luận văn, thạc sĩ, tiến sĩ, cao học, khóa luận, đề tài
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
-*** -
VŨ THỊ HƯƠNG
ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC BỔ SUNG BỘT CÁ
VÀ KHÔ ðỖ TƯƠNG TRONG KHẨU PHẦN ĂN
ðẾN SINH TRƯỞNG CỦA BÒ THỊT LAI SIND
GIAI ðOẠN 12 -18 THÁNG TUỔI
HÀ NỘI -2010
Trang 2LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan ñây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những số liệu và kết quả ñược trình bày trong luận văn là khách quan, trung thực và chưa từng ñược bất kỳ tác giả nào công bố dùng ñể bảo vệ một học vị nào khác
Các thông tin trích dẫn trong luận văn ñều ñược chỉ rõ nguồn gốc Mọi
sự giúp ñỡ cho việc hoàn thành luận văn ñã ñược cảm ơn
Hà nội, ngày tháng năm 2010
Tác giả luận văn
Vũ Thị Hương
Trang 3L ỜI CẢM ƠN
Trong su ốt quá trình thực hiện luận văn, tôi ñã nhận ñược sự giúp ñỡ
và c ộng tác nhiệt tình của nhiều tập thể cũng như cá nhân trong và ngoài
ðến nay luận văn ñã hoàn thành, tôi xin ñược bày tỏ lòng biết ơn sâu
cho tôi trong su ốt quá trình hoàn thiện luận văn này
Tôi xin chân thành c ảm ơn các Thầy giáo, Cô giáo khoa Chăn nuôi &
nuôi tr ồng Thuỷ sản, Viện ñào tạo sau ñại học, ñặc biệt là Bộ môn Dinh
Chân thành c ảm ơn tập thể lãnh ñạo, cán bộ công nhân viên trang trại
bò Xuân Mai – Hà N ội; Những người thân và ñồng nghiệp ñã giúp ñỡ, tạo
hoàn thành lu ận văn
Nhân d ịp này cho tôi ñược gửi lời cảm ơn tới các Thầy giáo, Cô giáo
ñã giảng dạy và truyền ñạt cho tôi những kiến thức khoa học trong suốt thời
gian h ọc tập ở lớp Cao học chăn nuôi A khoá 17, Trường ðại học Nông
Hà n ội, ngày tháng năm 2010
Tác giả luận văn
Trang 4MỤC LỤC
1 MỞ ðẦU 1
1.1 ðẶT VẤN ðỀ 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ðỀ TÀI 2
1.3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ðỀ TÀI 2
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 ðặc ñiểm tiêu hóa của gia súc nhai lại 3
2.1.1 Sơ lược chức năng dạ cỏ 3
2.1.2 Quá trình lên men trong dạ cỏ 14
2.1.3 Thức ăn bổ sung cho gia súc nhai lại ăn khẩu phần cơ sở là rơm 19
2.1.4 Thay ñổi phân giải protein ở dạ cỏ 23
2.1.5 Bổ sung lipit 26
2.2 Tình hình chăn nuôi bò thịt trên thế giới và ở Việt Nam 28
2.2.1 Tình hình chăn nuôi bò thịt trên thế giới 28
2.2.2 Tình hình chăn nuôi bò thịt tại Việt Nam 28
3 ðỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
3.1 ðối tượng nghiên cứu 32
3.2 ðịa ñiểm và thời gian nghiên cứu 32
3.3 Nội dung nghiên cứu 32
Trang 53.4 Phương pháp nghiên cứu 32
3.4.1 Bố trí thí nghiệm 32
3.4.2 Tiến hành 34
3.4.3 Các chỉ tiêu theo dõi 36
3.5 Phương pháp xử lý số liệu 38
4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 39
4.1 Thức ăn thu nhận và tỷ lệ tiêu hoá của các khẩu phần thí nghiệm 39
4.1.1 Thành phần hoá học và giá trị dinh dưỡng của nguyên liệu thức ăn thí nghiệm 39
4.1.2 Thức ăn thu nhận của bò thí nghiệm 40
4.1.3 Tỷ lệ tiêu hoá các chất dinh dưỡng khẩu phần 50
4.2 Khối lượng của bò thí nghiệm 52
4.2.1 Khối lượng của bò thí nghiệm 52
4.2.2 Tăng khối lượng của bò thí nghiệm 55
2.3 Tăng khối lượng tương ñối của ñàn bò thí nghiệm 60
2.4 Sơ bộ hạch toán hiệu quả kinh tế 62
5 KẾT LUẬN VÀ ðỀ NGHỊ 68
5.1 KẾT LUẬN 68
5.2 ðỀ NGHỊ 69
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Nhóm VSV phân lập từ dạ cỏ của ba loài 6
Bảng 3.1 Sơ ñồ bố trí thí nghiệm 33
Bảng 3.2 Khẩu phần thí nghiệm 35
Bảng 4.1 Thành phần hoá học và giá trị dinh dưỡng của các nguyên
liệu thức ăn 39
Bảng 4.2 Lượng rơm ủ urê thu nhận của bò thí nghiệm (kg/con/ngày) 41
Bảng 4.3 Lượng cỏ voi thu nhận của bò thí nghiệm (kg/con/ngày) 44
Bảng 4.4 Lượng thức ăn tinh thu nhận của bò thí nghiệm (kg/con/ngày) 46
Bảng 4.5 Chất khô thu nhận của bò thí nghiệm (kg/con/ngày) 48
Bảng 4.6 Tỷ lệ tiêu hoá các chất dinh dưỡng khẩu phần 51
Bảng 4.7 Khối lượng của bò thí nghiệm (kg) 53
Bảng 4.8 Tăng khối lượng của ñàn bò thí nghiệm (kg/tháng) 57
Bảng 4.9 Tăng khối lượng của bò thí nghiệm (g/ngày) 58
Bảng 4.10 Tăng khối lượng tương ñối của bò thí nghiệm (%) 61
Bảng 4.11 Giá nguyên liệu của thức ăn 62
Bảng 4.12 Tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng khối lượng 64
Bảng 4.13 Chi phí thức ăn cho 1kg tăng khối lượng (ñồng) 66
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Cấu tạo dạ dày ñộng vật nhai lại 3
Hình 4.1 Lượng rơm ủ urê thu nhận của bò thí nghiệm (kg/con/ngày) 42
Hình 4.2 Lượng cỏ voi thu nhận của bò thí nghiệm (kg/con/ngày) 45
Hình 4.3 Lượng thức ăn tinh thu nhận của bò thí nghiệm (kg/con/ngày) 47
Hình 4.4 Chất khô thu nhận của bò thí nghiệm (kg/con/ngày) 49
Hình 4.5 Tỷ lệ tiêu hoá các chất dinh dưỡng khẩu phầnError! Bookmark not defined Hình 4.6 Tăng khối lượng của bò thí nghiệm (kg/tháng) 56
Hình 4.7 Tăng khối lượng của bò thí nghiệm (g/ngày) 56
Hình 4.8 Tăng khối lượng tương ñối của bò thí nghiệm (%) 62
Hình 4.9 Tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng khối lượng 63
Hình 4.10 Chi phí thức ăn cho 1kg tăng khối lượng (ñồng) 65
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 91 MỞ ðẦU
1.1 ðẶT VẤN ðỀ
Việt Nam là một nước nông nghiệp với dân số khoảng 85 triệu người, trong ñó 73 % số người sống bằng nghề nông Sản xuất nông nghiệp chính là trồng lúa, bên cạnh ñó là trồng một số hoa màu như: ngô, khoai, sắn, ñậu ñỗ
… và một số cây công nghiệp khác Sử dụng tốt các nguồn tài nguyên sẵn có
là một chiến lược quan trọng giúp phát triển sản xuất nông nghiệp, nâng cao thu nhập và ñời sống cho người nông dân
Chăn nuôi gia súc là một thành phần kinh tế quan trọng trong sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên hiện tại thành phần kinh tế này chỉ chiếm 25 % GDP của ngành nông nghiệp cả nước
Sản xuất cũng như tiêu thụ thịt bò trong nước còn chiếm tỷ trọng nhỏ
so với thịt lợn và thịt gia cầm Thịt bò chất lượng cao hầu như phải nhập từ nước ngoài như từ Australia, Newzealand, USA, Thailand Nhưng nhu cầu
về thịt bò sẽ tăng nhanh chóng do thu nhập của người dân ñã và ñang ñược cải thiện Phát triển sản xuất thịt bò ñược xem như phương tiện ñể ñáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước cũng như hạn chế nhập khẩu thịt bò
Hiện tại sản xuất thịt bò trong nước ñã không ñáp ứng ñược nhu cầu ngày càng tăng của người dân về số lượng cũng như chất lượng do cơ sở hạ tầng của ngành sản xuất thịt bò yếu kém, công nghệ chăn nuôi lạc hậu, khâu giết mổ, chế biến và thị trường yếu … Trong những năm gần ñây nhiều giải pháp ñã và ñang ñược tiến hành nhằm ñẩy mạnh sản xuất thịt bò trong nước: Sind hóa ñàn bò, nhập một số giống bò thịt cao sản Một trong những chiến lược quan trọng ñể nâng cao năng suất và chất lượng thịt bò sản xuất trong nước là sử dụng tốt hơn các nguồn thức ăn sẵn có tại mỗi ñịa phương và áp dụng các chế ñộ nuôi dưỡng mới ðề tài này ñược tiến hành nhằm so sánh
Trang 10hiệu quả của 2 nguồn protein khác nhau (thực vật và ựộng vật) trong những khẩu phần có sử dụng rơm ủ urê ựối với bò thịt giai ựoạn 12 ựến 18 tháng tuổi nuôi sinh trưởng Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu ựề tài :
ỘẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC BỔ SUNG BỘT CÁ VÀ KHÔ đỖ TƯƠNG
TRONG KHẨU PHẦN ĂN đẾN SINH TRƯỞNG CỦA BÒ THỊT
LAI SIND GIAI đOẠN 12-18 THÁNG TUỔI Ợ
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA đỀ TÀI
Xác ựịnh ựược ảnh hưởng của một số nguồn protein tới tốc ựộ tăng khối lượng của bò thịt giai ựoạn nuôi sinh trưởng từ 12 ựến 18 tháng tuổi, sử dụng khẩu phần cơ sở là nguồn thức ăn sẵn có trên ựịa bàn nghiên cứu
1.3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA đỀ TÀI
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
- đánh giá ựược mức ựộ ảnh hưởng của nguồn thức ăn bổ sung giàu protein là bột cá và khô ựỗ tương ựến tăng khối lượng của bò thịt Lai Sind giai ựoạn 12 ựến 18 tháng tuổi
- Xác ựịnh ựược tỷ lệ tiêu hoá của bò thắ nghiệm trên
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Sử dụng có hiệu quả nguồn thức ăn bổ sung giàu protein ựối với chăn
nuôi bò thịt Lai Sind giai ựoạn sinh trưởng từ 12 ựến 18 tháng tuổi ựể phát triển ngành chăn nuôi bò thịt nói riêng và ngành nông nghiệp bền vững nói chung
Trang 112 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 ðặc ñiểm tiêu hóa của gia súc nhai lại
2.1.1 Sơ lược chức năng dạ cỏ
ðặc ñiểm nổi bật của bộ máy tiêu hoá ở gia súc nhai lại là những khoang phình lớn, tại ñây có các ñiều kiện môi trường thuận lợi cho vi sinh vật lên men hydrat-cacbon và các chất hữu cơ khác Sản phẩm chủ yếu của
sinh vật sinh trưởng và phát triển
Gia súc nhai lại (bò, cừu, dê, trâu) có thể tiêu hoá một khối lượng lớn xenluloza và các nguồn nitơ vô cơ nhờ cấu tạo ñặc biệt của cơ quan tiêu hoá
Dạ dày của gia súc nhai lại gồm 3 túi ở phía trước: dạ cỏ, dạ tổ ong, dạ lá sách
- chúng còn gọi là dạ dày trước và một túi nằm phía sau: dạ múi khế - chức năng tiêu hoá của phần này giống như dạ dày ở ñộng vật dạ dày ñơn Phần dạ dày trước thường chiếm khoảng 70-75 % tổng dung tích của cơ quan tiêu hoá
Cấu tạo dạ dày 4 túi như hình sau:
ấu tạo dạ dày ñộng vật nhai lại
Trang 12Trong dạ dày trước, dạ cỏ là phần lớn nhất có dung tích khoảng 100 lít
ở bò trưởng thành khối lượng từ 500-600 kg (chiếm hơn 90 % dung tích dạ dày trước) Quá trình lên men thức ăn xảy ra ở dạ cỏ và dạ tổ ong Dạ cỏ có các ñiều kiện thuận lợi cho hoạt ñộng của quần thể vi sinh vật yếm khí như:
- Môi trường dạ cỏ gần như trung tính (pH =6,5-7,4) và tương ñối ổn ñịnh nhờ tác dụng ñệm của muối phốt phát và bicacbonat của nước bọt
- Môi trường yếm khí
- Thức ăn vào dạ cỏ cung cấp chất dinh dưỡng ñều ñặn cho vi sinh vật phát triển
- Dịch dạ cỏ có khoảng 85-90 % nước, ñộ ẩm cao: 80-90 %
- Sự nhu ñộng của dạ cỏ yếu nên thức ăn lưu lại lâu
- Các sản phẩm của quá trình lên men luôn luôn ñược trao ñổi qua thành dạ cỏ, vì vậy chênh lệnh nồng ñộ cơ chất luôn luôn thích hợp cho quá trình lên men
Do có các ñiều kiện thuận lợi nên vi sinh vật dạ cỏ phát triển mạnh về
số lượng, ña dạng về chủng loại: chúng bao gồm vi khuẩn, nấm, protozoa, mycoplasma, các loại virút và thể thực khuẩn không ñóng vai trò quan trọng trong tiêu hoá xơ Tuy nhiên, quần thể vi sinh vật dạ cỏ có sự biến ñổi và phụ thuộc vào cấu trúc của khẩu phần ăn
và chiếm khoảng 60 % sinh khối vi sinh vật trong dịch dạ cỏ (Hungate, 1966) [25] Những vi sinh vật chủ yếu tiêu hoá các hyñrat-cacbon vách tế bào thực
vật, chúng bao gồm Ruminococcus flavefaciens, Ruminococcus albus,
Bacteroides succinogenes và một số lượng ít hơn là Butyrivibrio fibrisolvens
(Baldwin và Allison, 1983)[2] Khoảng 75 % vi khuẩn trong dịch dạ cỏ bám
Trang 13vào các hạt thức ăn (Forsberg và Lam, 1977)[21] Cheng và CTV, (1981)[6]
ñã sử dụng kính hiển vi ñiện tử quan sát thấy có sự hình thành các ñám vi khuẩn lớn bám trên các hạt thức ăn ở dạ cỏ Ở cùng mức chất khô ăn vào và
rơm xử lý amoniac lớn hơn những gia súc ăn rơm không xử lý (Silva và
Orskov, 1984)[55]
Các nấm yếm khí chỉ mới ñược phân lập từ dịch dạ cỏ trong khoảng vài chục năm gần ñây, mặc dù khả năng xâm nhập vào tế bào thực vật của chúng không bằng vi khuẩn, nhưng các sợi nấm bám sâu vào mô bào thực vật, phá
huỷ các mô bào tạo ñiều kiện cho bacteria phân huỷ thành tế bào Do ñó nấm
cũng có vai trò quan trọng trong việc tiêu hoá xơ (Bauchop, 1981)[4]
ăn nhiều xơ và có thể chiếm trên 40 % tổng lượng sinh khối vi sinh vật trong dịch dạ cỏ Trái lại ở khẩu phần có nhiều tinh bột và ñường thì mật ñộ protozoa chỉ ñạt 4.000.000/ml dịch dạ cỏ Tuy nhiên, số lượng protozoa nhiều hơn yêu cầu cho hoạt ñộng bình thường của dạ cỏ vẫn còn là ñiều bí ẩn (Van Soest, 1982)[66] Người ta ñã xác ñịnh rằng nhiều loại protozoa có hoạt tính phân giải xenluloza và chiếm một tỷ lệ nhất ñịnh trong tiêu hoá xơ ở dạ cỏ (Coleman, 1988)[7], Demeyer, (1988)[12] Phần chất hữu cơ của xác chết protozoa ñược tiêu hoá ngay trong dạ cỏ, tuy nhiên, phần protein của thảo trùng ñi xuống dạ múi khế rất nhỏ so với tổng protein vi sinh vật (Weller và Pilgrim, 1974)[69], Leng (1982b)[31] ðiều rõ ràng là protozoa ăn vi khuẩn theo kiểu thực bào làm giảm sinh khối của vi khuẩn và có thể cả nấm trong dạ
cỏ (Coleman, 1964)[8] Do ñó ở những gia súc ăn khẩu phần có hàm lượng xơ cao có thể làm giảm tỷ lệ tiêu hoá những khẩu phần như ñã ñược Romulo (1986)[53] quan sát thấy trên cừu ăn rơm lúa mì không xử lý và rơm lúa mì
xử lý Hơn nữa việc protozoa ăn bacteria làm giảm lượng protein vi sinh vật
Trang 14chảy xuống ruột do ñó loại bỏ protozoa có thể làm tăng khả năng sản xuất của gia súc nhai lại khi cho ăn rơm (Bird và Leng, 1985)[5] Tóm lại vai trò của protozoa ñối với tiêu hoá chất xơ vẫn còn có những ý kiến chưa thống nhất,
nó vừa có mặt tích cực là xúc tiến tiêu hoá chất xơ, vừa có mặt tiêu cực là ngăn cản và hạn chế sự phát triển của hệ vi sinh vật dạ cỏ
Hệ sinh vật dạ cỏ rất phức tạp và phụ thuộc nhiều vào khẩu phần Nó gồm các loại chính: nhóm vi khuẩn, protozoa, nấm Tất cả ñều là VSV yếm
dinh dưỡng Một nghiên cứu gần ñây tiến hành phân lập nhóm VSV thủy phân xenluloza ở dê, bò, cừu Kết quả cho thấy có sự biến ñộng lớn giữa các loài khác nhau (Bảng 2.1)
Bảng 2.1 Nhóm VSV phân lập từ dạ cỏ của ba loài
Trang 15Dạ cỏ có hệ vi sinh vật phát triển rất nhanh với số lượng 109- 1010 tế bào trong 1ml dịch dạ cỏ Khối lượng vi sinh vật dạ cỏ tới 3-7 kg và chiếm 5-
10 % chất chứa dạ cỏ Bởi vì trong dạ cỏ có những ñiều kiện thích hợp cho sự sống của chúng như nhiệt ñộ và pH ổn ñịnh, môi trường yếm khí, thức ăn vào
dạ cỏ cung cấp chất dinh dưỡng ñều ñặn Ôn ñộ trong dạ cỏ thường xuyên từ
chủng loại thức ăn mà trâu bò ăn vào chính là nguồn dinh dưỡng cho sự hoạt ñộng và phát triển của hệ sinh vật này
Hệ sinh thái VSV dạ cỏ rất phức tạp và phụ thuộc nhiều vào khẩu phần
ăn Khi khẩu phần ăn của gia súc giàu thức ăn tinh thì mật ñộ VSV cao và khi khẩu phần thức ăn giàu thức ăn xơ thì mật ñộ này giảm ñi Khi khẩu phần ăn giàu xơ số lượng vi khuẩn phân giải xenluloza và hemmixenluloza như
Bacteroides succinogenes, Clostidien, Ruminoccus sẽ tăng, khi khẩu phần
giàu thức ăn tinh thì số lượng VSV phân giải tinh bột như Selenomanas
ruminantium, streptococcus sẽ tăng
Nhờ có hệ VSV mà ñộng vật nhai lại có khả năng sử dụng nguồn thức
ăn vô cùng tiềm tàng ñó là nguồn thức ăn thô xanh giàu xơ, cũng nhờ có VSV
mà ñộng vật nhai lại sử dụng ñược nguồn NPN như urê, ammoniac ñể ñáp ứng nhu cầu protein cho bản thân chúng, ngoài ra trong dạ cỏ còn có sự tổng hợp vitamin nhóm B và K
Có một số lớn loài vi sinh vật khác nhau thuộc ba nhóm chính: nấm, vi khuẩn và ñộng vật nguyên sinh trong dạ cỏ loài nhai lại
• Nấm
Nấm dạ cỏ ñóng vai trò tiên phong trong việc công phá xơ Một vai trò quan trọng của nấm trong quá trình tiêu hóa xenluloza là nó tạo ra những vùng tổn thương trên bề mặt các mẩu thức ăn thực vật, tạo ra các "cửa mở" cho vi khuẩn (VK) dễ dàng chui vào bên trong ñể tiếp tục quá trình công phá
Trang 16(Klieve and Bauchop, 1988) Vì lẽ ñó nếu không có ñủ một quần thể nấm mạnh trong dạ cỏ, pha chậm của quá trình tiêu hóa xơ bị kéo dài do VK mất nhiều thời gian ñể thâm nhập vào trong cấu trúc thực vật của thức ăn Số lượng nấm trong dạ cỏ chưa ñược biết rõ, nhưng ñược biết chúng có tỷ lệ khá lớn (khoảng 10% khối lượng VSV dạ cỏ) khi khẩu phần nhiều xơ Phức hợp men tiêu hóa xơ của nấm dễ hòa tan hơn của men của VK Chính vì thế nấm
có khả năng tấn công các tiểu phần thức ăn cứng hơn và lên men chúng với tốc ñộ nhanh hơn so với VK Một số nghiên cứu ñã chứng minh rằng nhóm
nấm Mucor sp ñóng vai trò chính trong phân giải xeluloza với tốc ñộ nhanh
(Mosoni et al., 1997)
Trước ñây rất ít tài liệu ñề cập ñến nấm yếm khí và vai trò của nấm ở dạ cỏ ñộng vật nhai lại Người ta cho rằng nấm là VSV ñầu tiên xâm nhập và tiêu hoá thành phần cấu trúc thực vật bắt ñầu từ bên trong, làm giảm ñộ bền chặt của cấu trúc này Nấm mọc thường xuyên vào các tế bào thực vật, ñâm nang, mọc chồi làm vỡ tế bào Sự công phá của nấm cho phép vi khuẩn bám vào các cấu trúc tế bào và phân huỷ tiêu hoá xơ Như vậy, nấm có vai trò ñặc biệt quan trọng trong khởi ñầu của quá trình công phá lên men các nguyên liệu không hoà tan của vách tế bào thực vật Sự có mặt của nấm sẽ làm tăng nhanh quá trình tiêu hoá xơ
• Vi khuẩn (Bacteria)
Vi khuẩn (VK) là nhóm VSV có vai trò chính trong quá trình tiêu hóa các vật liệu thành vách tế bào thực vật Ðể có thể thực hiện ñược chức năng này, VK phải thâm nhập vào bên trong mẩu thức ăn, thông thường là ở các vị trí ñã phá sẵn bởi sự xâm thực của nấm VK tham gia lên men xenluloza nhờ enzym của nó tiết ra là xenlulaza (kết lại thành mảng enzym trong dạ cỏ) thành cenlobioza, glucoza và axit béo bay hơi (ABBH), axit lactic, formic và succinic Axit succinic nhanh chóng chuyển thành axit propionic Nhóm VSV
Trang 17phân giải xenluloza tăng với số lượng lớn trong dạ cỏ khi gia súc sử dụng khẩu phần giàu xenluloza
Vi khuẩn chiếm số lượng lớn nhất trong VSV dạ cỏ và là tác nhân chính trong tiêu hoá chất xơ Vi khuẩn bao gồm các dạng sau:
- Vi khuẩn sống tự do trong dịch dạ cỏ (khoảng 30 %)
- Vi khhuẩn bám vào các mẩu thức ăn (khoảng 70 %)
- Vi khuẩn trú ngụ ở các nếp gấp biểu mô
- Vi khuẩn bám vào các protozoa
Thức ăn liên tục chuyển khỏi dạ cỏ và phần lớn vi khuẩn bám vào thức
ăn sẽ bị tiêu hoá ñi Bởi vậy số lượng của chúng ở dạng tự do trong dịch dạ cỏ rất quan trọng ñể xác ñịnh tốc ñộ công phá và lên men thức ăn
Theo Kurilov và Krotkova (1979) thì số lượng và thành phần vi khuẩn
có ý nghĩa quan trọng trong quá trình tiêu hoá của ñộng vật nhai lại Số lượng
nhiều yếu tố ảnh hưởng ñến tỷ lệ và thành phần vi khuẩn, trong ñó khẩu phần
ăn là yếu tố quan trọng nhất Một số loài vi khuẩn háo khí vào dạ cỏ cùng với thức ăn sẽ bị giảm ñi một cách nhanh chóng trong lúc các loài vi khuẩn háo khí phát triển mạnh Mỗi loại vi khuẩn tác ñộng lên các giai ñoạn khác nhau của quá trình lên men trong dạ cỏ và cho ra những sản phẩm khác nhau
Sự phân loại vi khuẩn dạ cỏ có thể ñược tiến hành dựa vào cơ chất mà
vi khuẩn sử dụng hay sản phẩm lên men cuối cùng bởi vi khuẩn Sau ñây là một số nhóm vi khuẩn dạ cỏ chính:
* Vi khuẩn phân giải xenluloza (Xenlulytic bacteria )
Nhóm vi khuẩn phân giải xenluloza có số lượng rất lớn trong dạ cỏ của những gia súc sử dụng khẩu phần giàu xenluloza Những loài vi khuẩn phân
giải xenluloza quan trọng nhất là Bacteroides succinogens, Butyrivibrio
Trang 18fibrisolvens, Ruminococuss flavefaciens, Ruminococcus albus, Cillobacterium
cellulosolvens.
* Nhóm vi khuẩn phân giải hemixenluloza
Hemixenluloza khác xenluloza là nó có chứa cả ñường pentoza va hexoza và cũng thường chứa axit uronic Những vi khuẩn có khả năng thuỷ phân xenluloza thì cũng có khả năng sử dụng ñược hemixenluloza Tuy nhiên, không phải tất cả các loại sử dụng ñược hemixenluloza ñều có khả năng thuỷ
phân xenluloza Một số sử dụng hemixenluloza là Butyrivibrio gibrisolvens,
Lachnospira multiparus và Bacteroides ruminicola
* Nhóm vi khuẩn phân giải tinh bột
Trong dinh dưỡng gluxit của loài nhai lại, tinh bột ñứng vị trí thứ hai sau xenluloza Khối lượng chủ yếu của tinh bột theo thức ăn vào dạ cỏ, ñược phân giải nhờ sự hoạt ñộng của vi sinh vật Tinh bột ñược phân giải bởi nhiều loại vi khuẩn dạ cỏ, trong ñó c0ó những vi khuẩn phân giải xenluloza Những
loại vi khuẩn phân giải tinh bột quan trọng nhất là Bacteroides amylophilus,
Succinimonas amylolytica, Butyrivibrio fibrisolvens, Bacteroides ruminicola, Bacteroides alacatcidigen, Selenomonas ruminantium và Steptococcus bovis.
* Nhóm vi khuẩn phân giải ñường
Hầu hết các vi khuẩn sử dụng ñược ñường polixacarit thì cũng sẽ sử dụng ñược ñường dixacarat và monoxacarit Xenlobioza cũng có thể là nguồn năng lượng cung cấp cho nhóm vi khuẩn này vì chúng có men β-glucosidaza
có thể thuỷ phân xenlobioza
Các vi khuẩn thuộc loài Lachnospira-multiparus, Selenomonaz
ruminantium …. ðều có khả năng sử dụng tốt gluxit hoà tan
* Nhóm vi khuẩn có khả năng sử dụng các axit hữu cơ
Hầu hết các vi khuẩn ñều có khả năng sử dụng axit lactic mặc dù lượng axit này trong dạ cỏ thường không ñáng kể trừ trong những trường hợp
Trang 19ñặc biệt Một số loài có thể sử dụng axit succinic, malic, fumaric, fomic hay
axetic Những loài sử dụng latate là Veillonella gazogenes, Veillonella
alacalescens, Peptostreptococcus elsdeni, Propioni bacterium và Selenomonas lactilytica….
* Nhóm vi khhuẩn phân giải protein
Sự phân giải protein và axit amin ñể sản sinh ra ammoniac trong dạ cỏ
có ý nghĩa quan trọng ñặc biệt cả về phương diện tiết kiệm nitơ cũng như nguy cơ dư thừa ammoniac Amoniac cần cho các loài vi khuẩn dạ cỏ ñể tổng hợp nên sinh khối protein của bản thân chúng, ñồng thời một số vi khuẩn ñòi hỏi hay ñược kích thích bởi axit amin, peptit và isoaxit có nguồn gốc từ valine, leucine, isoleucine Như vậy cần phải có một lượng protein ñược phân giải trong dạ cỏ ñể ñáp ứng nhu cầu này của vi sinh vật dạ cỏ Trong số những
loài sinh ammoniac thì Peptostreptococus và Clostridium có khả năng lớn
nhất Trong dạ cỏ, nhờ hoạt ñộng của vi sinh vật, urê và các muối amon khác ñược biến ñổi thành protein vi sinh vật
Nhiều tác giả cho rằng dinh dưỡng nitơ là một trong những nhân tố quyết ñịnh sự sản sinh của vi khuẩn phân giải xenluloza Khi bổ sung urê vào khẩu phần thức ăn chủ yếu là rơm ñối với bò, số lượng vi khuẩn tăng 75 %, còn cho bột cá thì tăng tới 324 % (Kurilov và Krokova, 1979)
* ðộng vật nguyên sinh (Protozoa)
Một vài loại protozoa có khả năng phân giải xenluloza Phần lớn thảo
phúc trùng (Ciliate Protozoa) bám chặt vào các vật liệu thực vật trong thức ăn
và chúng có thể ñóng góp ñến 30-40% tổng quá trình tiêu hóa xơ bằng VSV Protozoa có thể tiêu hoá VK làm giảm số lượng VK bám vào thức ăn và kéo dài thời gian lưu lại của thức ăn nhiều xơ trong dạ cỏ góp phần tăng tỷ lệ tiêu hoá xơ Trong ñiều kiện bình thường giữa VK và protozoa có sự cộng sinh có
Trang 20lợi, ñặc biệt là trong tiêu hóa xơ Tiêu hóa xơ mạnh nhất khi có mặt cả VK và protozoa
Theo Kurilov và Krotkova (1979) thì protozoa ở dạ dày trước xuất hiện khi gia súc bắt ñầu ăn thực vật thô Sau khi ñẻ và trong thời gian bú sữa,
dạ dày trước không có protozoa ðiều này có liên quan ñến phản ứng của chất chứa dạ cỏ Chỉ khi gia súc ăn chất xơ thực vật xanh, tinh bột và protein thực vật thì dạ cỏ mới hình thành môi trường thuận lợi cho sự phát triển của protozoa Người ta xác ñịnh gần 120 loài protozoa trong dạ cỏ của loài nhai lại Nhưng ở mỗi loài gia súc số loài protozoa không giống nhau Trong dạ cỏ
bò có gần 60 loài, dạ cỏ cừu gần 30 loài
Protozoa trong dạ cỏ ñược phân chia thành hai nhóm Một nhóm trong
ñó thuộc bộ Holotricha, nhóm kia thuộc bộ Oligotricha Phần lớn ñộng vật nguyên sinh thuộc nhóm Holotricha có ñặc ñiểm là ở ñường xoắn gần miệng
có tiêm mao lớn hơn so với tất cả chỗ còn lại của cơ thể có rất ít tiêm mao
Số lượng protozoa trong dạ cỏ nhỏ hơn số lượng vi khuẩn hàng triệu lần, khoảng 1triệu trong 1ml dạ cỏ Tuy nhiên tổng số protozoa xác ñịnh ñược
Tăng số lượng protozoa ñã ñược phát hiện thấy khi tăng số lượng thức
ăn hoặc khẩu phần thức ăn tốt và cỏ khô nguyên dạng có chỉ số chuyển ñổi thấp trong ñường tiêu hoá sẽ làm tăng số lượng protozoa
Theo Nguyễn Trọng Tiến và Mai Thị Thơm (1996), protozoa sử dụng
vi khuẩn, protein và tinh bột của thức ăn làm nguồn dinh dưỡng của chúng Một vài loài protozoa có khả năng phân giải xenluloza, nhưng các chất dinh dưỡng của chúng là ñuờng và tinh bột Các chất này sẽ ñược protozoa nuốt và
dự trữ dưới dạng poli-dextrain, dạng dự trữ này sẽ ñược huy ñộng theo nhu
cầu tăng sinh và duy trì protozoa Protozoa có ích trong trao ñổi lipit ở loài nhai lại vì chúng có khả năng bảo tồn các mạch nối ñôi của axit lioleic và
Trang 21linoleic Các axit này ựươc protozoa hấp thu, ựưa xuống dạ khế và là nguồn cung cấp các axit béo không no mạch dài cần thiết cho vật chủ
Song song với những mặt có lợi là những bất lợi không nhỏ của
vi khuẩn Nguồn nitơ ựáp ứng nhu cầu của chúng là các mảnh protein thức ăn
và vi khuẩn Mật ựộ protozoa cao trong dạ cỏ thì một số lượng lớn vi khuẩn bị protozoa ăn và tiêu hoá
* Tác ựộng tương hỗ của vi sinh vật trong dạ cỏ
- Tác ựộng tương hỗ của vi khuẩn-vi khuẩn
Cả ở thức ăn và ở biểu mô dạ cỏ, vi khuẩn ựều kết hợp với vi sinh vật khác với chức năng như Ộkết giaoỢ, loài này phát triển trên sản phẩm trao ựổi chất cuối cùng của loài khác.Thực vậy quá trình lên men liên tục bao gồm nhiều loại tham gia ựể chuyển xenluloza thành ABBH
Tuy nhiên, giữa các nhóm vi khuẩn khác nhau cũng có sự cạnh tranh ựiều kiện sinh tồn của nhau Khi gia súc ăn khẩu phần ăn giàu tinh bột, nghèo protein, số lượng vi khuẩn phân giải xenluloza sẽ giảm, tỷ lệ tiêu hoá xenluloza khẩu phần giảm thấp Sự có mặt của một lượng ựáng kể tinh bột trong khẩu phần ăn của ựộng vật nhai lại sẽ có tác dụng làm giảm tỷ lệ tiêu hoá chất xơ của khẩu phần Thu nhận thức ăn trong trường hợp này cũng sẽ giảm Nhưng một lượng vừa ựủ tinh bột hay gluxit dễ tiêu hoá trong khẩu phần sẽ có tác dụng làm tăng tỷ lệ tiêu hoá xơ
Mặt khác tương tác tiêu cực giữa vi khuẩn phân giải bột ựường và vi khuẩn phân giải xơ liên quan ựến pH trong dạ cỏ đó là do trong quá trình phân giải chất xơ của khẩu phần diễn ra trong dạ cỏ có hiệu quả cao nhất khi
pH dịch dạ cỏ > 6,2, ngược lại quá trình phân giải tinh bột trong dạ cỏ khi pH< 6,0 Tỷ lệ thức ăn tinh quá cao trong khẩu phần sẽ làm cho ABBH sản sinh ra nhanh, làm giảm pH dịch dạ cỏ và do ựó mà ức chế hoạt ựộng của vi
Trang 22khuẩn phân giải xơ Vì thế mà khi trong khẩu phần có quá nhiều bột ñường khả năng tiêu hoá và thu nhận thức ăn xơ sẽ bị giảm sút
* Tác ñộng tương hỗ giữa protozoa và vi khuẩn
Tác ñộng qua lại cũng có thể thấy rõ giữa protozoa và vi khuẩn Protozoa ăn và tiêu hoá vi khuẩn, do ñó làm giảm tốc ñộ và hiệu quả của chuyển hoá protein trong dạ cỏ Với những loại thức ăn dễ tiêu hoá thì ñiều này không có ý nghĩa lớn nhưng ñối với thức ăn nghèo nitơ thì protozoa sẽ làm giảm hiệu quả thức ăn nói chung Loại bỏ protozoa khỏi dạ cỏ làm tăng khối lượng vi khuẩn trong dạ cỏ Tuy nhiên, trong ñiều kiện bình thườmg giữa vi khuẩn và protozoa có sự cộng sinh có lợi ñặc biệt trong tiêu hoá xơ Tiêu hoá xơ mạnh nhất khi có mặt của cả vi khuẩn và protozoa Một số vi khuẩn ñược protozoa nuốt vào có tác dụng lên men trong ñó tốt hơn vì mỗi protozoa tạo ra một kiểu “dạ cỏ mini” với các ñiều kiện ổn ñịnh cho vi khuẩn hoạt ñộng Một số loài ciliate còn hấp thu oxi từ dịch dạ cỏ giúp ñảm bảo cho ñiều kiện yếm khí trong dạ cỏ ñược tốt hơn protozoa nuốt và tích trữ tinh bột hạn chế axitlactic, hạn chế giảm pH ñột ngột nên có lợi cho vi khuẩn phân giải xơ Như vậy, cấu trúc khẩu phần ăn của ñộng vật nhai lại có ảnh hưởng rất lớn ñến sự tương tác của hệ vi khuẩn sinh vật, mặt cộng sinh có lợi có xu thế biểu hiện rõ Những khẩu phần nghèo dinh dưỡng sẽ gây ra sự cạnh tranh gay gắt giữa các nhóm vi khuẩn sinh vật, ức chế lẫn nhau, tạo khuynh hướng bất lợi cho quá trình lên men thức ăn nói chung
2.1.2 Quá trình lên men trong dạ cỏ
Quá trình lên men tiêu hoá thức ăn trong dạ cỏ là một phức hợp và liên quan ñến tác ñộng qua lại của các quá trình lý học, sinh học và hoá học, chúng phụ thuộc vào vật chủ, loại thức ăn và khu hệ vi sinh vật dạ cỏ
Tất cả các loại xeluloza có thể ñược phân giải nhờ enzym VSV, ñặc biệt là quá trình cắt mạch β-glucosit Quá trình tiêu hóa này thường kéo dài và
Trang 23không ựầy ựủ Tuy nhiên trong thời gian trong vòng 48 giờ các VSV trong dạ
cỏ của ựộng vật nhai lại có thể thủy phân 60-65 % xenluloza
Quá trình lên men xenluloza trong dạ cỏ bao gồm hai giai ựoạn:
- Giai ựoạn 1: xenluloza ựược phân giải ựến ựường ựơn giản, giai ựoạn này xảy ra bên ngoài màng tế bào VSV đầu tiên xenluloza chuyển thành ựường ựơn giản hexoza và pentoza Quá trình này xảy ra do enzym của VSV tiết ra và các phản ứng giống như ở gia súc dạ dày ựơn Enzym ựược tiết ra bởi VSV tiêu hóa xơ sẽ tấn công phá vỡ cấu trúc phức tạp của xenluloza Xenluloza bị cắt bỏ một hoặc nhiều liên kết β-1,3-glucosit thành xenlobioza hoặc là glucoza hoặc là glucoza-1-photphat do enzym phosphorylaza Các ựường ựơn giản tạo thành ở giai ựoạn ựầu này lập tức bị VSV sử dụng ngay
- Giai ựoạn 2: là giai ựoạn sử dụng những ựường ựơn giản này cho quá trình trao ựổi chất xảy ra bên trong tế bào VSV, ựể tạo thành các sản phẩm lên men cuối cùng Quá trình bắt ựầu từ sự phân giải pyruvat Quá trình này sinh
ra năng lượng dưới dạng ATP và các axit béo bay hơi (ABBH) đối với gia
ựược hấp thu, nhưng ựối với gia súc nhai lại thì ựường ựơn ựược VSV dạ cỏ lên men ựể tạo ra các ABBH đó là các axit axetic, propionic và butyric:
Tỷ lệ giữa các axit này tùy thuộc rất lớn vào cấu trúc của khẩu phần ăn Những axit này ựược hấp thu qua vách các dạ dày trước vào máu Đó chắnh là nguồn năng lượng cho ựộng vật nhai lại, nó cung cấp khoảng 70-80 % tổng số năng lượng ựược hấp thu ở gia súc nhai lại Quá trình lên men ở dạ cỏ còn
Trang 24có tác dụng lên men trong ựó tốt hơn vì mỗi protozoa tạo ra một kiểu Ộdạ cỏ miniỢ với các ựiều kiện ổn ựịnh cho vi khuẩn hoạt ựộng Một số loài ciliate còn hấp thu ôxy từ dịch dạ cỏ giúp ựảm bảo cho ựiều kiện yếm khắ trong dạ
cỏ ựược tốt hơn Protozoa nuốt và tắch trữ tinh bột, hạn chế tốc ựộ sinh axit lactic, hạn chế giảm pH ựột ngột, nên có lợi cho vi khuẩn phân giải xenluloza Tuy nhiên giữa các nhóm vi khuẩn khác nhau cũng có sự cạnh tranh ựiều kiện sinh tồn của nhau Chẳng hạn, khi gia súc ăn khẩu phần ăn giàu tinh bột nhưng nghèo protein thì số lượng vi khuẩn phân giải xenluloza sẽ giảm và do
ựó mà tỷ lệ tiêu hoá xơ thấp đó là vì kắch thắch vi khuẩn phân giải bột ựường phát triển nhanh nên sử dụng cạn kiệt những yếu tố dinh dưỡng quan trọng
Trang 25(như các loại khoáng, amoniac, axit amin, isoaxit) là những yếu tố cũng cần thiết cho vi khuẩn phân giải xenluloza vốn phát triển chậm hơn
Mặt khác, tương tác tiêu cực giữa vi khuẩn phân giải bột ñường và vi khuẩn phân giải xenluloza còn liên quan ñến pH trong dạ cỏ Chenost và Kayouli (1997) giải thích rằng quá trình phân giải chất xenluloza của khẩu phần diễn ra trong dạ cỏ có hiệu quả cao nhất khi pH dịch dạ cỏ > 6,2 Tỷ lệ thức ăn tinh quá cao trong khẩu phần sẽ làm cho ABBH sản sinh ra nhanh, làm giảm pH dịch dạ cỏ và do ñó mà ức chế hoạt ñộng của vi khuẩn phân giải xenluloza Tác ñộng tiêu cực cũng có thể thấy rõ giữa protozoa và vi khuẩn Như ñã trình bày ở trên, protozoa ăn và tiêu hoá vi khuẩn, do ñó trong mức ñộ không cân bằng trong quần thể VSV sẽ dẫn ñến làm giảm tốc ñộ và hiệu quả tiêu hóa xenluloza ở dạ cỏ
Sản phẩm cuối cùng của quá trình lên men rơm giống các loại thức ăn
ra trong quá trình lên men bị thuỷ phân cung cấp năng lượng cho quá trình tổng hợp tế bào vi sinh vật từ các chất trao ñổi trung gian và từ các cơ chất có
vitamin ) Chất dinh dưỡng cung cấp cho những gia súc ăn khẩu phần có rơm là các axit béo bay hơi và các thành phần có thể tiêu hoá ñược của các tế bào vi sinh vật (thường là các axit amin)
ðặc ñiểm của tiêu hoá yếm khí trong dạ cỏ tuân theo những qui luật nghiêm ngặt của các phản ứng hoá học, sự thay ñổi về số lượng của bất cứ sản phẩm nào cũng sẽ làm thay ñổi cân bằng của các sản phẩm khác Tăng tổng hợp tế bào vi sinh vật lên do những chất hữu cơ nào ñó sẽ làm giảm các sản
Trang 26trong khi khí CO2 bị mất ñi trong qua trình hấp thụ ñi xuống ñường tiêu hoá phía dưới và ợ hơi
[14], (Perdok và CTV, 1982)[49], (Wanapat và CTV, 1986)[68] Người ta cho
rằng men ureaza tồn tại trong rơm hoặc có ở các vi sinh vật trên rơm ñã tham
Williams và CTV, (1984a)[70] Xử lý rơm bằng dung dịch chứa 54gam urê/kg
vật chất khô của rơm có tác dụng tương tự như như khi xử lý rơm bằng
thuỷ phân trong quá trình ủ, nhưng trong thực tế phản ứng thuỷ phân của urê trên rơm không ñược hoàn toàn như vậy (Dias-da-Silva và Sundstol 1986)[13]
Theo Van Soest (1994)[67] urê thuỷ phân thành ammon carbonate
cầu nối ester của lignin-hemixenluloza của rơm xảy ra khi pH = 9, trái ngược
này giải thích vì sao người ta thấy nguyên liệu xử lý bằng urê có khả năng
Theo Sudstol và Coxworth (1984)[60], Sundstol (1988a)[59] urê có thể
vi sinh vật hoặc thực vật và dùng ñể xử lý rơm chủ yếu theo 2 cách :
Trang 27- Trên quy mô công nghiệp: Rơm nên ñược NH3 hoá bằng urê kết hợp với nghiền và ñóng thành bánh
- Trên quy mô nông hộ: Rơm nên ñược trộn với một lượng tương ñương 4-5 % urê và ñể trong các túi yếm khí Thời gian ủ tuỳ thuộc vào nhiệt
Xử lý rơm bằng urê là phương pháp an toàn hơn phương pháp dùng
cây trồng Mặt khác urê là chất rắn nên vận chuyển và sử dụng Tuy vậy
có men ureaza, men này chỉ hoạt ñộng trong ñiều kiện có ñộ ẩm nhất ñịnh (Sundstol và Coxworth, 1984)[60] Theo Sundsol (1988a)[59] nhiệt ñộ, ñộ ẩm cao là ñiều kiện thuận lợi cho men này hoạt ñộng Bên cạnh ñó quá trình
này rất ñắt bởi thường chỉ có 1/3 lượng nitơ thêm vào cố ñịnh lại trong rơm sau xử lý (Saadullah,1981a)[61]
2.1.3 Thức ăn bổ sung cho gia súc nhai lại ăn khẩu phần cơ sở là rơm
Với những hiểu biết về sinh lý tiêu hoá, chúng ta ngày càng biết rõ rằng lượng rơm ăn vào thấp và việc sử dụng không hiệu quả các chất dinh dưỡng của rơm ở gia súc nhai lại là do mất cân ñối về các chất dinh dưỡng trong khẩu phần (Presto và Leng, 1986 )[51] Việc chọn các loại thức ăn bổ sung cho gia súc nhai lại ăn khẩu phần cơ sở là rơm phụ thuộc vào các hiểu biết về ảnh hưởng của các loại thức ăn bổ sung khác nhau ñến sự biến ñổi trật tự các chất dinh dưỡng ñược hấp thu Các thức ăn bổ sung ñã ảnh hưởng ñến tỷ lệ của các sản phẩm cuối cùng trong quá trình lên men cũng như ảnh hưởng ñến
Trang 28tỷ lệ các chất dinh dưỡng “ thoát qua” và cuối cùng là ảnh hưởng ñến cân bằng các sản phẩm lên men ñược hấp thu (Nolan và CTV, 1986)[42]
Việc bổ sung thức ăn cho khẩu phần cơ sở là rơm ñã chế biến là nhằm mục ñích tăng tối ña lượng thức ăn ăn vào, tăng tối ña tốc ñộ và quy mô phân giải hyñrat-cacbon của vách tế bào thực vật ở dạ cỏ và làm tăng hấp thu các chất dinh dưỡng ở gia súc nhằm ñáp ứng ñủ cho các nhu cầu sinh trưởng, sản xuất, nuôi thai
*** B ổ sung protein “ thoát qua” (escape protein)
Quá trình tổng hợp protein vi sinh vật trong dạ cỏ có thể tăng lên bằng cách cung cấp cho dạ cỏ một số lượng và tỷ lệ các chất dinh dưỡng thích hợp Tuy nhiên, ở gia súc nhai lại năng suất cao, ñặc biệt bò sữa năng suất sữa cao thì nhu cầu các axit amin của vật chủ luôn luôn cao hơn số lượng axit amin ñược phân giải từ protein vi sinh vật trôi xuống ruột non Sự thiếu hụt này có
thể ñược bù ñắp bằng việc bổ sung protein “ thoát qua” không bị phân giải ở
dạ cỏ (ARC,1980)[1], Orskov (1980)[43] Protein“ thoát qua” không bị phân
huỷ ở dạ cỏ và ñược tiêu hoá ở ruột non sẽ có lợi cho vật chủ Nói một cách
chính xác, những protein này nên ñược coi như là “protein thoát qua có thể
tiêu hoá ñược” (Leng và CTV, 1977)[34]
Bò non luôn luôn cần cả hai loại protein: protein tiêu hoá ở dạ cỏ và
protein “ thoát qua”, trong khi ñó bò khối lượng trên 200 kg với nhu cầu tăng
trọng thấp hơn 0,75 kg/ngày không có nhu cầu về protein thoát qua khi chúng
ăn khẩu phần có hàm lượng năng lượng thấp (ARC, 1980)[1] Khi gia súc có khối lượng lớn hơn thì lượng thức ăn ăn vào và axit amin do vi sinh vật sản xuất trên ñơn vị khối lượng sống của chúng cũng sẽ tăng cao hơn Orskov (1980)[43] ñã tính toán rằng khẩu phần cho bò ñực thiến nặng 400 kg tăng trọng 2 kg/ngày không cần ñến protein thoát qua trong khẩu phần, lượng protein có thể sử dụng ñược từ các vi sinh vật dạ cỏ vẫn còn cao hơn nhu cầu
Trang 29Tuy nhiên, tính toán của Orskov (1980)[43] và ARC (1980)[1] ñã giả thiết rằng các axit amin từ vi sinh vật dạ cỏ chỉ ñược sử dụng bởi vật chủ ñể tổng hợp protein Giả thiết này có thể không hoàn chỉnh khi rơm là thành phần chính trong khẩu phần Với các khẩu phần cơ sở là rơm, một phần các axit amin có thể ñược sử dụng như là các tiền chất ñể tạo glucoza
Những nghiên cứu của Smith và CTV, (1980)[57] cho thấy có sai khác
rõ rệt về tốc ñộ sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn ở bò ñang lớn (282 kg) ăn rơm có bổ sung bột cá thay cho urê Hai khẩu phần ăn do Smith và
nitơ và năng lượng trao ñổi, nhưng khi bổ sung nguồn protein ổn ñịnh (bột cá) thì hiệu quả sử dụng thức ăn tăng gấp 3 lần so với hiệu quả này ở bò ñược bổ sung nguồn nitơ (urê) phân giải ở dạ cỏ ðiều này khẳng ñịnh rằng hiệu quả
sử dụng các chất dinh dưỡng phụ thuộc rất lớn vào thành phần của thức ăn hàng ngày
Khẩu phần bổ sung bột cá có mức năng lượng và nitơ giống như khẩu phần ñược bổ sung urê nhưng hiệu quả khác nhau như ñã nêu ở trên, ñiều ñó
ñã gợi ý rằng: bột cá ñã cung cấp các chất dinh dưỡng ñang thiếu cho quá trình lên men dạ cỏ, do ñó kích thích phát triển của hệ vi sinh vật dạ cỏ, ñiều
ñó cũng gợi ý rằng bổ sung bột cá làm cho hiệu quả sử dụng thức ăn cho quá trình sinh trưởng của gia súc Một ñiều ñáng quan tâm trong nghiên cứu của
Smith và CTV, (1980)[57] là bổ sung bột cá ñã làm tăng ñáng kể nồng ñộ các
axit béo ñồng phân (p < 0,05) trong dịch dạ cỏ và ñiều ñó có nghĩa là bổ sung bột cá ñã kích thích lên men và tốc ñộ lưu chuyển của vi sinh vật dạ cỏ Ảnh
hưởng của bổ sung protein “ thoát qua” ñã có tác dụng khác nhau rõ rệt giữa
khẩu phần này có hàm lượng nitơ giống nhau Nelson và CTV, (1985a)[38] ñã
bổ sung một hỗn hợp có protein“ thoát qua” cho 2 nhóm bò ăn khẩu phần lõi
Trang 30ngô xử lý NH3 và lõi ngô bổ sung urê ñã nhận thấy việc bổ sung này ít ảnh hưởng ñối với bò ăn khẩu phần lõi ngô không chế biến có bổ sung urê, nhưng lại làm tăng lượng nitơ của vi khuẩn ra khỏi dạ cỏ ở bò ăn khẩu phần lõi ngô
dụng ñược ở khẩu phần này cao hơn và vì thế tốc ñộ chuyển dịch ra khỏi dạ
cỏ của vi sinh vật cao hơn
ðối với những khẩu phần cơ sở là thức ăn thô chất lượng thấp, lượng
thức ăn ăn vào ở bò và cừu ăn những khẩu phần này có bổ sung protein “
thoát qua” cao hơn so với bò và cừu ăn khẩu phần như trên có bổ sung urê (
Lindsay và Loxton, 1981)[35], Elliott và CTV, (1984)[17], Holzer và CTV, (1986)[23], Perdok và Leng (1986)[48], Lee và CTV, (1987)[29]
Việc bổ sung protein ” thoát qua” và urê vào khẩu phần ñã bổ sung urê
cho bò và cừu hoặc có ảnh hưởng tích cực hoặc không ảnh hưởng gì ñến lượng thức ăn ăn vào ở khẩu phần cơ sở là thức ăn thô (Egan, 1965a)[15],
Leng và CTV, (1977)[34], Lindsay và Loxton(1981)[35], Lindsay và CTV, (1982a)[36] Kellaaway và Leibholz (1983)[26], Mullins và CTV, (1984)[39]
Bò ăn khẩu phần bổ sung protein” thoát qua” thường tăng trọng nhanh
hơn bò ăn khẩu phần bổ sung nitơ phi protein (NPN) trong cùng một thí
nghiệm( Smith và CTV, (1980)[57], Lindsay và Loxton (1981)[32], Holzer và
CTV, (1986)[23], Perdok và (1986)[48], Lee và CTV, (1987)[29] Hơn nữa bò
ăn khẩu phần ñã bổ sung urê và có bổ sung protein ” thoát qua” cũng tăng trọng nhanh hơn bò ăn khẩu phần chỉ bổ sung urê (Lindsay và Loxton, 1981)
[32], Lindsay và CTV,(1982a)[36], Kellaway và Leibholz (1983)[26], Mullins
và CTV, (1984)[39], Perdok và Leng (1986)[48]
Kết quả theo tác giả (Lindsay và CTV , 1982a)[36] là một ví dụ về việc
tăng ñáng kể lượng thức ăn ăn vào do bổ sung urê hoặc bổ sung kết hợp urê
Trang 31và protein ” thoát qua” Tốc ñộ tăng trọng cao hơn (và thường lượng thức ăn
ăn vào cao hơn) ở bò ăn khẩu phần ñược bổ sung protein ” thoát qua” so với
khẩu phần bổ sung urê có thể do ảnh hưởng của protein ” thoát qua” theo các
con ñường khác nhau Chúng có thể bao gồm:
- Cung cấp các axit amin thay thế hoặc không thay thế hấp thu ở ruột non, các axit amin này có thể ñược sử dụng như là nguồn axit amin hoặc dùng
ñược tái sử dụng như nguồn urê ñược cung cấp từ máu và nước bọt cho dạ cỏ;
ATP vào môi trường dạ cỏ việc này có thể ñã thúc ñẩy quá trình lên men vi sinh vật, tăng lưu chuyển protein vi sinh vật và có thể cả các axit béo bay hơi xuống ruột non;
- Một phần hyñrat-cacbon của thức ăn protein có thể ñã ñóng góp vào việc sản xuất các ABBH và ATP trong dạ cỏ hoặc cung cấp α-glucoza cho hấp thu
ở ruột non
- Urê chỉ cung cấp amoniac cho vi sinh vật dạ cỏ, chúng có thể chỉ làm tăng lưu chuyển protein vi sinh vật và có thể cả các axit béo bay hơi tới ruột non mà thôi
2.1.4 Thay ñổi phân giải protein ở dạ cỏ
Nitơ phi protein như urê thường rẻ hơn nitơ protein bởi vậy chúng thường ñược bổ sung ñể ñáp ứng nhu cầu nitơ cho vi sinh vật dạ cỏ phát triển
Lợi ích về dinh dưỡng và kinh tế khi làm thay ñổi tiêu hoá protein thức
ăn từ dạ cỏ xuống ruột non là ở chỗ, tiêu hoá protein ở ruột non sẽ tránh ñược việc mất mát các axit amin cần thiết cũng như mất năng lượng dưới dạng nhiệt và khí mêtan khi protein thức ăn bị lên men trong dạ cỏ (Preston và Leng, 1984)[50] Hiệu suất sinh trưởng của vi sinh vật từ protein trong chất
Trang 32hyñrat-cacbon (Demeyer và Van Nevel, 1979)[11] Hiệu suất sản xuất nitơ
này chủ yếu tính trên chất hữu cơ của hyñrat-cacbon Có thể ước tính rằng lên
nitơ vi sinh vật tính trên 1kg protein thật tiêu hoá ARC(1980)[1] áp dụng tỷ
lệ hấp thu ở ruột non của axit amin có nguồn gốc vi sinh vật và axit amin có nguồn gốc từ khẩu phần là 0,7 (70%) và hiệu quả sử dụng các axit amin ñã ñược hấp thu là 0,75 (75%) Như vậy nếu nhu cầu nitơ cho vi sinh vật dạ cỏ ñược ñáp ứng ñầy ñủ thì việc lên men hoàn toàn 1 kg protein của khẩu phần trong dạ cỏ sẽ tạo ra 3,6 % axit amin trong sữa, thịt và lông, trong khi ñó 1 kg
protein ” thoát qua” ñược tiêu hoá hấp thu trực tiếp ở ruột non rất cao vì sẽ tạo
ñược 52,5 % axit amin trong các sản phẩm thịt sữa Chính vì lý do này các phương pháp làm giảm khả năng tiêu hoá protein khẩu phần ở dạ cỏ nhưng không giảm tỷ lệ tiêu hoá chúng ở ruột non có tầm quan trọng rất lớn
Việc làm giảm sự lên men protein bổ sung ở dạ cỏ ñặc biệt quan trọng ñối với gia súc ăn khẩu phần cơ sở là rơm, bởi vì ñộ hoà tan protein trong môi trường pH từ 6,5-7,5 gấp ñôi so với môi trường có pH = 5,5 mà ñộ hoà tan
càng cao thì phân giải protein trong dạ cỏ càng tăng (Wohlt và CTV,
1973)[71]
ðộ pH dịch dạ cỏ của bò và cừu ăn khẩu phần cơ sở là rơm nằm trong khoảng 6,5-7,0 (Combe và Tribe, 1963)[9], Horton 1978)[24], Pritchar và
Males 1982)[52], Fahmy và CTV, (1984)[19] Ngược lại bò và cừu ăn khẩu
phần thức ăn hỗn hợp lại có nồng ñộ pH nằm trong khoảng 5,0-5,5(McDonal
và CTV, (1973)[37]
Tỷ lệ protein bị lên men trong dạ cỏ có thể giảm ñi do thời gian di chuyển của protein ra khỏi dạ cỏ ngắn hơn (Egan và Doyle, (1985)[16] Giảm thời gian thức ăn lưu lại trong dạ cỏ bằng cách tăng lượng muối ăn vào hoặc
Trang 33nghiền và ñóng viên thức ăn Lượng thức ăn ăn vào tăng thường ñi ñôi với việc giảm thời gian thức ăn lưu lại trong dạ cỏ (Thornton và Minson, (1973)[63] Do ñó kích thích làm tăng lượng ăn vào là một biện pháp làm giảm tiêu hoá protein trong dạ cỏ (Tamminga, 1979)[62] Lượng ăn vào có thể ñược kích thích bằng cách cho ăn liên tục, bỏ các thức ăn thừa ra khỏi máng ăn, cho ăn thoả mãn thức ăn, chọn thức ăn bổ sung ngon miệng, cho ăn các thức ăn cân bằng về dinh dưỡng hoặc xử lý rơm bằng phương pháp hoá học Tăng lượng thức ăn ăn vào thường làm tăng tốc ñộ lưu chuyển protein
vi sinh vật xuống ruột non do có nhiều cơ chất trong dạ cỏ Thêm nữa giảm thời gian thức ăn lưu lại trong dạ cỏ sẽ giảm phân giải tế bào vi khuẩn trong
dạ cỏ bởi protozoa và thực khuẩn thể (Leng, 1982a)[30], Leng và Nolan 1984)[33] Thức ăn có thể ñi qua dạ cỏ một cách tự nhiên nhờ hoạt ñộng ñóng
mở của rãnh thực quản khi gia súc non bú mẹ Phản ứng ñóng mở rãnh thực quản ñược duy trì trong suốt giai ñoạn gia súc non còn bú mẹ và làm cho thức
ăn bổ sung dạng lỏng ñi trực tiếp xuống dạ múi khế (Orskov và CTV, 1970a, 1970b)[44][45]
Những phương pháp khác làm tăng tỷ lệ protein ” thoát qua” là việc
lựa chọn các nguồn protein ñã ñược bảo vệ một cách tự nhiên hay xử lý protein bằng nhiệt, bằng các chất hoá học như fomanñêhyt, tannin cũng như dùng biện pháp ức chế quá trình phân giải protein của vi sinh vật dạ cỏ bằng các loại kháng sinh (Ferguson, 1975[20], Tamminga (1979)[62] Trong các phương pháp này, phương pháp xử lý protein bằng hoá chất với liều lượng
0,4-2,5 gam fomanñêhyt/100 gam protein thô ñã ñược ứng dụng rộng và ñạt hiệu quả cao nhất (Nishimuta và CTV, 1974)[41], (Ferguson, 1975)[20], Kowalczyk và CTV, 1979 [27], Tamminga (1979)[62], Mullins và CTV,
(1984 [39], Gupta và Gupta (1984 [22]
Trang 342.1.5 Bổ sung lipit
Rơm có từ 1-2 % lipit (McDonal và CTV, 1973)[37] trong khi ñó lá cây
cỏ chất lượng cao chứa trên 10 % lipit tính theo khối lượng chất khô (Thornton và Tume, 1984) [64] Sự tích lũy mỡ ở gia súc có tốc ñộ sinh trưởng cao cũng như quá trình tạo mỡ sữa ở gia súc cho sữa thường vượt quá lượng lipit tiêu hoá khi gia súc ăn những khẩu phần cơ sở là rơm Việc bổ sung lipit trong trường hợp trên về mặt lý thuyết rất hấp dẫn bởi vì các axit béo mạch dài ñược hấp thu trực tiếp và tích luỹ các axit béo mạch dài làm giảm ảnh hưởng cần thiết trong quá trình tổng hợp lipit từ axit axetic, một quá trình ít hiệu quả và làm tăng năng lượng khẩu phần Tuy nhiên, khi bổ sung trên 5 % lipit thì lượng thức ăn ăn vào và tiêu hoá xơ giảm do quá trình
phân giải xenluloza của vi sinh vật bị ức chế (Erwin và CTV, 1956) [18], Scott và Cook, (1975)[54], Kowalczyk và CTV, (1977) [28], Stewart (1977) [58], Orskov và CTV, (1978)[46], Banks và CTV, (1983)[3], Palmquist (1984b) [47], Moore và CTV, (1986b) [38]
Trong một nghiên cứu của Orskov và CTV, (1978)[46], mỡ ñã ñược bổ
sung bằng cách phun mỡ lỏng với 2 mức 0,65 và 130 gr/kg cỏ khô, ñã làm giảm lượng chất khô ăn vào (p < 0,001) từ 83 ở nhóm ñối chứng xuống còn
62 và 52 g/kg khối lượng trao ñổi tương ứng với 2 mức bổ sung mỡ nêu trên
Các lipit bị thuỷ phân trong dạ cỏ thành các axit béo mạch dài không
no sau ñó bị bacteria và protozoa trong dạ cỏ tổng hợp thành các axit béo mạch dài no ñể gia súc sử dụng (Baldwin và Allison, (1983)[2], vì vậy các sản phẩm của gia súc nhai lại, chủ yếu là lipit ñã bão hoà (Czerkawski và Clapperton, 1984)[10]
Các nguồn bổ sung protein
- Bổ sung nitơ phi protein (NPN)
Trang 35- Ngoài nguồn năng lượng cần thiết cho quá trình lên men vách tế bào thức
ăn thực vật, VSV dạ cỏ cần có ñủ N ñể tổng hợp protein của bản thân Tuy nhiên rơm rạ cũng như các thức ăn thô thông thường khác thường có chất lượng thấp chứa rất ít N và tỷ lệ tiêu hoá N cũng rất thấp ðiều ñó có nghĩa là
ñể cho loại thức ăn xơ chất lượng thấp ñược phân giải và lên men tốt thì trước hết phải cung cấp ñủ lượng N cần thiết cho VSV dạ cỏ Nhu cầu N của VSV
dạ cỏ phụ thuộc vào năng lượng có thể lên men trong dạ cỏ Do vậy bổ sung NPN phải kèm theo nguồn năng lượng dễ lên men
Thông thường thì gia súc nhai lại phải phụ thuộc chủ yếu vào protein của VSV dạ cỏ ñể thoả mãn nhu cầu protein Tuy nhiên ngay cả trong ñiều kiện thuận lợi nhất khả năng tổng hợp của VSV dạ cỏ cũng có giới hạn Vì vậy protein VSV ñặc biệt là khi khẩu phần nuôi dưỡng bằng thức ăn thô không thể thỏa mãn nhu cầu sản xuất Do vậy ngoài việc bổ sung nguồn N dễ phân giải ở dạ cỏ thì việc bổ sung những loại thức ăn có protein ít bị phân giải
ở dạ cỏ sẽ rất có lợi Những protein này sẽ ñi thẳng xuống dạ múi khế và ruột
ñể tiêu hoá nhằm cung cấp axit amin trực tiếp cho vật chủ sản xuất
Việc bổ sung một số loại thức ăn protein chậm phân giải trong dạ cỏ còn có tác dụng tốt tới quá trình phân giải chất xơ ở dạ cỏ, nó cung cấp trực tiếp một số axit amin và axit béo mạch nhánh (iso axit ) cần thiết cho quá trình tổng hợp VSV dạ cỏ
Ở dạ cỏ thì hầu hết protein thu nhận ñều bị phân giải trong dạ cỏ Cazein khoảng 99-100 %, protein ủ chua khoảng 90 %, protein của bã bia khoảng 70 % Vì vậy ñể tăng lượng protein thoát qua người ta có thể sử dụng một số phương pháp sau: bổ sung những thức ăn protein như khô ñỗ tương, bột cá vì protein của những thức ăn này ít bị phân giải ở dạ cỏ
Trang 362.2 Tình hình chăn nuôi bò thịt trên thế giới và ở Việt Nam
2.2.1 Tình hình chăn nuôi bò thịt trên thế giới
Trên thế giới nước Anh là nước ñầu tiên trong việc chọn lọc và lai tạo các loại giống gia súc ðầu thế kỷ 18 các giống bò hướng thịt như Hereford và Abedeen Augus ñược tạo ra, ñến cuối thế kỷ 19 thì giống bò thịt Shorthorn chiếm ưu thế Sau ñó nhiều giống bò thịt ñược lai tạo ra tại nhiều nước trên thế giới
Vào giữa thế kỷ 19 người ta bắt ñầu trồng cỏ nuôi bò, tưới nước, bón phân,
sử dụng hàng rào Trong khẩu phần của bò ñã dùng yến mạch, ñại mạch thay thế khẩu phần thức ăn thô Những thay ñổi quan trọng về thức ăn ñã làm cho kỹ thuật chăn nuôi bò thịt có nhiều phát triển, thời gian nuôi bò ngắn hơn tăng khối lượng lớn hơn và chất lượng thịt ngày càng tốt hơn Tuỳ vào mục ñích sử dụng
mà thị trường bò thịt trên thế giới ñược nuôi dưỡng với nhiều giống và có ñặc tính khác nhau Phương thức chăn nuôi và tuổi giết thịt cũng khác nhau
Theo số liệu của FAO (1999) thì sản lượng thịt bò trên thế giới là khoảng 53,6 triệu tấn, châu Á chiếm 6 %
Ngành công nghiệp chăn nuôi bò thịt ở các nước phát triển thì ñặc biệt phát triển còn ở các nước ñang phát triển thì mới ñang ở giai ñoạn khởi ñộng
2.2.2 Tình hình chăn nuôi bò thịt tại Việt Nam
Ở Việt Nam số lượng trâu bò có khoảng 6,9 triệu con trong ñó có 3,9 triệu con bò và 3 triệu con trâu Chăn nuôi bò ở Việt nam chủ yếu theo hướng chăn nuôi kiêm dụng Những con bò tốt chủ yếu là nuôi sinh sản và cày kéo, số ít dùng làm bò nền ñể lai tạo bò sữa (chiếm khoảng 1 % tổng số lượng ñàn bò)
Bò xấu và bò loại thải chuyển sang bò thịt nên ña số chất lượng thịt không ñược ngon
Một số ñơn vị như nông trường Phú Ba (Ninh Bình) liên doanh nuôi bò thịt với CuBa (1997) số lượng hơn 1000 con Trung tâm giống bò thịt miền
Trang 37Trung (Khánh Hoà) nuôi khoảng hơn 600 con tập trung ở các giống Simmental, Limousin, BrahmanẦ
Trong những năm gần ựây với các chương trình phát triển bò thịt hàng nghìn bê ựã ựược sinh ra, ựã cung cấp sản lượng nhất ựịnh thịt bò và một phần
ựã ựáp ứng nhu cầu thị trường
Ở nước ta trong chương trình phát triển chăn nuôi quốc gia KN.02.06 và
Dự án phát triển chăn nuôi bò thịt VIE 86/008, nhiều thắ nghiệm về theo dõi khả năng phát triển của bê lai hướng thịt ựã ựược triển khai Bê lai hướng thịt
có khả năng tăng khối lượng 568 gam/ ngày khi bê 15 tháng tuổi trên cơ sở khẩu phần bổ sung Sử dụng nguồn thức ăn là phế phụ phẩm nông nghiệp ựể
bê lai hướng thịt ựã ựạt tăng khối lượng 800 gam/ ngày ở tháng thứ nhất (Lê Viết Ly, Vũ Văn Nội và cộng sự ,1995) Tuy nhiên số lượng ựàn bê lai hướng thịt so với tổng ựàn bê trong cả nước vẫn còn thấp
- Thực trạng chăn nuôi bò thịt ở Việt Nam
(TB) 9,4%, đông Bắc (đB) 8,4% Hai vùng có số bò lớn nhất cả nước BTB
và DHNTB, chiếm 37% tổng ựàn toàn quốc
+ Năng suất, sản lượng thịt
đàn bò các giống ựịa phương hiện nay chiếm khoảng 70 % tổng ựàn đàn bò nội có khối lượng trưởng thành thấp, trung bình bò ựực là 180-200kg
và bò cái từ 150-160kg, tỷ lệ thịt xẻ thấp, khoảng 43-44% đàn bò lai cả nước chiếm trên 30%, chủ yếu là lai Zê bu (lai Sind, lai Sahiwal và Brahman), nơi
Trang 38có ñàn bò lai cao là ðNB 56,42%, ðBSH 50% Bò lai có tốc ñộ tăng trọng và sinh trưởng nhanh, khối lượng trưởng thành từ 230-270 kg và tỷ lệ thịt xẻ từ 49-50% Từ năm 2002 ñến nay, khoảng 3.000 bò giống Brahman, Droughtmaster nhập từ Australia, Cu Ba và ñược nuôi tại một số ñịa phương: Tuyên Quang, Sơn La, Hà Tây, Ninh Bình, Thừa Thiên Huế, Bình ðịnh, Khánh Hoà, Lâm ðồng, Tp HCM, Cần Thơ Bò Zêbu thuần bước ñầu cho kết quả khả quan, thích nghi ñược với ñiều kiện khí hậu và hình thức chăn nuôi bán chăn thả của Việt Nam: có khối lượng trưởng thành 400-450 kg, tỷ
lệ thịt xẻ 52-55%; mức tăng trọng bình quân 500-600gam/ngày Tuy nhiên vấn ñề phối giống bằng TTNT và chăn nuôi tập trung trong ñiều kiện thiếu bãi chăn, thiếu kinh nghiệm chăm sóc, nuôi dưỡng nên tỷ lệ ñậu thai thấp, tuổi ñẻ lứa ñầu cao cần phải tiếp tục nghiên cứu ñưa ra các giải pháp kỹ thuật phù hợp
Nhiều ñịa phương có chủ trương về chính sách khuyến khích phát triển chăn nuôi bò thịt Theo ñó ngân sách ñịa phương hỗ trợ: gieo tinh nhân tạo
bò, mua con giống, giống cỏ; hỗ trợ lãi suất ngân hàng, ñiển hình là các tỉnh
TP Hồ Chí Minh, Vĩnh Phúc, Hà Tây, Thanh Hoá, Nghệ An, Bình ðịnh, Phú Yên, Lâm ðồng, ðắk Lắk, Mười tỉnh có sử dụng tinh ñông lạnh ñể thụ tinh nhân tạo bò thịt nhiều nhất là Binh ðịnh 50,9 ngàn liều /năm, Thanh Hoá 36,7 ngàn, Vĩnh Phúc 15,1 ngàn, Bắc Giang 9,2 ngàn, Long An 7,4 ngàn, Lâm ðồng 6,7 ngàn, Phú Yên 5,2 ngàn Các tỉnh có ñàn bò lớn (trên 200 ngàn con): Nghệ An 433,1 ngàn, Thanh Hoá 386,9 ngàn, Bình ðịnh 340,0 ngàn, Gia Lai 313,8 ngàn, Quảng Ngãi 284,5 ngàn, Phú Yên 228,6 ngàn
Tổng sản lượng thịt bò từ 97,7 ngàn tấn năm 2001 tăng lên 159,4 ngàn tấn năm 2006, ñạt tỷ lệ tăng trưởng 9,66% năm; bình quân thịt bò tiêu thụ mới ñạt 1,89kg hơi/người (tương ñương 0,85 kg thịt xẻ/người/năm)
+ Phương thức và công nghệ chăn nuôi
Trang 39Chăn nuôi tập trung, trang trại ñã hình thành và bước ñầu phát triển Theo số liệu báo cáo của các ñịa phương năm 2005, cả nước có 3.404 trang trại chăn nuôi bò sinh sản và bò thịt, trong ñó miền Bắc có 1.064 trại chiếm 31,3%, miền Nam 2.340 trại chiếm 68,7% tổng số trang trại
Tuy nhiên, phần lớn bò thịt (trên 90%) vẫn là chăn nuôi nhỏ, phân tán trong các nông hộ
Công nghệ chăn nuôi ñổi mới chưa nhiều, các cơ sơ giống và một số cơ
sở chăn nuôi tập trung ñã ñầu tư cải tạo nâng cấp chuồng trại ñạt yêu cầu kỹ thuật, áp dụng công nghệ tin học trong quản lý ñàn bò và công nghệ vỗ béo
bò thịt Chăn nuôi bò thịt vẫn dựa vào chăn thả tự nhiên Riêng công nghệ nhân giống bò thịt ñã có tiến bộ, tỷ lệ thụ tinh nhân tạo ñã ñạt khoảng 26% và ñược áp dụng rộng rãi trong cả nước
Giai ñoạn 2001-2006 chăn nuôi bò thịt ñã ñược nhiều ñịa phương quan tâm, chỉ ñạo phát triển, bước ñầu ñạt kết quả, tăng nhanh hơn về ñầu con, năng suất, sản lượng thịt Tuy nhiên, chăn nuôi bò thịt vẫn còn một số khó khăn sau: thiếu bò giống tốt; cơ sở vật chất, kỹ thuật và trình ñộ chăn nuôi bò thịt thấp, chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán, quảng canh tận dụng, dựa vào chăn thả
tự nhiên vẫn là chủ yếu; năng suất sinh sản, tăng trọng, chất lượng thịt thấp; thiếu ñồng cỏ và thức ăn thô xanh; quy trình kỹ thuật chưa ñược áp dụng rộng rãi trong sản xuất
Trang 403 ðỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ðối tượng nghiên cứu
Hai nguồn protein khác nhau là bột cá và khô ñỗ tương
3.2 ðịa ñiểm và thời gian nghiên cứu
ðịa ñiểm nghiên cứu
Thị trấn Xuân Mai huyện Chương Mỹ thành phố Hà Nội
Từ tháng 12/2009 – 7/2010
3.3 Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu ảnh hưởng của các nguồn protein khác nhau là bột cá và khô ñỗ tương trong khẩu phần ăn ñến sinh trưởng của bò thịt Lai Sind giai ñoạn 12 ñến 18 tháng tuổi
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Bố trí thí nghiệm
- Gia súc thí nghiệm: 36 bò ñực Lai Sind, 12-13 tháng tuổi, khối lượng khoảng 130-150 kg, bò ñược chọn và chia ngẫu nhiên thành 6 nhóm Trong mỗi nhóm bò ñược nuôi nhốt riêng từng con Bò ñược tẩy giun sán và tiêm vacxin phòng bệnh LMLM và sẩy thai truyền nhiễm trước khi thí nghiệm
- Chế ñộ nuôi dưỡng:
+ Nhu cầu dinh dưỡng:
Nhu cầu dinh dưỡng của bò sinh trưởng ñược tính toán dựa theo L.C Kearl (1982) Theo ñó ñối với bò có khối lượng 150 kg, tăng khối lượng dự kiến 0,5 kg/ngày thì nhu cầu hàng ngày về chất khô, protein thô, năng lượng trao ñổi tương ứng là 4,2 kg, 474 gam và 8,02 Mcal Nhu cầu này sẽ thay ñổi theo khối lượng bò trong quá trình thí nghiệm