luận văn, thạc sĩ, tiến sĩ, cao học, khóa luận, đề tài
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
- -
ðINH VĂN HUẤN
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA ðỘ MẶN ðẾN KHẢ
NĂNG SINH SẢN CỦA CÁ RÔ PHI VẰN (Oreochromis
niloticus)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: nuôi trồng thủy sản
Mã số : 60.62.70 Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Anh Tuấn
HÀ NỘI - 2010
Trang 2LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan ñây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện,
số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng ñược công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi cũng xin cam ñoan rằng mọi sự giúp ñỡ cho việc thực hiện luận văn này ñã ñược cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn ñều ñược chỉ rõ nguồn gốc
Bắc Ninh, Ngày 01Tháng 10 Năm 2010
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc ựến TS Phạm Anh Tuấn người Thầy
ựã tận tình ựịnh hướng, chỉ bảo và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Qua ựây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới ThS Lê Minh Toán ựã tạo ựiều kiện và có những góp ý quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin cảm ơn ựề tài ỘNghiên cứu chọn giống nâng cao tốc ựộ sinh
tr ưởng và khả năng sinh sản cá Rô phi vằn (Oreochromis niloticus) trong
vùng n ước lợỢ ựã hỗ trợ tôi một phần kinh phắ ựể hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn tới Trạm nghiên cứu nuôi trồng thủy sản nước lợ (Quý Kim, Hải Phòng) ựã tạo mọi ựiều kiện thuận lợi ựể tôi hoàn thành luận văn
Bên cạnh ựó tôi xin bày tỏ lòng biết ơn ựến Ban Giám hiệu Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội, Ban lãnh ựạo Viện Nghiên cứu Nuôi Trồng Thuỷ sản I, Phòng Hợp tác Quốc tế và đào tạo Viện nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản I ựã ủng hộ, giúp ựỡ và tạo mọi ựiều kiện ựể tôi hoàn thành tốt khóa học
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới tập thể lớp Cao học 10 Ờ NTTS, cùng các bạn bè ựồng nghiệp ựã giúp ựỡ tôi hoàn thành luận văn
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới bố mẹ, anh, chị ựã luôn bên cạnh ựộng viên, và giúp ựỡ tôi trong quá trình học tập cũng như trong cuộc sống và ựặc biệt là hoàn thành tốt khóa học này
Trang 4CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
DO: Hàm lượng oxy hòa tan
ðVPD: ðộng vật phù du
FAO: Food and Agricultural Oganization
GIFT: Genetic Improvement of Farmed Tilapia
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ðOAN i
LỜI CẢM ƠN iii
CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
PHẦN 1: MỞ ðẦU 1
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 ðặc ñiểm sinh học của cá rô phi 3
2.1.1 Phân loại, nguồn gốc và phân bố của cá rô phi 3
2.1.2 ðặc ñiểm hình thái 5
2.1.3 ðặc ñiểm dinh dưỡng 6
2.1.4 ðặc ñiểm sinh trưởng 8
2.1.5 ðặc ñiểm sinh sản 9
2.2 ðiều kiện sinh thái và môi trường sống của cá rô phi 12
2.2.1 Oxy hòa tan 12
2.2.2 Nhiệt ñộ 13
2.2.3 pH 14
2.2.4 ðộ muối 15
2.3 Khả năng sinh sản của cá rô phi trong các ñộ muối khác nhau 17
2.4 Tình hình nghiên cứu về chọn giống và nuôi cá rô phi hiện nay 19
2.4.1 Tình hình nuôi cá rô phi hiện nay 19
2.4.2.Tình hình nghiên cứu về chọn giống 25
PHẦN 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
3.1 ðối tượng, thời gian và ñịa ñiểm nghiên cứu 28
3.2 Vật liệu nghiên cứu 28
Trang 63.2.1 Cá thí nghiệm 28
3.2.2 Hệ thống bể thí nghiệm 28
3.2.3 Hệ thống ấp trứng 29
3.3 Phương pháp nghiên cứu 30
3.3.1 Bố trí thí nghiệm 30
3.3.2 Phương pháp xác ñịnh các chỉ tiêu sinh sản của cá rô phi 31
3.3.3.Phương pháp xử lý số liệu 32
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33
4.1 Biến ñộng các yếu tố môi trường nước trong các bể thí nghiệm 33
4.1.1 Biến ñộng nhiệt ñộ nước ở các bể thí nghiệm 33
4.1.2 Biến ñộng hàm lượng oxy hòa tan (DO) 35
4.1.3 Biến ñộng pH môi trường nước trong các bể thí nghiệm 35
4.1.4 Biến ñộng hàm lượng amonia 36
4.2 Kết quả sinh sản 37
4.2.1 Tỷ lệ ñẻ 37
4.2.2 Tổng số trứng 39
4.2.3 Tỷ lệ nở 41
4.2.4 Số lượng cá bột 43
4.2.5 Năng suất cá bột 44
PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ ðỀ NGHỊ 47
5.1 Kết luận 47
5.2 ðề nghị 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
I.Tài liệu tiếng việt 48
II.Tài liệu tiếng anh 50
III Các trang web ñã tham khảo: 53
PHỤ LỤC 54
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 ðặc ñiểm sinh sản và những loài rô phi quan trọng trong nuôi trồng
thủy sản 4
Bảng 2.2 Nhu cầu protein trong khẩu phần ăn của một số loài cá rô phi 7
Bảng 2.3 Khẩu phần ăn của cá rô phi ở các cỡ cá khác nhau 8
Bảng 2.4 Các giai ñoạn phát triển noãn sào của cá rô phi 10
Bảng 2.5 Phân biệt cá rô phi ñực và cá cái 11
Bảng 2.6 Giới hạn ñộ muối của một số loài cá rô phi 16
Bảng 2.7 Sản lượng xuất khẩu cá rô phi của Trung Quốc 20
Bảng 2.8 Sản lượng cá rô phi nuôi ở một số nước trên thế giới 20
Bảng 2.9 Hiện trạng diện tích, số lượng lồng bè nuôi cá rô phi ở các vùng 22
Bảng 2.10 Sản lượng cá nuôi và cá rô phi nuôi ở các vùng trong cả nước năm 2005 23
Bảng 4.1 Biến ñộng pH của nước trong quá trình thí nghiệm 36
Bảng 4.2 Tỷ lệ ñẻ (%) của cá cái qua các lần thu trứng 38
Bảng 4.3 Tổng số trứng(quả) ở các công thức thí nghiệm qua các lần thu 40
Bảng 4.4 Tỷ lệ nở (%) qua các lần thu 41
Bảng 4.5 Số lượng cá bột (con) qua các lần thu trứng 43
Bảng 4.6 Năng suất cá bột (con/kg cá cái) qua các lần thu trứng 45
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus) 4
Hình 3.1 Hệ thống bể thí nghiệm 29
Hình 3.2 Hệ thống ấp trứng cá rô phi thí nghiệm 30
Hình 3.3 Sơ ñồ bố trí thí nghiệm 30
Hình 4.1 Biến ñộng nhiệt ñộ nước trong thời gian thí nghiệm 34
Hình 4.2 Biến ñộng hàm lượng oxy hòa tan trong thời gian thí ngiệm 35
Hình 4.3 Biến ñộng hàm lượng NH 3 trong quá trình thí nghiệm 37
Trang 9PHẦN 1: MỞ ðẦU
Việt Nam là một quốc gia có tiềm năng phát triển nuôi trồng thuỷ sản ở khắp mọi miền ñất nước cả về nuôi biển, nuôi nước lợ và nuôi nước ngọt ðến năm 2005, diện tích sử dụng nuôi trồng thuỷ sản là 971.490 ha, trong ñó 626.914 ha nước mặn, lợ và 344.576 ha nước ngọt Tổng sản lượng thuỷ sản năm 2004 là 3.073.600 tấn trong ñó sản lượng nuôi thuỷ sản 1.150.100 tấn chiếm 37,4% tổng sản lượng, năm 2005 tổng sản lượng thuỷ sản ñạt 3.300.000 tấn trong ñó sản lượng nuôi 1.360.000 tấn chiếm 41,2% (Phạm Anh Tuấn, 2006)
Theo thống kê năm 2005 diện tích nuôi cá rô phi của cả nước là 29.717
ha chiếm 3% tổng diện tích nuôi trồng thủy sản, trong ñó nuôi nước lợ, mặn
là 5.184 ha và nuôi nước ngọt là 24.533 ha Tổng sản lượng cá rô phi ước tính ñạt 54.486,8 tấn, chiếm 9,08% tổng sản lượng cá nuôi (Phạm Anh Tuấn, 2006) ðến năm 2007 diện tích nuôi ñã là 39.717 ha với tổng sản lượng 74.478 tấn, tiêu thụ nội ñịa chiếm 95 – 98% xuất khẩu ñược 869 tấn giá trị 1,9 triệu USD ( Phạm Anh Tuấn, 2009)
Nuôi cá Rô phi ở Việt Nam có lịch sử phát triển hơn nửa thế kỷ và ngày càng ñược nuôi phổ biến Cá rô phi ñược nuôi chủ yếu ở nước ta là rô
phi vằn Oreochromis niloticus có nguồn gốc ở sông Nile, Ai Cập, loài cá này
có tốc ñộ sinh trưởng nhanh, khả năng thích ứng rộng với môi trường nuôi khác nhau, sinh trưởng dễ dàng và nuôi ñược ở cả môi trường nước ngọt, nước lợ…(Pulin và Connell, 1988; Suresh và Kwei Lin, 1992) Cho ñến nay phần lớn sản lượng xuất phát từ các vùng nước ngọt, sản lượng cá rô phi (khoảng 90%) ở nước ta ñược nuôi ở ao, lồng bè trên sông, hồ chứa vùng nước ngọt (Phạm Anh Tuấn, 2009) Nuôi cá rô phi vùng nước lợ mặn ñã bắt ñầu ñược quan tâm, nhưng vẫn chưa sử dụng hiệu quả tiềm năng vốn có
Cá rô phi chịu ñược nồng ñộ muối cao nghĩa là chúng có thể nuôi ñược
ở biên ñộ muối rộng Mặc dù cá rô phi vằn O.niloticus và các con lai của chúng không chịu ñược ñộ muối cao như các loài rô phi khác, nhưng cá bột
Trang 10và cá trưởng thành của loài này có thể chịu ñược ñộ muối 15‰ và 30‰ - 35‰ (Watanable & CTV, 1985) Theo Popma và Masser, (1999) thì rô phi vằn có thể sinh sản ở ñộ muối trên 10‰ ñến 15‰ nhưng thực hiện tốt hơn ở
ñộ muối dưới 5‰ và số lượng cá bột căn bản ở ñộ muối 10‰
Nước ta có tiềm năng to lớn ñể phát triển nuôi cá rô phi ở các vùng nước lợ mặn Tuy nhiên các giống cá rô phi hiện nay nuôi ở các vùng nước lợ, mặn (ñộ muối >10‰) thường có tốc ñộ sinh trưởng chậm, tỷ lệ sống không cao so với khi nuôi ở vùng nước ngọt hoặc vùng nước lợ có ñộ mặn thấp (Phạm Anh Tuấn, 2009)
Các nghiên cứu có liên quan ñến sinh sản cá rô phi nước lợ ở nước ta trước ñây thường gặp khó khăn trong sinh sản, ở ñộ muối trên 10‰ dù cá bố
mẹ ñã thành thục song khả năng sinh sản của cá rất thấp Vấn ñề này gây khó khăn khi phát triển sản xuất cá giống và các nghiên cứu khác như nghiên cứu chọn giống trong môi trường nước mặn
ðể khắc phục những khó khăn trên, nghiên cứu giải pháp nâng cao khả năng sinh sản cá Rô phi trong ñiều kiện nước lợ là hết sức cần thiết
Chính vì những lý do trên chúng tôi tiến hành thực hiện ñề tài “Nghiên
cứu ảnh hưởng của ñộ mặn ñến khả năng sinh sản của cá Rô Phi vằn
(Oreochromis niloticus)”
* Mục tiêu nghiên cứu:
Xác ñịnh khả năng sinh sản của cá rô phi vằn nuôi trong môi trường nước lợ mặn làm cơ sở ñịnh hướng sản xuất và chọn giống cá rô phi trong môi trường nước mặn
* Nội dung nghiên cứu:
Ảnh hưởng của các ñộ muối khác nhau ñến khả năng sinh sản của cá rô phi vằn
Trang 11PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 ðặc ñiểm sinh học của cá rô phi
2.1.1 Phân loại, nguồn gốc và phân bố của cá rô phi
Cá rô phi thuộc bộ cá vược Percifomes, họ Cichlidae, là loài cá ưa
nhiệt có nguồn gốc từ Châu Phi, có sức sống cao, có giới hạn thủy vực rộng, ñược nuôi thả hầu hết ở các vùng nhiệt ñới Rô Phi thường ñược nuôi ở ao, hồ nước ngọt, nước lợ, tùy ñặc tính chịu ñộ muối của từng loài, một số loài ñược nuôi trong nước biển chủ yếu là trong ñiều kiện nuôi lồng (Watanabe và ctv 1989; Costa Pierce, Hadikusumah, 1990; Cruz, Ridha, 1990; Suresh, Kwei Lin, 1992 ; Dey & ctv, 2000 ; Eknath, 1992 ; Thoma, 1999 ; Wee & ctv, 1988) Có khoảng 80 loài rô phi và căn cứ vào cơ sở di truyền và tập tính sinh sản (Trewavas, 1983) ñã phân loại cá rô phi thành 3 giống chính: Giống
Tilapia gồm các loài cá ñẻ trứng bám vào giá thể, sau khi ñẻ cả cá ñực và cá cái cùng tham gia bảo vệ tổ, giống này phân bố ở Tây và Trung Phi; Giống
Sarothegodon làm tổ ñẻ trứng và cả con ñực và con cái ấp trứng trong miệng Chúng phân bố rất ít ở miền Bắc Phi nhưng lại tập trung nhiều về số lượng và
chủng loại Giống Oreochromis cũng làm tổ ñẻ trứng nhưng chỉ có con cái ấp
trứng trong miệng, chúng phân bố chính ở các khu vực tiếp giáp với Ấn ðộ Dương (Philippart và Ruwet, 1982)
Hệ thống phân loại như sau:
Giới (regnum): Animalia
Ngành (phylum): Chordata
Lớp (class): Actinopterygii
Bộ (ordo) Perciformes
Họ (familia): Cichlidae
Chi (genus) Oreochromis
Loài (species) O niloticus
O aureus
Trang 12
Hình 2.1 Cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus)
Trong 3 giống trên có khoảng 8 ñến 9 loài có giá trị trong nuôi trồng
thủy sản (Phạm Anh Tuấn, 1998) Trong các loài có giá trị, cá rô phi vằn O
niloticus, cá rô phi xanh O aureus và cá rô phi hồng Oreochromis sp ñược
coi là quan trọng nhất hiện nay, ñang ñược nuôi phổ biến ở hầu hết các nước
nhiệt ñới và cận nhiệt ñới trên thế giới (Macintosh & Little, 1995)
Bảng 2.1 ðặc ñiểm sinh sản và những loài rô phi quan trọng trong nuôi
(Nguồn: Macintosh và Little, 1995)
Cá rô phi vằn Oreochromis niloticus ñược nhập vào miền Nam Việt
Trang 13Bắc Từ ựấy ựến nay dòng cá này ựược lưu giữ quỹ gen tại viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I Cá rô phi vằn khi ựấy thường ựược gọi với tên rô phi đài Loan, dòng cá này có ưu ựiểm lớn nhanh, nhịp sinh sản thưa hơn so với dòng cá rô phi ựen ựược nhập trước ựây và chúng ựã nhanh chóng thắch nghi với ựiều kiện khắ hậu tại miền Bắc, với những ưu ựiểm như vậy cá rô phi vằn
ựã trở thành ựối tượng nuôi ựầy triển vọng và ựược nuôi rộng rãi trong cả nước (Trần Mai Thiên và Trần Văn Vĩ, 1994)
Năm 1994, Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I ựã nhập nội một số phẩm giống cá rô phi như: Cá rô phi vằn dòng Thái Lan từ Thái Lan, cá rô phi
GIFT thế hệ thứ 5, cá rô phi vằn dòng Swansea, và cá rô phi xanh O aureus
từ Philippines, cá rô phi hồng Oreochromis sp từ đài Loan và Thái Lan Các
giống cá rô phi nhập nội sau ựó tiến hành nuôi thử ngiệm ở một số ựịa phương: Quảng Ninh, Nghệ An, Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I, kết quả cho thấy: Cá rô phi vằn dòng Thái Lan, dòng GIFT, và cá rô phi hồng ựã thể hiện ưu thế sinh trưởng, thắch ứng với ựiều kiện nuôi cá nước ta, ựược người nuôi cá quan tâm Các dòng cá rô phi vằn dòng GIFT, dòng Thái Lan
và cá rô phi hồng hiện ựang ựược sử dụng làm giống nuôi ở nhiều vùng nuôi trong cả nước (Phạm Anh Tuấn, 2006)
2.1.2 đặc ựiểm hình thái
Cá rô phi vằn O niloticus toàn thân phủ vẩy sáng bóng, phần lưng có
màu xám nhạt, phần bụng có màu trắng sữa hoặc màu xanh nhạt Trên thân mình có 7 Ờ 9 vạch ựậm chạy từ lưng xuống bụng Vây ựuôi có màu sọc ựen ựậm song song từ phắa trên xuống dưới và phân bố khắp vây ựuôi Vây lưng
có những sọc trắng chạy song song trên nền xám ựen Thân cao, hình hơi bầu dục, dẹp bên đầu ngắn, miệng rộng hướng ngang, rạch kéo dài ựến ựường thẳng ựứng sau lỗ mũi một ắt Hai hàm dài bằng nhau, môi trên dầy Lỗ mũi gần mắt hơn mõm Mắt tròn ở nửa trước và phắa trên của ựầu Khoảng cách hai mắt rộng, gáy lõm ở ngang lỗ mũi Khởi ựiểm vây lưng ngang với khởi
Trang 14ựiểm vây ngực, trước khởi ựiểm vây bụng Vây ngực nhọn, dài, mềm Vây bụng to cứng, chưa tới lỗ hậu môn Cá rô phi vằn ựược nhập vào Việt Nam năm 1974 từ đài Loan (Nguyễn Công Dân, 1998a)
2.1.3 đặc ựiểm dinh dưỡng
Bộ máy tiêu hoá của cá rô phi thắch nghi với việc ăn tạp Miệng chúng khá rộng hướng lên trên, có thể ăn ựược những mồi lớn, răng hàm ngắn và nhiều, xếp lộn xộn giúp cá bắt và giữ mồi tốt, lược mang ngắn và khá dày giúp cá lọc tảo dễ dàng Cá rô phi có hai tấm răng hầu ở trên và một tấm ở dưới giúp cho cá nghiền thức ăn Thực quản ngắn, dạ dày nhỏ và thành dạ dày mỏng Ruột cá rô phi dài và xếp thành nhiều vòng, ựó là ựặc ựiểm của loài cá
ăn thực vật (Mai đình Yên và ctv, 1978)
Tắnh ăn của cá rô phi thay ựổi theo từng loài, từng giai ựoạn phát triển
và cả môi trường nuôi Khẩu phần ăn của cá rô phi gồm hỗn hợp các tảo, vi khuẩn, mùn bã hữu cơ và có thể cả thực vật bậc cao (Chervinski, 1982)
Cá rô phi là loài cá ăn tạp nghiêng về thực vật, thức ăn chủ yếu là tảo
và một phần thực vật bậc cao và mùn bã hữu cơ Ở giai ựoạn cá con từ cá bột lên cá hương, thức ăn chủ yếu là ựộng vật phù du (ĐVPD) và một ắt thực vật phù du (TVPD) Từ giai ựoạn cá hương ựến cá trưởng thành thức ăn chủ yếu
là mùn bã hữu cơ và TVPD Cá rô phi có khả năng tiêu hoá các loài tảo xanh, tảo lục mà một số loài cá khác không có khả năng tiêu hoá Ngoài ra cá rô phi còn ăn ựược thức ăn bổ sung như cám gạo, bột ngô, các loại phụ phẩm nông nghiệp khác Đặc biệt cá rô phi có thể sử dụng rất có hiệu quả thức ăn tinh như: cám gạo, bột ngô, khô dầu lạc, ựỗ tương, bột cá và các phụ phẩm nông nghiệp khác Trong nuôi thâm canh nên cho cá ăn thức ăn có hàm lượng ựạm cao (18-35% Protein) (http//:www.agriviet.com)
Nhu cầu dinh dưỡng của cá rô phi thay ựổi theo từng giai ựoạn phát triển Trong các yếu tố dinh dưỡng thì Protein ựóng vai trò quan trọng nhất cả
về số lượng và chất lượng Các loài cá khác nhau có nhu cầu Protein khác
Trang 15nhau Ngay trong cùng một loài nhu cầu Protein cũng khác nhau giữa các ñộ tuổi và ñiều kiện môi trường nuôi khác nhau ðối với cá nhỏ nhu cầu Protein trong khẩu phần thức ăn nhiều hơn cá lớn, cá nuôi trong hệ thống nghèo thức
ăn tự nhiên, ñòi hỏi mức ñộ Protein trong khẩu phần ăn cao hơn so với cá nuôi trong môi trường giầu thức ăn tự nhiên hay trong ao bón phân (Lê Văn Thắng, 1999) Nhu cầu Protein của của một số loài cá rô phi ñược thể hiện trong Bảng 2.2
Bảng 2.2 Nhu cầu protein trong khẩu phần ăn của một số loài cá rô phi
Loài Giai ñoạn Khẩu phần
Protein (%) Hệ thống nuôi Nguồn
Rô phi hồng Cá bột-cá thịt 20 - 30 Bể nước mặn Clark và ctv., 1990
Tilapia Cỡ cá lớn 28 Lồng nước mặn Utanabe và ctv., 1990
Rô phi hồng Cá bột 30 - 40 Nước ngọt Santiago, Laron,1991
O niloticus Cá nhỏ 24 Bể nước mặn Shiau và Huang, 1990
O niloticus Cá bột 40 Ao nước ngọt Siddiqui và ctv., 1988
O niloticus Cá lớn 27,5 - 35 Bể nước ngọt Tuan và ctv., 1988
(Nguồn: Dương Văn Biểng, 2006)
Khẩu phần ăn của cá rô phi phụ thuộc vào loài, kích cỡ, mức năng lượng trong khẩu phần cho ăn, chất lượng nước, tần suất và lượng thức ăn tự nhiên trong thuỷ vực ðiều ñáng chú ý là khẩu phần tối ưu về mặt sinh học
không hẳn tối ưu về mặt kinh tế ðiều này ñặc biệt chú ý với cá O niloticus vì
loài cá này có thể sử dụng thức ăn dưới mức tối ưu mà vẫn tăng trưởng tốt (Lê Văn Thắng, 1999) Thực tế trong quá trình nuôi ñể ñạt ñược hiệu quả, năng suất và sản lượng cao khi cá ñược cho ăn với khẩu phần hợp lý, phù hợp với từng ñiều kiện nuôi Thông thường khẩu phần ăn của cá giảm dần khi cá càng lớn Tuy nhiên khẩu phần thức ăn của cá cần ñược ñiều chỉnh thường xuyên theo ñiều kiện thời tiết, chất lượng nước và tình trạng sức khoẻ của cá
Trang 16Bảng 2.3 Khẩu phần ăn của cá rô phi ở các cỡ cá khác nhau
Cỡ cá (gam/con) Khẩu phần ăn (% khối lượng cơ thể)
(Ngu ồn Melard và Philipart, 1981, Trích dẫn của Taco, 1988)
Trong tự nhiên cá rô phi chủ yếu kiếm mồi vào ban ngày, cá có thể bắt mồi hầu hết các giờ trong ngày Ruột cá rô phi thích nghi với việc thu nhận thức ăn từng ít một Do vậy trong quá trình nuôi cần chia lượng thức ăn thành nhiều lần trong ngày và cho ăn vào ban ngày Cá nhỏ nên cho ăn nhiều lần hơn cá lớn, tần suất cho ăn giảm dần cùng với sự tăng trọng của cá Về nguyên tắc cho ăn nhiều lần trong ngày sẽ thuận lợi cho việc theo dõi thức ăn thừa, quản lý chất lượng nước và cá sinh trưởng tốt hơn nhưng chi phí lao ñộng cao hơn (Macintosh & Little, 1995)
2.1.4 ðặc ñiểm sinh trưởng
Sự sinh trưởng của cá rô phi mang ñặc trưng của loài, các loài rô phi
khác nhau có tốc ñộ sinh trưởng khác nhau Loài O niloticus có tốc ñộ tăng trưởng và phát triển nhanh vượt trội so với loài O mossambicus Cá rô phi loài O niloticus có tốc ñộ tăng trưởng nhanh nhất sau ñó ñến O galilaeus và
O aureus (Lowe – McConnell, 1982)
Tốc ñộ sinh trưởng của cá rô phi phụ thuộc vào nhiệt ñộ môi trường, thức ăn, mật ñộ thả và kỹ thuật chăm sóc Khi nuôi thâm canh cá lớn nhanh hơn khi nuôi bán thâm canh hay là nuôi ghép (http//:www.agriviet.com)
Giai ñoạn cá hương, trong ao nuôi cá từ hương lên giống, cá rô phi vằn có tốc ñộ sinh trưởng khá nhanh từ 15- 20 g/tháng Từ tháng nuôi thứ
Trang 17hai ñến tháng nuôi thứ sáu tăng trưởng bình quân ngày có thể ñạt 2,8 - 3,2 g/con/ngày Cá rô phi vằn có thể ñạt trọng lượng bình quân trên 500g/con sau
5 – 6 tháng nuôi (http//:www.agriviet.com)
2.1.5 ðặc ñiểm sinh sản
Thành th ục sinh dục:
Sự thành thục của cá rô phi tuỳ thuộc theo từng loài, phụ thuộc vào
kích cỡ, tuổi cá và môi trường sống Cá rô phi O mossambicus thành thục sớm hơn O niloticus Trong ao nghèo dinh dưỡng cá thường thành thục ở cỡ
nhỏ hơn nuôi trong ao có ñiều kiện dinh dưỡng tốt (Lowe - Connell, 1982)
Trong tự nhiên cá rô phi thành thục lần ñầu sau 4 – 6 tháng tuổi, khi cá ñạt khối lượng 100-150g/con (Heppher và Pruginin, 1982; Nho P V, 1996; Nguyễn Công Dân, 1998 a,b) Tuy vậy kích thước thành thục sinh dục của cá
rô phi phụ thuộc vào ñiều kiện chăm sóc, ñiều kiện nhiệt ñộ và ñộ tuổi Cá rô phi nuôi trong mô hình thâm canh năng suất cao cá cái tham gia sinh sản lần ñầu sinh sản khi khối lượng ñạt trên 200g trong khi ñó ở ñiều kiện nuôi kém,
cá cái bắt ñầu ñẻ khi khối lượng cơ thể mới khoảng 100g
Khi ñiều kiện môi trường thuận lợi, giàu dinh dưỡng, cá rô phi lớn nhanh và phát dục ở kích cỡ lớn, ngược lại trong ñiều kiện môi trường không ñầy ñủ chất dinh dưỡng, cá thành thục ở kích thước nhỏ
Chu k ỳ sinh sản:
Cá rô phi thành thục rất sớm thường sau 3 ñến 5 tháng nuôi Chu kỳ sinh sản từ 30 - 35 ngày /lứa Cá sinh sản nhiều lần trong năm, ở những vùng
khí hậu ấm áp quanh năm như các tỉnh phía Nam cá rô phi O niloticus có thể
ñẻ 11 - 12 lần/năm Còn ở các tỉnh miền Bắc cá chỉ ñẻ 5 - 6 lần trong năm Quan sát buồng trứng cá rô phi cho thấy: trong buồng trứng lúc nào cũng có tất cả các loại trứng, từ loại non nhất ñến loại chín sẵn sàng rụng ñể ñẻ Số lượng trứng mỗi lần ñẻ từ vài trăm trứng ñến khoảng vài nghìn trứng Chu kỳ sinh sản của cá rô phi thường kéo dài từ 3 – 4 tuần (tính từ lần ñẻ này ñến lần
ñẻ tiếp theo) Tuy nhiên khi nhiệt ñộ nước xuống dưới 200C kéo dài trong
Trang 18nhiều ngày cá ngừng sinh sản (Nguyễn Công Dân & Trần Văn Vĩ , 1996), Sự hình thành và phát triển tuyến sinh dục của cá rô phi phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như tuổi, cỡ cá, chế ñộ dinh dưỡng, nhiệt ñộ nước, ñộ mặn…
Nghiên cứu sự phát triển buồng trứng của cá rô phi cho thấy, sự phát triển của trứng cũng ñược chia thành 6 giai ñoạn như những loài khác Tiêu chuẩn phân chia giai ñoạn ñược dựa vào kích thước của noãn bào có trong nang buồng trứng, Tacon và ctv., (1996) ñã mô tả tóm tắt 6 giai ñoạn phát triển của tế bào trứng cá rô phi (Bảng 2.4)
Bảng 2.4 Các giai ñoạn phát triển noãn bào của cá rô phi
Giai ñoạn Kích thước noãn bào (µm)
Cá cái có màu hơi vàng ở cổ, không có gì thay ñổi về màu sắc bên ngoài Quan sát lỗ huyệt sinh dục có thể phân biệt ñược cá ñực và cá cái như sau:
+ Cá ñực: có hai lỗ, phía trước là lỗ hậu môn, phía sau là rãnh huyệt (huyệt niệu sinh dục)
+ Cá cái: Có ba lỗ, phía trước là lỗ hậu môn, phía sau là lỗ niệu sinh dục và ở giữa là lỗ sinh dục
ðể phân biệt cá ñực và cá cái, người ta dựa vào hình thái ngoài và dựa vào kết quả giải phẫu tuyến sinh dục
Trang 19Bảng 2.5 Phân biệt cá rô phi ñực và cá cái
Ðặc ñiểm phân
Ðầu To và nhô cao Nhỏ, hàm dưới trễ do
ngậm trứng và con
Màu sắc Vây lưng và vây ñuôi sặc sỡ có
màu hồng hặc hơi ñỏ Màu nhạt hơn
(Nguồn: Lê Văn Thắng, 1999 )
Dựa vào phương pháp giải phẫu tuyến sinh dục: khi cá ñạt cỡ 3 – 5g,
mổ lấy tuyến sinh dục sau ñó nhuộm dung dịch bắt màu Acetol – Carmine, dùng kính hiển vi quan sát thấy có nhưng chấm nhỏ li ti ñấy là tế bào sinh dục ñực Nếu là con cái cho thấy có những vòng tròn nhỏ xếp sít vào nhau từng khối
Khi cá ñã thành thục sinh dục sẵn sàng tham gia sinh sản, chúng ñào tổ sẵn trên nền ñáy ao (ñường kính khoảng 20 – 30cm) Cá cái ñẻ trứng vào tổ,
cá ñực tiết sẹ thụ tinh cho trứng Sau khi trứng ñã ñược thụ tinh, cá cái hút trứng và ấp trong miệng Thời gian ấp trứng ñược tính từ khi cá ñược thụ tinh ñến khi cá bột tiêu hết noãn hoàng và có thể bơi lội tự do Thời gian này kéo dài khoảng 10 ngày tùy theo nhiệt ñộ môi trường Cá bố mẹ còn tiếp tục bảo
vệ và chăm sóc cá con ñến khi cá bột nở ra và bơi thành ñàn khỏe mạnh (Masintosh và Little, 1995)
- Ở nhiệt ñộ 200C thời gian ấp khoảng 6 ngày
- Ở nhiệt ñộ 280C thời gian ấp khoảng 4 ngày
- Ở nhiệt ñộ 300C thời gian ấp khoảng 2 - 3 ngày
Trang 20Khi cá bơi lội tự do, chúng thường tập hợp thành ñàn bơi nơi nước ấm
và nông xung quanh ao Giai ñoạn ñầu cá rô phi ăn ñộng vật phù du, sau chuyển sang ăn ñộng vật và các loại ấu trùng ñộng vật trong nước và ở ñáy
ao Trong ñiều kiện ấp nhân tạo cá con mới nở gặp phải ñiều kiện không ñảm bảo như trong miệng của mẹ chúng nên ảnh hưởng ñến tỷ lệ sống của chúng Thời gian này kéo dài từ 10 – 12 ngày Cá cái bắt ñầu bắt mồi tích cực sau khi kết thúc ñợt ấp trứng ñể chuẩn bị cho ñợt ñẻ kế tiếp (Macintosh, 1985) Lượng thức ăn mà cá cái tiêu thụ có thể lên tới 40% khối lượng cơ thể trong vòng 48 giờ ngay sau chấm dứt việc ấp trứng và ngậm con trong miệng Trong thời gian sinh sản cá cái thường bị giảm khối lượng cơ thể do nhịn ăn trong thời gian ấp trứng và ngậm con, khối lượng có thể giảm 15% ñến 20%
so với khối lượng ban ñầu trước khi tham gia sinh sản (Little, 1990)
2.2 ðiều kiện sinh thái và môi trường sống của cá rô phi
2.2.1 Oxy hòa tan
Hàm lượng oxi hòa tan là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất của chất lượng nước ảnh hưởng trực tiếp ñến tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá Nhu cầu về hàm lượng oxi hòa tan và lượng tiêu hao oxi hòa tan của cá tăng theo nhiệt ñộ và mức ñộ sử dụng thức ăn của cá Khi mức ñộ thâm canh cao thì hàm lượng oxi hòa tan trở thành yếu tố hạn chế Nhiều loài cá tăng trưởng chậm ñi khi hàm lượng oxi hòa tan nhỏ hơn 5 mg/L (Boyd, 1996)
Cá rô phi có khả năng sống trong môi trường nước có hàm lượng oxy hòa tan thấp nhờ khả năng sử dụng oxy trên mặt nước Trong môi trường có hàm lượng oxy hòa tan thấp dưới 1 mg/L, cá rô phi vẫn có thể sống nhưng không thể kéo dài khi hàm lượng oxy hòa tan dưới 0,7 mg/L (Balarin và
Haller, 1982) Cá rô phi O Niloticus và O Mossambicus chỉ sống trong
thời gian ngắn khi hàm lượng oxy ở mức 0,1 mg/L và 0,2 mg/L ñối với
O.aureus (Chervinski, 1982; Maygid và Babiker, 1975) Hàm lượng oxy thường thấp vào sáng sớm và ảnh hưởng ñến sự phát triển của tuyến sinh dục
Trang 21và giảm tần số ñẻ của cá, hoạt ñộng sinh sản sảy ra mạnh hơn khi hàm lượng oxy cao vào buổi chiều (Little, 1990)
2.2.2 Nhiệt ñộ
Nguồn cung cấp nhiệt ñộ cho thủy vực chủ yếu là từ năng lượng bức xạ mặt trời Chính vì vậy, sự biến ñộng nhiệt ñộ của môi trường nước có quy luật ngày ñêm rất rõ rệt Thường nhiệt ñộ của nước về ban ngày cao hơn ban ñêm, trong năm thì mùa hè có nhiệt ñộ cao nhất và thấp nhất vào mùa ñông
Cá là ñộng vật máu lạnh chính vì thế nhiệt ñộ cơ thể cá biến ñổi theo nhiệt ñộ của môi trường nước Khi nhiệt ñộ nước thay ñổi thân nhiệt cá cũng thay ñổi theo Tốc ñộ của các phản ứng sinh hóa có liên quan mật thiết với nhiệt ñộ Khi nhiệt ñộ tăng lên 100C thì tỷ lệ các phản ứng sinh hóa tăng lên hai lần Rất nhiều loài cá phù hợp với nuôi trồng thủy sản có thể sống và sinh sản trong dải nhiệt rộng nhưng dải nhiệt giúp cá sinh trưởng và phát triển tốt nhất tương ñối hẹp (Boyd, 1992)
Nhiệt ñộ là một trong những yếu tố môi trường quan trọng nhất ảnh hưởng ñến quá trình sinh trưởng và phát triển của cá Cá rô phi là loài cá có nguồn gốc nhiệt ñới, nên thích nghi ở ñiều kiện nhiệt ñộ cao tốt hơn nhiệt ñộ thấp Biên ñộ nhiệt ñộ của cá dao ñộng từ 11 – 420C (Bardach & ctv, 1972) Philippart & Ruwet (1982) ñã ghi nhận biên ñộ nhiệt của cá rô phi từ 8 -
420C Nhiệt ñộ thích hợp cho cá rô phi sinh trưởng và phát triển là 28 – 300C (Lê Quang Long, 1964; Balarin & Haller, 1982) Cá rô phi ngừng hoạt ñộng
và hoàn toàn ngừng ăn khi nhiệt ñộ nước xuống dưới 160C (Kelly, 1956, Trích Nguyễn Thị Hoa, 2008) Quá trình sinh sản của cá rô phi sảy ra khi nhiệt ñộ nước trên 220C, nhiệt ñộ thích hợp cho cá rô phi sinh sản là 26 –
290C Khi nhiệt ñộ nước xuống dưới 200C thì tuyến sinh dục ngừng phát triển (Chervinski, 1982; Behrends & ctv, 1990)
Trang 22Balarin và Haller (1982) báo cáo sự chịu ñựng ñộ muối thay ñổi theo
nhiệt ñộ O aureus sống trong môi trường nước có nhiệt ñộ thấp với ñộ muối
5‰ tốt hơn trong nước ngọt và ñạt tỷ lệ sống cao nhất ở ngưỡng nhiệt ñộ thấp trong môi trường nước lợ (có ñộ muối 11.6‰)
Trong cùng một loài thì ngưỡng chịu nhiệt của các dòng cũng có sự sai khác về khả năng chịu lạnh, khả năng thích ứng với các biên ñộ nhiệt của cá
rô phi còn phụ thuộc vào kích cỡ cá, sự thuần hóa và ñộ mặn của môi trường nước Cá hương chịu lạnh kém hơn khi ở môi trường nước ngọt nhưng ở môi trường nước lợ cá chịu lạnh tốt hơn do ở môi trường này hạn chế ñược sự gây bệnh của nấm (Lê Quang Long, 1961)
Nhiệt ñộ cũng ảnh hưởng rất lớn ñến sự phát triển của trứng và cá con sau khi nở Biên ñộ nhiệt thích hợp cho sự phát triển của phôi cá rô phi là 25 -
300C và cho cá con là 28 - 300C Sau khi nở 8 ngày ở nhiệt ñộ nước 240C cá bột rô phi bắt ñầu ăn thức ăn bên ngoài, thời gian rút ngắn còn 5 ngày khi nhiệt ñộ nước tăng lên 280C và 3 ngày khi nhiệt ñộ nước là 300C (Rana, 1990a)
2.2.3 pH
Giá trị pH dao ñộng trong khoảng 6,5 – 9 trong ngày là phù hợp nhất ñối với cá Khi pH < 6,5 kéo dài sẽ làm giảm khả năng sinh sản của cá Nếu vận chuyển cá từ nơi này ñến nơi khác mà có giá trị pH khác nhau khá nhiều mặc dù vẫn nằm trong khoảng thích hợp thì khả năng xảy ra sốc và gây chết rất cao
ðối với cá rô phi và một số loài cá nước ngọt pH thích hợp cho sinh trưởng và phát triển của chúng là từ 6,5 – 8,5 Cá rô phi có thể sống ñược ở biên ñộ pH dao ñộng từ 4 – 11 (Chervinski, 1982), pH thấp hoặc cao quá ngưỡng cho phép ñều ảnh hưởng không tốt ñến quá trình sinh trưởng và phát
Trang 23triển của cá rô phi Quá trình sinh trưởng và khả năng sinh sản của cá rô phi giảm rõ rệt khi giá tri pH thấp dưới 6,5 (Boyd, 1985, trích theo Bongco,1991)
2.2.4 ðộ muối
Hầu hết các loài cá rô phi có khả năng chịu ñộ muối rộng, khả năng chịu ñộ muối phần lớn phụ thuộc vào dòng, loài, kích cỡ Yếu tố thời gian, hoàn cảnh tác ñộng và các yếu tố môi trường (Chervinski,1982) Có khá nhiều loài cá rô phi có thể sinh trưởng thuận lợi trong môi trường nước ngọt cũng
như nước lợ Ở Việt Nam, mới ñây cá rô phi vằn O niloticus ñược chọn là
một loài nuôi thâm canh với tôm ñể có thể hạn chế bệnh tôm tràn lan (một vụ
cá, một vụ tôm) ðây ñược coi là biện pháp nuôi tôm phát triển bền vững trong hệ thống kín ít thay nước (Trần Văn Vỹ, 2002)
Nhờ khả năng chịu ñựng tốt của nhiều loài cá rô phi với ñộ muối mà trên thế giới từ lâu nay người ta ñã nuôi cá rô phi ở ao ñầm nước lợ Tuy mỗi loài cá rô phi chịu ñược hàm lượng muối khác nhau nhưng nhìn chung cá rô phi ñẻ bình thường ở ñộ muối dưới 18‰ và có thể nuôi ở ñộ mặn 35‰; ở ñộ muối 10 – 20‰ cá rô phi sinh trưởng bình thường ðiều cần lưu ý ở ñây là có nhiều yếu tố ảnh hưởng ñến khả năng chịu ñộ muối của cá rô phi, trong ñó phải kể ñến nhiệt ñộ, tuổi, cỡ cá và các cách thuần hóa (Trần Văn Vỹ, 2002)
Ở nhiệt ñộ thấp dưới 250C cá rô phi có thể chịu ñược ñộ muối 11,6 – 18‰, chúng lớn và sinh sản ñược thậm chí còn tốt hơn ở nước ngọt (Trần Văn Vỹ, 2002)
Nếu ñược thuần hóa quen dần với tăng ñộ muối, cá rô phi cũng chịu ñựng tốt Cá rô phi vằn có thể chịu ñược ñộ muối 51,8‰ nếu như ñược thuần hóa nhiều lần ở ñộ muối tăng dần nhưng cá sẽ chết ngay nếu ñưa cá ngay lập tức vào môi trường nước có ñộ muối 21‰ Tuổi và cỡ cá cũng rất quan trọng
trong khi ñánh giá khả năng chịu mặn của cá rô phi Cá rô phi vằn O niloticus
chịu ñược hàm lượng muối thấp cho ñến cỡ 45 ngày tuổi và ñã chịu ñược ñộ
Trang 24muối cực ñại ở ngày thứ 150 Cá rô phi lai giữa cá cá O mossambicus với cá
ñực O niloticus chịu ñược khi tăng ñộ mặn từ ngày thứ 7 Tuy nhiên không phải là cá càng lớn thì chịu mặn càng tốt: cá rô phi vằn chịu ñộ mặn cực ñại ở
cỡ dài 5,17 cm nhưng dù có tăng kích cỡ dến mấy cũng không thể vượt quá ngưỡng chịu mặn cực ñại này ñược (Trần Văn Vỹ, 2002)
Bảng 2.6 Giới hạn ñộ muối của một số loài cá rô phi
Giới hạn chịu ñựng ñộ muối (‰) Loài
Không thuần hóa Có thuần hóa
Rô phi ñỏ 27 – 29 35 Tốt trong nước mặn
(Ngu ồn: Suresh và Lin, 1992) Ngoài ra các yếu tố di truyền cũng ñặc biệt chú ý Loài O aureus có
khả năng chịu ñộ muối kém hơn, nhưng có thể sinh trưởng tốt ở ñộ muối 36 – 44‰, trong khi sinh sản tại ñộ mặn 19‰ Phần lớn các loài rô phi có khả năng sinh trưởng, sống sót, sinh sản tại ñộ muối khoảng từ 0 – 29‰ phụ thuộc vào quá trình thích nghi
Wedemeyer (1982) sau khi tiến hành nghiên cứu về ảnh hưởng của ñộ muối lên trứng và ấu trùng của cá ñã kết luận rằng ñộ muối có ảnh hưởng ñến
sự phát triển của phôi cá Theo Hồ Thị Cúc (1996) thì nồng ñộ muối trong trứng cá nước ngọt khoảng 5‰, ở cá biển vào khoảng 7 - 75‰ Trứng cá thụ
Trang 25tinh có khả năng ñiều chỉnh áp suất thẩm thấu, Áp suất thẩm thấu của trứng thụ tinh bao gồm áp suất thẩm thấu của tế bào chất và của tinh dịch trong xoang bao trứng Sự biến ñổi của áp suất thẩm thấu lúc này là do biến ñổi của dịch trong xoang bao trứng Áp suất thẩm thấu của tế bào chất không thay ñổi, nó tương ñương với áp suất thẩm thấu của máu cá trưởng thành Nói chung, áp suất thẩm thấu của trứng cá xương nước ngọt và nước mặn ñều không thay ñổi theo nồng ñộ muối của môi trường (Dương Tuấn, 1978)
Trứng cá có thể bị ảnh hưởng bởi ñộ muối ngay cả khi chưa ñược phóng ra khỏi cơ thể mẹ, khi cá mẹ ñược lưu giữ tại môi trường có ñộ mặn thấp trong giai ñoạn chuẩn bị ñẻ sự xâm nhập của máu vào trứng qua dịch buồng trứng (Hollidy, 1971) ðộ rộng muối mà cá có thể chịu ñược thường tương ñương với ñộ muối vùng cá sinh sống ðộ muối của môi trường nuôi
vỗ cá bố mẹ là ñiều kiện quyết ñịnh cho sự thành công của sinh sản (Moncrief
& ctv, 1997)
2.3 Khả năng sinh sản của cá rô phi trong các ñộ muối khác nhau
Cá rô phi hồng Florida có thể sinh sản ñược trong ñiều kiện nước biển thông thường có thể là do khả năng chịu ñược ñộ muối cao của cá bố mẹ
(Phipippart & Ruwet, 1982) Loài O mossambicus cũng ñược biết ñến bởi
khả năng sinh sản trong nước biển là rất tốt (Chervinski, 1961), trong khi
O.niloticus lại sinh sản ở ñộ mặn thấp hơn (Al-Amoudi, 1987; Villegas, 1990; trích theo Phan Thị Toàn, 2007)
Watanabe & ctv (1989) ñã nghiên cứu sinh sản cá rô phi hồng bố mẹ một năm tuổi trong các bể thí nghiệm với các ñộ muối 9‰, 18‰, 27‰ và 36‰ với cường ñộ chiếu sáng (4L:10D) và nhiệt ñộ 280C Mặc dù ñã có sự hạn chế về tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở và tỷ lệ sống của cá bột giảm dần khi ñộ muối tăng, kết quả cho thấy năng suất cá bột giảm khi ñộ muối trên 18‰ Với kết quả này có thể ñưa ra giả thiết cá rô phi hồng bố mẹ có thể duy trì sinh sản
ở ñộ muối dưới 18‰ mà không làm giảm năng suất cá bột
Trang 26Tác giả Fineman – Kalio (1988) cho rằng sự phát triển của tuyến sinh
dục cũng như sự ñẻ trứng của cá rô phi vằn O.niloticus xuất hiện ở ñộ muối
17 – 29‰, và khả năng sinh sản giảm mạnh khi ñộ muối ñược tăng dần từ 25‰ ñến 30‰ Sự sinh sản dừng hẳn ở ñộ mặn trên 30‰ Watanabe & Kuo, (1985) lại phát hiện rằng tổng số trứng sinh ra ở cá rô phi vằn trong ñộ muối 5 – 15‰ cao hơn so với ñộ muối 32‰ và nước ngọt Cá rô phi vằn có thể sinh sản ñược ở ñộ muối trên 10 – 15‰, nhưng khả năng sinh sản ở ñộ muối dưới 5‰ và số lượng cá bột thu ñược ở ñộ muối 10‰ sẽ cao hơn (Thomas Popma
& Michael Masser, 1999)
Watanabe và ctv (1994) ñã thực hiện thí nghiệm ñể tìm khả năng thực hiện sinh sản của cá rô phi vằn bố mẹ một năm tuổi với các ngưỡng ñộ muối khác nhau và kết quả có thể so sánh với cá bố mẹ lớn tuổi hơn (2 – 3 tuổi) sinh sản trong nước ngọt Sự sinh sản ñược quan sát ở những ñộ muối biến ñổi từ nước ngọt ñến nước biển thông thường (32‰) Kết quả cho thấy tỷ lệ
nở tương tự với trứng cá cái một năm tuổi trong nước ngọt (30,9%), 10‰ (32,7%) và 15‰ (36,96%), còn trong nước biển hoàn toàn thì tỷ lệ nở cực thấp Ở 5‰ tỷ lệ nở của trứng tương ñối cao (51,6%)
Nghiên cứu về mối tương quan giữa hàm lượng Protein và ñộ muối lên sinh sản của cá rô phi vằn nuôi ở các ñộ muối tăng Abdel-Fattah và ctv (2002)
ñã cho kết quả như sau: chế ñộ ăn bốn lần/ngày với cùng mức năng lượng (400kcal/100g) bao gồm 25%, 30%, 35% và 40% protein thô Khẩu phần ăn của cá bố mẹ tăng ở ba ñộ muối (0‰; 7‰; 14‰) với tỷ lệ 3 cá cái : 1 cá ñực, cho ăn thỏa mãn hai lần trên ngày trong 195 ngày Sự chín sinh dục tăng với việc tăng hàm lượng protein trong chế ñộ ăn ở tất cả các ñộ muối Ở các mức protein 25% và 30%, cá bố mẹ nuôi ở 0‰ ñạt sự chín sinh dục lớn hơn khi nuôi ở ñộ muối 7‰ và 14‰ Khoảng thời gian giữa hai lần sinh sản ở ñộ muối 0‰ khi thay ñổi hàm lượng protein là không có ý nghĩa Ở ngưỡng 7‰
và 14‰ khoảng cách giữa hai lần sinh sản giảm dần khi giảm dần hàm lượng protein trong khẩu phần ăn Tần số xuất hiện sinh sản và tổng số trứng trên một lần ñẻ tăng khi tăng hàm lượng protein trong khẩu phần ăn Kết quả cho
Trang 27thấy với hàm lượng protein 40% là tốt nhất cho cá rô phi sinh sản ở các ựộ muối 0Ẹ, 7Ẹ và 14Ẹ
2.4 Tình hình nghiên cứu về chọn giống và nuôi cá rô phi hiện nay
2.4.1 Tình hình nuôi cá rô phi hiện nay
4 tỷ USD Trong khi ựó sản lượng cá rô phi khai thác từ tự nhiên trong nhiều năm ổn ựịnh ở mức 500.000 tấn/năm Châu Á là nơi nuôi nhiều cá rô phi nhất trên thế giới, tập trung chủ yếu ở các nước vùng đông Á và đông Nam Á Năm 2003 sản lượng cá rô phi nuôi ở Châu Á chiếm 80% sản lượng toàn cầu, 20% còn lại là từ các nước Châu Phi, Trung- nam Mỹ (Fitzsimmon, 2004)
Cá rô phi là loài cá nuôi phổ biến thứ ba trên thế giới, sau họ cá chép và
họ cá hồi Trong hơn một thập kỷ sản lượng cá rô phi từ 383.654 tấn năm
1990 ựã tăng lên 1.505.804 tấn năm 2002 Giá trị tăng nhanh trong suốt hai thập kỷ từ 154 triệu USD năm 1984 lên ựến 1.800,7 triệu USD năm 2002 (Sayed, 2003) Sản lượng cá rô phi năm 2004 ựã ựạt 1.822.745 tấn (FAO, 2006) Sản lượng cá rô phi nuôi không ngừng tăng lên và ngày càng ựóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện nguồn cung cấp dinh dưỡng cho người nghèo, nghề nuôi cá rô phi cũng ựược cho là một sinh kế tốt cho nông dân thoát khỏi ựói nghèo Trong tương lai, cá rô phi sẽ là sản phẩm thay thế cho các loài cá thịt trắng ựang ngày càng cạn kiệt
Trung Quốc là nước có sản lượng cá rô phi lớn nhất thế giới Từ 18.000 tấn năm 1984 tới 706.585 tấn năm 2002, với tốc ựộ tăng trung bình hàng năm ựạt 25% Và ựến năm 2006 ước ựạt 1,07 triệu tấn Sản lượng xuất khẩu của Trung Quốc cũng tăng nhanh với tốc ựộ chóng mặt, chỉ trong ba năm, xuất khẩu cá rô phi từ 90.000 tấn năm 2004 lên ựến 210.000 tấn năm 2007 Tổng
Trang 28giá trị khoảng 500 triệu USD năm 2007 so với 160 triệu USD năm 2004 (FAO Globefish, 2008)
Bảng 2.7 Giá trị xuất khẩu cá rô phi của Trung Quốc
Bảng 2.8 Sản lượng cá rô phi nuôi ở một số nước trên thế giới
đông Á Sản lượng
( tấn) Năm Châu Mỹ Sản lượng (tấn) Năm Trung Quốc 706.585 2002 Mêhicô 110.000 2003 đài Loan 90.000 2002 Braxil 75.000 2003 Philippin 122.277 2002 Côlômbia 40.000 2003 Thái Lan 100.000 2003 Cuba 39.000 2001 Indônêsia 50.000 2002 Êcuado 27.000 2002 Việt Nam 25.000 2002 Costa Rica 17.000 2002 Malaysia 15.000 2001 Honduras 13.000 2002 Myanma 4.000 2003 Hoa Kỳ 9.200 2003 Hàn Quốc 1.000 2003 Jamaica 5.200 2001
Ai Cập 52.755 2001 Zimbabiwe 5.000 2001 Israel 7.000 2001 Nigêria 4.471 2000 Jordan 1.000 2001 Kênya 1.000 2001
Trang 29Ngoài Trung Quốc, nuôi cá rô phi cũng phát triển mạnh ở các nước châu Á khác như Philppines, Indonesia, Thái Lan và đài Loan Bốn nước này cùng với Trung Quốc ựã ựóng góp 94% tổng sản lượng cá rô phi của châu Á năm 2002 (FAO, 2004) Nuôi cá rô phi ở các nước châu Á khác như Ả - Rập
Xê Ờ út, Israel, Jordan, Syria, Ấn độ, Bănglades và Việt Nam bắt ựầu tạo ra
sự chú ý ựáng kể trong trong những năm vừa qua
Mỹ là quốc gia nhập khẩu cá rô phi nhiều nhất trên thế giới Sản lượng
cá rô phi tươi và ựông lạnh nhập khẩu tăng 7,5 lần từ năm 1995 ựến năm 2004 (tương ứng 15.000 tấn và 112.939 tấn) trong ựó nhập khẩu cá rô phi phile tươi tăng từ 1.500 tấn (1995) lên 19.480 tấn (2004) Sản lượng cá rô phi tươi nhập khẩu từ Ecuado chiếm 52% tổng sản lượng (Phạm Anh Tuấn, 2006)
Ớ Tình hình tại Việt Nam
Nuôi cá rô phi ở Việt Nam ựược bắt ựầu từ những năm 1950 sau khi cá
rô phi ựen (O mossambicus) ựược nhập vào nước ta Vào thời kỳ ựó cá rô phi
chủ yếu ựược nuôi theo hình thức quảng canh nên năng suất thấp Mặt khác
do ựặc ựiểm của cá rô phi ựen là chậm lớn ựẻ dày kắch thước nhỏ nên dẫn ựến việc cá rô phi trong một thời gian dài không ựược người nuôi chú ý
Năm 1973 cá rô phi vằn O.niloticus ựã ựược nhập vào miền Nam nước
ta từ đài Loan, cá trở thành ựối tượng nuôi cá triển vọng, song do công tác lưu giữ giống thuần không tốt, hiện tượng lai tạp giữa cá rô phi ựen và rô phi vằn đài Loan là phổ biến, làm suy giảm chất lượng cá rô phi giống (Trần Mai Thiên và Trần Văn Vỹ, 1994) Trong những năm 1990 thông qua các ựề tài nghiên cứu khoa học, và các chương trình hợp tác quốc tế, Viện nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I ựã nhập một số giống cá rô phi có chất lượng như: Cá
rô phi vằn dòng Thái Lan, dòng Egypt Ờ Swansea, cá rô phi dòng GIFT (Genetic Improvement of Farmed Tilapia) chọn giống thế hệ thứ năm của ICLARM Cá rô phi vằn dòng GIFT nhập nội ựã ựược sử dụng làm vật liệu ban ựầu cho chương trình chọn giống cá rô phi tiến hành tại Viện nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I, sau hai thế hệ chọn giống theo phương pháp gia ựình,
Trang 30cá rô phi chọn giống có tốc ựộ tăng trưởng tăng thêm 29,1% (Nguyễn Công Dân và ctv., 2001)
Theo thống kê năm 2005 diện tắch nuôi cá rô phi của cả nước là 22.340
ha chiếm 3% tổng diện tắch nuôi trồng thủy sản, trong ựó nuôi nước lợ, mặn
là 2.068 ha và nuôi nước ngọt là 20.272 ha Tổng sản lượng cá rô phi ước tắnh ựạt 54.486,8 tấn, chiếm 9,08% tổng sản lượng cá nuôi Phần lớn diện tắch nuôi tập trung ở ựồng bằng sông Cửu Long (10.129 ha chiếm 45.3%), kế ựến
là vùng ựồng bằng sông Hồng và vùng ựông Bắc bộ Cả nước có 16 tỉnh có nuôi cá rô phi trong lồng, với tổng số 2.036 lồng, trong ựó miền Bắc có 748 lồng, kắch cỡ lồng nhỏ giao ựộng từ 12-19m3, miền Trung có 158 lồng, kắch
cỡ lồng giao ựộng 10-36m3, miền Nam có 1.130 lồng-bè với tổng thể tắch khoảng 75.000 m3, các lồng bè có kắch thước giao ựộng rất lớn, từ 5 - 1.250m3 (Bảng 2.9)
Bảng 2.9 Hiện trạng diện tắch, số lượng lồng bè nuôi cá rô phi ở các vùng
Tỉnh/Thành phố Diện tắch nuôi rô phi (ha) Nuôi ao (ha) và lồng/bè
(chiếc)
Tổng Diện tắch Lợ/mặn Nước ngọt Ao/ựầm Lồng/bè
Cỡ lồng (m3)
Cả nước 22.340 2.068 20.272 15.946 2.036 5-1.250
đB Sông Hồng 3.604,5 430,0 3.174,5 2.424,5 40,0 12-19 đông Bắc Bộ 3.288,0 106,0 3.182,0 2.458,0 8,0
Tây Bắc Bộ 964,4 - 964,4 894,4 700,0
Bắc Trung Bộ 1.685,0 660,0 1.025,0 1.535,0 150,0
Duyên hải NTB 672,0 47,0 625,0 236,0 8,0 10-36 Tây Nguyên 1.570,0 - 1.570,0 1.570,0 -
đông Nam Bộ 427,0 - 427,0 397,0 502,0
đBSông Cửu
Long
10.129,0 824,5 9.304,5 6.431,0 628,0 5-1.250
Trang 31Hai khu vực ñồng bằng sông Cửu Long và sông Hồng là hai vùng nuôi chủ yếu, lần lượt chiếm 58,4% và 17,6% tổng sản lượng cá rô phi của cả nước, còn lại là các tỉnh miền núi phía Bắc chiếm 5,3%, miền Trung 9,1%, Tây Nguyên 4,1% Sản lượng cá rô phi của cả nước bao gồm: nuôi trong ao/ñầm 37.931,8 tấn, nuôi lồng bè 10.182 tấn, còn lại 6,373 tấn là các hình thức khác
Hình thức và phương thức nuôi cá rô phi của nước ta rất ña dạng như nuôi ñơn, nuôi ghép, nuôi nước thải, nuôi công nghiệp, nuôi kết hợp với vịt, lúa, nuôi lồng, bè trong các loại thủy vực khác nhau từ Bắc vào Nam, tuy nhiên hình thức nuôi chủ yếu vẫn là nuôi ghép
Bảng 2.10 Sản lượng cá nuôi và cá rô phi nuôi ở các vùng trong cả nước
Trang 32khẩu cá rơ phi với tỷ lệ khiêm tốn từ 5 – 6% sản lượng rơ phi nuơi Sản phẩm
cá rơ phi xuất khẩu năm 2006 đạt 869 tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt 1,9 triệu USD (Phạm Anh Tuấn, 2007)
Nuơi cá rơ phi ở nước ta cĩ lịch sử phát triển hơn nửa thế kỷ, ngày càng được nuơi phổ biến, cá rơ phi được coi là đối tượng nuơi thích hợp với nhiều vùng nước khác nhau, cá dễ nuơi, ít dịch bệnh, do vậy ít rủi ro cho người nuơi
cá Tuy cá đã được nuơi khá phổ biến ở nhiều địa phương, nhưng vùng nuơi phần lớn cịn phân tán, quy mơ nhỏ, vùng sản xuất hàng hĩa cĩ quy mơ cịn ít Hình thức nuơi gồm nuơi đơn và nuơi ghép, nuơi quảng canh, bán thâm canh
và nuơi thâm canh, trong đĩ nuơi bán thâm canh là hình thức nuơi phổ biến hơn cả Nuơi thâm canh cá rơ phi cịn chiếm tỷ lệ nhỏ Phần lớn diện tích và sản lượng cá rơ phi nuơi ở nước ta là từ các vùng nước ngọt, nuơi cá rơ phi vùng nước lợ mặn đã bắt đầu được quan tâm, nhưng cịn tiềm năng to lớn về mặt nước chưa được sử dụng (Cục nuơi trồng Thủy sản, 2008)
Trong những năm gần đây ở Việt Nam cá rơ phi vẫn chủ yếu tập trung tiêu thụ ở một số thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, tuy nhiên nhu cầu của người dân về sử dụng thực phẩm cá rơ phi đang ngày càng lớn Theo thống kê mức tiêu thụ rơ phi tại Việt Nam trong năm 2005 là 22 kg/người, dự đốn đến năm 2010 – 2015 sẽ tăng lên 30 kg (Phạm Anh Tuấn, 2007)
Từ năm 2002, Bộ Thủy sản (cũ) mới phát động phong trào nuơi cá rơ phi xuất khẩu Năm 2003, sản lượng cá rơ phi nuơi của cả nước mới chỉ đạt khoảng 30 nghìn tấn và chỉ xuất gần120.000 USD phi lê của cá rơ phi đơng lạnh, chiếm vị trí rất khiêm tốn so với các nước xuất khẩu khác (Trung Quốc xuất hơn 85 triệu USD) (Cục Thủy sản) Hiện nay cá rơ phi được định hướng trong thời gian tới là một trong những mặt hàng thủy sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam Tuy nhiên, khả năng cung cấp nguyên liệu của nước ta hiện nay chưa đáp ứng được nhu cầu cho chế biến xuất khẩu do kích cỡ cá nuơi cịn nhỏ Hướng tới trong tương lai gần, mục tiêu của ngành nuơi thủy sản là
Trang 33nâng cao sản lượng cá rô phi lên 120.000 – 150.000 tấn, trong ñó dành 2/3 sản lượng cá này cho xuất khẩu
2.4.2.Tình hình nghiên cứu về chọn giống
• Trên thế giới:
Nghiên cứu chọn giống trên cá Rô phi ñầu tiên ñược tiến hành từ năm
1988 Từ năm 1988 – 1992, chương trình chọn giống nâng cao tốc ñộ sinh trưởng cá Rô phi vằn dựa trên chọn lọc gia ñình ñã tạo cá Rô phi vằn dòng GIFT (Genetically Improved Farmed Tilapia) thế hệ thứ năm Cá chọn giống dòng GIFT thế hệ thứ năm có tốc ñộ tăng trưởng vượt trội 75% so với vật liệu chọn giống ban ñầu, ñồng thời tỷ lệ sống cũng ñược nâng cao (Eknath, 1992; Bolivar và ctv., 2002) Bên cạnh ñó, nuôi cá rô phi dòng GIFT thế hệ thứ năm cũng giảm chi phí sản xuất từ 7 – 36% so với các dòng cá bản ñịa tại Bangladesh, Trung Quốc, Philippines, Thailand và Việt Nam (Dey và ctv 2000) Từ ñó ñến nay cá Rô phi dòng GIFT ñược phát tán ñến các quốc gia theo khuôn khổ chương trình DIGITAL và dòng cá này tiếp tục ñược chọn giống
Tại Philippines cũng bằng nghiên cứu chọn giống theo chọn lọc gia ñình trên cá Rô phi vằn thông qua sử dụng tổ hợp di truyền một số dòng ñã tạo ra dòng cá Rô phi GET EXCELL có ưu ñiểm nổi trội về sinh trưởng và sức sống trong môi trường nuôi khác nhau (Tayamen, 2004) Ngoài ra, các nghiên cứu chọn giống nối tiếp cá dòng GIFT tại Malaysia nâng tốc ñộ sinh trưởng cá Rô phi lên 10% (Ponzoni và ctv., 2005)
Do những yêu cầu thực tế sản xuất, các nghiên cứu chọn giống liên quan ñến sự sinh sản của cá Rô phi cũng ñược thực hiện Longalong, (1999)
ñã công bố kết quả nghiên cứu cho thấy có thể chọn giống ñể làm chậm quá trình phát dục, hạn chế nhược ñiểm ñẻ sớm ở cá rô phi nuôi trong nước ngọt Các nghiên cứu chọn giống theo tính trạng chậm thành thục sinh dục và chậm sinh sản cũng ñược thực hiện tại Trung Quốc, Ai Cập
Trang 34Trên thế giới ñã có các công trình nghiên cứu chọn giống nâng cao tốc
ñộ sinh trưởng, chịu lạnh ở cá Rô phi ñược công bố, nhưng hầu hết các công trình ñều hướng tới chọn giống cá rô phi cho vùng nuôi nước ngọt Nghiên cứu liên quan ñến cá Rô phi trong nước lợ mặn có một số nghiên cứu theo hướng thuần hoá cá, thăm dò khả năng chịu mặn và ñánh giá so sánh các ñàn
cá khác nhau hiện có khi nuôi trong ñiều kiện nước lợ mặn ñược tiến hành ở Philippine, trong khi ñó hầu như chưa có những công trình chọn giống nâng cao sinh trưởng của cá Rô phi nuôi ở vùng nước lợ mặn ñược công bố
hệ thứ sáu có tốc ñộ sinh trưởng cao hơn ñàn cá nhập nội ban ñầu 36% Việc phát tán phẩm giống cá chọn giống mới ñã góp phần quan trọng trong phát triển nuôi cá Rô phi các vùng nước ngọt nước ta hiện nay
Nước ta có diện tích tiềm năng cho nuôi cá Rô phi nước lợ rất lớn, theo thống kê tổng diện tích nuôi nước lợ cả nước ước tính 626,9 nghìn ha (Phạm Anh Tuấn, 2006) Hơn nữa, nhiều vùng nuôi tôm hiện nay ñang bị bỏ hoang
do bệnh dịch thường xuyên xảy ra Cá Rô phi có thể ñược ñưa vào nuôi ñơn hoặc nuôi ghép, nuôi luân canh trong nước lợ với các ñối tượng nuôi khác nhằm hạn chế bệnh dịch, ña dạng hoá ñối tượng nuôi Nuôi cá Rô phi còn là giải pháp xử lý và hạn chế ô nhiễm do các chất thải tạo ra từ ao nuôi tôm (Phạm Anh Tuấn , 2006)
Trước tiềm năng phát triển nuôi cá Rô phi trong vùng nước lợ, năm
2006 nghiên cứu chọn giống nâng cao tốc ñộ sinh trưởng cá Rô phi trong ñiều
Trang 35kiện nuôi nước lợ ựầu tiền ở nước ta ựược Viện Nghiên cứu nghiên Nuôi trồng Thuỷ sản I thực hiện Nghiên cứu khẳng ựịnh tổ hợp lai gữa ♀ đài Loan
x ♂ GIFT có nhiều ưu thế về sinh trưởng, ựa dạng biến dị microsattlite cao nên sử dụng tổ hợp lai này làm vật liệu chọn giống nâng cao tốc ựộ sinh trưởng Sau hai thế hệ chọn giống nghiên cứu chọn ựược 610 cá thể thuộc 77 gia ựình thế hệ thứ nhất và 236 cá thể thuộc 30 gia ựình cá chọn giống thế hệ thứ hai Cường ựộ chọn giống ở thế hệ thứ nhất là 9,41 Ờ 12,3%, ở thế hệ thứ hai là 12,1% Tốc ựộ sinh trưởng mỗi thế hệ tăng thêm 11,2 Ờ 23% Theo kết quả nghiên cứu Phạm Anh Tuấn (2009) thì hệ số di truyền ước tắnh của cá Rô phi chọn giống nước lợ khá cao ựạt 0,32 Ờ 0,33 chỉ số này cho thấy triển vọng chọn giống các thế hệ kế tiếp rất khả quan Nghiên cứu cũng khẳng ựịnh chọn giống theo phương pháp truyền thống là giải pháp hiệu quả ựể nâng cao tốc
ựộ sinh trưởng cá Rô phi trong nước lợ (Phạm Anh Tuấn, 2009)
Thực tế nghiên cứu chọn giống cá Rô phi trong ựiều kiện nước lợ cho thấy tỷ lệ thành thục của cá khá cao, nhưng tỷ lệ cá ựẻ ở ựiều kiện nước lợ lại thấp Hơn nữa, tỷ lệ ựẻ cá thả ngoài ao ựất cao hơn so với khi tiến hành sinh sản trong giai lưới, ựặc biệt khi ựưa cá bố mẹ sinh sản trong ựiều kiện thắ nghiệm chọn giống, giai sinh sản có kắch thước nhỏ, mắt lưới dày Ở ựộ muối trong ao ựạt 18Ẹ trong ao ựất cũng như trong giai cá hầu như ngừng sinh sản ngay cả khi cá ựã thành thục, ựiều này cho thấy ựộ muối là nguyên nhân lớn nhất hạn chế cá Rô phi chọn giống sinh sản Vào các tháng ựầu năm ựộ muối tại các ao ựầm nước lợ (từ tháng 3 Ờ 5 là mùa vụ sinh sản của cá) dao ựộng 15- 20 Ẹ thì việc sinh sản cá Rô phi nước lợ trở lên khó khăn gây cản trở rất nhiều ựối với công tác chọn giống Về lâu dài ựể phát triển mở rộng nuôi cá
rô phi chọn giống thì việc sản xuất con giống sẽ gặp nhiều khó khăn: tạo ra cá giống muộn mùa vụ nuôi, thu hẹp thời gian sản xuất giống trong năm, làm tăng giá thành sản xuất cá giống lên cao gây ra nhiều hạn chế rất lớn cho việc phát triển, mở rộng nuôi cá rô phi nước lợ (Lê Minh Toán và ctv., 2010)
Trang 36PHẦN 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ðối tượng, thời gian và ñịa ñiểm nghiên cứu
ðối tượng: Cá rô phi vằn Oreochromis niloticus
Thời gian: Thí nghiệm ñược tiến hành từ tháng 05 ñến tháng 08 năm 2010 ðịa ñiểm: Trạm nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản nước lợ (Quý Kim, Hải Phòng)
3.2 Vật liệu nghiên cứu
3.2.1 Cá thí nghiệm
Cá bố mẹ là thế hệ thứ hai của chương trình chọn giống nâng cao tốc
ñộ sinh trưởng và khả năng sinh sản cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus) trong vùng nước lợ
Khối lượng trung bình của cá bố mẹ ở các công thức thí nghiệm là 0,36 kg/con, khối lượng trung bình của cá ñực ở các công thức là 0,35 kg/con Cá
bố mẹ ñã ñược nuôi vỗ thành thục trong môi trường nước lợ có ñộ muối trong khoảng 13 - 14‰ sau ñó ñược thuần hóa tăng hoặc giảm ñộ muối không quá 5‰ trong một ngày cho ñến khi ñạt ñến ñộ muối phù hợp thì tiến hành ghép
cá thí nghiệm
3.2.2 Hệ thống bể thí nghiệm
Thí nghiệm ñược bố trí trên 12 bể composite, với thể tích 4m3/bể Sử dụng một máy nén khí (công suất 380KW/giờ) và hệ thống ống nhựa dẫn khí ñến các bể, sục khí liên tục 24/24 giờ ñảm bảo môi trường ñủ oxy hòa tan cho
cá Các bể ñược che bằng lưới chống nắng cách mặt bể 1,5m
Trang 37
Hình 3.1 Hệ thống bể thí nghiệm 3.2.3 Hệ thống ấp trứng
Trứng cá rô phi ñược ấp trên khay nhựa tròn có ñường kính 20cm, sâu
10cm Khay có hai hàng lỗ (ñường kính lỗ 0,7 – 1cm) ñược bố trí ñối xứng
nhau qua tâm khay,trên mặt lỗ ñược dán phủ một lớp lưới ñể nước chảy qua
và tránh cá bột thoát ra ngoài, hàng lỗ cách ñáy 3cm, các khay ñược ñặt trên
giá ñỡ
Hoạt ñộng của hệ thống ấp trứng nhân tạo: trứng cá rô phi sau khi thu
từ miệng cá mẹ trong các bể sinh sản ñược vệ sinh sạch sau ñó cho vào khay
ấp Khay ñược ñặt trên thùng xốp, kích thước(60 x 40 x 30cm) có chứa nước
có cùng ñộ muối với các bể cá bố mẹ thí nghiệm Nước ñược chảy qua các
khay ấp nhờ một ñá bọt khí ñược ñưa vào trong ống nhựa PVC Nhờ lực ñẩy
của khí trong ống nhựa PVC mà nước ñược chảy tuần hoàn từ thùng xốp qua
khay ấp
Trang 38Hình 3.2 Hệ thống ấp trứng cá rô phi thí nghiệm
3.3 Phương pháp nghiên cứu
Thức ăn cho cá bố mẹ sử dụng thức ăn thương mại có tỉ lệ ñạm 20 – 25%
Sơ ñồ bố trí thí nghiệm như sau:
Hình 3.3 Sơ ñồ bố trí thí nghiệm
Trang 393.3.2 Phương pháp kiểm tra các yếu tố môi trường nước
Các yếu tố môi trường nước (DO, pH, NH3, t0C) của các bể thí nghiệm ñược ño hàng ngày vào 6 giờ và 14 giờ
- Nhiệt ñộ sử dụng nhiệt kế có thang chia ñộ 10C
- Hàm lượng oxy hòa tan, pH, NH3 dùng test kiểm tra nhanh
3.3.3 Phương pháp xác ñịnh các chỉ tiêu sinh sản của cá rô phi
Khả năng sinh sản của cá ñược xác ñịnh thông qua các chỉ tiêu: tỷ lệ
ñẻ, số lượng trứng, tỷ lệ nở, số lượng cá bột, năng suất cá bột
Xác ñịnh số luợng trứng và phôi của từng giai ñoạn và từng công thức bằng cách thu trứng từ miệng của từng con ñịnh kỳ 7 – 8 ngày/lần, cân mẫu
và xác ñịnh số lượng trứng của từng con
(con/kg cá cái) Khối lượng cá cái sinh sản
- Số lượng trứng = Tổng số trứng thu ñược ở các ñộ muối thí nghiệm
- Số lượng cá bột = Tổng số cá bột thu ñược ở các ñộ muối thí nghiệm