1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN, NGUYÊN TẮC CĂN BẢN CỦA TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN VÀ VẬN DỤNG VÀO CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG, LÝ LUẬN TRONG QUÂN ĐỘI HIỆN NAY

38 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 55,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nhà triết học trước Mác đã đề cập đến vấn đề thực tiễn với nhiều quan niệm khác nhau. Từ xưa các nhà triết học đã tìm hiểu đời sống hiện thực của con người, đã cố gắng tìm kiếm phương pháp để giải thoát con người khỏi kiếp “trần ai khổ cực”. Tuy nhiên vì nhiều hạn chế nên họ đã không hiểu đúng về thực tiễn. Một số nhà triết học coi thực tiễn như là hoạt động kiếm sống của con người cần lao, số khác lại hạn chế thực tiễn dưới hình thức quan sát, thí nghiệm, thậm chí có người coi ...

Trang 1

THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄNNGUYÊN TẮC CĂN BẢN CỦA TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN

VÀ VẬN DỤNG VÀO CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG, LÝ LUẬN TRONG

QUÂN ĐỘI HIỆN NAY

I PHẠM TRÙ THỰC TIỄN VÀ PHẠM TRÙ LÝ LUẬN

1 Phạm trù thực tiễn

Các nhà triết học trước Mác đã đề cập đến vấn đề thực tiễn với nhiềuquan niệm khác nhau Từ xưa các nhà triết học đã tìm hiểu đời sống hiện thựccủa con người, đã cố gắng tìm kiếm phương pháp để giải thoát con người khỏikiếp “trần ai khổ cực” Tuy nhiên vì nhiều hạn chế nên họ đã không hiểu đúng

về thực tiễn Một số nhà triết học coi thực tiễn như là hoạt động kiếm sốngcủa con người cần lao, số khác lại hạn chế thực tiễn dưới hình thức quan sát,thí nghiệm, thậm chí có người coi thực tiễn là hoạt động “ bẩn thỉu” có tínhchất “con buôn” Hêghen, nhà triết học duy tâm Đức cuối thế kỷ XVIII đầuthế kỷ XIX đã có một số tư tưởng hợp lý sâu sắc về thực tiễn Ông cho rằngbằng thực tiễn chủ thể tự “nhân đôi” mình, đối tượng hóa bản thân mình trongquan hệ với thế giới bên ngoài, nhưng ông chỉ giới hạn thực tiễn ở ý niệm, ởhoạt động tư tưởng

Tổng kết thành tựu khoa học và kinh nghiệm hoạt động thực tiễn củanhân loại, C.Mác và Ph.Ăngghen đã vạch ra vai trò cách mạng của thực tiễn,đồng thời đưa nó vào trong hệ thống phạm trù triết học Việc đưa thực tiễnvào triết học với tịnh cách là nền tảng của toàn bộ đời sống xã hội, là cơ sở,động lực, mục đích của nhận thức và tiêu chuẩn của chân lý, các nhà kinhđiển của chủ nghĩa Mác đã làm cuộc cách mạng trong lịch sử triết học và

trong nhận thức luận Lênin viết: “Quan điểm về đời sống , về thực tiễn phải

là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức” 1Từ đây, nhận

1 Lênin toàn tập, tập 18, Nxb tiến bộ Mátxitcơva, 1980, tr 167

Trang 2

thức của con người không những có cơ sở, động lực, mục đích của mình mà

còn có tiêu chuẩn khách quan duy nhất là thực tiễn Vì vậy, “Vấn đề tìm hiểu

xem tư duy của con người có thể đạt tới một chân lý khách quan hay không, không phải là một vấn đề lý luận mà là một vấn đề thực tiễn chính trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lý, nghĩa là chứng minh tính hiện thực và sức mạnh tính trần tục của tư duy của mình Sự tranh cãi về tính hiện thực hay tính không hiện thực của tư duy tách rời thực tiễn là một vấn đề kinh viện thuần túy” 2

Theo quan điểm của triết học Mác - Lênin, thực tiễn là toàn bộ hoạt

động vật chất có mục đích mang tính lịch sử xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên, xã hội và bản thân con người.

Hoạt động của con người bao gồm hoạt động vật chất và hoạt động tinhthần Thực tiễn là hoạt động vật chất Hoạt động vật chất là hoạt động mà chủthể sử dụng phương tiện vật chất tác động vào đối tượng vật chất nhất địnhnhằm cải tạo chúng theo nhu cầu của con người Con người sử dụng cácphương tiện để tác động vào đối tượng theo những hình thức và những mức

độ khác nhau tùy thuộc vào mục đích của con người Kết quả của quá trìnhhoạt động thực tiễn là những sản phẩm thỏa mãn nhu cầu vật chất và nhu cầutinh thần của cá nhân và cộng đồng

Mỗi một hoạt động của con người đều mang tính lịch sử cụ thể Nó chỉdiễn ra trong một giai đoạn nhất định nào đó Nó có quá trình hình thành, pháttriển và kết thúc hoặc chuyển hóa sang giai đoạn khác, không có hoạt độngthực tiễn nào tồn tại vĩnh viễn Mặt khác, hoạt động thực tiễn chịu sự chi phốicủa mỗi giai đoạn lịch sử cả về đối tượng, phương tiện cũng như mục đíchhoạt động

2 C.Mác và Ph.Ănghen toàn tập, Nxb chính trị quốc gia Hà Nội 1995 Tập3 tr 9 - 10.

Trang 3

Hoạt động thực tiễn mặc dù phải thông qua từng cá nhân, từng nhómngười nhưng hoạt động của từng cá nhân, từng nhóm người ấy lại không thểtách rời các quan hệ xã hội Xã hội quy định mục đích, đối tượng, phương tiện

và lực lượng trong hoạt động thực tiễn Do đó, hoạt động thực tiễn của conngười mang tính xã hội sâu sắc, được thực hiện trong cộng đồng, vì cộngđồng, do cộng đồng

Hoạt động thực tiễn mang tính tất yếu, nhưng là hoạt động tất yếu cónhận thức, có ý thức Đó là ý thức về kết quả, ý thức về phương pháp, ý thức

về đối tượng… đặc biệt là ý thức về mục đích của quá trình hoạt động Mụcđích của hoạt động thực tiễn là nhằm thảo mãn những nhu cầu vật chất và nhucầu tinh thần của cá nhân và xã hội Mỗi một hoạt động đều có mục đích khácnhau để giải quyết những nhu cầu cụ thể, không có hoạt động nào là không cómục đích, mặc dù kết quả của hoạt động thực tiễn không phải lúc nào cũngdiễn ra phù hợp với mục đích của con người Thực tiễn là quá trình tác độngtương hỗ lẫn nhau giữa chủ thể và khách thể Do quá trình tác động và traođổi lẫn nhau mà chủ thể và khách thể đều có sự biến đổi, khách thể hóa chủthể và chủ thể hóa khách thể Như vậy thực tiễn vừa có tính khách quan vừa

có tính chủ quan Nếu xem xét thực tiễn như một quá trình thực hiện mục đích

và lợi ích của chủ thể, như một quá trình nhận thức và cải tạo năng động củachủ thể đối với khách thể, thì thực tiễn có tính chủ thể Còn nếu xem xét thựctiễn như một quá trình tác động qua lại giữa lực lượng vật chất của chủ thểvới lực lượng vật chất của khách thể, hay từ góc độ chủ thể tất yếu phải nhậnthức và vận dụng quy luật khách quan thì thực tiễn vốn có tính khách quan.Đương nhiên, quá trình thực tiễn không phải là quá trình hành động một cách

mù quáng, coi thường tính khách quan, tính quy luật của chủ thể, đồng thờicũng không phải là một quá trình mà chủ thể có thái độ tiêu cực, bị động vàhoàn toàn không đóng vai trò gì đối với tính quy luật, tính khách quan của

Trang 4

khách thể Trước đặc tính tồn tại khách quan của khách thể, chủ thể phải thừanhận tính khách quan của đối tượng, tính khách thể, tính khách quan của thựctiễn, phủ nhận tích khách quan của khách thể tất yếu sẽ dẫn đến phủ nhận tínhđịnh hướng đối tượng khách quan của hoạt động thực tiễn Đối tượng kháchquan có thể trở thành khách thể hay không, điều đó còn phụ thuộc vào chủ thể

có xuất phát từ yêu cầu nhận thức và cải tạo của mình hay không để “rút” nó

ra trong mối liên hệ với thế giới khách quan

Hoạt động thực tiễn rất phong phú đa dạng, song có thể chia làm bahình thức cơ bản là: hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động chính trị xã hội, vàhoạt động thực nghiệm khoa học

Hoạt động sản xuất vật chất là hoạt động trực tiếp tác động vào tự

nhiên, cải tạo tự nhiên nhằm tạo ra của cải vật chất đảm bảo cho sự tồn tại vàphát triển của xã hội

Hoạt động chính trị xã hội là hoạt động của con người trực tiếp tác

động vào xã hội, cải biến các quan hệ xã hội theo hướng tiến bộ Đó là nhữngcuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh giải phong dân tộc, đấu tranh bảo vệ hòabình, bảo vệ môi trường sinh thái, những cuộc cải tạo đổi mới, công nghiệphóa hiện đại hóa xã hội… tất cả những hoạt động này làm biến đổi các quan

hệ xã hội và mọi mặt khác nhau của đời sống xã hội

Hoạt động thực nghiệm khoa học là hoạt động của các nhà khoa học tác

động làm cải biến những đối tượng nhất định, trong một điều kiện nhất định,theo một mục đích nghiên cứu nhất định

Các hình thức hoạt động thực tiễn tuy có sự khác nhau tương đối nhưngchúng thống nhất với nhau, có chung chủ thể hoạt động, có cùng mục đích,chúng hỗ trợ ảnh hưởng lẫn nhau Vì vậy việc phân biệt các hình thức hoạtđộng thực tiễn là tương đối Hoạt động sản xuất vật chất không thể khônghoạt động trong cộng đồng xã hội, không thể không có vai trò của thực

Trang 5

nghiệm khoa học Mặc dù hoạt động chính trị xã hội trực tiếp tác động đếnnhững vấn đề của đời sông chính trị tinh thần, nhưng kết quả hoạt động củalĩnh vực này lại tác động đến phát triển sản xuất, phát triển kinh tế xã hội,cũng như những vấn đề có tính quy luật mà hoạt động thực nghiệm khoa họcđang quan tâm Cũng như vậy hoạt động thực nghiệm khoa học không thểkhông lấy mục đích phát triển kinh tế xã hội, phục vụ cải tạo xã hội làm mụcđích hoạt động của mình.

Trong các hình thức hoạt động thực tiễn thì hình thức hoạt động sảnxuất vật chất là cơ bản nhất Mặc dù các hoạt động chính trị xã hội vẫn diễn rathường xuyên quan trọng nhưng hoạt động sản xuất vật chất tác động sâu sắc,toàn diện đến các hoạt động khác, nó là hoạt động trung tâm chủ yếu của conngười Trên cơ sở những hình thức hoạt động thực tiễn cơ bản nói trên màhình thành và phát triển những hình thức hoạt động thực tiễn đa dạng phongphú của đời sống xã hội như: sinh hoạt gia đình, y tế, giáo dục, nghệ thuật,đạo đức tôn giáo, thể dục thể thao…

Thực tiễn không chỉ là nền tảng của toàn bộ đời sống xã hội, mà còn là

cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức và tiêu chuẩn của chân lý Vì vậy,vai trò của thực tiễn đối với nhận thức được thể hiện ở những điều chủ yếusau:

Một là, thực tiễn là cơ sở, động lực chủ yếu và trực tiếp của nhận thức.

Con người muốn tồn tại và phát triển phải tổ chức hoạt động thực tiễn Trongthực tiễn cả chủ thể và khách thể đều bộc lộ những thuộc tính, những quyluật…để con người nhận thức chúng Như vậy, thực tiễn đã cung cấp nhữngtài liệu sinh động cho nhận thức, mà không có chúng thì không thể có tri thức,lịch sử phát triển của khoa học đã chứng minh rằng, mọi tri thức lý luận dù làtrực tiếp hay gián tiếp cũng đều bắt nguồn từ thực tiễn Không những chỉcung cấp tài liệu cho nhận thức, thực tiễn còn làm xuất hiện những nhu cầu,

Trang 6

đề ra nhiệm vụ và cung cấp những công cụ, phương tiện để nhận thức giảiquyết.

Công cuộc đổi mới toàn diện ở nước ta hiện nay đã và đang đặt ranhững yêu cầu, nhiệm vụ đòi hỏi nhận thức lý luận phải giải đáp đó là: môhình về chủ nghĩa xã hội và con đường phương pháp xây dựng nó, xây dựngnền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, giải quyết mối quan hệgiữa phát triển kinh tế với thực hiện tiến bộ công bằng xã hội, vấn đề phânhóa giàu nghèo, phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân, vấn đề côngnghiệp hóa rút ngắn, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xâydựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc…nghiên cứu làm sáng tỏnhững vấn đề nói trên, nhận thức lý luận có vai trò quan trọng góp phần đắclực thúc đẩy sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay

Hai là, thực tiễn là mục đích của nhận thức Nhận thức không phải là

hoạt động tự thân vì nhận thức mà là vì thực tiễn, vì cuộc sống của con người.Chính vì vậy nhũng tri thức đạt được phải được đem vào thực hiện trong thựctiễn, phải hướng dẫn, điều chỉnh và chỉ đạo hoạt động thục tiễn

Ba là, thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý Tri thức của con người là kết

quả của quá trình nhận thức Tri thức ấy có thể phản ánh đúng hoặc khôngđúng hiện thực khách quan Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng, tiêuchuẩn khách quan duy nhất để kiểm tra chân lý là thực tiễn Chỉ có thực tiễnmới có thể “vật chất hóa” được tri thức, hiện thực hóa được tư tưởng, qua đómới có thể khẳng định hay phủ định một giả thuyết khoa học nào đó Do cónhiều hình thức hoạt động thực tiễn khác nhau nên cũng có nhiều hình thứckiểm tra chân lý khác nhau như bằng thực nghiệm khoa học, bằng việc ápdụng lý luận xã hội vào cải biến xã hội…Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lývừa có tính tuyệt đối, vừa có tính tương đối Tính tuyệt đối thể hiện ở chỗthực tiễn mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể là tiêu chuẩn khách quan duy nhất để

Trang 7

khẳng định chân lý bác bỏ sai lầm Tính tương đối thể hiện ở chỗ thực tiễnluôn vận động biến đổi và phát triển Vì vậy, xem xét thực tiễn trong khônggian càng rộng, trong thời gian càng dài, trong chỉnh thể thì càng thấy rõ đâu

là chân lý đâu là sai lầm, chính vì vậy những chân lý đạt được trước kia và đãđược thực tiễn kiểm nghiệm cũng phải thường xuyên bám sát thực tiễn mới,tiếp thu bổ sung để hoàn thiện hơn Vì vậy, chủ nghĩa Mác - Lênin yêu cầuquan điểm về đời sống, về thực tiễn phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của

lý luận về nhận thức

2 Phạm trù lý luận

Lý luận là sản phẩm phát triển cao nhất của quá trình nhận thức, là hệthống tri thức phản ánh những mối liên hệ bản chất, tất yếu của hiện thựckhách quan Các nguyên lý, quy luật, phạm trù là hạt nhân của lý luận Lýluận không hình thành tự phát mà xuất phát từ thực tiễn, được khái quát, hìnhthành trên cơ sở kinh nghiệm thực tiễn, phục vụ cho hoạt động thực tiễn vàkhi được thực tiễn kiểm nghiệm đúng đắn, lý luận đó trở thành khoa học Hồ

Chí Minh chỉ rõ: “Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người,

là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử” 3

Để hình thành lý luận, con người phải thông qua quá trình nhận thứckinh nghiệm Con người muốn biến đổi tự nhiên và xã hội thì cần phải cónhững hiểu biết về chúng, nhưng những hiểu biết đó không có sẵn trong conngười Muốn có tri thức, con người phải tác động vào thế giới khách quanbằng hoạt động thực tiễn Trên cơ sở đó, con người tích lũy được tri thức kinhnghiệm Tri thức kinh nghiệm bao gồm tri thức kinh nghiệm thông thường vàtri thức kinh khoa học Tri thức kinh nghiệm thông thường (tiền khoa học) thuđược trong quá trình sinh hoạt và hoạt động hàng ngày của con người Nó

33 Hồ Chí Minh, toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tập 8 tr 497.

Trang 8

giúp con người giải quyết nhanh một số vấn đề cụ thể, đơn giản trong quátrình tác động trực tiếp đến đối tượng Tri thức kinh nghiệm khoa học là kếtquả của quá trình thực nghiệm khoa học Nó đòi hỏi chủ thể phải tích lũy mộtlượng tri thức nhất định trong hoạt động sản xuất cũng như hoạt động khoahọc mới có thể hình thành tri thức kinh nghiệm khoa học Tri thức kinhnghiệm khoa học giúp các nhà khoa học hình thành lý luận Tri thức kinhnghiệm tuy là bộ phận của tri thức nhưng ở trình độ thấp, thế nhưng nó là cơ

sở để hình thành lý luận Lý luận được hình thành trên cơ sở khái quát kinhnghiệm thực tiễn, song không phải cứ có kinh nghiệm thực tiễn là hình thànhđược lý luận Lý luận được hình thành thông qua tổng kết kinh nghiệm thựctiễn của các nhà lý luận.Vì vậy lý luận không thể ra đời một cách tự phát vàluôn luôn phải được bổ sung, phát triển bằng những kinh nghiệm thực tiễnmới, phong phú Do tính độc lập tương đối của mình, lý luận có thể vượttrước các dữ liệu thực tiễn Nhưng xét đến cùng, lý luận không thể không dựatrên cơ sở kinh nghiệm thực tiễn Khác với kinh nghiệm, lý luận mang tínhtrừu tượng và khái quát cao, tính lôgíc và tính hệ thống chặt chẽ Vì vậy, lýluận mang lại sự hiểu biết sâu sắc về bản chất, về tính quy luật, tính tất yếucủa sự vật hiện tượng của thế giới khách quan Cho nên, phạm vi ứng dụngcủa lý luận rộng hơn, phổ biến hơn so với kinh nghiệm

Lý luận có những cấp độ khác nhau tùy thuộc phạm vi phản ánh và vaitrò phương pháp luận của nó Có thể phân chia lý luận thành lý luận ngành và

lý luận triết học

Lý luận ngành là lý luận khái quát những quy luật hình thành và pháttriển của một ngành nhất định như lý luận về kinh tế học, chính trị học, tâm lýhọc…Nó là cơ sở để sáng tạo tri thức cũng như phương pháp luận cho hoạtđộng của ngành đó

Trang 9

Lý luận triết học là hệ thống những quan niệm chung nhất về thế giới

và con người, là thế giới quan và phương pháp luận cho nhận thức và hoạtđộng thực tiễn của con người

Do quá trình hình thành và bản chất của nó, lý luận có hai chức năng cơbản là chức năng phản ánh hiện thực khách quan và chức năng phương phápluận cho hoạt động thực tiễn Lý luận phản ánh hiện thực khách quan bằngnhững quy luật chung hay chung nhất Tri thức kinh nghiệm cũng như tri thức

lý luận đều phản ánh hiện thực khách quan nhưng ở những phạm vi, lĩnh vực

và trình độ khác nhau Lý luận phản ánh hiện thực khách quan để làm phươngpháp luận nhận thức và cái tạo hiện thực khách quan bằng hoạt động thựctiễn

II SỰ THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LÀ MỘTNGUYÊN TẮC CĂN BẢN CỦA TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN VÀ VẬNDỤNG VÀO CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG, LÝ LUẬN TRONG QUÂN ĐỘIHIỆN NAY

1 Cơ sở của nguyên tắc

Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của triếthọc Mác - Lênin là một trong những nội dung tạo nên cuộc cách mạng tronglịch sử triết học Điều đó xuất phát trước hết từ mục đích của triết học Mác

Trong tác phẩm luận cương về Phoiơbắc, C.Mác đã chỉ rõ: “Các nhà triết học

đã chỉ giải thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau, song vấn đề là cải tạo thế giới” 4 Nó cũng xuất phát từ vai trò của thực tiễn đối với lý luận và vai trò

của lý luận đối với thực tiễn Chủ tịch Hồ Chí minh thường căn dặn chúng ta:học phải đi đôi với hành, lý luận phải gắn liền với thực tiễn Người nhấnmạnh rằng, lý luận không có thực tiễn là lý luận suông, thực tiễn mà không có

lý luận là thực tiễn mù quáng

4 C.Mác và Ph.Ănghen toàn tập, Tập3, Nxb chính trị quốc gia Hà Nội 1995, tr12

Trang 10

Lênin đã khái quát con đường biện chứng của quá trình nhận thức chân

lý là: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng

đến thực tiễn - đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức thực tại khách quan.” 5 Lý luận là sản phẩm của quá trình nhận

thức, là sự phản ánh gián tiếp, khái quát, trừu tượng về hiện thực khách quan

Nó là trình độ cao của nhận thức khoa học Tri thức lý luận dựa trên một loạtcác thao tác lôgíc phức tạp của tư duy con người và các phương pháp nhậnthức khoa học như đi từ cái trừu tượng đến cái cụ thể, khái quát hóa, trừutượng hóa, lôgíc và lịch sử… Tri thức lý luận mặc dù không phải là sản phẩmcủa nhận thức lý tính thuần tính mà là kết quả của sự hoạt động tích cực của

cả nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính, trong đó ưu thế thuộc về các hìnhthức của nhận thức lý tính Lý luận phản ánh hiện thực có thể đúng hoặc sai,nhưng vì không phải là phản ánh trực tiếp hiện thực khách quan nên lý luậnluôn có khuynh hướng tự phát thoát ly quá xa thực tiễn, thậm chí rơi vào giáođiều kinh viện Cho nên đòi hỏi lý luận phải luôn bám sát thực tiễn, quay vềvới thực tiễn

Trong xã hội thường có sự lạc hậu của lý luận so với thực tiễn Sự lạchậu này trước hết bắt nguồn từ sự lạc hậu của ý thức xã hội so với tồn tại xãhội Lý luận không thể phản ánh được chính xác, đầy đủ sự phong phú đadạng của tất cả các mối liên hệ, các thuộc tính, quy luật, khả năng, khuynhhướng của hiện thực Thực tiễn đã chứng minh những nguyên lý căn bản củachủ nghĩa Mác - Lênin là hoàn toàn đúng đắn, nhưng con đường cụ thể của sựvận động của lịch sử của các dân tộc lại rất phong phú đa dạng vì vậy không

có đáp án sẵn cho mọi vấn đề của quá trình đó, đặc biệt là quá trình cáchmạng xã hội chủ nghĩa ở các nước khác nhau

5 Lênin toàn tập, tập 18, Nxb tiến bộ Mátxitcơva, 1980, tr 167

Trang 11

Mặt khác trong đời sống hiện thực luôn tồn tại một khoảng cách nhấtđịnh giữa lý luận mới và việc thực hiện chúng trong thực tiễn Lý luận muốntrở thành hiện thực trước hết nó phải phản ánh đúng đắn quy luật của sự pháttriển xã hội và lợi ích của đông đảo quần chúng Lý luận ấy phải được thâmnhập vào đông đảo quần chúng và biến thành mục đích, nội dung chươngtrình, kế hoạch, phương pháp hành động của quần chúng Tổ chức chỉ đạohành động thực tiễn của quần chúng Tự bản thân lý luận không thể là hiệnthực, để biến lý luận thành hiện thực đòi hỏi vừa phải có thời gian, vừa phải

có những phương tiện và phương pháp thực tiễn Trong đời sống xã hộikhông phải ở đâu và mọi lúc con người cũng giải quyết được đầy đủ mọi vấn

đề do cuộc sống đặt ra Trên thực tế, có những lý luận khoa học, đường lốichính sách đúng đắn nhưng chậm được thực hiện, hoặc khi thực hiện chúngthì đã bị biến dạng không còn đúng như nguyên mẫu ban đầu nữa

Quan hệ giữa lý luận và thực tiễn cũng chứa đựng tính phức tạp và mâuthuẫn Điều đó được quy định bởi cuộc đấu tranh giữa cái cũ và cái mới, cáitích cực và cái tiêu cực, cái tự giác và cái tự phát, cái đang nảy sinh và cáiđang lụi tàn Thực tiễn công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay đã chứng minhđiều đó, rất nhiều chủ trương quyết sách đúng đắn nhưng vẫn không đi vàođược cuộc sống, hoặc đi vào cuộc sống thì đã bị méo mó biến dạng vì lực cảncủa những cái cũ, cái lạc hậu, cái bảo thủ còn quá mạnh Ngay cả bản thân lýluận và thực tiễn cũng chữa đựng những mâu thuẫn bên trong của chính mình.Trong lý luận đôi khi có sự không ăn khớp giữa tri thức mới và tri thức cũ.Còn trong thực tiễn con người hành động không chỉ bằng những tri thức khoahọc, sự quyết tâm, tính tích cực tự giác mà còn có cả những kinh nghiệmthường ngày và những phẩm chất tiêu cực (tính bảo thủ, thói quen cũ, tính tựphát, mê tín, ích kỷ, chủ quan, vô trách nhiệm…) từ đó làm xuất hiện nhữngmâu thuẫn giữa các hình thức hoạt động của thực tiễn: giữa hoạt động kinh tế

Trang 12

với hoạt động văn hóa xã hội, giữa phát triển kinh tế với hoạt động bảo vệmôi trường sinh thái, …điều đó đòi hỏi phải có lý luận khoa học, chính sáchđúng đắn và những biện pháp thực tiễn phù hợp để điều chỉnh, định hướngcác hình thức hoạt động thực tiễn theo cùng chiều cùng hướng với sự pháttriển của xã hội.

2 Nội dung nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn

Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn bắt nguồn từ quan hệ giữa conngười và thế giới khách quan Con người luôn luôn tác động tích cực vào thếgiới khách quan - tự nhiên và xã hội, nhằm cải biến thế giới khách quan bằngthực tiễn Trong quá trình đó, sự phát triển của nhận thức con người và sựbiến đổi của thế giới khách quan là hai mặt thống nhất Thực chất nội dungnguyên tắc của sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là: thực tiễn nào thì lýluận đó, lý luận nào thì vận dụng vào thực tiễn ấy và khi thực tiễn đã thay đổithì lý luận cũng phải thay đổi theo Cụ thể là:

Thứ nhất, lý luận phải luôn bám sát thực tiễn, phản ánh dược yêu cầu của thực tiễn, khái quát được những kinh nhiệm của thực tiễn.

Thực tiễn là cái được phản ánh, lý luận là cái phản ánh Để hiểu đượcthực tiễn dưới dạng hình tượng lôgíc nhất thiết phải xây dựng lý luận Bảnthân thực tiễn luôn luôn vận động, phát triển và biến đổi Quá trình đó diễn rahết sức phức tạp Để hình thành lý luận, nhận thức phải bám sát quá trình đó.Bám sát thực tiễn để phản ánh đúng thực tiễn đương đại đã hết sức khó khăn,nhưng điều quan trọng hơn là phải so sánh, đối chiếu phân tích để chọn lọcnhững thực tiễn mang tính khách quan, mang tính quy luật làm cơ sở cho quátrình hình thành lý luận Nếu lý luận nào đó phản ánh không đúng nhu cầucủa thực tiễn, không phù hợp với thực tiễn thì sớm hay muộn lý luận đó cũng

bị bác bỏ Kinh nghiệm hoạt động của con người là cơ sở để hình thành lýluận Đó là tri thức trực tiếp góp phần tích cực vào quá trình tồn tại của loài

Trang 13

người Lý luận phải khái quát được kinh nghiệm của loài người thì mới cótính khoa học và đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn Thực tiễn là tiêu chuẩnchân lý của lý luận, nhưng không phải mọi thực tiễn đều là tiêu chuẩn củachân lý Thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của lý luận khi thực tiễn đạt đến tínhtoàn vẹn của nó tính toàn vẹn của thực tiễn là thực tiễn đã trải qua quá trìnhtồn tại, vận động, phát triển và chuyển hóa Đó là chu kỳ tất yếu của thực tiễn.Thực tiễn có nhiều giai đoạn phát triển khác nhau Nếu lý luận chỉ khái quátmột giai đoạn nào đó, một bộ phận nào đó của thực tiễn thì lý luận có thể xarời thực tiễn Do đó, chỉ những lý luận nào phản ánh được tính toàn vẹn củathực tiễn thì mới đạt đến chân lý.

Quá trình phát triển nhận thức của con người nhất thiết dẫn đến sự hìnhthành lý luận Đó không chỉ là sự tổng kết, khái quát từ lịch sử nhận thức màcòn từ nhu cầu thực tiễn Thực tiễn phong phú đa dạng luôn vận động và biếnđổi, nhưng để hình thành lý luận, trước hết lý luận phải đáp ứng thực tiễn.Con người nhận thức hiện thực khách quan để giải quyết những vấn đề conngười quan tâm Năng lực của con người ngày càng được nâng cao chính nhờkhả năng thông qua hoạt động phản ánh, khái quát thành tri thức lý luận lýluận Trong sự vô cùng, vô tận của hiện thực khách quan con người không hềchoáng ngợp mà bằng mọi biện pháp để nhận thức theo định hướng mục đích.Thông qua tính mục đích đó mà lý luận được hình thành Loài người có khảnăng trở thành chủ thể nhận thức để phản ánh sự vô tận của hiện thực kháchquan, nhưng để đáp ứng hoạt động thực tiễn, con người tích lũy lý luận, màtrước hết là những lý luận phù hợp với nhu cầu hoạt động thực tiễn của conngười Đó là những lý luận mang tính phương pháp cho hoạt động cải tạohiện thực khách quan Mọi hoạt động của con người đều nhằm đạt hiệu quảcao Lý luận trước hết phải đáp ứng mục tiêu đó Quan hệ giữa người vớingười, giữa người với tự nhiên đòi hỏi con người phải có lý luận sâu sắc về

Trang 14

chúng Con người hình thành lý luận chủ yếu để làm phương pháp cho hoạtđộng trong đó có hoạt động sáng tạo tri thức, phát minh, sáng chế những tưliệu sản xuất, tư liệu sinh hoạt nhằm nâng cao năng lực sáng tạo của conngười, do đó hệ thống lý luận nào góp phần giải quyết đúng đắn, phù hợp mụcđích của con người thì được con người quan tâm khái quát Vì vậy, lý luậnphải đáp ứng nhu cầu phát triển của thực tiễn.

Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin là sự khái quát từ thực tiễn phongtrào đấu tranh của giai cấp công nhân trong những giai đoạn khác nhau củalịch sử vì vậy mà nội dung của nó cũng được bổ sung và phát triển cho phùhợp với thực tiễn của từng thời kỳ lịch sử Mác, Ăngghen, Lênin là nhữngngười trực tiếp hoạt động trong phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân,biết tổng kết những tri thức kinh nghiệm và những tri thức lý luận trên cáclĩnh vực cụ thể để xây dựng nên một hệ thống lý luận khoa học hoàn chỉnh vàkhông ngừng phát triển Trên cơ sở trung thành và vận dụng sáng tạo nhữngnguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện hoàn cảnh Việt Namtrong từng giai đoạn lịch sử cụ thể để đề ra đường lối chiến lược và sách lượccho đúng đắn cách mạng Việt Nam trong cách mạng dân tộc, dân chủ, nhândân Đó là một trong những nguyên nhân quan trọng đưa đến thắng lợi trongkhởi nghĩa giành chính quyền tháng 8 năm 1945 và thắng lợi của hai cuộckháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược

Trong quá trình lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là từ khitiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước từ đại hội đảng toàn quốc lầnthứ VI (1986) đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nghiên cứu kinh nghiệmthực tiễn Việt Nam và thế giới để tiếp tục hoàn thiện lý luận về chủ nghĩa xãhội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đó là thể hiện sinhđộng tính thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt động cách mạng củaĐảng Cộng sản Việt Nam Nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên

Trang 15

chủ nghĩa xã hội ngày càng sáng tỏ hơn, hệ thống quan điểm lý luận về côngcuộc đổi mới, về xã hội xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xãhội ở Việt Nam đã hình thành trên những nét cơ bản Đảng ta chỉ rõ những

đặc điểm cơ bản về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là : “Con

đường đi lên của nước ta là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan

hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại.” 6

Từ thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta và tổng kết 20 nămđổi mới, tiếp thu kinh nghiệm của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội trên

thế giới, Đại hội lần thứ X, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Trong

quá trình đổi mới phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Đổi mới không phải tù bỏ mục tiêu chủ nghĩa xã hội mà là làm cho chủ nghĩa xã hội được nhận thức đúng đắn hơn và được xây dựng có hiệu quả hơn Đổi mới không phải xa rời mà là nhận thức đúng, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy đó làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng.” 7 Trong quá trình thực hiện côngcuộc đổi mới, chúng ta đã nhận thức rõ hơn những đặc trưng chủ yếu của xã

hội mà chúng ta đang xây dựng là: “Xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Nhà nước và

nhân dân ta xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên

6 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,

2001, tr 84.

7 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,

2006, tr.70.

Trang 16

lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lượng sản xuất; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người được giải phóng khỏi áp bức bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Động sản; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.” 8Đây là kết quả của cả một quá trình trăn trở tìm tòi, suy tư, thểnghiệm và đấu tranh tư tưởng rất gian khổ, kết tinh trí tuệ và công sức củatoàn đảng, toàn dân và toàn quân ta trong nhiều thập kỷ Đặc biệt trong pháttriển khoa học xã hội đến năm 2010 Đảng ta xác định: Thường xuyên tổngkết thực tiễn để phát triển lý luận; dự báo tình hình và xu thế phát triển củathế giới, khu vực và trong nước, cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạchđịnh đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Tuy nhiên,công tác lý luận tư tưởng của Đảng có lúc, có mặt chưa theo kịp sự phát triển

và yêu cầu của sự nghiệp đổi mới: “Lý luận chưa giải đáp được một số vấn

đề của thực tiễn đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, đặc biệt trong việc giải quyết các mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng và chất lượng phát triển; giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa đổi mới với ổn định và phát triển; giữa độc lập tự chủ và chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế…” 9 Từ nhữngphân tích nói trên, chúng ta thấy rõ vai trò to lớn của thực tiễn đối với quátrình hình thành và phát triển lý luận Chỉ khi có quan điểm thực tiễn đúngđắn mới có thể hình thành nên thế giới quan, phương pháp luận, nhận thức

8 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,

2006, tr.17 - 18.

9 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,

2006, tr.69.

Trang 17

luận đúng đắn Quan điểm thực tiễn là quan điểm cơ bản và quan trọng nhấttrong triết học Mác - Lênin.

Thứ hai, hoạt động thực tiễn phải lấy lý luận chỉ đạo, khi vận dụng

lý luận phải phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể

Lý luận được hình thành không chỉ là sự tổng kết thực tiễn mà còn làmục đích cho hoạt động thực tiễn tiếp theo Sự phát triển của thực tiễn tronglịch sử luôn được lý luận khái quát Chính vì lý luận phản ánh thực tiễn dướidạng quy luật mà lý luận có khả năng trở thành phương pháp luận cho thựctiễn C.Mác đã từng nói, người thợ xây không bao giờ tinh xảo như con ongxây tổ, nhưng người thợ xây hơn hẳn con ong ở chỗ, trước khi xây một côngtrình, họ đã hình thành được hình tượng của công trình đó trong đầu họ Tức

là, hoạt động của con người là hoạt động có ý thức Ban đầu hoạt động củacon người chưa có lý luận chỉ đạo, nhưng con người phải hoạt động để đápứng nhu cầu tồn tại của mình Thông qua đó, con người khái quát thành lýluận Từ đó, những hoạt động của con người muốn có hiệu quả nhất thiết phải

có lý luận soi đường, hoạt động thực tiễn của con người mới trở thành tự giác,

có hiệu quả và đạt được mục đích mong muốn

Lênin đã khẳng định: “Không có lý luận cách mạng thì không có

phong trào cách mạng” và “chỉ một đảng nào có được một lý luận tiên phong hướng dẫn thì mới có thể làm tròn vai trò chiến sĩ tiên phong ”10 Lý luậnđóng vai trò soi đường cho thực tiễn vì lý luận có khả năng định hướng mụctiêu, xác định lực lượng, phương pháp, biện pháp thực hiện Lý luận còn dựbáo được hả năng phát triển cũng như các mối quan hệ của thực tiễn, dự báođược những rủi ro có thể xảy ra, những hạn chế, thất bại có thể có trong quátrình hoạt động Như vậy, lý luận không chỉ giúp con người hoạt động hiệuquả mà còn là cơ sở để khắc phục những hạn chế và tăng năng lực hoạt động

10 Lênin, toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxitcơva 1977, tập 6, tr 30.

Trang 18

của con người Mặt khác, lý luận còn có vai trò giác ngộ mục tiêu lý tưởng,liên kết các cá nhân trong cộng đồng, tạo thành sức mạnh vô cùng to lớn củaquần chúng trong cải tạo tự nhiên và cải tạo xã hội Chính vì vậy, C.Mác đã

cho rằng: “Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê

phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất; nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng” 11 Mặc dù lý luận mang tính khái quát cao, nhưng nó

có tính lịch sử cụ thể Do đó, khi vận dụng lý luận chúng ta cần phân tích mộtcách cụ thể mỗi tình hình cụ thể Nếu vận dụng lý luận máy móc, giáo điều,kinh viện thì chẳng những hiểu sai lý luận mà còn làm phương hại đến thựctiễn, làm sai lệch sự thống nhất tất yếu giữa lý luận và thực tiễn Lý luận hìnhthành là kết quả của quá trình nhận thức lâu dài và khó khăn của con ngườitrên cơ sở hoạt động thực tiễn Hoạt động thực tiễn tuy phong phú, đa dạngnhưng không phải không có tính quy luật tính quy luật của thực tiễn đượckhái quát dưới hình thức lý luận Mục đích của lý luận không chỉ là phươngpháp mà còn định hướng cho hoạt động thực tiễn Đó là định hướng mục tiêu,biện pháp sử dụng lực lượng, định hướng giải quyết các mối quan hệ tronghoạt động thực tiễn Không những thế, lý luận còn định hướng mô hình củahoạt động thực tiễn Vận dụng lý luận vào hoạt động thực tiễn, trước hết từ lýluận xây dựng mô hình thực tiễn theo những mục đích khác nhau của quátrình hoạt động, dự báo các diễn biến, cá mối quan hệ, lực lượng tiến hành vànhững phát sinh của nó trong quá trình phát triển để phát huy các nhân tố tíchcực, hạn chế những yếu tố tiêu cực nhằm đạt kết quả cao hơn

Lý luận tuy là lôgíc của thực tiễn, song lý luận có thể lạc hậu so vớithực tiễn Vận dụng lý luận vào thực tiễn đòi hỏi chúng ta phải bám sát diễnbiến của thực tiễn để kịp thời điều chỉnh, bổ sung những khiếm khuyết của lý

11 C.Mác và Ph.Ănghen toàn tập, Tập1, Nxb chính trị quốc gia Hà Nội 1995, tr 580

Trang 19

luận, hoặc có thể thay đổi lý luận cho phù hợp với thực tiễn Khi vận dụng lýluận vào thực tiễn, chúng có thể mang lại hiệu quả hoặc có thể không, hoặckết quả chưa rõ ràng Trong trường hợp đó, giá trị của lý luận phải do thựctiễn quy định Tính năng động của lý luận chính là điều chỉnh cho phù hợp

với thực tiễn

Công cuộc đổi mới toàn diện vì chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay đòihỏi chúng ta phải tiếp tục đổi mới tư duy lý luận, nâng cao trình độ lý luậncủa toàn Đảng Nếu lý luận không được phát triển, bổ sung để soi đường dẫndắt cho sự nghiệp đổi mới thì khó tránh khỏi mò mẫm, sai lầm và tổn thất.Tốc độ, nhịp điệu và hiệu quả của sự nghiệp đổi mới phụ thuộc rất nhiều vào

sự phát triển lý luận, vào đổi mới tư duy lý luận Để phát huy vai trò của lýluận trong thời kỳ đổi mới, lý luận phải thật sự làm cơ sở khoa học cho sự

lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước Lý luận của Đảng ta “đã cung

cấp nhiều luận cứ khoa học cho việc xây dựng, bổ sung và phát triển đường lối đổi mới của Đảng; góp phần tăng cường sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội” 12 Muốn phát huy tốt vai trò là cơ sở khoa học cho

sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước thì lý luận phải cung cấp nhữngcăn cứ khoa học đáng tin cậy cho việc hoạch định chủ trương đường lối củaĐảng, chính sách pháp luật của Nhà nước để lý luận thực sự có tác dụng làm

cỏ sở khoa học cho đường lối đổi mới của Đảng và quản lý của Nhà nướchiện nay, Đảng và Nhà nước cần coi trọng lý luận, coi trọng đội ngũ cán bộlàm công tác lý luận, cán bộ khoa học, biết sử dụng họ vào công tác nghiêncứu, đề xuất các chủ trương, đường lối, chính sách Nghiên cứu lý luận phảidựa trên cơ sở tổng kết thực tiễn, coi đó là mắt khâu đầu tiên của quy trìnhhoạch định đường lối, chính sách Lý luận phải định hướng cho hoạt độngthực tiễn của cán bộ Đảng viên, góp phần dự báo xu hướng vận động phát

12 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Họi nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr 64.

Ngày đăng: 30/03/2021, 23:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w