Nghệ thuật với vấn đề giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho sinh viên ở nước ta hiện nayNghệ thuật với vấn đề giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho sinh viên ở nước ta hiện nayNghệ thuật với vấn đề giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho sinh viên ở nước ta hiện nayNghệ thuật với vấn đề giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho sinh viên ở nước ta hiện nayNghệ thuật với vấn đề giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho sinh viên ở nước ta hiện nayNghệ thuật với vấn đề giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho sinh viên ở nước ta hiện nayNghệ thuật với vấn đề giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho sinh viên ở nước ta hiện nay
Trang 1Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGHỆ THUẬT,
THỊ HIẾU THẨM MỸ VÀ VAI TRÒ CỦA NGHỆ THUẬT TRONG GIÁO DỤC THỊ HIẾU THẨM MỸ .
36
2.1 Những vấn đề lý luận cơ bản về nghệ thuật
36 2.2 Những vấn đề lý luận cơ bản về thị hiếu thẩm mỹ và giáo dục thị hiếu thẩm mỹ
51 2.3 Vai trò của nghệ thuật trong giáo dục thị hiếu thẩm
mỹ 73
Chương 3: NGHỆ THUẬT VỚI GIÁO DỤC THỊ HIẾU THẨM MỸ CHO SINH VIÊN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY: THỰC TR NG VÀ NHỮNG
Trang 2VẤN ĐỀ ĐẶT RA .
87
3.1 Những nhân tố tác động đến thị hiếu thẩm mỹ và vận dụng nghệ thuậttrong giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho sinh viên ở nước ta hiện nay
87 3.2 Thực trạng vận dụng nghệ thuật trong giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho
sinh viên ở nước ta hiện nay
TRONG GIÁO DỤC THỊ HIẾU THẨM MỸ CHO SINH VIÊN Ở
NƯỚC TA HIỆN NAY
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nghệ thuật là thế giới của cái đẹp Ở đó, cái đẹp hiện ra với tất cả vẻ lunglinh, diệu kỳ của nó qua tài năng sáng tạo tuyệt vời của người nghệ sĩ Trong nghệthuật, cái đẹp được điển hình hoá Bất kỳ một tác phẩm nghệ thuật nào cũng hướngđến việc xây dựng và biểu hiện một hình tượng đẹp Nghệ thuật chân chính đượcxem như là một trong những yếu tố cơ bản góp phần định hướng tốt đẹp cho hoạtđộng của con người, xây dựng tâm hồn của mỗi con người, làm cho mỹ cảm phongphú hơn, nhân văn hơn
Ở nước ta hiện nay, sự phát triển, mở rộng các quan hệ giao lưu, hội nhậptrên mọi lĩnh vực như: kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục… đã có tác động khôngnhỏ đến hệ thống các giá trị của xã hội trong đó có các giá trị thẩm mỹ Trước tìnhhình đó, Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa XI đãkhẳng định: hiện nay vấn đề xây dựng, giữ gìn và phát huy hệ giá trị tốt đẹp về thịhiếu thẩm mỹ trong quá trình xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện vànền văn hóa mới tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trở nên cấp bách Nghiên cứu sựbiến đổi của hệ thống giá trị trong văn hóa Việt Nam thông qua nghiên cứu về nghệthuật, về thị hiếu thẩm mỹ, giáo dục thẩm mỹ vừa có ý nghĩa lý luận vừa có ý nghĩathực tiễn
Giáo dục đại học là hình thành đội ngũ nhân lực toàn diện đáp ứng được yêucầu phát triển của xã hội trong tương lai Công tác giáo dục ở bậc đại học không chỉchú trọng đến chuyên môn nghề nghiệp mà còn phải chú trọng đến giáo dục phẩmchất đạo đức và thị hiếu thẩm mỹ, tạo nền tảng xác lập thế giới quan và xây dựng lýtưởng sống để sinh viên trở thành những con người có ích cho xã hội Những cơ hội
và thách thức mới của quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế càng đòi hỏi côngtác giáo dục đại học phải đảm nhận sứ mệnh đào tạo nên những con người phát triểntoàn diện “đẹp về nhân cách, đạo đức, tâm hồn; cao về trí tuệ, năng lực, kỹ năngsáng tạo, khỏe về thể chất” [19, tr.29] cho xã hội Do đó, giáo dục đại học không thể
1
Trang 4bỏ qua đời sống tinh thần của sinh viên, trong đó thị hiếu thẩm mỹ là một yếu tốquan trọng
Đời sống thẩm mỹ của giới trẻ nói chung và sinh viên nói riêng ở nước tahiện nay đang có nhiều diễn biến phức tạp Quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng trênnhiều lĩnh vực, giao lưu văn hoá diễn ra với nhiều hình thức đã có những tác độngtích cực lẫn tiêu cực đến nhận thức và thị hiếu thẩm mỹ của sinh viên Có nhữngkiểu thị hiếu thẩm mỹ mới lạ, thậm chí là lệch lạc phát triển trong đời sống thẩm mỹcủa các bạn trẻ Nhiều sinh viên đã không tạo cho mình khả năng tự phòng ngừa,
"miễn dịch" hiệu quả trước những sản phẩm phản nghệ thuật, độc hại Một bộ phậnsinh viên chạy theo thị hiếu thấp hèn, lối sống thực dụng, cá nhân, vị kỷ, có quanniệm lệch lạc về cái đẹp, cái xấu, cái bi, cái hài Giáo dục thị hiếu thẩm mỹ chosinh viên ở nước ta hiện nay là một yêu cầu cần thiết nhằm góp phần tạo ra sự cânbằng giữa đào tạo chuyên môn và giáo dục lối sống, xây dựng lý tưởng trong sinhviên, giúp cho công tác giáo dục ở các trường đại học và cao đẳng ngày càng hoànthiện về mọi mặt đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực toàn diện cho xã hội
Có nhiều cách để giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho sinh viên nhưng với tínhcách là biểu hiện đặc trưng của quan hệ thẩm mỹ, nghệ thuật là cầu nối giữa conngười với thế giới cái đẹp, giúp sinh viên phát triển năng lực cảm thụ và sáng tạothẩm mỹ đồng thời xác lập môi trường văn hoá cho thị hiếu thẩm mỹ của sinh viên,
là nền tảng cơ bản định hướng thị hiếu thẩm mỹ, xây dựng nhân cách của sinh viên.Nhận thức rõ vai trò của nghệ thuật trong giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho sinh viênmang ý nghĩa quan trọng của việc xây dựng con người phát triển toàn diện đối vớiquá trình phát triển của đất nước, Đảng ta luôn “khuyến khích tìm tòi, thể nghiệmnhững phương thức thể hiện và phong cách nghệ thuật mới, đáp ứng nhu cầu tinhthần lành mạnh đa dạng và bồi dưỡng lý tưởng, thị hiếu thẩm mỹ cho công chúngđặc biệt là thế hệ trẻ” [18, tr.224]
Từ thực tiễn đời sống thẩm mỹ và yêu cầu của công tác giáo dục đại học, trên
cơ sở định hướng của Đảng về giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho thế hệ trẻ, tác giả
chọn vấn đề: “Nghệ thuật với vấn đề giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho sinh viên ở
2
Trang 5nước ta hiện nay” làm đề tài nghiên cứu, góp phần làm rõ những vấn đề lý luận và
thực tiễn của yêu cầu xây dựng con người phát triển toàn diện trong thời kỳ mới
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích
Mục đích của luận án là làm rõ mối quan hệ giữa nghệ thuật với giáo dục thịhiếu thẩm mỹ, chỉ ra vai trò của nghệ thuật trong giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho sinhviên, góp phần xây dựng và phát triển thị hiếu thẩm mỹ của sinh viên ở nước ta hiệnnay trước yêu cầu xây dựng con người phát triển toàn diện
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích đó, nhiệm vụ của luận án là:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu về nghệ thuật, thị hiếu thẩm mỹ vàvai trò của nghệ thuật đối với giáo dục thị hiếu thẩm mỹ
- Nghiên cứu và trình bày những vấn đề lý luận cơ bản của nghệ thuật
và thị hiếu thẩm mỹ, giáo dục thị hiếu thẩm mỹ, làm rõ mối quan hệgiữa nghệ thuật với giáo dục thị hiếu thẩm mỹ thông qua việc phântích vai trò của nghệ thuật đối với giáo dục thị hiếu thẩm mỹ
- Nghiên cứu, điều tra, tổng hợp và phân tích thực trạng vận dụng nghệthuật trong giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho sinh viên ở Việt Nam hiệnnay
- Nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp vận dụng nghệ thuật trong giáodục thị hiếu thẩm mỹ cho sinh viên đáp ứng yêu cầu phát triển của xãhội ở Việt Nam hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Vai trò của nghệ thuật đối với giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho sinh viên
ở Việt Nam hiện nay trên bình diện triết học
3.2 Phạm vi nghiên cứu
3
Trang 6Trong phạm vi đề tài đã chọn, về mặt lý luận, luận án nghiên cứu khía cạnh
triết học của nghệ thuật và một số nội dung cơ bản của vấn đề giáo dục thị hiếuthẩm mỹ chủ yếu trên lập trường của thẩm mỹ học mácxít; phân tích mối liên hệgiữa nghệ thuật với quá trình giáo dục thị hiếu thẩm mỹ nhằm chỉ ra vai trò của
nghệ thuật trong xây dựng thị hiếu thẩm mỹ của con người; về mặt thực tiễn, luận án
nghiên cứu thực trạng vận dụng nghệ thuật trong giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho sinhviên ở Việt Nam trong hai thập niên đầu của thế kỷ XXI và đề xuất những giải phápđối với việc vận dụng nghệ thuật trong giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho sinh viênnhằm phát huy thị hiếu thẩm mỹ tốt trong sinh viên phù hợp với quá trình phát triểnđang diễn ra ở nước ta hiện nay
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của luận án là những nguyên lý triết học và mỹ học của chủnghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản ViệtNam về giáo dục, giáo dục thẩm mỹ, văn hóa và nghệ thuật, đồng thời, có kế thừanhững kết quả của một số công trình nghiên cứu đã công bố có liên quan đến chủ đềluận án
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duyvật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đồng thời, với từng phần cụ thể, luận
án sử dụng những phương pháp tương ứng:
- Phần trình bày về những vấn đề lý luận cơ bản của nghệ thuật, thị hiếuthẩm mỹ và vai trò của nghệ thuật đối với giáo dục thị hiếu thẩm mỹ,luận án sử dụng phương pháp lịch sử và lôgíc, phân tích và tổng hợp,quy nạp và diễn dịch, hệ thống hóa
- Phần trình bày về thực trạng vận dụng nghệ thuật trong giáo dục thịhiếu thẩm mỹ cho sinh viên ở Việt Nam hiện nay, luận án sử dụng
4
Trang 7phương pháp điều tra xã hội học, điều tra giáo dục, so sánh - đốichiếu, phân tích và tổng hợp, khái quát hóa
- Phần trình bày về nguyên tắc và giải pháp vận dụng nghệ thuật tronggiáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho sinh viên, luận án sử dụng phươngpháp phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, tham khảo, nghiêncứu tài liệu, phương pháp giả thuyết
5 Đóng góp mới của luận án
- Góp phần hệ thống hóa lý luận về nghệ thuật, thị hiếu thẩm mỹ với tưcách là đối tượng của triết học - mỹ học, phân tích vai trò của nghệ thuậtđối với vấn đề giáo dục thị hiếu thẩm mỹ theo quan điểm mácxít nhằm bổsung một cách nhìn toàn diện hơn về triết học duy vật biện chứng cũngnhư chức năng giá trị của hệ thống triết học này
- Nghiên cứu thực trạng vận dụng nghệ thuật trong giáo dục thị hiếu thẩm
mỹ cho sinh viên ở Việt Nam hiện nay, góp phần làm rõ vai trò của nghệthuật đối với giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho sinh viên
- Đề xuất những giải pháp vận dụng nghệ thuật trong giáo dục thị hiếuthẩm mỹ cho sinh viên, góp phần định hướng thị hiếu thẩm mỹ trong sinhviên, phát huy những thị hiếu thẩm mỹ tốt, xây dựng chuẩn mực thẩm mỹcho sáng tạo nghệ thuật và hoạt động sống của cá nhân cũng như gópphần bảo tồn, xây dựng và phát huy hệ giá trị tốt đẹp của xã hội ở ViệtNam hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận án
- Về mặt lý luận: luận án phân tích vai trò của nghệ thuật đối với giáo dục
thị hiếu thẩm mỹ cho sinh viên
- Về mặt thực tiễn: thông qua việc phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp
vận dụng nghệ thuật trong giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho sinh viên, luận
án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho giảng dạy và học tập các môntriết học, mỹ học ở các trường đại học hoặc làm tài liệu tham khảo phục
5
Trang 8vụ vào đánh giá, dự báo, định hướng thị hiếu thẩm mỹ cho các hoạt độngthưởng thức, sáng tạo nghệ thuật và lối sống lành mạnh trong xã hội hiệnnay
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận
án gồm 4 chương, 12 tiết
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Những nghiên cứu lý luận cơ bản về nghệ thuật, thị hiếu thẩm mỹ, giáo dục thị hiếu thẩm mỹ và vai trò của nghệ thuật đối với giáo dục thị hiếu thẩm mỹ
1.1.1 Những nghiên cứu về nghệ thuật
Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, nghệ thuật là một hoạt động nhậnthức của con người bằng phương tiện hình tượng Thế giới hình tượng nghệ thuật vàcác quy luật phát triển của thế giới nghệ thuật là nguồn cảm hứng vô tận cho cácnghệ sĩ tự do sáng tạo, đồng thời là đề tài nghiên cứu của các học giả, các nhà khoahọc quan tâm phân tích với nhiều khía cạnh khác nhau
Từ thời cổ đại, các nhà triết học Hy Lạp đã thể hiện sự quan tâm của mìnhđối với nghệ thuật Tiêu biểu ở thời kỳ cổ đại Hy Lạp về nghệ thuật phải kể đến
Nghệ thuật thi ca của Aristotle được dịch ra tiếng Việt lần đầu tiên vào năm 1964,
Nxb Văn hoá nghệ thuật, Hà Nội Mặc dù chủ yếu bàn về bi kịch trong thơ ca,nhưng trong tác phẩm này, Aristotle đã chỉ ra cốt lõi của nghệ thuật là thực hiện mô
phỏng tự nhiên từ đối tượng đến phương thức và mục đích Có thể nói, Nghệ thuật thi ca là viên gạch đầu tiên đặt nền móng cho sự phát triển của mỹ học duy vật và nghệ thuật trong lịch sử khoa học thế giới
6
Trang 9Từ đó đến nay, các nhà mỹ học lớn như Diderot, Immanuel Kant,G.W.F.Hegel, C.Mác, Denis Huisman đã có những nghiên cứu sâu sắc về nguồngốc, bản chất của nghệ thuật, về các loại hình nghệ thuật và cả lịch sử phát triển củanghệ thuật Đến Hegel, vấn đề bản chất của nghệ thuật được trình bày vô cùng sâusắc cùng với quan niệm về cái đẹp và những luận giải về các ngành nghệ thuật riêngbiệt trong các bài giảng của ông về mỹ học ở trường đại học Heisenberg và trườngđại học Berlin từ năm 1817 đến năm 1829 Các bài giảng này sau đó đã được học
trò của ông tập hợp lại và xuất bản thành cuốn Mỹ học Cuốn sách này được Phan
Ngọc dịch sang tiếng Việt và chia thành hai tập do nhà xuất bản Văn học xuất bảnnăm 1999
Tiếp thu các thành quả nghiên cứu của các nhà mỹ học trong lịch sử, C.Mác
và Ph.Ăngghen coi nghệ thuật là một hình thái của ý thức xã hội Trong các tácphẩm của mình, C.Mác và Ph.Ăngghen đưa ra nhiều suy nghĩ về nghệ thuật và mỹhọc quanh câu hỏi: “cái gì biến nghệ thuật thành một giá trị vĩnh cửu bất chấp tính
lịch sử của nó?” mà Mác đặt ra trong Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị
(1858) Những suy nghĩ của C.Mác và Ph.Ăngghen về nghệ thuật sau này được các
nhà nghiên cứu chủ nghĩa Mác tập hợp lại trong cuốn Về văn học nghệ thuật, Nxb
Sự thật, Hà Nội, 1977 Công trình này là một trong những tư liệu lý luận cơ bản choviệc nghiên cứu quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về mỹ học và nghệ thuật
Trên lập trường của chủ nghĩa Mác – Lênin, công trình Mỹ học cơ bản và nâng cao do M.F.Ốpxiannhicốp chủ biên, Phạm Văn Bích dịch, Nxb Văn hóa
Thông tin, Hà Nội, 2001 phân tích một cách đầy đủ và chi tiết lý luận về nghệ thuậttheo quan điểm của các nhà lãnh đạo Liên bang Xôviết Đây là giáo trình dành chosinh viên các trường đại học khoa học xã hội và các trường nghệ thuật trong toànLiên bang Xôviết trước đây Trong công trình đồ sộ này, lý luận về nghệ thuật đượctrình bày với ba phần: đặc trưng của nghệ thuật, các loại hình nghệ thuật và bản chất
xã hội của nghệ thuật
Ở đây, đặc trưng của nghệ thuật được các tác giả phân tích thông qua hìnhtượng nghệ thuật, quá trình sáng tạo nghệ thuật, tác phẩm nghệ thuật, nội dung và
7
Trang 10hình thức trong nghệ thuật và cảm thụ thẩm mỹ tác phẩm nghệ thuật Theo các tácgiả, hình tượng nghệ thuật là một biến thể của tư duy hình tượng và nó là biểu hiệncho đặc trưng của nghệ thuật Tác phẩm nghệ thuật là nơi mà đặc trưng của nghệthuật được bộc lộ thông qua sự thống nhất và tác động qua lại giữa nội dung và hìnhthức trong nghệ thuật Nội dung nghệ thuật đóng vai trò chủ đạo, quyết định đối vớihình thức nghệ thuật, đồng thời hình thức nghệ thuật có tính độc lập tương đối vàtích cực Nội dung nghệ thuật phản ánh, tái tạo các lĩnh vực khác nhau của thực tại
tự nhiên và xã hội qua hình tượng nghệ thuật Còn hình thức nghệ thuật là phươngthức biểu hiện và tồn tại về vật chất của nội dung theo những quy luật của một loạihình và thể loại nghệ thuật nhất định Sau khi ra đời, tác phẩm nghệ thuật có quátrình tác động nhiều mặt đến con người và xã hội Vì vậy, đặc trưng của nghệ thuậtcòn được thể hiện qua việc con người cảm thụ thẩm mỹ các tác phẩm nghệ thuật.Cảm thụ thẩm mỹ là một hình thức hoạt động tâm lý đặc biệt của con người Chínhtrong quá trình này, giá trị nghệ thuật của các tác phẩm nghệ thuật đi vào ý thức củacon người cụ thể một cách tự nhiên như nó vốn có
Từ việc phân tích đặc trưng của nghệ thuật, các tác giả đi đến phân chia cácloại hình nghệ thuật Bắt nguồn từ bản chất của hoạt động nghệ thuật, ông chia cácloại hình nghệ thuật thành nhiều nhóm: nhóm các nghệ thuật ứng dụng với kiến trúc
và nghệ thuật trang trí; nhóm các nghệ thuật tạo hình bao gồm điêu khắc, hội hoạ,
đồ hoạ, nghệ thuật nhiếp ảnh; nhóm nghệ thuật ngôn từ với văn học; nhóm nghệthuật âm thanh với âm nhạc; nhóm các nghệ thuật biểu diễn gồm ca vũ tổng hợp,điện ảnh, vô tuyến truyền hình, nghệ thuật tạp kỹ và xiếc
Trên cơ sở những phân tích về đặc trưng của nghệ thuật và sự trình bày vềcác loại hình nghệ thuật, các tác giả bày tỏ quan điểm của mình về bản chất củanghệ thuật Đó là, nghệ thuật mang bản chất xã hội Nghệ thuật trước hết là mộthiện tượng xã hội và bản chất xã hội của nghệ thuật thể hiện rõ nhất qua các chứcnăng xã hội của nghệ thuật (cụ thể là chức năng nhận thức và chức năng giáo dục).Đồng thời, các tác giả cũng khẳng định nghệ thuật thực hiện các chức năng củamình trong quá trình thống nhất phản ánh, nhận thức đời sống xã hội và chỉ có thểxem xét các chức năng của nghệ thuật trong tương quan của quá trình khái quát hoá
8
Trang 11lý luận Vì vậy, bản chất xã hội của nghệ thuật còn được thể hiện qua mối quan hệbiện chứng giữa nghệ thuật với các hình thái ý thức xã hội khác như triết học, khoahọc, đạo đức, tôn giáo nhấn mạnh bản chất xã hội của nghệ thuật còn được thể hiệnqua tính nhân dân, tính giai cấp, tính đảng của nghệ thuật
Những lý luận về nghệ thuật của các tác giả trong Mỹ học cơ bản và nâng cao là cơ sở cho luận án khi khái quát những vấn đề lý luận cơ bản về khái niệm,
bản chất và chức năng của nghệ thuật
Ở Việt Nam, vấn đề nguồn gốc và bản chất của nghệ thuật cũng được nhiều
tác giả dày công nghiên cứu Các công trình: Mỹ học với tư cách là một khoa học của Đỗ Huy, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996; Mỹ học đại cương của Đỗ Văn Khang, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2002; Giáo trình mỹ học Mác - Lênin của
hai tác giả Đỗ Huy - Vũ Trọng Dung, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003 mặc
dù cách thức triển khai khác nhau nhưng đều có các chương trình bày các quan điểm
mỹ học Mác - Lênin với tư cách là một khoa học hoàn chỉnh và hệ thống, khẳngđịnh quan điểm thẩm mỹ, quan điểm nghệ thuật của chủ nghĩa Mác - Lênin dướidạng giáo trình khoa học
Nổi bật là công trình Mỹ học Mác – Lênin cho trình độ sau đại học ngành văn hoá nghệ thuật của Đỗ Huy, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà nội, 2006 Trong công
trình này, tác giả đã phân tích ba vấn đề cơ bản và quan trọng nhất của nghệ thuật là:
khái niệm và nguồn gốc của nghệ thuật, bản chất thẩm mỹ của nghệ thuật và bản chất xã hội của nghệ thuật Ba vấn đề này được trình bày trong chương năm của
cuốn sách Ở đó, tác giả đã dựa vào cơ sở tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen vềnghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội và tư tưởng Hồ Chí Minh về tính nhân dân,tính dân tộc của nghệ thuật để phân tích sâu sắc tính bất đồng của nghệ thuật vớiphát triển kinh tế và làm rõ bản chất xã hội của nghệ thuật qua những phân tích vềtính dân tộc, tính nhân dân và tính thời đại của mọi nghệ thuật hiện thực Trongchương sách này, tác giả cũng đã trình bày nghiên cứu của mình về nghệ thuật với
tư cách là sản phẩm của sáng tạo, mô hình hoá tình cảm thẩm mỹ Theo tác giả,nghệ thuật có lịch sử lâu đời, có bản chất xã hội, có đặc trưng thẩm mỹ, có công
9
Trang 12chúng và có đánh giá Chương sách cũng trình bày các vấn đề về đánh giá, hưởngthụ và sáng tạo nghệ thuật Những nghiên cứu này là một trong các cơ sở lý luận đểluận án trình bày những vấn đề cơ bản về nghệ thuật
Nghệ thuật là một bộ phận quan trọng của mỹ học Thế giới nghệ thuật là thếgiới của cái đẹp Các quy luật phát triển của thế giới nghệ thuật cũng chính là hệquy chiếu cho các quy luật phát triển trong mỹ học Vì vậy, không chỉ dừng lại ởnguồn gốc và bản chất của nghệ thuật, các nhà mỹ học còn quan tâm đến việc tìmhiểu các quy luật phát triển của thế giới nghệ thuật qua các loại hình của nó Ở góc
độ này, công trình nghiên cứu đầy đủ nhất, công phu nhất có thể kể đến là: Hình thái học của nghệ thuật của tác giả M Cagan, (bản dịch của Phan Ngọc), Nxb Hội
Nhà văn, Hà Nội, 2004 Đây là tác phẩm chuyên khảo đầu tiên một cách có hệ thốngtheo quan điểm mácxít về cơ cấu nội tại của thế giới nghệ thuật Trong công trìnhnày, thế giới nghệ thuật được xem xét với tính cách là một chỉnh thể thống nhất chứkhông phải là một bộ phận riêng biệt nào đó Ở đây, tác giả nghiên cứu toàn bộ cơcấu bên trong của thế giới nghệ thuật, phát hiện tất cả những cấp độ căn bản của sựphân chia hoạt động sáng tạo nghệ thuật, làm sáng tỏ những quy luật tổ chức bêntrong của thế giới nghệ thuật qua một hệ thống những lớp, những nhóm, những loạihình và loại thể của nó Trong sự trình bày của mình, tác giả chia cuốn sách thành baphần lớn: phần thứ nhất, đề xuất các vấn đề phương pháp luận để nghiên cứu hệthống các loại hình nghệ thuật, trình bày một cách khái quát lịch sử nghiên cứu hìnhthái học nghệ thuật và các khuynh hướng cơ bản của nó; phần thứ hai, tập trungphân tích hình thái học nghệ thuật trong lịch sử tư tưởng mỹ học mácxít; phần thứ
ba, đi sâu nghiên cứu các lớp và các nhóm nghệ thuật
Trên quan điểm biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin, M Cagan cho rằng,hoạt động nghệ thuật xuất phát từ nhu cầu nghệ thuật của xã hội và gắn liền với thựctiễn thưởng thức, đánh giá, sáng tạo của con người Trong sự hình thành của phâncông lao động xã hội, tình trạng lao động trí óc tách khỏi lao động chân tay đã dẫnđến sự tách biệt của nghệ thuật ra khỏi cái cơ sở vụ lợi của nó để tồn tại độc lập, trởthành một ngành đặc biệt của văn hoá Tuy nhiên, nghệ thuật không tách khỏi hoạtđộng thực tiễn một cách tuyệt đối mà ngược lại “thế giới nghệ thuật vẫn gắn liền với
10
Trang 13cái thế giới chung quanh của thực tiễn xã hội bởi một vùng gồm những hiện tượnghai mặt, hai chức năng vẫn giữ tính hỗn đồng đầu tiên của yếu tố nghệ thuật và yếu
tố vụ lợi” [6, tr.286] Chính vì xuất phát từ nhu cầu nghệ thuật của xã hội ấy mà sựphát triển của nghệ thuật có tính khu biệt và đặc thù Điều này đặt cơ sở cho sự phânchia các loại hình nghệ thuật khác nhau và hình thành nên cơ cấu của toàn bộ thếgiới nghệ thuật
Nguyên tắc để phân chia thế giới nghệ thuật thành các nhóm, lớp, các biến
thể và loại hình khác nhau được M Cagan đề xuất là: thứ nhất, thừa nhận xuất phát
và quyết định của sự tồn tại thực tế của tác phẩm nghệ thuật; thứ hai, dựa vào cấu trúc của nghệ thuật và thứ ba, dựa vào chức năng của nghệ thuật Từ đó, ông cho
rằng, người ta có thể so sánh và phân biệt các loại hình nghệ thuật căn cứ vào nhiềutiêu chí như từ ngữ, âm thanh, vận động thân hình , hoặc căn cứ vào phương thứctri giác các tác phẩm nghệ thuật (thị giác, thính giác ), hoặc căn cứ vào sự sáng tạotác phẩm nghệ thuật (khởi tạo, trình diễn), hoặc căn cứ vào phương thức phản ánhthực tế (miêu tả, không miêu tả), hoặc căn cứ vào hình thức tồn tại của hình tượngnghệ thuật v.v có nghĩa là, tất cả mọi các sự phân loại đều mang tính tương đối
Trên cơ sở những nguyên tắc đã đề xuất, với quan điểm biện chứng, M.Cagan đi xây dựng một mô hình cấu trúc hệ thống của thế giới nghệ thuật bằng việcphân xuất các nhóm nghệ thuật chính là nghệ thuật ngôn ngữ, nghệ thuật âm nhạc,nghệ thuật miêu tả và phân tích sự đa dạng của mỗi nhóm với các loại hình nghệthuật và các biến thể con của nó Qua đó, ông đã nêu bật được những quy luật kháchquan của sự hình thành thế giới nghệ thuật và mang lại một cách nhìn mới mẻ trongnghiên cứu về nghệ thuật
Cũng nghiên cứu nghệ thuật với tính cách là một chỉnh thể, ở Việt Nam, có
công trình: Nghệ thuật học của Đỗ Văn Khang, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội,
2004 Với công trình này, Đỗ Văn Khang đã khái quát sự phát triển của nghệ thuậtqua các thời đại lịch sử với các tác giả, tác phẩm tiêu biểu và điển hình để rút ranhững đường nét lớn mà toàn bộ nghệ thuật chịu ảnh hưởng, cung cấp cho người
11
Trang 14đọc cơ sở cần thiết để hiểu và vận dụng trong sáng tạo khoa học cũng như trongthưởng thức, đánh giá các tác giả, tác phẩm và thời đại nghệ thuật
Nghệ thuật còn được nghiên cứu với tư cách là một môn lịch sử Ở góc độ
này, tác giả Xavier Barral Ialtet đã có một công trình khảo cứu đầy đủ trong Lịch sử nghệ thuật được dịch sang tiếng Việt bởi Nguyễn Văn Quảng, Nxb Thế giới, Hà
Nội, 2003 Theo Xavier Barral Ialtet, lịch sử nghệ thuật là một môn khoa học độclập được hình thành dần dần qua các trường phát tư tưởng nghệ thuật khác nhau.Lịch sử nghệ thuật khác với các bộ môn khác như Khảo cổ học, Dân tộc học, Triếthọc, Xã hội học, Lịch sử kinh tế nhưng lại có mối liên hệ gắn bó chặt chẽ vớichúng Lịch sử nghệ thuật không có giới hạn về mặt địa lý Phạm vi của lịch sử nghệ
thuật được chia thành hai nhóm lớn: một là các bộ phận hợp thành của nghệ thuật như kiến trúc, điêu khắc, nghệ thuật màu sắc, nghệ thuật tạo hình , hai là lịch sử
các hoạt động sáng tạo nghệ thuật động như sân khấu, múa, thơ ca, âm nhạc, điệnảnh Trong cuốn sách của mình, tác giả phân chia nghệ thuật thành các giai đoạntheo tiến trình lịch sử và các phạm vi của nó thông qua các tác phẩm nghệ thuật vàcác nghiên cứu về lịch sử nghệ thuật Theo tác giả, nghệ thuật được phân chia thànhbốn giai đoạn chính là thời Tiền sử và văn minh Cổ đại; thời Trung cổ, thời Phụchưng, Barốc và chủ nghĩa Cổ điển; thế kỷ XIX và thời hiện đại Trong mỗi giai đoạn
có các phạm vi nghệ thuật của nó Chẳng hạn, thời tiền sử và văn minh cổ đại cónghệ thuật Ai Cập, nghệ thuật Mésopotamie; thời trung cổ có nghệ thuật phươngTây trung cổ với nghệ thuật Roman, nghệ thuật Gôtích và nghệ thuật không phảiphương Tây với Byzance, nghệ thuật đạo Hồi, nghệ thuật Á Đông, nghệ thuật châu
Mỹ, châu Phi và châu Đại Dương Với cuốn sách này, Xavier Barral Ialtet đã vừalàm công việc của một nhà phê bình nghệ thuật vừa làm công việc của một nhà sửhọc: nhận ra các tác phẩm và tính xác thực của chúng, đưa ra nhận xét có tính phêbình về các giá trị lịch sử và thời sự của chúng, định vị chúng trong khung cảnh lịch
sử của mỗi giai đoạn, tìm ra sự gần gũi của các tác phẩm về mặt khảo cổ nhằm khôiphục các bước kỹ thuật của việc thực hiện chúng, tìm tòi các tài liệu viết liên quanđến chúng và giới thiệu các tác phẩm ấy đến với công chúng rộng rãi
12
Trang 15Nghệ thuật không chỉ được nghiên cứu dưới góc độ lịch sử mà còn được
nghiên cứu dưới góc độ xã hội học Tác giả Bùi Quang Thắng trong cuốn Xã hội học nghệ thuật, Viện Văn hoá và Nxb Văn hoá Thông tin, 1998 cho rằng cần thiết phải nghiên cứu nghệ thuật dưới góc độ xã hội học với lý do: thứ nhất, xuất phát từ
thực tiễn nghệ thuật của các xã hội phát triển đa dạng, đột biến đến mức các nhà
nghiên cứu phải xét lại các lý thuyết nghệ thuật truyền thống; thứ hai, sự phân tầng
xã hội của các tầng lớp công chúng ngày càng phức tạp dẫn đến những phân tầngtrong nhu cầu, thị hiếu và thói quen tiêu dùng nghệ thuật Vì vậy, vấn đề đặt ra làphải có những phương tiện lý thuyết và thực nghiệm để nghiên cứu và định hướng
nghệ thuật trong công chúng Từ những lý do đó, Xã hội học nghệ thuật của Bùi
Quang Thắng đã đi vào phân tích những quan điểm khác nhau về nghệ thuật trênbình diện xã hội học, chỉ ra chức năng xã hội của nghệ thuật, nêu bật vị trí xã hộihọc của nghệ thuật trong mối quan hệ với các khoa học khác có cùng đối tượng lànghệ thuật Đặc biệt, bằng cách tiếp cận xã hội học về nghệ thuật, trên cơ sở trìnhbày phương diện lý thuyết của xã hội học thực nghiệm về nghệ thuật, dựa vào việcphân tích một số loại hình nghệ thuật như âm nhạc, điện ảnh, sân khấu tác giả đãchỉ ra sự phân hoá của nghệ thuật, sự thay đổi của các quan hệ nghệ thuật gắn chặtvới sự phát triển của quan hệ tiền - hàng trong nền kinh tế tư bản Tác giả cũng đềcập đến sự gắn kết giữa các yếu tố nghệ sĩ - tác phẩm - công chúng với vấn đề nhucầu nghệ thuật đồng thời khẳng định rằng sự hiểu biết về nhu cầu, sở thích, kiểu ứng
xử của công chúng là cơ sở để thiết lập kế hoạch quản lý, tác động vào quá trìnhhoạt động nghệ thuật
Bên cạnh cách tiếp cận xã hội học, còn có một cách tiếp cận khác khi nghiêncứu về nghệ thuật, đó là cách tiếp cận mang tính nhân học mà Cynthia Freeland đã
thực hiện trong cuốn Thế mà là nghệ thuật ư (But is it art) được dịch bởi Như Huy,
Nxb Tri thức, năm 2009 Cuốn sách là một đề dẫn lý thuyết về nghệ thuật với mụcđích phổ cập nghệ thuật dành riêng cho công chúng phương Tây nhưng lại thể hiệnmột sự minh triết, sâu sắc và gọn gàng của một nỗ lực đại chúng hoá triết học vềnghệ thuật Cuốn sách đưa ra những phân tích về khái niệm nghệ thuật và tác phẩmnghệ thuật đồng thời giúp người đọc tiếp cận với những lý thuyết mới nhất về nghệ
13
Trang 16thuật hiện đang chi phối mặt bằng phê bình nghệ thuật phương tây, qua đó, có thểnắm bắt được phần nào phương cách mà nghệ thuật đương đại thế giới đang quanniệm Đề dẫn lý thuyết về nghệ thuật này cũng phân tích sự phát triển của nghệthuật với tính cách là một hệ thống mở, đặt nghệ thuật trong mối liên hệ với các yếu
tố ngoại vi mà nó cho là có tác động tương tác tới những cuộc chuyển hoá của chínhkhái niệm nghệ thuật Với cách trình bày của mình, Cynthia Freeland đã “tìm racách để chắt lọc các lý thuyết nghệ thuật, lịch sử mỹ học và cả một chuyến du hành
về lịch sử nghệ thuật vào một văn bản ngắn gọn với những thông tin phong nhiêumột cách siêu hạng” (như Carolyn W Korsmeyer ở đại học New York đã nhận xét)
Vì vậy, cuốn sách là một trong những tài liệu đối với luận án trong việc nghiên cứukhái niệm nghệ thuật, sự phát triển của nghệ thuật và vấn đề những tác nhân làmbiến đổi đánh giá, thưởng thức, sáng tạo nghệ thuật
Ngoài ra, trong những năm gần đây, cũng có nhiều tác giả, nhiều nhà khoahọc quan tâm đến những vấn đề khác nhau của nghệ thuật như đời sống nghệ thuật,hoạt động nghệ thuật, tác phẩm nghệ thuật, hay ý nghĩa thực tiễn của nghệ thuậttrong việc định hướng hoạt động của con người cũng như xây dựng hệ giá trị trong
xã hội Sự quan tâm đó thể hiện qua rất nhiều các công trình như: Bàn về văn hoá nghệ thuật của Trường Chinh, Nxb Văn hoá nghệ thuật, Hà Nội, 1993; Văn hóa thẩm mỹ và sự phát triển con người Việt Nam trong thế kỷ mới do tác giả Nguyễn Văn Huyên chủ biên, Viện Văn hóa và Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 1997; Văn hóa thẩm mỹ và sự phát triển năng lực sáng tạo của con người của Nguyễn Ngọc Thu, Nxb Đại học Quốc gia, Thành phố Hồ Chí Minh; Vai trò của nghệ thuật trong giáo dục thẩm mỹ của Trần Tuý, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005; các luận văn thạc sỹ, luận án tiến sĩ như: Vai trò của nghệ thuật trong đời sống tinh thần của con người của Đào Duy Thanh, Luận án tiến sĩ năm 1999; các bài viết trên các tạp chí như: “Mấy suy nghĩ về vai trò của nghệ thuật trong giáo dục thẩm mỹ ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Mỹ thuật thời nay, số 12 năm 1996 và “Văn hóa nghệ thuật với vấn đề xây dựng và phát triển nhân cách trong tiến trình đổi mới ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Triết học, số 1 năm 2001 của Đỗ Huy; “Cái đẹp nghệ thuật và đời sống xã hội”, Tạp chí Triết học, số 2 năm 1993 của Vũ Minh Tâm; “Đánh giá nghệ
14
Trang 17thuật - hệ chuẩn phổ biến của hoạt động đánh giá thẩm mỹ”, Tạp chí Triết học, số 4 năm 2000 của Đào Duy Thanh; “Cội nguồn của ý thức thẩm mỹ và sự thức tỉnh những năng lực sáng tạo nghệ thuật”, Tạp chí Triết học, số 2 năm 2002 của Đỗ Thị
Minh Thảo
Tóm lại, nghệ thuật được nghiên cứu với nhiều cách tiếp cận khác nhau Cócông trình tiếp cận ở góc độ bản thể luận, có công trình tiếp cận ở góc độ giá trịluận, có công trình phân tích các loại hình của nghệ thuật, có công trình lại phân tíchmối quan hệ giữa nghệ thuật với hoạt động thực tiễn của con người, v.v Tuy nhiên,chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu nghệ thuật dưới góc độ cụ thể, chẳnghạn, nghiên cứu vai trò của nghệ thuật trong giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho sinhviên hiện nay Đây là hướng nghiên cứu mới của luận án, làm rõ khía cạnh triết họccủa mối liên hệ giữa nghệ thuật với quá trình giáo dục thị hiếu thẩm mỹ nhằm nhậnthức rõ vai trò của nghệ thuật trong xây dựng chuẩn mực thẩm mỹ và hệ giá trị thẩm
mỹ ở một đối tượng cụ thể là sinh viên ở nước ta hiện nay
1.1.2 Những nghiên cứu về thị hiếu thẩm mỹ, giáo dục thẩm mỹ và giáo dục thị hiếu thẩm mỹ
Thị hiếu thẩm mỹ cũng không phải là vấn đề mới mẻ trong lịch sử mỹ học
Từ thế kỷ XVII - XVIII, đã có một số nhà triết học ở phương Tây bắt đầu quantâm nghiên cứu về thị hiếu thẩm mỹ Người nghiên cứu thị hiếu thẩm mỹ rất côngphu và đầy đủ phải kể đến đầu tiên là I Kant - nhà triết học của nền triết học cổ điển
Đức thế kỷ XVIII - XIX với tác phẩm Phê phán năng lực phán đoán (được Bùi Văn
Nam Sơn dịch và chú giải, Nxb Tri thức, 2007) Trong tác phẩm này, I Kant đãtrình bày toàn bộ tư tưởng mỹ học của mình bằng việc tiến hành phân tích các dạngphán đoán phản tư nhằm trả lời cho câu hỏi: tôi có thể cảm nhận và suy tưởng như
thế nào về bản thân mình và thế giới xung quanh? Có thể gọi Phê phán năng lực phán đoán là “viên đá đỉnh vòm” trong toàn bộ toà nhà triết học Kant với vai trò là
kết thúc của công cuộc phê phán lý tính đồng thời tự đặt cho mình nhiệm vụ bàn vềđiều kiện khả thể cho hai lĩnh vực khác xa nhau là năng lực phán đoán thẩm mỹtrong thế giới của cái đẹp, của nghệ thuật, của tài năng thiên bẩm và năng lực phán
15
Trang 18đoán mục đích luận trong thế giới hữu cơ cũng như trong sự thống nhất có hệ thốngcủa toàn bộ giới tự nhiên Vì vậy, tác phẩm được chia thành hai phần rõ rệt, trong đóKant dành toàn bộ phần một để bàn về bản chất và hiệu lực của phán đoán thẩm mỹ.
Kant gọi thị hiếu thẩm mỹ là phán đoán thẩm mỹ hay phán đoán sở thích Vềmặt chất, phán đoán sở thích là có tính thẩm mỹ mang tính chủ quan Nó biểu hiệncảm giác thích thú một cách độc lập, không phải tuân theo trình tự thông thường củanhận thức Theo Kant, phán đoán sở thích diễn tả sự thích thú, sự hài lòng của conngười về đối tượng Sự thích thú, sự hài lòng đó không diễn tả tính chất nào ở đốitượng mà chỉ là cách thức đối tượng tác động lên chúng ta; nó diễn ra trong chúng ta
mà chúng ta không cần quan tâm đến sự hiện hữu của vật Vì vậy, Kant khẳng địnhrằng, phán đoán thẩm mỹ về bản chất mang tính vô tư, không mục đích, không kháiniệm Về mặt lượng, phán đoán sở thích mang tính phổ quát Bởi vì, phán đoánthẩm mỹ là sự vui sướng thuần tuý, không bị ràng buộc bởi bất kỳ ai hay bất kỳnguyên tắc nào Kant lập luận rằng, sở dĩ phán đoán thẩm mỹ mang tính phổ quát vì
nó không đến từ cảm giác mà phát sinh từ trạng thái tâm lý con người đã thoát ra mọi sự ràng buộc của những điều kiện riêng tư và đối tượng đến với ta một cách tự do; khi đó, phán đoán thẩm mỹ tạo ra tín hiệu lan truyền của “tính giá trị hiệu lực
phổ biến” Vì vậy, sở thích (thị hiếu) thẩm mỹ không dựa trên bất cứ một khái niệmnào mà dựa trên tình cảm Nói cách khác, phán đoán thẩm mỹ là phán đoán sở thíchthuần tuý chứ không phải là các loại phán đoán mang tính khái niệm hay mục đích
Từ sự phân biệt ấy, Kant vạch ra đặc điểm của phán đoán thẩm mỹ là sự hài lòng docách thức cảm nhận của chủ thể về đối tượng quyết định và bao giờ cũng là mộtphán đoán cá biệt về đối tượng Cho nên, “không thể có một nguyên tắc khách quannào về sở thích” [57, tr.219] và “nguyên tắc của sở thích là nguyên tắc chủ quan củanăng lực phán đoán nói chung” [57, tr.221] Như vậy, quan niệm của Kant về nguồngốc và bản chất của thị hiếu thẩm mỹ mang đậm tính duy tâm chủ quan Đồng thời,
sự trình bày của Kant về phán đoán thẩm mỹ cũng cho thấy ông đã không giải quyếtđược mối quan hệ giữa tính cá biệt và tính phổ biến của thị hiếu thẩm mỹ Trong lậpluận của mình, Kant đưa ra phương thức để xác lập tính tất yếu về sự hài lòng đốivới cái đẹp là bằng sự suy tưởng Vì là suy tưởng nên Kant cho rằng tính tất yếu về
16
Trang 19cái đẹp thông qua phán đoán thẩm mỹ là một tất yếu đặc biệt còn được gọi là tất yếu điển hình Một sự tất yếu của việc mọi người nhất trí với một phán đoán được
coi là mẫu mực cho một qui tắc phổ quát về cái đẹp Qui tắc phổ quát này, theoKant, ta không nêu rõ được nhưng vẫn tồn tại Sở dĩ không nêu rõ ra được vì đây lànguyên tắc hoàn toàn chủ quan trong sự xác định cái gì là đẹp, cái gì là không đẹpbằng cảm giác mà thôi chứ không bằng khái niệm nhưng vẫn có giá trị phổ quát.Ông đi đến giả thiết rằng: trong phán đoán về sự hài lòng có sự tồn tại của sự cảmquan chung Chính cảm quan chung này quy định tính tất yếu phổ quát của phánđoán thẩm mỹ Tuy nhiên, thực tế vẫn xảy ra là khi đứng trước một bức tranh thì cóngười say mê chiêm ngưỡng nhưng vẫn có kẻ thờ ơ Rõ ràng ở mỗi người có quyphạm hay chuẩn mực thẩm mỹ riêng của bản thân Trong phán đoán sở thích thìnhững quy phạm, chuẩn mực này không thể là khách quan Vậy thì làm sao có cảmquan chung về cái đẹp? Kant đành phải biện minh rằng: “ kinh nghiệm không thểđược lấy làm cơ sở cho cảm quan chung này được, bởi vì cảm quan chung là nhằmbiện minh cho những phán đoán có chứa đựng một cái “nên là” (ein Sollen); nókhông nói rằng bất cứ ai cũng sẽ đồng ý với phán đoán của ta, trái lại, nên đồng ývới ta ( ) nên cảm quan chung chỉ là một quy phạm hay chuẩn mực đơn thuần cótính lý tưởng mà thôi” [57, tr.133] Như vậy, bản thân Kant đã tự mâu thuẫn vớichính mình khi xem xét về tính cá biệt và tính phổ biến của thị hiếu thẩm mỹ
Tóm lại, dù có những phức tạp trong tư tưởng nhưng Phê phán năng lực phán đoán của Kant mà đặc biệt là phần một của tác phẩm đã thể hiện một sự
nghiên cứu công phu về thị hiếu thẩm mỹ Đây là một tư liệu quan trọng để luận ánkhái quát, so sánh những quan điểm khác nhau về thị hiếu thẩm mỹ trong lịch sử mỹhọc khi phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về thị hiếu thẩm mỹ
Sau Kant, các nhà mỹ học dân chủ Nga như N Khasenco, N Tsécnưsépxki,
G Plêkhanốp cũng có những công trình nghiên cứu về thị hiếu thẩm mỹ Một đạidiện trong số họ là G Pơlêkhanốp Những nghiên cứu về mỹ học và nghệ thuật của
ông được trình bày trong tác phẩm Nghệ thuật và đời sống xã hội (Từ Lâm dịch),
Nxb Văn hoá nghệ thuật, Hà Nội, 1963, trong đó, những vấn đề về thị hiếu thẩm
mỹ được trình bày chủ yếu ở phần Bàn về nghệ thuật (từ trang 126 đến 164) Trên
17
Trang 20quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, ông đã chứng minh mọi thị hiếu thẩm mỹđều có nguồn gốc xã hội của chúng Ông cho rằng, sự phát triển của nghệ thuậtkhông thể tách rời sự phát triển của những điều kiện vật chất xã hội, do đó sự thayđổi các thị hiếu thẩm mỹ qua các thời kỳ hoàn toàn phụ thuộc vào quá trình đấutranh giai cấp cũng như chịu sự quyết định của các điều kiện lịch sử và xã hội củachúng Theo ông, bản chất, thị hiếu, ước vọng, tập quán của con người đều thay đổitheo những điều kiện sinh hoạt của họ Vì vậy, “phải căn cứ vào tình trạng lực lượngsản xuất của họ, nghĩa là vào phương thức sản xuất của họ, để tìm ra nguyên nhântại sao họ lại có những thị hiếu và quan niệm thẩm mỹ này, chứ không phải là nhữngthị hiếu và quan niệm khác” [97, tr.163]
Ở Việt Nam, các công trình của các tác giả Đỗ Huy, Đỗ Văn Khang, NguyễnVăn Huyên, Lê Ngọc Trà, Lâm Vinh, đều có đề cập đến thị hiếu thẩm mỹ Trong
số đó, tác giả Đỗ Huy là người có nhiều công trình nghiên cứu về thị hiếu thẩm mỹkhá công phu và cặn kẽ
Trong công trình Mỹ học với tư cách là một khoa học, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996, Đỗ Huy đã dành toàn bộ chương X để bàn về bản chất của thị
hiếu thẩm mỹ Coi thị hiếu thẩm mỹ là một biểu hiện quan trọng của năng lực thẩm
mỹ, là phong vũ biểu thẩm mỹ của con người trong thưởng thức, đánh giá và sángtạo nghệ thuật, tác giả đã giới thiệu một cách tỉ mỉ các quan điểm của mỹ học Mác –Lênin về cơ sở hình thành của thị hiếu thẩm mỹ, bản chất xã hội và các đặc trưngchủ yếu của thị hiếu thẩm mỹ thể hiện ở tính phản ứng mau lẹ, sự hào hứng, tính cábiệt, tính hệ thống hình tượng, tính giai cấp, tính dân tộc Tác giả còn có nhữngphân tích cặn kẽ hơn về thị hiếu thẩm mỹ trên quan điểm của mỹ học Mác – Lênin
trong công trình Mỹ học – Khoa học về các quan hệ thẩm mỹ, Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội, 2001 Trên lập trường của mỹ học Mác – Lênin, tác giả phân tích cácquan điểm khác nhau về các quan hệ thẩm mỹ của con người với hiện thực từ trigiác, biểu tượng, phán đoán, nhu cầu, thị hiếu, lý tưởng đến cái đẹp, cái cao cả, cái
bi, cái hài, hưởng thụ, đáng giá và sáng tạo nghệ thuật, Đặc biệt, khi nghiên cứumặt chủ thể của các quan hệ thẩm mỹ, tác giả trình bày vai trò to lớn của chủ thểtrong quan hệ thẩm mỹ, trong đó nhấn mạnh vai trò của thị hiếu thẩm mỹ đồng thời
18
Trang 21nêu bật quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về yêucầu nâng cao và phát huy vai trò của thị hiếu thẩm mỹ trong hưởng thụ, đánh giá vàsáng tạo nghệ thuật cho xã hội
Cũng nghiên cứu về vấn đề thị hiếu thẩm mỹ, còn có công trình Thoả mãn nhu cầu văn hoá và nâng cao thị hiếu nghệ thuật của tập thể tác giả Viện Văn hoá,
Nxb Văn hoá nghệ thuật – Hà Nội, 1987 Công trình này gồm tập hợp các bài viết
về các góc độ của nhu cầu văn hoá và thị hiếu nghệ thuật Các tác giả qua các bàiviết của mình đều thể hiện quan điểm thống nhất giữa thị hiếu thẩm mỹ và thị hiếunghệ thuật, coi thị hiếu nghệ thuật là biểu hiện của thị hiếu thẩm mỹ trong lĩnh vựcnghệ thuật và thị hiếu thẩm mỹ là bộ phận quan trọng nhất của nhu cầu văn hoá, nhu
cầu sáng tạo và thưởng thức nghệ thuật Tác giả Dương Viết Á trong bài Thưởng thức nghệ thuật cho rằng, thị hiếu thẩm mỹ có tác động trực tiếp đến thưởng thức
nghệ thuật của từng con người cụ thể Theo ông, thị hiếu là cái “gu”, cái khiếu, cái
sở thích riêng của từng người Thị hiếu tuy mang sắc thái phán đoán nhưng là phánđoán cảm tính, trực quan, là sự đánh giá thẩm mỹ nhưng chưa phải là sự đánh giá lýtính Xét về quá trình nhận thức, thị hiếu thẩm mỹ thuộc giai đoạn trực quan sinhđộng và có tác động sâu sắc đến quá trình thưởng thức nghệ thuật của con người.Thị hiếu thẩm mỹ là nơi bộc lộ cái riêng của con người trong thưởng thức nghệthuật Cái riêng của thị hiếu thẩm mỹ của một người là một hình thức cụ thể biểuhiện và phản ánh trong một mức độ nhất định trình độ, xu hướng nói chung của một
xã hội, một thời đại Vì vậy, nếu xoá bỏ thị hiếu thì không còn cái riêng của conngười nữa, lúc đó, xã hội sẽ mất hết ý nghĩa Cùng chung quan điểm với tác giả
Dương Viết Á, tác giả Lê Anh Trà trong bài Vấn đề giáo dục thị hiếu thẩm mỹ đã
phân tích cơ chế hình thành của thị hiếu thẩm mỹ trên cơ sở gắn liền thị hiếu thẩm
mỹ với nhân sinh quan, thế giới quan, trình độ văn hoá, lý tưởng, trí tuệ và toàn bộnhân cách, lối sống của chủ thể nhất định
Tác giả Lâm Vinh trong Mỹ học: về cái đẹp – về nghệ thuật – về con người,
Nxb Đại học Sư phạm – Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, 1997 cho rằng,thị hiếu thẩm mỹ là một hiện tượng của sự thống nhất giữa tình cảm và lý trí trongcon người Theo tác giả, thị hiếu thẩm mỹ cũng như mọi loại hiện tượng khác đều
19
Trang 22mang tính chất quy luật Có nhiều loại quy luật chi phối nhưng có ba loại quy luậtthường xuyên tác động đến sự hình thành và phát triển của thị hiếu thẩm mỹ Đó là,quy luật xã hội học, quy luật tâm lý và quy luật thẩm mỹ học Trên cơ sở đó, ông đã
có những phân tích ngắn gọn nhưng sâu sắc về vai trò của từng loại quy luật khi tácđộng đến sự hình thành và phát triển của thị hiếu thẩm mỹ
Đặc biệt, những năm đầu của thế kỷ XXI, nghiên cứu về thị hiếu thẩm mỹ có
công trình Luận án tiến sĩ Thị hiếu thẩm mỹ và vai trò của nó trong đời sống thẩm
mỹ của Nguyễn Chương Nhiếp, Viện Triết học, Trung tâm khoa học xã hội và Nhân
văn, Hà Nội, 2000 Trong luận án này, tác giả trình bày một cách có hệ thống cácphương diện khác nhau của thị hiếu thẩm mỹ và đời sống thẩm mỹ, phân tích sâusắc về vai trò của thị hiếu thẩm mỹ đối với đời sống thẩm mỹ, đồng thời đề xuất một
số nguyên tắc và giải pháp nhằm nâng cao và phát huy vai trò của thị hiếu thẩm mỹtrong đời sống thẩm mỹ ở nước ta những năm đầu của thế kỷ XXI Sau đó, trên cơ
sở kết quả của luận án, Nguyễn Chương Nhiếp đã cho xuất bản cuốn Thị hiếu thẩm
mỹ trong đời sống, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004 Cuốn sách góp phần làm
sáng tỏ bản chất và vai trò của thị hiếu thẩm mỹ nhằm thực hiện yêu cầu nâng cao
và phát huy vai trò thị hiếu thẩm mỹ của công chúng, tạo điều kiện cho công chúnghưởng thụ, đánh giá và sáng tạo ngày càng nhiều giá trị thẩm mỹ cho xã hội
Từ những nghiên cứu về thị hiếu thẩm mỹ, các nhà nghiên cứu đã bày tỏ sựquan tâm đến vai trò của giáo dục thẩm mỹ và giáo dục thị hiếu thẩm mỹ Nếukhông kể đến các giáo trình mỹ học hay các tập bài giảng mỹ học vì trong đó phầngiáo dục thẩm mỹ là phần không thể thiếu thì nghiên cứu về giáo dục thẩm mỹ đầu
tiên phải kể đến là cuốn Giáo dục thẩm mỹ và xây dựng con người mới Việt Nam
của tác giả Lê Anh Trà, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1982 Cuốn sách trình bày về vai tròcủa giáo dục thẩm mỹ và yêu cầu xây dựng con người mới Việt Nam trước thời kỳđất nước đổi mới, trong đó, tác giả xác định nội dung cốt lõi của giáo dục thẩm mỹđối với việc xây dựng con người mới Việt Nam là cái đẹp mới xã hội chủ nghĩa –cái đẹp bắt nguồn từ những giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc kết hợp với lốisống xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất những lĩnhvực của giáo dục thẩm mỹ, đó là giáo dục thẩm mỹ trong lĩnh vực thiên nhiên, giáo
20
Trang 23dục thẩm mỹ qua lĩnh vực đời sống xã hội với môi trường gia đình, trường học, lĩnhvực lao động sản xuất và bảo vệ tổ quốc, các nếp sống ngoài lao động và giáo dụcthẩm mỹ qua lĩnh vực nghệ thuật
Tiếp theo là công trình Giáo dục thẩm mỹ - mấy vấn đề lý luận và thực tiễn
của Đỗ Huy, Nxb Thông tin Lý luận, Hà Nội, 1987 Cuốn sách trình bày những vấn
đề phương pháp luận trong việc giáo dục thẩm mỹ và xây dựng con người mới; Vaitrò của mỹ học Mác - Lênin trong việc định hướng sự nghiệp giáo dục thẩm mỹ;Bản chất của giáo dục thẩm mỹ trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới ở nước taxung quanh các chủ đề: Giáo dục thẩm mỹ và việc định hướng các nhu cầu thẩm
mỹ, giáo dục thẩm mỹ và việc xây dựng các thị hiếu thẩm mỹ lành mạnh, giáo dụcthẩm mỹ và sự hình thành các khả năng sáng tạo Bên cạnh đó, tác giả cũng đưa racác hình thức và các biện pháp giáo dục thẩm mỹ hiệu quả, đó là: giáo dục thẩm mỹbằng và thông qua lao động; giáo dục thẩm mỹ thông qua những tấm gương ngườitốt, việc tốt; giáo dục thẩm mỹ thông qua hệ thống thông tin đại chúng và giáo dụcthẩm mỹ bằng nghệ thuật và trong nghệ thuật
Trong vấn đề giáo dục thẩm mỹ, các nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm đến
đối tượng là thế hệ trẻ Đỗ Xuân Hà trong công trình Giáo dục thẩm mỹ, món nợ lớn đối với thế hệ trẻ, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1997 đã chỉ ra rằng, nhiệm vụ giáo dục
thẩm mỹ cho thế hệ trẻ nói chung và học sinh phổ thông nói riêng là nhiệm vụ cấpbách của những người làm giáo dục Xuất phát từ việc nghiên cứu một số vấn đềgiáo dục thẩm mỹ trong tư tưởng Hồ Chí Minh và nhận thức sâu sắc về vai trò củagiáo dục thẩm mỹ đối với thế hệ trẻ, cuốn sách khái quát quá trình thực hiện hoạtđộng giáo dục thẩm mỹ cho học sinh trong nhà trường phổ thông ở Việt Nam và một
số kinh nghiệm giáo dục thẩm mỹ cho học sinh trong nhà trường ở Liên Xô trướcđây Qua đó, tác giả phân tích mối liên hệ giữa vai trò của giáo dục thẩm mỹ trongviệc xây dựng mô hình nhân cách con người trước những yêu cầu của xã hội ViệtNam đang đổi mới với việc thực hiện hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh ởbậc phổ thông Đồng thời, tác giả đề xuất các hình thức giáo dục thẩm mỹ cho các
em học sinh trong các môn học cụ thể như Văn học, Toán học và khoa học tự nhiên
21
Trang 24hay các môn nghệ thuật như âm nhạc, nghệ thuật tạo hình, nghệ thuật sân khấu,nghệ thuật điện ảnh
Ngoài ra, còn có những công trình như: Mỹ học và giáo dục thẩm mỹ của Vũ Minh Tâm, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1998; Về giáo dục thẩm mỹ ở nước ta hiện nay của Nguyễn Vĩnh Lê, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1999; Cái đẹp với vấn đề giáo dục thẩm mỹ trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam của Nguyễn Thị Nga, Luận văn Thạc sĩ, 1999; những bài viết trên các tạp chí như “Tiếp cận giáo dục thẩm mỹ từ phương diện không gian và thời gian của hình tượng nghệ thuật” của Trần Tuý đăng trên tạp chí Triết học số 3 năm 1996; “Vài khía cạnh phương pháp luận của vấn đề giáo dục thẩm mỹ với sự hình thành con người mới” của Tạ Văn Thành, “Giáo dục thẩm mỹ và vấn đề hình thành các khả năng sáng tạo” của
Đỗ Huy, “Giáo dục thẩm mỹ và việc định hướng nhu cầu thẩm mỹ” của Hồng Mai đều đăng trên tạp chí Triết học, số 3 năm 1983; ba bài của Đỗ Xuân Hà: Về giáo dục thẩm mỹ cho học sinh bằng nghệ thuật tạo hình, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 5,
1992, Giáo dục đạo đức - thẩm mỹ cho thanh niên, thiếu niên bằng nghệ thuật sân khấu, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 6, 1993, Giáo dục thẩm mỹ - món nợ lớn đối với thế hệ trẻ, Tạp chí Thế giới mới, số 98, 1994; đều có những phân tích sâu sắc
về các khía cạnh của giáo dục thẩm mỹ
Thị hiếu thẩm mỹ là biểu hiện tập trung nhất của ý thức thẩm mỹ Do đó, về
cơ bản, các công trình khoa học nghiên cứu về giáo dục thẩm mỹ nói trên đều đềcập đến giáo dục thị hiếu thẩm mỹ với tính cách là một bộ phận cơ bản của giáo dụcthẩm mỹ Tuy nhiên, cũng cần có một công trình khoa học nghiên cứu giáo dục thịhiếu thẩm mỹ với tính cách là một đối tượng riêng biệt thật sự Đây là hướng nghiêncứu mới của luận án, làm rõ các nội dung của giáo dục thị hiếu thẩm mỹ và vai tròcủa giáo dục thị hiếu thẩm mỹ đối với việc phát triển con người toàn diện, đáp ứngyêu cầu xây dựng đất nước trong thời kỳ đổi mới hiện nay
1.1.3 Những nghiên cứu về vai trò của nghệ thuật đối với giáo dục thị hiếu thẩm
mỹ
Trong các công trình khoa học nghiên cứu về giáo dục thẩm mỹ như Giáo dục thẩm mỹ - mấy vấn đề lý luận và thực tiễn của Đỗ Huy, Về giáo dục thẩm mỹ ở
22
Trang 25nước ta hiện nay của Nguyễn Vĩnh Lê, Mỹ học và giáo dục thẩm mỹ của Vũ Minh Tâm hay trong các Giáo trình mỹ học của các tác giả Đỗ Huy, Đỗ Văn Khang, Lê
Đình Lục đều có bàn về vai trò của nghệ thuật đối với giáo dục thị hiếu thẩm mỹ
và việc vận dụng nghệ thuật trong giáo dục thị hiếu thẩm mỹ với tính cách là biểu
hiện cơ bản của giáo dục thẩm mỹ Nổi bật là công trình Luận án tiến sĩ Vai trò của nghệ thuật trong giáo dục thẩm mỹ của Trần Tuý, Viện Triết học – Trung tâm khoa
học xã hội và Nhân văn quốc gia, Hà Nội, 1998 Luận án này phân tích vai trò củanghệ thuật trong việc phát triển nhân cách; đồng thời phân tích sự tác động của nghệthuật tới công chúng và tìm hiểu cơ chế tiếp nhận của công chúng trong các quan hệnghệ thuật cụ thể; qua đó vạch ra các giải giáp nâng cao vai trò của nghệ thuật tronggiáo dục thị hiếu thẩm mỹ Trên cơ sở kết quả của luận án, Trần Tuý đã cho xuất bản
cuốn Vai trò của nghệ thuật trong giáo dục thẩm mỹ, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà
Nội, 2005 Cuốn sách góp phần làm sáng tỏ những khả năng tiềm ẩn của nghệ thuậttrong giáo dục thẩm mỹ và vai trò của nghệ thuật trong việc phát triển khía cạnhthẩm mỹ của nhân cách, đặc biệt nhấn mạnh vai trò định hướng của nghệ thuật đốivới sự phát triển nhu cầu thẩm mỹ và xây dựng thị hiếu thẩm mỹ lành mạnh tronggiáo dục thẩm mỹ cho con người
Liên quan đến vấn đề vai trò của nghệ thuật với giáo dục thẩm mỹ, luận án
tiến sĩ Vai trò của văn học trong giáo dục thẩm mỹ ở nước ta hiện nay của Lê Quang
Vinh bảo vệ năm 1996 tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh đã phân tíchvai trò của nghệ thuật đối với giáo dục thẩm mỹ trong phạm vi của một bộ mônnghệ thuật cụ thể là văn học Bằng việc khảo sát bản chất của giáo dục thẩm mỹ vàvai trò của văn học trong việc giáo dục thẩm mỹ, luận án này đã tìm ra mối liên hệnội tại giữa văn học với giáo dục thẩm mỹ để lý giải những khía cạnh tác động đặcbiệt của văn học với quá trình giáo dục thẩm mỹ Đồng thời, luận án này cũng đãkhảo sát thực trạng tình hình văn học trong những năm đầu của quá trình đổi mớiđất nước đối với việc giáo dục thẩm mỹ cho công chúng và đề xuất các giải pháp có
ý nghĩa khả thi trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả của văn học trong giáodục thẩm mỹ
23
Trang 26Nếu coi thị hiếu thẩm mỹ là biểu hiện đặc trưng của đời sống tinh thần củacon người và giáo dục thẩm mỹ là nâng cao năng lực thẩm mỹ của chủ thể tronghoạt động nhận thức, hoạt động đánh giá và hoạt động sáng tạo thẩm mỹ thì mốiquan hệ giữa nghệ thuật với giáo dục thẩm mỹ cũng được phân tích trong luận án
tiến sĩ Vai trò của nghệ thuật trong đời sống tinh thần của con người của Đào Duy
Thanh (Viện Triết học – Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia, Hà Nội,1999) Trong luận án này, tác giả chỉ ra rằng, “với tính cách là một bộ phận của đờisống tinh thần, sáng tạo và thưởng ngoạn nghệ thuật không chỉ góp phần nâng cao
và làm phong phú thế giới tinh thần mà còn tác động độc đáo tới sự phát triển nhữngnăng lực nhận thức, đánh giá và sáng tạo của con người Bởi vì, nghệ thuật với sứcmạnh tiềm ẩn của mình, nó có khả năng bộc lộ một cách sâu xa, sinh động và tổnghợp nhất nơi tâm hồn con người cái chỉnh thể toàn vẹn của những khát vọng, nhữnggiá trị: chân - thiện - mỹ ” [105, tr.1]
Ngoài ra, trên các tạp chí Triết học, tạp chí Mỹ thuật thời nay, tạp chí Thông tin Khoa học xã hội, tạp chí Nghiên cứu lý luận cũng có những bài viết như:
“Mấy suy nghĩ về vai trò của nghệ thuật trong giáo dục thẩm mỹ ở nước ta hiện nay” của Đỗ Huy, “Cội nguồn của ý thức thẩm mỹ và sự thức tỉnh những năng lực sáng tạo nghệ thuật” của Đỗ Thị Minh Thảo, “Tiếp cận giáo dục thẩm mỹ từ phương diện không gian và thời gian của hình tượng nghệ thuật” của Trần Tuý,
“Nghệ thuật và vấn đề giáo dục thị hiếu” của Nguyễn Chương Nhiếp, “Vài khía cạnh phương pháp luận của vấn đề giáo dục thẩm mỹ với sự hình thành con người mới” của Tạ Văn Thành, “Giáo dục thẩm mỹ và vấn đề hình thành các khả năng sáng tạo” của Đỗ Huy, “Giáo dục thẩm mỹ và việc định hướng nhu cầu thẩm mỹ
của Hồng Mai phân tích các mặt, các góc độ khác nhau của nghệ thuật, của giáodục thẩm mỹ và mối liên hệ giữa nghệ thuật với giáo dục thẩm mỹ thể hiện sự quantâm sâu sắc của các nhà khoa học đối với nghệ thuật và giáo dục thẩm mỹ ngàycàng nhiều hơn, phong phú hơn
Các công trình trên chủ yếu bàn về vai trò của nghệ thuật với giáo dục thẩm
mỹ nói chung, tuy nhiên, cần có một công trình nghiên cứu đi sâu phân tích mốiquan hệ giữa nghệ thuật với giáo dục thị hiếu thẩm mỹ, đặc biệt là vấn đề nghệ thuật
24
Trang 27với giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho sinh viên - một đối tượng có ảnh hưởng lớn đốivới sự phát triển của xã hội Đây là hướng nghiên cứu mới của luận án, làm rõ vaitrò của nghệ thuật với giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho sinh viên ở nước ta hiện nay.Đồng thời, luận án kế thừa những lý luận cơ bản về vai trò của nghệ thuật đối vớigiáo dục thị hiếu thẩm mỹ, sự cần thiết của nghệ thuật trong xây dựng thị hiếu thẩm
mỹ tốt, lành mạnh cho sinh viên giúp họ hình thành một hệ chuẩn giá trị trong nhâncách, lối sống nhằm phát triển hoàn thiện trước yêu cầu mới của xã hội hiện đại
1.2 Những nghiên cứu về thực trạng thị hiếu thẩm mỹ và thực trạng vận dụng nghệ thuật trong giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho sinh viên ở nước ta hiện nay
Thực trạng thị hiếu thẩm mỹ của quần chúng nhân dân nói chung và của sinh viênnói riêng đang là một vấn đề bức xúc trong toàn xã hội Nhiều tác giả, nhiều nhànghiên cứu và nhiều công trình khoa học đã thể hiện sự quan tâm sâu sắc đối với
vấn đề này Trong công trình nghiên cứu khoa học Thoả mãn nhu cầu văn hoá và nâng cao thị hiếu nghệ thuật, Viện Văn hoá, Nxb Văn hoá, Hà Nội, 1987, các tác
giả đã nhận thấy sự biến đổi trong thị hiếu thẩm mỹ có tác động không nhỏ đến đờisống tinh thần, đặc biệt là với nhu cầu văn hoá của con người Trong đó, Hoàng
Thanh với bài viết “Nhu cầu sinh hoạt điện ảnh trong đời sống văn hoá ở cơ sở” và Đinh Kim Long với bài viết “Một số vấn đề về thị hiếu và trình độ lĩnh hội giá trị tác phẩm của khán giả điện ảnh thành phố Hồ Chí Minh” đã thống kê số liệu từ các
cuộc khảo sát về loại hình nghệ thuật điện ảnh trong đời sống văn hoá nói chung vàcủa khán giả thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, qua đó, rút ra những kết luận về sựbiến đổi trong thị hiếu thẩm mỹ của công chúng thuộc lĩnh vực điện ảnh vào nhữngnăm đầu của thời kỳ đổi mới
Thị hiếu thẩm mỹ còn được coi là biểu hiện của năng lực cảm thụ thẩm mỹ.Liên quan đến thực trạng thị hiếu thẩm mỹ với tính cách là biểu hiện của năng lựccảm thụ thẩm mỹ, Hồ Sĩ Vịnh đã có những nghiên cứu đầy đủ và sâu sắc về vấn đề
này của một đối tượng đặc trưng là người Hà Nội trong công trình Cảm thụ thẩm
mỹ và người Hà Nội, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2007 Trong công trình này,
tác giả đã công bố kết quả khảo sát đánh giá thực trạng cảm thụ thẩm mỹ của người
25
Trang 28Hà Nội trên tám lĩnh vực: trong sinh hoạt ăn, ở, mặc, đi lại; trong sử dụng thời gianrỗi; thông qua mức tiêu dùng, hưởng thụ văn hoá – thông tin nghệ thuật; qua hoạtđộng nghệ thuật; trong ứng xử với môi trường thiên nhiên; trong ứng xử với bảnthân mình; trong ứng xử với gia đình, họ tộc, bạn bè, đồng nghiệp ; trong ứng xửnơi công cộng
Gần đây, Viện Nghiên cứu Phát triển thành phố Hồ Chí Minh tổ chức Hội
thảo khoa học: Định hướng thị hiếu thẩm mỹ cho giới trẻ thành phố Hồ Chí Minh
với sự tham gia của đông đảo các nhà khoa học trên địa bàn thành phố Hồ Chí
Minh Các bài viết tại Hội thảo được tập hợp lại trong cuốn: Thị hiếu thẩm mỹ của giới trẻ thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Văn hoá văn nghệ, Thành phố Hồ Chí Minh,
2013 Cuốn sách bàn về thực trạng thị hiếu thẩm mỹ của giới trẻ thành phố Hồ ChíMinh qua việc phân tích tác động của các loại hình nghệ thuật như âm nhạc, điệnảnh, thời trang, văn hoá đọc và nêu lên các kiến nghị nhằm xây dựng hệ thốngchuẩn mực trong thị hiếu thẩm mỹ cho giới trẻ thành phố Hồ Chí Minh trên một số
lĩnh vực hoạt động nghệ thuật cụ thể Trong sách này, Ngô Hoài Sơn với bài “Thị hiếu thẩm mỹ và những biến đổi trong thanh niên thành phố Hồ Chí Minh hiện nay”
đã lập ra một bảng khảo sát khá chi tiết về những biến đổi trong thị hiếu thẩm mỹcủa thanh niên ở thành phố Hồ Chí Minh từ trong lĩnh vực nghệ thuật đến cách thểhiện bản thân, từ trong ứng xử giữa người với người, đến trong đối xử với môi
trường tự nhiên xung quanh Vũ Thị Thu Hương với bài “Ảnh hưởng của văn hoá nước ngoài đến thị hiếu thẩm mỹ của giới trẻ từ góc nhìn thời trang Cosplay” thì chỉ
ra biến đổi của thị hiếu thẩm mỹ trong lĩnh vực thời trang của giới trẻ thành phố HồChí Minh dưới ảnh hưởng của văn hoá nước ngoài như truyện tranh Nhật Bản, lễ
hội Hallowen của phương Tây Mai Thị Quế với bài “Thị hiếu thẩm mỹ đối với trang phục của giới trẻ thành phố Hồ Chí Minh hiện nay” cũng chỉ ra những biểu
hiện của sự biến đổi thị hiếu thẩm mỹ của giới trẻ thành phố Hồ Chí Minh trongviệc lựa chọn trang phục v.v
Cũng bàn về thực trạng của thị hiếu thẩm mỹ, trên trang điện tử
tapchicuaviet.com.vn của Diễn đàn văn hoá – văn học nghệ thuật của tỉnh Quảng Trị, Đinh Xuân Dũng trong bài viết Thị hiếu thẩm mỹ - thực trạng, sự biến đổi và
26
Trang 29vấn đề giáo dục thẩm mỹ đã chỉ ra rằng, sự biến đổi của thị hiếu thẩm mỹ của công chúng hiện nay đang diễn ra theo bốn chiều hướng: đa dạng hoá, cá thể hoá, phân nhóm và phân hoá Sự hình thành các thị hiếu thẩm mỹ mới ngày càng bộc lộ rõ sự
khác nhau, đối chọi nhau trong tiếp nhận, đánh giá, cảm thụ tác phẩm nghệ thuật.Đối với chủ thể tiếp nhận, những biến đổi trong thị hiếu thẩm mỹ còn thể hiện rấtphong phú trong xu hướng khác nhau khi tiếp cận các loại hình nghệ thuật và cả cácthể loại cụ thể trong từng loại hình nghệ thuật Với những phân tích về sự biến đổicủa thị hiếu thẩm mỹ của công chúng, tác giả đưa ra nhận định rằng, thị hiếu thẩm
mỹ ở nước ta đang diễn ra một quá trình giao thời, chuyển tiếp, chưa định hình Vàđây là quy luật tất yếu khách quan của sự phát triển thị hiếu thẩm mỹ trước sự tácđộng của nền kinh tế - xã hội và hoạt động nghệ thuật
Trong lĩnh vực âm nhạc, phát biểu tại Hội thảo khoa học Lý luận phê bình
âm nhạc - Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương năm 2012, tiến sĩ Phạm
Trọng Toàn đã nêu lên sự khác nhau về thị hiếu thẩm mỹ trong thưởng thức âm nhạccủa những người ở lứa tuổi trung niên (từ 40 tuổi trở lên) và những người trẻ tuổi(dưới 40 tuổi), đồng thời đưa ra nhận định: đang có tình trạng thị hiếu thẩm mỹ lệch
lạc trong một bộ phận công chúng trẻ hiện nay Còn Thuỵ Du trong bài “Thị hiếu của công chúng trẻ và âm nhạc thị trường” đăng trên báo Nhân dân (trang điện tử
nhandan.com.vn ngày 29/8/2014) thì đặt ra vấn đề: phải chăng thị hiếu thẩm mỹ củagiới trẻ hiện nay đang thay đổi theo chiều hướng tiêu cực sau khi phân tích nhữngbiểu hiện của giới trẻ trong sáng tạo và thưởng thức âm nhạc qua các tác phẩm âmnhạc đang lưu hành trên thị trường hiện nay
Không chỉ tìm hiểu thực trạng, các công trình nghiên cứu còn đi đến phân tíchnguyên nhân biến đổi của thị hiếu thẩm mỹ Tác giả Dương Viết Á trong bài
“Thưởng thức nghệ thuật” (sách Thoả mãn nhu cầu văn hoá và nâng cao thị hiếu nghệ thuật) khẳng định rằng “không thể đơn giản trong việc giải thích nguyên nhân
hình thành một thị hiếu thẩm mỹ” [22, tr.170] Bởi vì, “thị hiếu không phải là mộtcái gì mang tính chất tiên thiên, “trời phú”, nó là sản phẩm của một quá trình Điềukiện xã hội, quan hệ chung và riêng, cuộc đời, hoàn cảnh sinh hoạt, sinh lý, tâm lý,giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp, trình độ văn hoá, những bước thăng trầm, may rủi
27
Trang 30trong cuộc sống riêng Thậm chí kể cả những sự kiện, những biến động ngẫu nhiêntrong cuộc đời đều là những nguyên nhân tạo nên một thị hiếu nhất định” [22,tr.170], “thị hiếu thẩm mỹ hình thành là sản phẩm của một quá trình; quá trình nàylại là một sự phản ứng trước cuộc sống và tổng hoà những quan hệ xã hội” [22,tr.169] Do đó, phân tích nguyên nhân biến đổi của thị hiếu thẩm mỹ cần phải có cáinhìn biện chứng
Trong công trình Cảm thụ thẩm mỹ và người Hà Nội, Hồ Sĩ Vịnh cũng chỉ ra
nguyên nhân của quá trình biến đổi cảm thụ thẩm mỹ (trong đó thị hiếu thẩm mỹ làmột biểu hiện) của người Hà Nội là sự tác động của nhân tố kinh tế - xã hội, sự tácđộng của quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá và sự tác động của xu thế toàncầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế Đặc biệt, cùng quan điểm với Hồ Sĩ Vịnh, Hà
Thanh Vân trong bài “Tác động của Internet lên thị hiếu thẩm mỹ về văn hoá nghệ thuật của thanh niên” (sách Thị hiếu thẩm mỹ của giới trẻ thành phố Hồ Chí Minh,
Nxb Văn hoá văn nghệ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2013) nhấn mạnh tác động củaInternet là một trong những nguyên nhân nổi bật làm biến đổi thị hiếu thẩm mỹ củathanh niên nói chung và thanh niên thành phố Hồ Chí Minh nói riêng
Cũng nghiên cứu về nguyên nhân biến đổi của thị hiếu thẩm mỹ, Luận án Phó tiến
sĩ Giáo dục lý tưởng thẩm mỹ cho thanh niên qua hệ thống thiết chế nhà văn hoá
(Đại học Sư phạm Hà Nội, 1996) của Trần Quốc Bảng phân tích ảnh hưởng của cácgiá trị văn hoá tinh thần truyền thống của dân tộc và thực tiễn sinh hoạt văn hoá,nghệ thuật đa dạng, phong phú, phức tạp với những tác động tích cực và tiêu cực lênthị hiếu thẩm mỹ, ý thức thẩm mỹ của thanh niên Trong khi đó, Nguyễn Minh Hạnh
trong bài Thị hiếu âm nhạc của sinh viên đại học thành phố Hà Nội hiện nay trên
trang điện tử spnttw.edu.vn ngày 18/7/2014 của Trường Đại học Sư phạm Nghệthuật Trung ương thì nêu ra sự bất cập và thiếu hụt của môi trường giáo dục đối vớithị hiếu thẩm mỹ của sinh viên trong lĩnh vực cụ thể là âm nhạc Gần đây nhất,
Đỗ Huy trong bài “Giáo dục thị hiếu nghệ thuật cho thế hệ trẻ ở nước ta hiện nay”
đăng trên tạp chí Triết học số 12 năm 2014 cũng chỉ ra rằng, có rất nhiều nguyênnhân khách quan cũng như chủ quan trong sự biến đổi của thị hiếu thẩm mỹ của giớitrẻ dẫn đến sự thành công và không thành công trong hoạt động nghệ thuật của họ,
28
Trang 31và một trong những nguyên nhân ấy là vấn đề nhận thức về lĩnh vực thị hiếu nghệthuật
Các công trình trên đã có những nghiên cứu đa dạng về các mặt, các lĩnh vực củathực trạng thị hiếu thẩm mỹ Tuy nhiên, các kết quả chỉ dừng lại ở việc khảo sát đốitượng chung là quần chúng nhân dân, và nếu sâu hơn thì cũng chỉ dừng lại ở khảosát giới trẻ nói chung mà chưa đi vào khảo sát thực trạng vận dụng nghệ thuật tronggiáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho sinh viên – đối tượng sẽ gia nhập vào lực lượng laođộng để trở thành động lực phát triển cho xã hội Kết quả khảo sát của các côngtrình trên đây là tư liệu quý giá cho luận án tiến hành khảo sát thực trạng vận dụngnghệ thuật trong giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho sinh viên ở nước ta hiện nay Nhữngkết quả đó là cơ sở để luận án phân tích những vấn đề đặt ra với vận dụng nghệthuật trong giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho sinh viên ở nước ta hiện nay và đề xuấtnhững phương hướng, giải pháp vận dụng nghệ thuật vào giáo dục thị hiếu thẩm mỹcho sinh viên
1.3 Những nghiên cứu về nguyên tắc và giải pháp vận dụng nghệ thuật trong giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho sinh viên ở nước ta hiện nay
1.3.1 Những nghiên cứu về nguyên tắc vận dụng nghệ thuật trong giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho sinh viên
Quan điểm vận dụng nghệ thuật trong giáo dục thẩm mỹ đã có từ trong các tácphẩm của các nhà tư tưởng thời cổ đại, thời Phục hưng và thời Khai sáng cho đếnchủ nghĩa Mác – Lênin, I Kant đã cho rằng, nghệ thuật tuy không có quy luậtnhưng tác động một cách có quy luật, không có dụng ý nhưng tác động một cách códụng ý Còn Hegel thì cho rằng nghệ thuật không nhằm giáo huấn, tu thiện, thanhkhiết hoá tâm hồn mà nhằm bộc lộ chân lý qua các hình thức cảm tính, qua cách bốtrí nghệ thuật Đối với chủ nghĩa Mác – Lênin, vận dụng nghệ thuật trong giáo dụcthị hiếu thẩm mỹ là một trong những hình thức giáo dục thẩm mỹ có hiệu quả cao.Trên quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, trong các công trình khoa học của mình
như Giáo dục thẩm mỹ - một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Mỹ học với tư cách là một khoa học, Mỹ học – khoa học về các quan hệ thẩm mỹ, Giáo trình mỹ học Mác
29
Trang 32– Lênin Đỗ Huy đã nêu lên những nguyên tắc của giáo dục thẩm mỹ nói chung
trong đó có vận dụng nghệ thuật với tính cách là hình thức giáo dục thẩm mỹ có
hiệu quả nhất Nổi bật là trong công trình Mỹ học – khoa học về các quan hệ thẩm
mỹ, tác giả khẳng định rằng, giáo dục thẩm mỹ cần phải tuân thủ các nguyên tắc
sau: một là lấy con người làm trung tâm, hai là phải mang tính dân tộc, ba là gắn lýluận với thực tiễn, bốn là thống nhất mà đa dạng
Trong luận án tiến sĩ Vai trò của truyền thông đại chúng trong việc giáo dục thẩm
mỹ cho nhân dân ở nước ta hiện nay (Học viện Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999),
Trần Ngọc Tăng đưa ra nhận định: tuỳ theo lập trường giai cấp, thế giới quan quanniệm về bản chất, đặc trưng của giáo dục thẩm mỹ mà hệ thống giáo dục thẩm mỹđược xây dựng với những nguyên tắc khác nhau Từ đó, tác giả xác định hệ thốnggiáo dục thẩm mỹ của nước ta có lập trường của giai cấp công nhân, thế giới quanduy vật biện chứng; đồng thời nêu ra các nguyên tắc của hệ thống giáo dục thẩm mỹ
là nguyên tắc tính tư tưởng và tính đảng, nguyên tắc xã hội hoá, nguyên tắc gắn liền
lý luận với thực tiễn, nguyên tắc đa dạng về hình thức
Trong luận án tiến sĩ Vai trò của nghệ thuật trong giáo dục thẩm mỹ, (Viện Triết
học – Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Hà Nội, 1998), Trần Tuý
nhấn mạnh nguyên tắc toàn diện trong giáo dục thẩm mỹ Luận án tiến sĩ Thị hiếu thẩm mỹ và vai trò của nó trong đời sống thẩm mỹ của Nguyễn Chương Nhiếp
(Viện Triết học, Trung tâm khoa học xã hội và Nhân văn, Hà Nội, 2000) phân tíchmột số nguyên tắc về giáo dục thị hiếu thẩm mỹ như tuân theo định hướng tiên tiến
và mang bản sắc Việt Nam, tôn trọng và bảo vệ tính đa dạng của thị hiếu thẩm mỹ,thống nhất giữa giáo dục thẩm mỹ, giáo dục chính trị và giáo dục đạo đức, bảo đảmtính đa dạng của các hình thức giáo dục thị hiếu thẩm mỹ
Các bài viết của các tác giả trong công trình Thị hiếu thẩm mỹ của giới trẻ thành phố Hồ Chí Minh thì dựa trên nhiều nguyên tắc khác nhau để đưa ra những giải
pháp cho việc giáo dục thị hiếu thẩm mỹ đối với giới trẻ thành phố Hồ Chí Minh ởcác lĩnh vực của thị hiếu thẩm mỹ như trong trang phục, trong âm nhạc, trong điệnảnh
30
Trang 33Nhìn chung, các công trình của các nhà khoa học được công bố đều thừa nhận vaitrò của nghệ thuật trong giáo dục thẩm mỹ và đã nêu ra hệ thống các nguyên tắc choviệc giáo dục thẩm mỹ Hệ thống các nguyên tắc này dừng lại ở giáo dục thẩm mỹnói chung, giúp tác giả có những hiểu biết bao quát và sâu sắc hơn, cung cấp cho đềtài những kiến thức khái quát và gợi mở để luận án nghiên cứu, xây dựng cácnguyên tắc cho việc vận dụng nghệ thuật trong giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho sinhviên trong giai đoạn hiện nay
1.3.2 Những nghiên cứu về giải pháp vận dụng nghệ thuật trong giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho sinh viên
Khi nghiên cứu về giáo dục thẩm mỹ, các tác giả cũng rất quan tâm đến việc đưa ranhững giải pháp nhằm nâng cao năng lực thẩm mỹ của chủ thể Lê Anh Trà trong
công trình Giáo dục thẩm mỹ và xây dựng con người mới Việt Nam (Nxb Sự thật,
Hà nội, 1982) trình bày một hệ thống giáo dục thẩm mỹ có sự tổng hợp tất cả cácyếu tố đối tượng, phương pháp, phương thức của giáo dục thẩm mỹ với các khâuchủ yếu móc xích lẫn nhau được sắp xếp trong ba lĩnh vực: giáo dục thẩm mỹ về cáiđẹp của thiên nhiên, giáo dục thẩm mỹ trong đời sống xã hội, giáo dục thẩm mỹtrong lĩnh vực hoạt động nghệ thuật Trong đó, đối với giáo dục thẩm mỹ trong lĩnhvực hoạt động nghệ thuật, tác giả nêu lên một số biện pháp cụ thể để đẩy mạnh việc
sử dụng nghệ thuật trong giáo dục thẩm mỹ như: coi trọng vai trò của các tác giả vàcác nhà lý luận nghệ thuật, mỹ học, các nhà phê bình cũng như ý kiến quảng đại củaquần chúng để có nhiều tác phẩm có chất lượng, có tác dụng thẩm mỹ tốt; coi trọngviệc phổ biến các tác phẩm nghệ thuật tốt vào trong quần chúng nhân dân; coi trọngphát triển nghệ thuật nghiệp dư bên cạnh nghệ thuật chuyên nghiệp, chủ động xâydựng phong trào văn nghệ quần chúng rộng rãi để mọi người có thể tham gia nghệthuật bằng nhiều hình thức nhằm phát huy tính tự do sáng tạo
Các công trình của Đỗ Huy đều có đề xuất những giải pháp để thực hiện giáo dục
thẩm mỹ Trong công trình Giáo dục thẩm mỹ - một số vấn đề lý luận và thực tiễn,
(Nxb Thông tin Lý luận, Hà Nội, 1987), tác giả nêu lên bốn hình thức giáo dụcthẩm mỹ cơ bản là giáo dục thẩm mỹ bằng văn hoá – nghệ thuật, giáo dục thẩm mỹbằng cách nêu gương, giáo dục thẩm mỹ bằng lao động và thông qua lao động, giáo
31
Trang 34dục thẩm mỹ bằng mỹ học Mác – Lênin Trong công trình Mỹ học – khoa học về các quan hệ thẩm mỹ, (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2001) tác giả bổ sung giải
pháp sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng trong giáo dục thẩm mỹ
Nguyễn Chương Nhiếp trong luận án tiến sĩ Thị hiếu thẩm mỹ và vai trò của nó trong đời sống thẩm mỹ (Viện Triết học, Trung tâm khoa học xã hội và Nhân văn,
Hà Nội, 2000), đã đưa ra một số giải pháp nhằm tăng cường giáo dục thị hiếu thẩm
mỹ, nâng cao và phát huy vai trò của nó trong đời sống thẩm mỹ như: xây dựngchương trình giáo dục thẩm mỹ toàn dân, xã hội hoá các hoạt động văn hoá nghệthuật; sáng tạo ngày càng nhiều và phổ biến rộng rãi các tác phẩm nghệ thuật cóchất lượng cao; loại trừ các văn hoá phẩm độc hại, thẩm mỹ hoá môi trường và làmlành mạnh các quan hệ xã hội
Cùng quan điểm với Nguyễn Chương Nhiếp, trong luận án tiến sĩ Vai trò của nghệ thuật trong giáo dục thẩm mỹ, (Viện Triết học – Trung tâm khoa học xã hội và Nhân
văn quốc gia, Hà Nội, 1998), Trần Tuý đề xuất các giải pháp tăng cường vai trò củanghệ thuật trong giáo dục thẩm mỹ như: cần sáng tác những tác phẩm nghệ thuật cónội dung trong sáng, hình thức vui tươi; cần có một chiến lược giáo dục tổng thểtrong đó giáo dục thẩm mỹ là một bộ phận quan trọng của giáo dục quốc gia; thốngnhất các hình thức giáo dục thẩm mỹ với mục tiêu phát triển thể, đức, trí, mỹ chocon người, phổ biến các kiến thức mỹ học toàn diện, hoàn thiện các phương tiệngiáo dục và tác động thẩm mỹ; quan tâm đến tính dân tộc của nghệ thuật đồng thờiphải quan tâm đến tính giai cấp và tính nhân loại phổ biến của nó
Thống nhất với Trần Tuý, luận án phó tiến sĩ Giáo dục lý tưởng thẩm mỹ cho thanh niên qua hệ thống thiết chế nhà văn hoá của Trần Quốc Bảng (Đại học Sư phạm, Hà
Nội, 1996) nêu ra các giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục lý tưởng thẩm mỹ chothanh niên thông qua hệ thống thiết chế nhà văn hoá với: xây dựng chương trìnhgiáo dục thẩm mỹ toàn diện trên cơ sở đa dạng hoá các chủ thể và phương tiện thẩmmỹ; có chính sách đầu tư có chiều sâu của nhà nước và các nguồn lực khác để củng
cố hệ thống nhà thiết chế văn hoá đồng thời nâng cao năng lực, trình độ, phẩm chấtcủa đội ngũ cán bộ quản lý của hệ thống thiết chế nhà văn hoá; kết hợp giữa nghệthuật chuyên nghiệp và nghệ thuật không chuyên trong hoạt động nghệ thuật của
32
Trang 35chủ thể; mở rộng các hình thức sinh hoạt văn hoá mang tính đại chúng trong thanhniên và các hoạt động giao lưu giữa các nhà văn hoá, trung tâm văn hoá trong cảnước; phát triển các hình thức sinh hoạt văn hoá phù hợp với sở thích và nhu cầucủa lứa tuổi
Đỗ Xuân Hà trong công trình Giáo dục thẩm mỹ - món nợ lớn đối với thế hệ trẻ
(Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1997) trình bày các biện pháp giáo dục thẩm mỹ rút ra từkinh nghiệm giáo dục thẩm mỹ cho học sinh của Liên Xô như: tổ chức giáo dụcthẩm mỹ cho học sinh trong quá trình dạy học – giáo dục qua các môn học thuộcnhóm nghệ thuật và cả các môn học không thuộc nhóm nghệ thuật, thực hiện giáodục thẩm mỹ trong các giờ học tự nguyện về các loại hình nghệ thuật và cả trongcác giờ học khác, giáo dục thẩm mỹ thông qua các hoạt động ngoại khoá và các câulạc bộ, phối hợp các biện pháp giáo dục thẩm mỹ thường xuyên và không thườngxuyên v.v
Cũng đề xuất các giải pháp đối với giáo dục thẩm mỹ, luận án tiến sĩ Giáo dục thẩm mỹ trong việc hình thành lối sống văn hoá cho thanh niên đồng bằng sông Cửu Long hiện nay của Lương Thanh Tân (Học viện Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2009) đã xây dựng hẳn một hệ thống các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáodục mỹ trong việc hình thành lối sống văn hoá cho thanh niên đồng bằng sông CửuLong với các nhóm giải pháp cơ bản và cụ thể như: giải pháp về nhận thức; giảipháp về xây dựng nội dung, đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng giáo dụcthẩm mỹ; giải pháp về tổ chức bộ máy; giải pháp về đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật;giải pháp về nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của nhà nước tronggiáo dục thẩm mỹ
Hồ Sĩ Vịnh trong công trình Cảm thụ thẩm mỹ và người Hà Nội thì giải trình ba
nhóm giải pháp nhằm nâng cao năng lực cảm thụ thẩm mỹ (trong đó có thị hiếuthẩm mỹ) của người Hà Nội Đó là nhóm giải pháp về tuyên truyền giáo dục, nhómgiải pháp về đầu tư kinh phí và nhóm giải pháp về cơ chế chính sách với gồm rấtnhiều các giải pháp cụ thể, bao quát tất cả mọi lĩnh vực của hoạt động thẩm mỹ
33
Trang 36Ngoài ra, trong các bài viết trên các tạp chí Triết học, tạp chí Mỹ thuật thời nay, tạp chí Thông tin Khoa học xã hội, tạp chí Nghiên cứu lý luận, như: “Mấy suy nghĩ về vai trò của nghệ thuật trong giáo dục thẩm mỹ ở nước ta hiện nay” và
“Giáo dục thẩm mỹ và vấn đề hình thành các khả năng sáng tạo” của Đỗ Huy, “Cội nguồn của ý thức thẩm mỹ và sự thức tỉnh những năng lực sáng tạo nghệ thuật” của
Đỗ Thị Minh Thảo, “Tiếp cận giáo dục thẩm mỹ từ phương diện không gian và thời gian của hình tượng nghệ thuật” của Trần Tuý, “Nghệ thuật và vấn đề giáo dục thị hiếu” của Nguyễn Chương Nhiếp, “Vài khía cạnh phương pháp luận của vấn đề giáo dục thẩm mỹ với sự hình thành con người mới” của Tạ Văn Thành, “Giáo dục thẩm mỹ và việc định hướng nhu cầu thẩm mỹ của Hồng Mai, “Về giáo dục thẩm mỹ cho học sinh bằng nghệ thuật tạo hình”, “Giáo dục đạo đức - thẩm mỹ cho thanh niên, thiếu niên bằng nghệ thuật sân khấu”, “Giáo dục thẩm mỹ - món nợ lớn đối với thế hệ trẻ” của Đỗ Xuân Hà, cũng đều có đề xuất những giải pháp cụ thể cho
nhiều khía cạnh khác nhau của giáo dục thẩm mỹ nói chung và giáo dục thị hiếuthẩm mỹ nói riêng
Hệ thống các giải pháp mà các công trình trên đây nêu ra mang tính khả thi,rất sâu sắc và toàn diện, tập trung phát huy hiệu quả của giáo dục thẩm mỹ, nângcao năng lực thẩm mỹ của chủ thể trên nhiều phương diện nhưng chưa đi vào đốitượng cụ thể là vận dụng nghệ thuật trong giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho sinh viên.Đây là cơ sở lý luận và thực tiễn để luận án kế thừa, xây dựng các giải pháp phù hợpcho việc vận dụng nghệ thuật trong giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho sinh viên tronggiai đoạn hiện nay ở nước ta
1.4 Những vấn đề luận án cần nghiên cứu
Các công trình khoa học có liên quan đến đề tài luận án “Nghệ thuật với vấn
đề giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho sinh viên ở nước ta hiện nay” là những công trình
có giá trị khoa học cao cả về lý luận và thực tiễn, cung cấp quan niệm của các nhàkhoa học trong và ngoài nước từ lịch sử đến hiện đại về nghệ thuật, thị hiếu thẩm
mỹ, giáo dục thẩm mỹ; về thực trạng, nguyên nhân của sự biến đổi trong thị hiếuthẩm mỹ; về vai trò của nghệ thuật trong giáo dục thẩm mỹ và những vấn đề cấpbách trong giáo dục thẩm mỹ nói chung và giáo dục thị hiếu thẩm mỹ nói riêng;
34
Trang 37đồng thời, đánh giá kết quả và có những nguyên tắc, giải pháp quan trọng, thiết thựcđối với giáo dục thẩm mỹ, nâng cao năng lực thẩm mỹ của chủ thể trong quá trìnhđất nước hội nhập và phát triển Đây chính là cơ sở lý luận và thực tiễn đã gợi mở,định hướng để tác giả nghiên cứu, giải quyết các vấn đề trong nội dung chính củaluận án
Những công trình nghiên cứu về nghệ thuật, thị hiếu thẩm mỹ, giáo dục thẩm
mỹ ở nhiều phương diện, nhiều cách tiếp cận khác nhau Có những công trình chỉnghiên cứu vấn đề một cách khái quát, có những công trình đi sâu vào từng lĩnhvực, khía cạnh cụ thể nhưng đều chưa đề cập trực tiếp đến việc phân tích vai trò củanghệ thuật với vấn đề giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho sinh viên ở nước ta hiện nay
Là một bộ phận đặc thù của xã hội, sinh viên giữ một vai trò hết sức quan trọng đốivới sự phát triển trong hiện tại và tương lai của các quốc gia, dân tộc Đây là nhómngười có vị trí chuyển tiếp, chuẩn bị cho đội ngũ tri thức có trình độ cao cho xã hội,
là nguồn dự trữ chủ yếu, bổ sung cho đội ngũ trí thức của xã hội Do đó, “giai cấp
vô sản lao động trí óc phải được hình thành từ hàng ngũ sinh viên” (Ph.Ăngghen)
Để sinh viên trở thành những con người thực sự có ích cho sự phát triển của xã hội,giáo dục đại học phải hình thành đội ngũ nhân lực toàn diện cả về chuyên môn nghềnghiệp và phẩm chất đạo đức cũng như thị hiếu thẩm mỹ, tạo nền tảng xác lập thếgiới quan và xây dựng lý tưởng sống Giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho sinh viên làmột yêu cầu cần thiết nhằm góp phần tạo ra sự cân bằng giữa đào tạo chuyên môn
và giáo dục lối sống, xây dựng lý tưởng trong sinh viên, giúp cho công tác giáo dục
ở các trường đại học và cao đẳng ngày càng hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu phát triểncon người toàn diện của xã hội
Kế thừa các thành quả của các công trình nghiên cứu đi trước, nắm bắt nhữngtồn tại xung quanh vấn đề nghiên cứu, bám sát đối tượng, mục đích nghiên cứu,
luận án tiếp tục giải quyết những nhiệm vụ sau:
- Xác định tầm quan trọng của giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho sinh viên trong giaiđoạn phát triển hiện nay ở nước ta và tầm quan trọng của vận dụng nghệ thuật tronggiáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho sinh viên
35
Trang 38- Nghiên cứu và làm rõ thêm những vấn đề lý luận cơ bản của nghệ thuật và thị hiếuthẩm mỹ, phân tích vai trò của nghệ thuật và giáo dục thị hiếu thẩm mỹ
- Nghiên cứu, điều tra, tổng hợp và phân tích thực trạng vận dụng nghệ thuật tronggiáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho sinh viên ở Việt Nam hiện nay
- Nghiên cứu, phân tích nguyên tắc và đề xuất các giải pháp vận dụng nghệ thuậttrong giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho sinh viên đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội
ở Việt Nam hiện nay
36
Trang 39Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGHỆ THUẬT,
THỊ HIẾU THẨM MỸ VÀ VAI TRÒ CỦA NGHỆ THUẬT TRONG
GIÁO DỤC THỊ HIẾU THẨM MỸ
2.1 Những vấn đề lý luận cơ bản về nghệ thuật
2.1.1 Một số quan niệm về nghệ thuật trong lịch sử mỹ học
Về nguồn gốc khái niệm nghệ thuật được dùng với nhiều nghĩa khác nhau.Trong lịch sử,nghệ thuật đã từng là khái niệm dùng để chỉ những hoạt động của conngười đạt đến trình độ điêu luyện, tinh xảo trên mọi lĩnh vực của cuộc sống: nghệthuật chế tác, nghệ thuật mổ xẻ, nghệ thuật nấu nướng, nghệ thuật chăn nuôi, nghệthuật buôn bán, nghệ thuật chiến tranh… Về một số phương diện khác, nghệ thuậtcũng có thể được hiểu là một loại hoạt động nhằm sáng tạo ra những sản phẩm vừa
có ý nghĩa hữu dụng vừa có khả năng làm đẹp cho đời, đem lại khoái cảm thẩm mỹcho con người ở những lĩnh vực nhất định của cuộc sống Ở một phương diện khác
nữa, khái niệm nghệ thuật gắn liền với các hình thức đặc thù thể hiện năng lực sáng
tạo của con người trên lĩnh vực ấy: lĩnh vực ngôn từ, lĩnh vực màu sắc, lĩnh vực âmthanh, lĩnh vực tạo hình, lĩnh vực đường nét… Nghệ thuật là một hiện tượng vôcùng phong phú, phức tạp và là một lĩnh vực đặc biệt của nền sản xuất tinh thần của
xã hội, nó gắn liền với nhu cầu, thị hiếu, lý tưởng của những năng lực tiềm tàng củaquá trình phát triển xã hội Do đó, bản chất của nghệ thuật luôn chứa đựng những bí
ẩn khiến những định nghĩa sơ lược thường chỉ nói lên được một trong những đặctrưng nào đó của nghệ thuật mà thôi Trong dòng chảy tư tưởng của nhân loại, đã có
vô vàn những quan niệm khác nhau về nghệ thuật Trong đó, người ta có thể kháiquát được bốn khuynh hướng cơ bản về bản chất của nghệ thuật
Khuynh hướng thứ nhất là coi “nghệ thuật là sự mô phỏng” được khởi xướng
từ Aristotle trong triết học Hy Lạp cổ đại Ông cho rằng: bản chất nghệ thuật củacon người là sự bắt chước (mô phỏng) Mô phỏng trong nghệ thuật đem lại nhận
37
Trang 40thức, sự hiểu biết cho con người Trong tác phẩm Nghệ thuật thi ca, ông đã viết: “sử
thi, bi kịch thi cũng như hài kịch và thơ ca tụng tửu thần, đại bộ phận nhạc sáo, nhạcđàn lục huyền – tất cả những cái đó, nói chung, đều là những nghệ thuật mô phỏng”[3, tr.11] … “sự mô phỏng vốn sẵn có ở con người từ thuở nhỏ, và con người khácgiống vật chính là ở chỗ họ có tài mô phỏng, nhờ sự mô phỏng đó mà họ thu nhậnđược những kiến thức đầu tiên; còn điểm thứ hai là: những sản phẩm của sự môphỏng mang lại thích thú cho con người” [3, tr.24] Như vậy, mô phỏng là điều kiệncần cho những dạng thực hành nào đó được gọi là nghệ thuật Còn điều kiện đủ là
mô phỏng cái gì và theo phương thức nào? mô phỏng động tác hay mô phỏng âmthanh, mô phỏng hình khối, màu sắc hay ngôn từ, đường nét? Ví dụ như: thơ cathường mô phỏng ngôn từ, kịch mô phỏng động tác, hội họa mô phỏng màu sắc,đường nét, điêu khắc, vũ đạo và âm nhạc… mỗi loại mô phỏng này có đối tượng vàphương thức khác nhau Quan niệm “nghệ thuật là sự mô phỏng” này có ảnh hưởnglớn đến cách quan niệm về nghệ thuật ở phương Tây, thậm chí kéo dài đến thế kỷXIX Quan niệm này đã tổ chức toàn bộ các hoạt động thưởng thức và sáng tạo nghệthuật của thời kỳ Hy Lạp cổ đại Ở thời kỳ đó, tất cả những thực hành như vẽ tranh,tạc tượng, viết bi kịch, thi thoại và vũ điệu trong bi kịch và hài kịch nếu không chứađựng sự mô phỏng thì không được coi là nghệ thuật và sẽ bị đối xử một cách thờ ơ,không đáng quan tâm
Khuynh hướng thứ hai là quan niệm về nghệ thuật của chủ nghĩa duy tâm chủ quan được đại diện bởi các nhà mỹ học Đức là Spencer, Schiller và đặc biệt là I.
Kant Trong sự phân tích của mình, Kant cho rằng nghệ thuật hoàn toàn không phải
là sự mô phỏng tự nhiên Ông chia nghệ thuật thành ba cấp độ Cấp độ 1 - nghệ
thuật là sản phẩm của lao động bắt buộc Đó là nghề thủ công Lao động này tạo ra
nghệ thuật kim hoàn, nghệ thuật kiếm tiền Cấp độ 2 - nghệ thuật gắn bó với tự
nhiên Nghệ thuật giống tự nhiên Đây chưa phải là nghệ thuật đích thực mà là thế
phẩm của nghệ thuật Cấp độ 3 - nghệ thuật là trò chơi tự do. Theo ông, nghệ thuật
là công trình riêng có của con người, nghệ thuật ra đời trên cơ sở những suy nghĩ vàhành vi sáng tạo của con người, “chỉ có việc tạo ra bằng sự tự do, tức bằng một hành
vi của ý chí, lấy lý tính làm nền tảng cho những việc làm của mình mới được gọi là
38