hoàn toàn được chủ động thành lập những doanh nghiệp nhà nước khai thác trong lĩnh vực khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi, theo quy định của luật Doanh nghiệp nhà nước trước đây, nay là Luật doanh nghiệp Theo quy định, chủ tịch UBND tỉnh là cơ quan sáng lập ra doanh nghiệp khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi, đồng thời là chủ sở hữu đối với doanh nghiệp Đồng thời, quyết định việc áp dụng thành lập mô hình cơ quan chuyên môn quản lý nhà nước thuộc địa phương Do vậy, Chính phủ cần ban hành những văn bản quy định cụ thể, rõ ràng về các mô hình tổ chức cơ quan chuyên môn quản lý nhà nước và mô hình tổ chức, cơ chế hoạt động cho các đơn

vị thực hiện nhiệm vụ quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi để các địa phương vận dụng linh hoạt, chủ động nhưng thống nhất

- Đối với cấp huyện: Cấp huyện mang tính chất của một cấp hành chính trung gian, đại diện cho cấp tỉnh để chỉ đạo việc thực hiện các quyết định của chính quyền cấp tỉnh trên địa bàn huyện, phối hợp với các cơ quan cấp tỉnh để thực hiện các nhiệm vụ trên địa bàn và giải quyết các vấn đề có tính liên xã Từ

đó, có thể xác định rõ 3 nhiệm vụ của cấp huyện: một là, thực hiện một số công việc theo uỷ nhiệm của UBND cấp tỉnh (kể cả việc giải quyết một số thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền cấp tỉnh, hoặc những thủ tục mà trước mắt chính quyền cấp cơ sở chưa thể đảm nhiệm được); hai là, giúp chính quyền cấp tỉnh chăm lo xây dựng chính quyền cấp cơ sở và thực hiện một số nhiệm vụ liên xã;

ba là, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc thực thi các nhiệm vụ của chính quyền cấp cơ sở Vai trò của UBND cấp huyện sẽ phải đẩy mạnh trong việc chỉ đạo, phối hợp cùng với các tổ chức quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi trên địa bàn, đặc biệt trong việc thực hiện phương án bảo vệ công trình, điều hoà phân phối nước phục vụ tưới tiêu

- Đối với cấp xã: Uỷ ban nhân dân cấp xã là cấp cực kỳ quan trọng trong việc làm cầu nối giữa chính quyền cấp trên cũng như các tổ chức quản lý của nhà

Trang 27

nước khác, trong đó có các tổ chức quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi với người dân, đặc biệt là người dân sản xuất nông nghiệp Tuy cấp xã không có một

tổ chức chuyên môn giúp UBND thực hiện chức năng quản lý nhà nước về khai thác công trình thuỷ lợi, nhưng có cán bộ chuyên trách hoặc bán chuyên trách phụ theo quy định.(Nguyễn Hữu Trung, 2011)

2.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến phân cấp quản lý khai thác công trình thuỷ lợi

2.1.5.1 Các yếu tố khách quan

* Điều kiện tự nhiên

Diễn biến thời tiết khí tượng thủy văn có xu hướng ngày càng bất lợi, thiên tai xảy ra ngày càng khắc nghiệt, dẫn đến việc phá huỷ hệ thống, cơ cấu chất lượng công trình

Do điều kiện tự nhiên mỗi vùng khác nhau nên mỗi công trình thủy lợi xây dựng đều có đặc điểm riêng gây khó khăn trong việc áp dụng tiêu chí chung

để phân cấp hệ thống công trình thủy lợi

* Kinh tế -Xã hội

Sự phát triển kinh tế xã hội nhanh nhưng không bền vững đã làm cho các

hệ thống công trình thủy lợi bị xâm hại, người dân chưa ý trong tác thức được trách nhiệm bảo vệ vi phạm hành lang công trình thủy lợi tại địa phương, gây khó khăn trong công tác phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi

Trang 28

Hiện nay người quản lý thì chủ yếu quan tâm về xây dựng, ít quan tâm về công tác quản lý, đồng thời có xu hướng nặng về bao cấp, coi nhẹ sự tham gia của người dân Bên cạnh đó đa phần người dân địa phương chưa nhận thức đúng, đầy đủ trách nhiệm đối với việc quản lý bảo vệ và khai thác công trình thủy lợi vậy nên khi được phân cấp họ chưa thực hiện tốt việc này

* Cơ chế chính sách

Cơ chế chính sách có những ảnh hưởng trực tiếp tới việc phân cấp quản

lý khai thác hệ thống thủy lợi Các chính sách hợp lý sẽ tạo động lực khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia bảo vệ, tu bổ chống vi phạm hành lang công trình thuỷ lợi Ngược lại nếu chính sách đưa ra không hợp lý sẽ làm triệt tiêu động lực phát triển, tinh thần ỷ lại thiếu trách nhiệm làm giảm hiệu quả quản lý khai thác cụ thể như:

- Thiếu chính sách tạo động lực khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia bảo vệ, tu bổ chống vi phạm hành công trình thuỷ lợi, vai trò của người dân trong quản lý khai thác công trình thuỷ lợi và bảo vệ công trình chưa được quan tâm đúng mức

- Một số cơ chế chính sách về tài chính trong quản lý khai thác công trình thuỷ lợi còn mang tính xin cho Quyền và trách nhiệm của các tổ chức quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi đối với đất đai thuộc phạm vi công trình thuỷ lợi do

tổ chức đó quản lý chưa được quy định rõ ràng

- Tình trạng lấn chiếm, vi phạm hành lang các công trình thủy lợi ngày càng có chiều hướng gia tăng do không đủ cơ sở pháp lý trong công tác quản lý

* Tổ chức quản lý

UBND tỉnh giao Sở Nông nghiệp và PTNT thực hiện chức năng, nhiệm

vụ quản lý Nhà nước về quản lý khai thác công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh

Sở Nông nghiệp và PTNT lại giao Chi Cục Thủy lợi và các doanh nghiệp KTCT thủy Lợi giúp Sở trực tiếp thực hiện, chức năng nhiệm vụ này Ở cấp huyện, UBND huyện giao cho một phòng chuyên môn làm chức năng nhiệm vụ quản lý nhà nước về thủy lợi trên địa bàn huyện và ở cấp xã, UBND xã giao cho cán bộ giao thông thủy lợi quản lý

Bộ máy quản lý Nhà nước về quản lý khai thác công trình thủy lợi đã không ngừng tăng cường, củng cố và phát triển qua các thời kỳ, thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý Nhà nước trong chỉ đạo xây dựng và thực hiện chiến lược, quy

Trang 29

hoạch, kế hoạch, chính sách về quản lý khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi… Các hệ thống công trình vận hành an toàn, phòng chống và hạn chế các rủi ro do thiên tai lũ lụt và hạn hán, phục vụ tốt sản xuất nông nghiệp, dân sinh kinh tế xã hội trước mọi diễn biến phức tạp của khí hậu thời tiết

Tuy vậy, bộ máy quản lý Nhà nước về quản lý khai thác công trình thủy lợi tại một số nơi đang bộc lộ những bất cập như:

- Bộ máy quản lý Nhà nước về quản lý khai thác công trình thủy lợi còn thiếu tính thống nhất, chức năng nhiệm vụ không nhất quán nên khó khăn cho việc chỉ đạo giữa chị cục thủy lợi, doanh nghiệp KTCT thủy Lợi, và các phòng ban chuyên môn ở cấp huyện, cấp xã , phường

- Phân cấp quản lý chưa rõ ràng dẫn đến khó khăn trong điều hành chỉ đạo quản lý

* Khoa học công nghệ

Bao gồm việc nghiên cứu, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật trong quản lý, vận hành công trình thuỷ lợi chưa được quan tâm đúng mức, đầu tư trang thiết bị khoa học công nghệ trong quản lý, khai thác công trình thủy lợi còn thấp, và hầu như không đáng kể Nhiều hệ thống đóng mở, vận hành cống còn chủ yếu bằng thủ công

Việc tuyên truyền, hướng dẫn, phổ biến bảo vệ công trình thủy lợi và nguồn nước ở các địa bàn nhìn chung còn nhiều hạn chế, nhiều người dân, thậm chí cả cán bộ các cấp nhận thức chưa đúng về vai trò của công trình thủy lợi và nguồn nước, gây khó khăn và ảnh hưởng đến hoạt động của các đơn vị quản lý, khai thác công trình thủy lợi (Nguyễn Văn Hoàn, 2014)

2.2.1 Cơ sở pháp lý về phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi

Nhà nước đã ban hành các chính sách thuận lợi cho việc phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi ở nước ta Bộ NN & PTNT cũng ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thực hiện luật, pháp lệnh và nghị định của chính phủ về phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi, tạo hành lang pháp lý và cơ hội thuận lợi cho các tổ chức quản lý khai thác hiệu quả công trình thủy lợi Các văn bản pháp lý quan trọng liên quan đến quy định về phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi bao gồm:

Trang 30

 Nghị định 143/2003/NĐ-CP của Chính phủ (2003) quy định chi tiết việc thực hiện Pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi

hành một số điều của Pháp lệnh Khai thác và Bảo vệ công trình thuỷ lợi

số điều của nghị định số 143/2003/NĐ- CP quy định chi tiết thi hành một số điều của pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình

củng cố, thành lập các tổ hợp tác dùng nước

Bộ nội vụ (2008) hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân các cấp quản lý nhà nước về nông nghiệp và phát triển nông thôn

dẫn tổ chức hoạt động và phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi

Nghị định 143/2003/ND-CP

Nghị định 143 của Chính phủ (2003) quy định một số điểm chi tiết thực hiện Pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi, trong đó đề cập đến 2 nội dung quan trọng về phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi là mức thủy lợi phí và chuyển giao công trình thủy lợi cho các TCHTDN

Điều 19 của Nghị định quy định khung mức thủy lợi phí, tiền nước là thủy lợi phí được thu bằng đồng Việt Nam

Khung mức thủy lợi phí được tính ở vị trí cống đầu kênh của tổ chức hợp tác dùng nước Mức thủy lợi phí trong phạm vi phục vụ của tổ chức hợp tác dùng nước do tổ chức hợp tác dùng nước thoả thuận với tổ chức, cá nhân trực tiếp sử dụng nước

Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào khung mức thủy lợi phí, tiền nước quy định tại khoản 1 Điều này để quy định mức thu cụ thể phù hợp với thực tế của hệ thống công trình ở địa phương theo phân cấp tổ chức quản lý công trình; quy định khung mức thủy lợi phí, tiền nước trong phạm vi phục vụ của tổ chức hợp tác dùng nước

Trang 31

Điều 6 của Nghị định quy định việc giao công trình thủy lợi cho Tổ chức hợp tác dùng nước, cá nhân theo quy định tại Điều 10 Pháp lệnh Khai thác và bảo

vệ công trình thủy lợi phải thực hiện theo các nguyên tắc sau đây:

Pháp lệnh Khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi

cơ sở đào tạo thuộc ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn cấp hoặc bằng tốt nghiệp từ trung học chuyên nghiệp (ngành thủy lợi) trở lên

và bảo vệ công trình thủy lợi

Nghị định số 115/2008/NĐ-CP của Chính phủ

Nghị định 115 của Chính phủ (2008) sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 143/2003/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Khai thác và Bảo vệ công trình thuỷ lợi Nội dung chủ yếu của Nghị định đã quy định mức thu thuỷ lợi phí và miễn thuỷ lợi phí, trong đó các nội dung liên quan đến phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi như sau:

Mức thủy lợi phí được tính ở vị trí cống đầu kênh của tổ chức hợp tác dùng nước đến công trình đầu mối của công trình thuỷ lợi

Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định vị trí cống đầu kênh của tổ chức hợp tác dùng nước cho từng hệ thống công trình

Tổ chức hợp tác dùng nước thoả thuận với tổ chức, cá nhân sử dụng nước

về mức phí dịch vụ lấy nước từ sau cống đầu kênh đến mặt ruộng (kênh nội đồng), nhưng không được vượt quá mức trần do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định

Mức thuỷ lợi phí của các công trình thuỷ lợi được đầu tư bằng nguồn vốn không thuộc ngân sách nhà nước hoặc có một phần vốn ngân sách nhà nước do đơn vị quản lý khai thác công trình thuỷ lợi thoả thuận với hộ dùng nước và được

Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chấp thuận

Các đơn vị quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi được ngân sách nhà nước cấp bù số tiền do thực hiện miễn thu thuỷ lợi phí bao gồm các đơn vị quản lý, khai thác hệ thống công trình thuỷ lợi đầu tư bằng vốn ngân sách nhà nước và các

Trang 32

đơn vị quản lý, khai thác hệ thống công trình đầu tư bằng nguồn vốn không thuộc ngân sách nhà nước hoặc có một phần vốn ngân sách nhà nước và thu thuỷ lợi phí theo thoả thuận

Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định cụ thể mức thu tiền nước phù hợp với thực tế của hệ thống công trình thuỷ lợi ở địa phương và quy định về phân cấp, tổ chức quản lý công trình thuỷ lợi hiện hành

Nghị định 67/2012/NĐ-CP của Chính phủ (2012) sửa đổi bổ sung một số điều của nghị định số 143/2003/NĐ- CP quy định chi tiết thi hành một số điều của pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình.Nội dung chủ yếu của Nghị định là quy định mức thu thuỷ lợi phí và miễn thuỷ lợi phí, trong đó các nội dung liên quan đến phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi như sau:

Bổ sung các Khoản 10, 11, 12, 13, 14 vào Điều 29 như sau:

10 Thực hiện phân cấp quản lý cụ thể các công trình thủy lợi theo hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

11 Giám sát việc xây dựng ban hành các định mức lao động, định mức kinh

tế kỹ thuật cho các công ty quản lý khai thác công trình thủy lợi và tổ chức hợp tác dùng nước Quyết định phương thức giao kế hoạch, đặt hàng cho các đơn vị làm nhiệm vụ quản lý, khai thác công trình thủy lợi, duyệt dự toán, cấp phát, quản lý thanh quyết toán kinh phí cho các đơn vị làm nhiệm vụ quản lý khai thác công trình thủy lợi

12 Hàng năm xây dựng dự toán cấp bù thủy lợi phí được miễn cho các đơn

vị quản lý, khai thác công trình thủy lợi trình Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xem xét quyết định; tổng hợp báo cáo Bộ Tài chính,

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về mức kinh phí hỗ trợ

13 Giám sát việc thực hiện thu, chi, thanh quyết toán các khoản hỗ trợ của ngân sách theo quy định của Luật ngân sách

14 Tổ chức sắp xếp lại các công ty quản lý, khai thác công trình thủy lợi của tỉnh theo chính sách thu thủy lợi phí quy định tại Nghị định này

Thông tư liên tịch 61/2008/TTLT-BNN-BNV

Thông tư liên tịch 61 do Bộ NN&PTNT và Bộ Nội vụ (2008) ban hành đã thể hiện chi tiết hơn về nhiệm vụ, quyền hạn chung và ở các lĩnh vực thuộc

Trang 33

ngành quản lý của Sở Nông nghiệp và PTNT Liên quan đến tổ chức quản lý khai thác công trình thuỷ lợi Thông tư đã nêu ra 3 nhiệm vụ chính là:

Tham mưu cho UBND tỉnh về việc phân cấp quản lý các hệ thống thuỷ lợi vừa và nhỏ, đồng thời hướng dẫn kiểm tra và chịu trách nhiệm việc xây dựng, khai thác và bảo vệ các hệ thống đó Và tổ chức thực hiện chương trình mục tiêu cấp thoát nước nông thôn

Hướng dẫn kiểm tra thực hiện các quy định quản lý nhà nước về khai thác

và bảo vệ các công trình thuỷ lợi…

Thực hiện các quy định về quản lý sông suối, khai thác sử dụng và phát triển các dòng sông suối trên địa bàn tỉnh theo quy hoạch kế hoạch đã được cấp

có thẩm quyền phê duyệt

Thông tư số 65/2009/TT-BNN của Bộ NN&PTNT

Ngày 12/10/2009, Bộ NN&PTNT (2009) đã ban hành Thông tư số 65/2009/TT-BNNPTNT hướng dẫn tổ chức hoạt động và phân cấp quản lý, khai thác công trình thủy lợi Thông tư này hướng dẫn tổ chức hoạt động và phân cấp quản lý, khai thác đối với các công trình, hệ thống công trình thuỷ lợi được đầu

tư xây dựng bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước, hoặc có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước đã được đưa vào khai thác, sử dụng

Đối với các công trình, hệ thống công trình thuỷ lợi được đầu tư xây dựng bằng các nguồn vốn khác, việc tổ chức quản lý, vận hành do chủ sở hữu (hoặc đại diện chủ sở hữu) quyết định trên cơ sở vận dụng hướng dẫn của Thông tư này

và các hướng dẫn khác theo quy định của pháp luật, đảm bảo an toàn, sử dụng có hiệu quả

Đối tượng áp dụng Thông tư này là các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được giao nhiệm vụ quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi

Thông tư số 75/2004/TT-BNN của Bộ NN&PTNT

Ngày 20/12/2004, Bộ NN&PTNT (2004) đã ban hành Thông tư số 75 hướng dẫn việc thành lập, củng cố và phát triển Tổ chức hợp tác dùng nước Các nội dung chính của Thông tư liên quan đến phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi là như sau:

Tổ chức hợp tác dùng nước là hình thức hợp tác của những người cùng hưởng lợi từ công trình thuỷ lợi, làm nhiệm vụ khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi phục vụ sản xuất, dân sinh trên địa bàn nhất định

Trang 34

Mục tiêu của việc thành lập củng cố và phát triển TCHTDN là đảm bảo cho công trình các loại đều có chủ quản lý

Đảm bảo hệ thống tưới được quản lý khép kín từ đầu mối đến mặt ruộng nâng cao hiệu quả sử dụng nước Cầu nối giữa doanh nghiệp nhà nước với người dùng nước chính là TCHTDN

Nguyên tắc tổ chức: Công trình tưới tiêu trong phạm vi thôn, xã, liên xã thì phải do tổ chức quản lý thôn, xã, liên xã làm chủ quản lý TCHTDN quản lý điều hành theo hệ thống công trình và phần thuộc địa giới hành chính do được chuyển giao chịu sự quản lý nhà nước của chính quyền cấp trực tiếp và được sự hướng dẫn chuyên môn của cơ quan chức năng

Hệ thống công trình được xây dựng trên địa bàn phục vụ tưới tiêu gọn trong phạm vi thôn, liên thôn, xã hoặc liên xã (không liên quan đến tổ chức,

quản lý vận hành hệ thống công trình do doanh nghiệp nhà nước khai thác công trình thủy lợi quản lý) thì thành lập một tổ chức để quản lý, điều hành thống nhất công trình thuộc phạm vi phụ trách theo các loại hình TCHTDN thích hợp

* Một số đánh giá về các văn bản pháp lý hiện có về tổ chức quản lý khai thác công trình thủy lợi

Những năm gần đây, các luật, chính sách về cải cách hệ thống quản lý tưới của chính phủ, Bộ NN & PTNT đã tạo hành lang pháp lý và cơ hội thuận lợi cho các tổ chức quản lý thủy nông phát triển, khuyến khích chuyển giao quản lý tưới

và sự tham gia của người dùng nước vào quản lý các công trình thuỷ lợi Pháp lệnh khai thác và bảo vệ CTTL, Nghị định 143 của Chính phủ cũng đều khuyến khích chuyển giao quản lý công trình thủy lợi cho các tổ chức hợp tác dùng nước Nghị định 115/2008/NĐ-CP quy định về miễn giảm thuỷ lợi phí đối với trường hợp sử dụng nước từ công trình thuỷ lợi được đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước và cả trường hợp công trình thuỷ lợi đầu tư bằng nguồn vốn không thuộc ngân sách nhà nước Chính sách này quy định rõ các tổ chức được ngân sách cấp, sử dụng kinh phí cấp bù miễn thuỷ lợi phí bao gồm cả các công ty KTCTTL, các tổ chức sự nghiệp và các TCHTDN Đây là chính sách thuận lợi cho việc phân cấp quản lý KTCTTL

Tuy nhiên, nhiều quy định hiện hành hầu như không được thực hiện đầy đủ bởi các bộ ngành liên quan Nguyên nhân là do thiếu các Nghị định hoặc thông tư hướng dẫn cụ thể các thủ tục thực hiện các quy định này Các quy định về phân

Trang 35

cấp quản lý và chuyển giao công trình thủy lợi cho các TCHTDN còn chung chung, chưa được đồng bộ, chưa thực sự phù hợp với thực tiễn hoặc khó thực thi làm cho các quy định này vẫn còn bị hạn chế trong quá trình thực hiện

2.2.2 Kinh nghiệm phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi ở nước ngoài

2.2.2.1 Phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi ở Trung Quốc

Hiện nay, ở Trung quốc có 3 loại hình tổ chức quản lý các công trình thủy lợi, quản lý tưới đã được thiết lập và hoạt động:

- Các hệ thống CTTL lớn thuộc sở hữu nhà nước, được quản lý bởi các cơ quan nhà nước do chính phủ thành lập

- Các hệ thống CTTL có quy mô nhỏ thì do các tập thể, cộng đồng những người hưởng lợi quản lý với sự hướng dẫn, chỉ đạo của các cơ quan quản lý nước địa phương của nhà nước

- Các công trình có quy mô rất nhỏ nhý các trạm bõm nhỏ, các giếng khoan, bể chứa nước được quản lý bới các hộ nông dân hoặc nhóm hộ nông dân riêng biệt

Cách phân cấp quản lý này đã tồn tại khá lâu mặc dù đã bộc lộ một số nhược điểm như gặp khó khăn trong việc thu đúng, thu đủ thuỷ lợi phí nên bị thua lỗ trong hạch toán kinh doanh, khiến ngân sách Nhà nước phải bù chi nhiều (nhất là đối với các hệ thống lớn), như các hệ thống nhỏ sẽ gặp khó khăn trong việc thực hiện các quy trình, quy phạm trong quản lý vận hành, trong chuyển giao công nghệ tiến bộ

Một hình thức mới trong quản lý thuỷ nông là hình thức tổ chức đấu thầu

Cơ quan quản lý nước tổ chức đấu thầu và ký hợp đồng với đơn vị trúng thầu với thời hạn khoảng 3 năm theo ba giai đoạn Người ta cũng cho rằng tính trách nhiệm trong quản lý theo hình thức khoán gọn là một mô hình quản lý CTTL hiệu quả phù hợp với điều kiện hiện tại của Trung Quốc Mô hình này đã làm thay đổi hệ thống quản lý nguồn nước, thay đổi phân cấp, cơ cấu quản lý Kết quả thể hiện rõ nhất của sự phân cấp quản lý, thay đổi hình thức quản lý thủy lợi của Trung Quốc đã tăng các khoản thu từ dịch vụ thuỷ lợi để khôi phục, duy tu hạn chế sự xuống cấp của nhiều công trình thuỷ lợi; sản xuất nông nghiệp được phát triển, đạt hiệu quả kinh tế cao, sự tham gia đóng góp của người dân trong việc xây dựng, phát triển các công trình thuỷ lợi với trách nhiệm cao hơn

Trang 36

Hiện nay, Bộ Thủy lợi Trung Quốc là đơn vị hành chính cao nhất của ngành nước Cục quản lý tưới, tiêu trực thuộc Bộ quản lý các hệ thống thủy nông lớn và cung cấp nước tưới và công nghiệp Có 7 hội đồng lưu vực có chức năng như nhà quy hoạch và điều tiết nước lưu vực Cấp tỉnh có nha thủy lợi có vị trí chức năng quy hoạch, khảo sát, thiết kế, xây dựng, vận hành và quản lý các hệ thống tưới, tiêu, đê điều và thủy điện nông thôn Cơ quan thủy lợi cấp quận và vùng trực tiếp

có trách nhiệm trong việc xây dựng và quản lý vận hành hạ tầng cơ sở cùng với các hoạt động tưới, phòng chống lũ lụt, ngập úng và quản lý các hồ chứa vừa Trạm thủy lợi tại cấp thị trấn chia sẻ trách nhiệm trong việc xây dựng và vận hành quản lý các kênh nhánh, kênh cấp 3, các công việc phụ thuộc và hồ chứa nhỏ, đồng thời thu phí dịch vụ nước Nhân viên của cơ quan thủy lợi cấp quận và trạm thủy nông được tổ chức vào chính quyền cấp huyện Kênh nội đồng và mặt ruộng nhìn chung được quản lý bởi sự tham gia của người dân các thôn, làng

Sơ đồ phân cấp trách nhiệm quản lý hệ thống thủy nông ở Trung Quốc được mô

tả như ở Hình 2.1

Hình 2.1 Sơ đồ phân cấp quản lý thủy lợi điển hình ở Trung Quốc

Nguồn: Tổng cục thủy lợi

Kênh

chính

Kênh nhánh Kênh

nhánh

Kênh cấp

3 Kênh cấp 3

Hồ nhỏ bổ sung

hoặc đầu mối nhỏ

Kênh nội đồng

Rãnh tưới

Cơ quan trung ương hoặc hội đồng hệ thống quản lý

Sở cấp tỉnh, phòng cấp huyện quản lý

Địa phương: HTX, hoặc UBND xã; Chính quyền thôn, xóm; hoặc tổ nhóm dùng nước hoặc nông dân

Sông hoặc hồ chứa

Trang 37

Cũng tương tự như tổ chức doanh nghiệp khai thác công trình thủy lợi ở Việt Nam, trạm thuỷ lợi là cấp cuối cùng do nhà nước tổ chức nhưng có quy

mô tương đối lớn và rõ ràng Trạm được thành lập trên cơ sở đường nước (theo tuyến kênh) và không phụ thuộc ranh giới hành chính các cấp Thông thường tiêu chí để thành lập trạm là quản lý diện tích tưới từ 1300 – 3300 ha với biên chế lao động gồm trạm trưởng, trạm phó, kế toán 3 công nhân vận hành (tức đây là cấp nhà nước cuối cùng trong quản lý vận hành hệ thống với mức định biên từ 216 – 550 ha/nhân viên; trung bình 384 ha/nhân viên thuộc cấp tổ chức nhà nước cuối cùng)

* Phân cấp Công trình thuỷ lợi Hưng Điện, thành phố Bạch Ngân, tỉnh Cam Túc nằm ở phía Bắc và Tây Bắc Trung Quốc

Hệ thống thuỷ lợi Hưng Điện là hệ thống trạm bơm lớn lấy nước ở thượng nguồn sông Hoàng Hà để tưới và phát triển kinh tế cho vùng có diện tích canh tác khoảng trên 20.000 ha Hệ thống trạm bơm gồm 8 cấp lưu lượng trạm bơm thứ nhất là 10m3/s và trạm cuối cùng thứ 8 lưu lượng 9m3/s, với tổng cột nước bơm của 8 cấp trạm bơm là 476m (mỗi cấp cột nước bơm là 59,5m)

Một đặc điểm phải nói ở đây là hệ thống được xây dựng để cấp nước phát triển kinh tế cho vùng có thể nói là gần như là sa mạc với tổng lượng mưa hàng năm thấp nhất 180mm và cao nhất 420mm Nếu không có nước tưới thì không thể canh tác dựa vào nước tự nhiên Và mô hình phân cấp quản lý công trình thủy lợi trạm thuỷ nông Hồng Phong trực thuộc hệ thống Hưng Điện quản lý một kênh cấp 1 và hội dùng nước số 7, Chi nhánh Hắc Sơn trong phạm vi dịch vụ của trạm thuỷ nông Hồng Phong với bản đồ phân cấp quản lý công trình như hình sau:

Trang 38

Hình 2.2 Bản đồ phân cấp quản lý KTCTTL tại trạm thuỷ nông Hồng Phong

Nguồn: Tổng cục thủy lợi

cấp 2 (màu xanh thẫm) thuộc trách nhiệm quản lý vận hành của trạm Các kênh chân rết (màu xanh nhạt) do hội người dùng nước có trách nhiệm quản lý

người nông dân muốn có nước để sản xuất phải đến văn phòng hội sử dụng nước

để mua phiếu sử dụng nước đơn vị tính bằng m3 Trên cơ sở phiếu sử dụng nước hội thu tiền và chuyển lên cho Trạm thuỷ nông Hồng Phong để lên kế hoạch cấp nước Việc phân phối nước tính theo khối lượng sử dụng cũng được thiết kế và vận hành đơn giản, công trình đo là các máng đo hình tam giác hoặc hình thang kèm với đó là bảng tra mực nước - lưu lượng, công nhân vận hành căn cứ vào thời gian và lưu lượng để xác định khối lượng nước tưới

Tóm lại, bài học về kinh nghiệm phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi ở hệ thống thuỷ lợi Hưng Điện, thành phố Bạch Ngân là:

Phân cấp quản lý khai thác ở hệ thống Hưng Điện được chia thành 3 cấp, trong đó cấp Công ty và các trạm do nhà nước thành lập và tổ chức quản lý hệ thống kênh chính, kênh cấp 1 và kênh cấp 2 Kênh cấp 3 do hội dùng nước có trách nhiệm quản lý

Tổ chức quản lý đơn giản, hiệu quả cao, năng xuất lao động của 1 nhân viên trạm thuỷ nông là trên 100ha bao gồm cả việc quản lý điều hành phân phối nước và xây dựng kiên cố hệ thống kênh mương mặt ruộng

Trang 39

Tổ chức được phân cấp và xây dựng thống nhất trên toàn hệ thống Phân cấp trách nhiệm quản lý khai thác vận hành công trình được xây dựng thành quy trình và thực hiện một cách rất có tổ chức và chặt chẽ

Thực hiện triệt để nguyên tắc nước là hàng hoá, người sử dụng phải mua nước và ghi hoá đơn phiếu nước và được tổ chức thuỷ nông cấp nước theo phiếu

Một trong những vấn đề cần học tập là việc áp dụng khoa học trong hiện đại hoá hệ thống là rất phù hợp với từng cấp công trình và trình độ năng lực quản

lý Đối với hệ thống quản lý trên kênh chính và phân phối nước cũng như vận hành toàn bộ hệ thống trạm bơm được tự động hoá điều khiển từ xa bằng SCADA, còn đối với hệ thống phân phối nước cho hộ sử dụng sử dụng công trình đo đơn giản dễ áp dụng và bền vững

2.2.2.2 Phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi ở Thái Lan

Việc tổ chức, quản lý các công trình thuỷ lợi có được nêu rõ trong chức năng, nhiệm vụ của Cục thủy lợi hoàng gia Thái Lan (Duties and Responsibilities according to the Royal Decree Organizing the Royal Irrigation Department Ministry of Agriculture and Coorperatives) là có nhiệm vụ thực hiện các chức năng quản lý, giám sát chung các công trình thuỷ lợi trong toàn quốc, nhất là các công trình hệ thống lớn, quan trọng, điều phối và quản lý việc cung cấp nước, tiêu thoát nước cho nông nghiệp và các ngành khác như dân dụng, dịch vụ và công nghiệp, giao thông thuỷ, phòng chống thiên tai do nước gây ra, bảo vệ an toàn công trình

Báo cáo của Rattannatangtrakul tại Hội nghị quốc tế lần thứ 7 về thuỷ lợi nội đồng (2006) cho thấy Thái Lan là quốc gia không thu thủy lợi phí, tuy nhiên chính phủ nước này đã quy định phân cấp quản lý công trình rất rõ ràng giữa phần công trình do nhà nước quản lý và phần công trình do dân quản lý Phần công trình do nhà nước quản lý hàng năm (từ 1997-2002) nhà nước chi khoảng

750 triệu USD để thực hiện O&M và như vậy người nông dân không phải trả thủy lợi phí cho các cơ quan quản lý vận hành công trình của nhà nước, nhưng họ vẫn phải trả thủy lợi phí cho công tác quản lý tưới tiêu nội đồng Để quản lý khai thác tốt các hệ thống tưới, cần phải xây dựng và tạo cơ chế, điều kiện tốt, phân công rõ quyền hạn và trách nhiệm cho các tổ chức dùng nước hoạt động, Để các

tổ chức dùng nước hoạt động, cần thiết phải khuyến khích sự tham gia đối với các thành viên của tổ chức dùng nước Nông dân cần nhận thấy các thuận lợi,

Trang 40

quyền lợi và nghĩa vụ khi tham gia vào các tổ chức dùng nước Kinh nghiệm tổ chức quản lý phân cấp hoạt động quản lý tưới tiêu ở Thái Lan cho thấy nông dân mới là chủ sở hữu của hạ tầng thủy lợi, việc tổ chức là do dân quyến định thông qua cơ cấu tổ chức đại diện của nông dân ở từng khu vực

2.2.3 Kinh nghiệm phân cấp quản lý khai thác công trình thuỷ lợi ở Việt Nam

2.2.3.1 Hệ thống tổ chức quản lý khai thác công trình thủy lợi ở nước ta

Đến hết năm 2015, tổng số các công trình thuỷ lợi (không kể công trình thuỷ lợi nhỏ, tạm) đang được khai thác bao gồm: Hồ chứa và đập dâng: có 1957

hồ có dung tích trên 200.000 m3, trong đó 79 hồ có dung tích trên 10 triệu m3 (bao gồm cả hồ thuỷ điện), 66 hồ có dung tích 5÷10 triệu m3, 442 hồ có dung tích từ 1÷5 triệu m3, 1370 hồ có dung tích từ 200.000 đến 1 triệu m3; khoảng 3000÷3500 hồ chứa nhỏ; 1020 đập dâng (không kể những đập tạm)

Hệ thống trạm bơm gồm trên 10.000 trạm bơm lớn với các loại máy bơm khác nhau, có tổng công suất lắp máy phục vụ tưới là 250 Mw, phục vụ tiêu là 300Mw Về hiệu quả của trạm bơm tiêu hầu hết đạt mức 78% Ngoài ra, còn có gần 5.000 cống tưới tiêu lớn các loại Tổng số 126.000km kênh mương các loại, trong đó có trên 1.000 km kênh trục lớn, cùng với hàng vạn công trình trên kênh

Đến nay, trên phạm vi cả nước đã hình thành một cơ sở vật chất hạ tầng

kỹ thuật thuỷ lợi, bảo đảm tưới, tiêu nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, cấp nước cho sinh hoạt, công nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản và phát điện; tiêu nước cho các khu dân cư đô thị và nông thôn, đã khắc phục được đáng kể tình trạng úng, hạn,

mở rộng diện tích gieo trồng, cải tạo đất, thâm canh tăng vụ, tăng năng suất cây trồng Tổng năng lực thiết kế tưới của các hệ thống bảo đảm cho khoảng 3,45 triệu

ha đất canh tác Về diện tích gieo trồng được tưới, theo báo cáo của các địa phương, năm 2015, tổng diện tích đất trồng lúa được tưới đạt 6,92 triệu ha, trong

đó vụ Đông Xuân: 3,04 triệu ha, vụ Hè Thu: 2,06 triệu ha; vụ Mùa: 1,82 triệu Diện tích rau màu và cây công nghiệp ngắn ngày được tưới hiện đã đạt khoảng 1,50 triệu ha Đảm bảo tiêu thoát nước cho 1,72 triệu ha đất nông nghiệp Các công trình thuỷ lợi còn góp phần ngăn mặn 0,87 triệu ha, cải tạo chua phèn 1,7 triệu ha

và duy trì cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất công nghiệp trên 5,65 tỷ m3/năm

Ngày đăng: 30/03/2021, 23:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Chính phủ (2003). Nghị định số 143/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 143/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2003
11. Nguyễn Duy Chỉnh(2013). Đề xuất một số giải pháp tăng cường công tác quản lý khai thác công trình thủy lợi vùng Nam Đuống tỉnh Bắc Ninh. Trường đại học Thủy lợi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề xuất một số giải pháp tăng cường công tác quản lý khai thác công trình thủy lợi vùng Nam Đuống tỉnh Bắc Ninh
Tác giả: Nguyễn Duy Chỉnh
Nhà XB: Trường đại học Thủy lợi
Năm: 2013
12. Nguyễn Thị Thu Hoa (2014). Hoàn thiện quản lý khai thác hệ thống thủy lợi Quản Lộ - Phụng Hiệp khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Học viện Nông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện quản lý khai thác hệ thống thủy lợi Quản Lộ - Phụng Hiệp khu vực Đồng bằng sông Cửu Long
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hoa
Nhà XB: Học viện Nông
Năm: 2014
14. Nguyễn Hữu Trung (2011). Nghiên cứu giải pháp phân cấp hệ thống công trình thủy lợi Nam Đuống. Trường Học viện Nông nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu giải pháp phân cấp hệ thống công trình thủy lợi Nam Đuống
Tác giả: Nguyễn Hữu Trung
Nhà XB: Trường Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Năm: 2011
15. Trần Chí Trung (2009).Đề tài nghiên cứu cấp Bộ Phân cấp quản lý công trình thủy lợi ở Việt Nam, Viện khoa học thủy lợi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề tài nghiên cứu cấp Bộ Phân cấp quản lý công trình thủy lợi ở Việt Nam
Tác giả: Trần Chí Trung
Nhà XB: Viện khoa học thủy lợi
Năm: 2009
16. UBND tỉnh Bắc Ninh (2014). Quyết định 452/2014/QĐ-UBND ngày 21/10/2014 của UBND tỉnh Bắc Ninh về việc ban hành quy định phân cấp quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 452/2014/QĐ-UBND ngày 21/10/2014 của UBND tỉnh Bắc Ninh về việc ban hành quy định phân cấp quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh
Tác giả: UBND tỉnh Bắc Ninh
Năm: 2014
1. Bộ NN & PTNN(2004). Thông tư 75/2004/TT-BNN hướng dẫn việc thành lập , củng cố và phát triển tổ chức hợp tác dùng nươc Khác
2. Bộ NN & PTNN(2008). Thông tư liên tịch 61/2008/TT- BNN- BNV hướng dẫn chức năng , nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện và nhiệm vụ quản lý nhà nước của ủy ban nhân dân cấp xã về nông nghiệp và phát triển nông thôn Khác
3. Bộ NN & PTNN (2009). Thông tư số 65/2009/ TT - BNN hướng dẫn tổ chức hoạt động và phân cấp quản ly, khai thác công trình thủy lợi Khác
4. Chi cục Thủy Lợi (2010). Quy hoạch Thủy lợi tỉnh Bắc Ninh 2010-2020 Khác
6. Chính phủ ( 2004). Nghị đinh số 2009/2004/NĐ-CP ngày 16/12/2004 về phân cấp phân loại công trình Khác
7. Chính phủ (2008). Nghị định ố 115/2008/NĐ - CP ngày 28/11/2008 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 143/2003/NĐ – CP ngày 28/11/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi Khác
8. Chính phủ (2012). Nghị định số 67/2012/NĐ-CP ngày 10/9/2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 143/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi Khác
9. Công ty Bắc Đuống (2013-2015). Báo cáo kết quả hoạt động thường niên của công ty Khác
10. Cục Thủy lợi – Bộ Nông nghiệp và PTNT (2007). Báo cáo đánh giá hai năm thực hiện khung chiến lược phát triển PIM ở Việt Nam Khác
13. Nguyễn Văn Hoàn (2014). Nghiên cứu xây dựng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản lý và khai thác hệ thống thủy lợi Bắc Đuống. Trường Đại học Thủy lợi Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w