1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NHỮNG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CƠ BẢN TRONG TÁC PHẨM “CHỐNG ĐUY RINH” CỦA PH.ĂNGGHEN

14 129 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 33,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chống Đuyrinh là tác phẩm nổi tiếng của Ăngghen, công trình bút chiến chống lại Đuyrinh nhà tư tưởng tiểu tư sản Đức, được Ăngghen viết từ năm1876 đến năm1878 (Mác đã đọc bản thảo của tác phẩm này và viết chương X của phần II). Từ năm 1877 đến năm1878, tác phẩm được công bố dưới hàng loạt bài báo trên tờ tiến lên. Năm 1878, cuốn sách được xuất bản toàn bộ nhưng ngay sau đó bị cấm lưu hành. Vào năm 1875 Đuyrinh đã viết một loạt bài công kích gay gắt chủ nghĩa Mác. Những quan điểm triết học của Đuyrinh là sự trộn lẫn một cách chiết trung cả chủ nghĩa ...

Trang 1

NHỮNG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CƠ BẢN TRONG TÁC PHẨM “CHỐNG ĐUY RINH” CỦA PH.ĂNGGHEN

1 Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm

Chống Đuyrinh là tác phẩm nổi tiếng của Ăngghen, công trình bút chiến chống lại Đuyrinh - nhà tư tưởng tiểu tư sản Đức, được Ăngghen viết từ năm1876 đến năm1878 (Mác đã đọc bản thảo của tác phẩm này và viết chương X của phần II) Từ năm 1877 đến năm1878, tác phẩm được công bố

dưới hàng loạt bài báo trên tờ tiến lên Năm 1878, cuốn sách được xuất bản

toàn bộ nhưng ngay sau đó bị cấm lưu hành Vào năm 1875 Đuyrinh đã viết một loạt bài công kích gay gắt chủ nghĩa Mác Những quan điểm triết học của Đuyrinh là sự trộn lẫn một cách chiết trung cả chủ nghĩa duy vật tầm thường,

cả chủ nghĩa thực chứng và chủ nghĩa duy tâm Điều nguy hiểm là ở chỗ sự công kích chủ nghĩa Mác mà Đuyrinh thực hiện lại được một số thành viên của đảng xã hội dân chủ Đức vừa mới thành lập đồng tình ủng hộ, thậm chí có những người đã chuẩn bị truyền bá những tác phẩm đó Trước tình hình đó Ăngghen đã tiến hành phê phán học thuyết của Đuyrinh nhằm ngăn chặn khuynh hướng chia rẽ trong Đảng và bảo vệ chủ nghĩa Mác Ăngghen đã phê phán tất cả các lĩnh vực mà Đuyrinh đặt ra, đồng thời trình bày và phát triển những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác Như vậy, do nhu cầu tất yếu của phong trào cộng sản, một tác phẩm dưới hình thức bút chiến và bách khoa về nội dung đã ra đời Nội dung trong tác phẩm bao gồm cả những tư tưởng về chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học Trong tác phẩm này Ăngghen đã trình bày những vấn đề quan trọng nhất của triết học, của khoa học tự nhiên và khoa học xã hội

Trang 2

2 Kết cấu và tư tưởng cơ bản của tác phẩm

Tác phẩm “Chống Đuyrinh” của Ph.Ăngghen in trong C.Mác và Ph.Ăngghen, toàn tập, tập 20, nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội 1994,

từ 15 đến trang 450 , gồm lời tựa cho ba lần xuất bản I, II, III, lời mở đầu:I nhận xét chung II Ông Đuyrinh hứa những gì và 3 phần chính, trình bày ba

bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác: Triết học, Kinh tế chính trị học và Chủ nghĩa xã hội khoa học

Phần thứ nhất: Triết học từ chương III đến chương thứ XIV (từ trang

53 đến trang 206) Thông qua phê phán các quan điểm của Đuyrinh về không gian, thời gian, thiên thể học, vật lý học, hóa học, giới hữu cơ, Ph.Ăngghen đã trình bày những quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng Ph.Ăngghen cũng tập trung bàn về các vấn đề về đạo đức, pháp quyền phê phán quan điểm của Đuyrinh về “Chân lý vĩnh cửu” đồng thời trình bày các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật

Phần thứ hai: Kinh tế chính trị học, gồm 10 chương (từ trang 207 đến

trang 355), riêng chương thứ X về lịch Kinh tế chính trị do C.Mác viết

Phần thứ ba: Chủ nghĩa xã hội, gồm 5 chương (từ trang 356 đến trang

450)

Tác phẩm “Chống Đuyrinh” của Ph.Ăngghen không những đã phê phán một cách sâu sắc những quan điểm sai lầm của ông Đuyrinh mà còn góp phần đập tan các quan điểm sai trái của chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo, duy vật sinh học đồng thời trong tác phẩm này, Ăngghen đã trình bày một cách có hệ thống quan điểm Triết học, Kinh tế chính trị học, và Chủ nghĩa xã hội khoa học của C.Mác Lo sợ trước ảnh hưởng to lớn của tác phẩm này, Nhà nước Đức đã phải ban hành đạo luật đặc biệt để ngăn chặn việc xuất bản và truyền

bá cuốn sách “Chống Đuyrinh” của Ph.Ăngghen vào phong trào công nhân thế giới, đồng thời cấm lưu hành ở Đức

Trang 3

3 Nội dung cơ bản về Triết học của tác phẩm

Thứ nhất, vấn đề thế giới quan duy vật.

Khẳng định lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng, Ph.Ăngghen

đã phê phán Đuyrinh: “Ông Đuyrinh nói lên những nguyên lý rút ra từ tư duy, chứ không phải từ thế giới bên ngoài, đến những nguyên lý hình thức phải được ứng dụng vào giới tự nhiên và loài người, do đó, giới tự nhiên và loài người phải phù hợp với chúng” 1 Phê phán quan điểm duy tâm của

Đuyrinh về vấn đề cơ bản của triết học, Ph.Ăngghen viết: “Không phải là giới

tự nhiên và loài người phải phù hợp với các nguyên lý, mà trái lại các nguyên

lý chỉ đúng trong chừng mực chúng phù hợp với giới tự nhiên và lịch sử Đó

là quan điểm duy vật duy nhất đối với sự vật, còn quan điểm của ông Đuyrinh chống lại quan điểm ấy là quan điểm duy tâm, là quan điểm hoàn toàn đặt lộn ngược mối quan hệ hiện thực và cấu tạo thế giới hiện thực từ tư duy, từ những đồ thức, từ những phương án hay những phạm trù tồn tại vĩnh cửu ở đâu đó trước khi có thế giới, hoàn toàn theo kiểu của… một Hêghen nào đó”2

Từ đó Ph.Ăngghen chỉ ra rằng nhận thức của con người về vũ trụ không phải được rút ra từ những bộ óc mà từ thế giới hiện thực, nhận thức của con người

là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc của chúng ta

Nói về phạm trù tồn tại, Đuyrinh cho rằng: “Khi chúng ta nói đến tồn tại và chỉ nói đến tồn tại thôi thì tính thống nhất chỉ có thể bao hàm ở chỗ: tất

cả những đối tượng mà chúng ta nói đến, đều có, đều tồn tại Chúng được tư duy tập hợp lại trong thể thống nhất của tồn tại ấy, chứ không phải trong thể thống nhất nào khác” 3 Ph.Ăngghen đã phê phán quan điểm duy tâm trên của Đuyrinh và khẳng định: “Tính thống nhất của thế giới không phải là ở sự tồn tại của nó, mặc dù tồn tại là tiền đề của tính thống nhất của nó, vì trước khi thế giới có thể là một thể thống nhất thì trước hết thế giới phải tồn tại đã…

1 C.Mác và Ph.Ăngghen, toàn tập, Nxb, CTQG, H.1994, t20, tr 54.

2 Sđd, t 20, tr 54.

3 Sđd, t 20, tr 66.

Trang 4

Tính thống nhất thực sự của thế giới là ở tính vật chất của nó, và tính vật chất này được chứng minh không phải bằng vài ba lời lẽ khéo léo của kẻ làm trò ảo thuật, mà bằng một sự phát triển lâu dài và khó khăn của triết học và khoa học tự nhiên” 4

Theo Ph.Ăngghen vận động phải được hiểu trước hết như một phương thức tồn tại của vật chất Vật chất và vận động không tách rời nhau, bởi vì vận động là thuộc tính vốn có, là phương thức tồn tại của vật chất Không ở đâu

và nơi nào lại có vật chất không vận động Bất cứ sự vật hiện tượng nào dù trong tự nhiên hay trong xã hội, là vật thể lớn như các ngôi sao, thiên hà, siêu thiên hà,…hay vật thể nhỏ như các hạt cơ bản, dù thuộc giới vô sinh hay hữu sinh cũng đều tồn tại trong trạng thái vận động biến đổi không ngừng Vật chất chỉ có thể tồn tại bằng cách vận động và thông qua sự vận động mà biểu hiện sự tồn tại của mình Do đó muốn nhận thức được sự vật phải nhận thức

nó trong quá trình vận động

Vận động của vật chất là Sự tác động qua lại giữa các yếu tố, bộ phận khác nhau của thực thể vật chất hay giữa các sự vật Chứ không phải như Đuyrinh quy vận động thành lực cơ giới và coi đó dường như là hình thức cơ bản của vận động

Ph.Ăngghen cũng khái quát các hình thức vận động trong thế giới, bao gồm năm hình thức vận động cơ bản là: vận động cơ học, vận động vật lý, vận động hóa học, vận động sinh học và vận động xã hội Tất cả những hình thức vận động đó không phải tách rời, mà liên hệ, chuyển hóa lẫn nhau, trong

không gian và thời gian Ph.Ăngghen viết: “Vận động trong không gian vũ trụ, vận động cơ học của những khối nhỏ hơn trên mỗi thiên thể riêng biệt, dao động phân tử dưới hình thức nhiệt, hay dưới hình thức dòng điện hoặc dòng từ, phân giải hóa học và hóa hợp hóa học, đời sống hữu cơ - đó là những hình thức vận động mà mỗi một nguyên tử vật chất riêng biệt trong vũ trụ, trong mỗi lúc nhất định, đều nắm dưới một hình thức vận động hay dưới

Trang 5

nhiều hình thức vận động cùng một lúc” 5 Sự tồn tại của các hình thức vận

động, tuân thủ các nguyên tắc đó là: các hình thức vận động không tác rời nhau mà chúng có quan hệ hữu cơ với nhau, các hình thức vận động cao bao giờ cũng nảy sinh từ các hình thức vận động thấp, trong các hình thức vận động cao các hình thức vận động thấp không bị triệt tiêu, hình thức vận động cao bao giờ cũng bao hàm các hình thức vận động thấp; ở mỗi sự vật có thể cùng tồn tại nhiều hình thức vận động khác nhau, nhưng sự vật nào cũng chỉ

có một hình thức vận động đặc trưng, thường là hình thức vận động cao nhất của sự vật.Bên cạnh đó Ph.Ăngghen cũng chỉ rõ vật chất tồn tại gắn liền với

không gian và thời gian: “Các hình thức cơ bản của mọi tồn tại là không gian

và thời gian; tồn tại ngoài thời gian thì cũng hết sức vô lý như tồn tại ở ngoài không gian” 6 Từ đó mà chúng ta rút ra nguyên lý thế giới quan duy vật triệt

để là: Thế giới không có gì ngoài vật chất đang vận động, và vật chất vận động trong không gian và thời gian

Thứ hai, tư tưởng về phép biện chứng duy vật.

Phép biện chứng theo quan niệm của Ph.Ăngghen, chính là công cụ để nhận thức giới tự nhiên và lịch sử Từ trong giới tự nhiên và lịch sử, mà tư

duy biện chứng hình thành và phát triển Ph.Ăngghen khẳng định: “Giới tự nhiên là hòn đá thử vàng đối với phép biện chứng, và cần phải nói rằng khoa học tự nhiên hiện đại đã cung cấp cho sự thử nghiệm ấy những vật hết sức phong phú và mỗi ngày một tăng thêm, và do đó đã chứng minh rằng trong tự nhiên, rút cục lại, mọi cái đều diễn ra một cách biện chứng chứ không phải siêu hình” 7

Trong tác phẩm chống Đuyrinh, Ph.Ăngghen cũng nêu ra định nghĩa

kinh điển về phép biện chứng: “Phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên,

5 Sđd, t 20, tr 89.

6 Sđd, t 20, tr 78.

7 Sđd, t 20, tr 38 -39.

Trang 6

của xã hội loài người và của tư duy” 8 Với định nghĩa đó, phép biện chứng là

hình thức cao nhất của tư duy khoa học theo quan niệm của Ph.Ăngghen

Phép biện chứng đối lập với phép siêu hình, vì “Đối với những nhà siêu hình thì những sự vật và phản ánh của chúng trong tư duy, tức là những khái niệm, đều là những đối tượng nghiên cứu riêng biệt, cố định, cứng đờ, vĩnh viễn, phải được xem xét cái này sau cái kia, cái này độc lập với cái kia” 9 Như vậy,

phép biện chứng duy vật là khoa học của phương pháp nhận thức, phương pháp tư duy, nó xem xét sự vật hiện tượng trong mối liên hệ phổ biến và sự phát triển, trong tính hệ thống, trong quá trình vận động theo khuynh hướng tiến lên Đó là bản chất của phép biện chứng duy vật Đồng thời Ph.Ăngghen cũng khẳng định sự khác biệt giữa phép biện chứng của triết học Mác với

phép biện chứng trong triết học cổ điển Đức, Ông viết: “Có thể nói rằng hầu như chỉ có Mác và tôi là những người đã cứu phép biện chứng tự giác thoát khỏi triết học duy tâm Đức và đưa nó vào trong quan niệm duy vật về tự nhiên và về lịch sử” 10 Điều đó có nghĩa rằng, phép biện chứng không phải được rút ra từ tư duy chủ quan của con người, không có mối liên hệ nào với thực tại khách quan, mà ngược lại là sự phản ánh của giới tự nhiên và lịch sử

vào trong tư duy của con người Ph.Ăngghen chỉ rõ: “Không thể đưa những quy luật biện chứng từ bên ngoài vào giới tự nhiên, mà là phát hiện ra chúng

từ trong giới tự nhiên và rút chúng ra từ giới tự nhiên” 11

Trong tác phẩm “Chống Đuyrinh”, Ph.Ăngghen đã trình bày tư tưởng biện chứng của thế giới tự nhiên thông qua sự phát triển của khoa học tự nhiên của lịch sử xã hội và kinh tế chính trị Sự phát triển của tư duy phản ánh thế giới khách quan được Ph.Ăngghen trình bày trong hệ thống các quy luật

cơ bản của phép biện chứng duy vật Nói về quy luật thống nhất và đấu tranh

8 Sđd, t 20, tr 201.

9 Sđd, t 20, tr 36.

10 Sđd, t 20, tr 22.

Trang 7

của các mặt đối lập, Ph.Ăngghen đã chứng minh tính khách quan và tính phổ biến của mâu thuẫn với ý nghĩa là quy luật tồn tại trong bản thân sự vật hiện tượng, trong mọi lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy, trong mọi quá trình phát

triển của mỗi sự vật hiện tượng Ph.Ăngghen cho rằng: “…Bản thân sự vận động đã là một mâu thuẫn; ngay như sự di động một cách máy móc và giản đơn sở dĩ có thể thực hiện được, cũng chỉ là vì một vật trong cùng một lúc vừa ở nơi này vừa ở nơi khác, vừa ở cùng một chỗ lại vừa không ở chỗ đó” 12

Sự sống cũng là một mâu thuẫn tồn tại trong chính bản thân sự vật và các quá trình, khi mâu thuẫn chấm dứt thì sự sống cũng không còn nữa và cái chết xảy đến Ph.Ăngghen nhấn mạnh rằng với tư duy biện chứng thì việc nhận thức và giải quyết mâu thuẫn biện chứng là nguồn gốc động lực của sự phát triển

Quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại đã được Ph.Ăngghen làm rõ thông qua sự phát triển của khoa học

và trong đời sống xã hội Bản chất của quy luật chính là mối quan hệ biện chứng giữa chất và lượng trong thế giới khách quan Lượng biến đổi để dẫn tới chuyển hóa về chất, chất mới ra đời có tác động trở lại sự thay đổi về lượng Quá trình này liên tục diễn ra tạo thành khuynh hướng của sự vận động phát triển của sự vật hiện tượng vừa tuần tự vừa nhảy vọt trong thế giới và hình thành nên một trong những quy luật phổ biến chi phối sự vận động phát triển của các sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan Ph.Ăngghen đã

khẳng định: “Vô số trường hợp thay đổi về lượng làm cho chất của sự vật biến đổi, cũng như thay đổi về chất làm cho lượng của sự vật biến đổi… Chúng ta có thể kể ra một việc này chẳng hạn: sự hợp tác của nhiều cá nhân,

sự dung hợp của nhiều sức thành một hợp sức, sẽ tạo ra, nói theo lối nói của Mác, một sức mới nào đó, căn bản khác với tổng số những sức cá biệt hợp thành nó” 13

12 Sđd, t 20, tr 172 - 173.

13 Sđd, t 20, tr 181.

Trang 8

Về quy luật thứ ba của phép biện chứng Quy luật phủ định của phủ định , Ph.Ăngghen cũng rất chú ý chỉ ra tính khách quan và phổ biến của nó

trong tự nhiên, xã hội và tư duy của con người Ph.Ăngghen viết: “Vậy, phủ định cái phủ định là gì ? là một quy luật vô cùng phổ biến và chính vì vậy mà

có một tầm quan trọng và có một tác dụng vô cùng to lớn về sự phát triển của

tự nhiên, của lịch sử và của tư duy; một quy luật, như ta đã thấy, biểu hiện trong giới động vật và thực vật, trong địa chất học, toán học, lịch sử, triết học” 14 Như vậy, đây không phải là một quy luật đặc thù, mà nó tồn tại và

phát triển trong mọi lĩnh vực của thế giới khách quan và tư duy của con người Chính quy luật phủ định của phủ định đã chỉ ra khuynh hướng của sự phát triển, sau mỗi lần phủ định của phủ định sự vật ngày càng hoàn thiện hơn Bản chất của quy luật phủ định của phủ định theo Ph.Ăngghen, là ở chỗ cái mới dường như trở lại cái cũ, nhưng trên cơ sở cao hơn Với ví dụ về sự phát triển của hạt lúa mì, Ph.Ăngghen minh họa sự tác động của quy luật này trong lĩnh vực thế giới hữu cơ, cũng như trong các ngành hóa học, địa chất học, toán học, triết học và cả lịch sử xã hội nữa, sự thay thế các chế độ sở hữu trong lịch sử xã hội loài người từ chế độ công hữu sang chế độ tư hữu và cuối cùng lại trở về chế độ công hữu nhưng trên cơ sở cao hơn, đó chính là quá trình phủ định của phủ định Trong tác phẩm này, Ph.Ăngghen cũng chỉ ra sự

khác nhau cơ bản giữa phủ định biện chứng và phủ định siêu hình: “Phủ định trong phép biện chứng không phải chỉ có nghĩa là nói: không, hoặc giả tuyên

bố rằng một sự vật không tồn tại, hay phá hủy sự vật ấy theo một cách nào đó…” 15 , mà phủ định biện chứng là sự phủ định gắn liền với sự phát triển, là

sự kế thừa lịch sử của cái mới đối với cái cũ Có thể khái quát rằng trong

“Chống Đuyrinh”, Ph.Ăngghen đã trình bày tư tưởng về phép biện chứng khá toàn diện, nhất là về ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật

Thứ ba, một số vấn đề về nhận thức luận trong tác phẩm.

14 Sđd, t 20, tr 200.

Trang 9

Trong tác phẩm này, Ph.Ăngghen đã làm sáng tỏ vấn đề về bản chất

của tư duy, về khả năng nhận thức chân lý, tính cụ thể của chân lý… theo quan điểm duy vật biện chứng Ông chỉ rõ tư duy của con người không phải là nhận thức chân lý tuyệt đối như quan niệm của Đuyrinh, mà là sự phản ánh của thế giới khách quan vào trong bộ não của con người, hơn nữa tư duy là thuộc tính của bộ não người nên nó mang tính lịch sử xã hội phụ thuộc vào trình độ phát triển cụ thể của loài người

Ph.Ăngghen khẳng định, tư duy của con người là một quá trình vừa

tương đối vừa tuyệt đối, Ph.Ăngghen viết “…tư duy của con người vừa là tối cao vừa là không tối cao, và khả năng nhận thức của con người vừa là vô hạn, vừa là có hạn Tối cao và vô hạn là xét theo bản tính, sứ mệnh khả năng

và mục đích lịch sử cuối cùng; không tối cao và có hạn là xét theo sự thực hiện riêng biệt và thực tế trong mỗi thời điểm nhất định” 16 Mâu thuẫn này,

theo Ph.Ăngghen chỉ có thể giải quyết được bằng quá trình tiến lên vô tận của các thế hệ loài người mà thôi

Trên cơ sở đó, Ph.Ăngghen phân tích mối quan hệ biện chứng giữa chân lý và sai lầm, chân lý tương đối và tuyệt đối Về vấn đề biện chứng giữa

chân lý và sai lầm, Ph.Ăngghen khẳng định “Chân lý và sai lầm, cũng giống như tất cả những tính quy định của tư duy đang vận động trong những mặt đối lập hoàn toàn, chỉ có giá trị tuyệt đối trong một phạm vi cực kỳ hạn chế” 17 Với những chứng minh trong khoa học tự nhiên và trong lịch sử,

Ph.Ăngghen đã bác bỏ quan điểm của Đuyrinh về những chân lý bất biến và tuyệt đối cuối cùng Ph.Ăngghen nhấn mạnh đến đặc trưng tương đối của

nhận thức: “Còn kẻ nào đem vận dụng tiêu chuẩn của một chân lý thật sự, bất biến, tuyệt đỉnh cuối cùng, vào những tri thức do chính bản chất của chúng mà hoặc vẫn phải mang tính chất tương đối đối với một chuỗi dài những thế hệ và phải được hoàn thiện dần từng mảnh một, hoặc thậm chí

-16 Sđd, t 20, tr 127.

17 Sđd, t 20, tr 131.

Trang 10

như trong thiên thể học, địa chất học, lịch sử nhân loại - phải mãi mãi là thiếu sót và không hoàn thiện chỉ vì một lý do là thiếu tài liệu lịch sử, - thì kẻ

đó chỉ chứng tỏ sự ngu dốt và thiếu hiểu biết của bản thân ” 18 Như vậy, theo

Ph.Ăngghen nhận thức của con người là vô hạn xét theo bản tính của nó, nhưng lại là có hạn trong mỗi giai đoạn lịch sử và đối với mỗi con người cụ thể

Đuyrinh cho rằng việc phát hiện ra “cái chân lý vĩnh cửu” là nhiệm vụ chính của nhận thức còn Ph.Ăngghen chỉ ra rằng đó là những chân lý của sự kiện, trong thực tế, các khoa học khác nhau, các chân lý vĩnh cửu không phải

là mục đích chính của nhận thứcvà cũng không thể làm được điều đó

Ph.Ăngghen viết: “Nếu nhân loại đạt tới chỗ chỉ vận dụng toàn những chân

lý vĩnh cửu, những kết quả của tư duy có giá trị tối cao và có quyền tuyệt đối nắm chân lý, thì điều đó có nghĩa là nhân loại đã tới một điểm mà tính vô tận của tri thức đã cùng kiệt xét về mặt hiện thực cũng như về mặt tiềm năng, và như thế là đã thực hiện được cái điều thần kỳ nổi tiếng là đếm được sự hằng

hà vô số” 19 Theo Ph.Ăngghen chân lý không phải là bất biến, vĩnh viễn mà

nó là một quá trình nhận thức từ thấp đến cao, phụ thuộc vào nhiều mối quan

hệ giữa chủ thể và khách thể nhận thức, tuyệt đối hóa tính tuyệt đối, tính vĩnh cửu của chân lý như Đuyrinh thì chỉ dẫn đến chủ nghĩa duy tâm và siêu hình

về nhận thức Ph.Ăngghen cũng chỉ ra tính lịch sử của chân lý cũng như quan

hệ đạo đức: “Từ dân tộc này sang dân tộc khác, từ thời đại này sang thời đại khác, những quan niệm về thiện và ác đã biến đổi nhiều đến mức chúng thường trái ngược nhau” 20 Như vậy, Ph.Ăngghen đã khẳng định những

nguyên lý cơ bản của quá trình nhận thức trên lập trường duy vật biện chứng, đối lập với chủ nghĩa duy tâm và phương pháp siêu hình của Đuyrinh

Thứ tư, tư tưởng duy vật lịch sử và chủ nghĩa xã hội.

18 Sđd, t 20, tr 131.

19 Sđd, t 20, tr 125.

Ngày đăng: 30/03/2021, 23:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w