luận văn, thạc sĩ, tiến sĩ, cao học, khóa luận, đề tài
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo
TRƯờNG ĐạI HọC NÔNG NGHIệP Hà NộI
- -
ðÀO DUY TOÀN
NGHIấN CỨU NHU CẦU BẢO HIỂM CỦA CÁC
HỘ CHĂN NUễI LỢN THỊT HUYỆN VIỆT YấN,
Trang 2LỜI CAM ðOAN
- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
là trung thực và ch−a từng đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào
- Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn này đ3
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu tôi ựã nhận ựược sự hỗ trợ, giúp ựỡ của các thầy, các cô, các hộ gia ựình và bạn bè ựể tôi hoàn hành bản luận văn này
Lời ựầu tiên, tôi xin ựược bày tỏ lòng kắnh trọng và biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS Nguyễn Mậu Dũng, giáo viên bộ môn Kinh tế tài nguyên môi trường, khoa kinh tế và phát triển nông thôn, trường đại học nông nghiệp Hà nội ựã tận tình hướng dẫn, ựóng góp ý kiến quý báu, ựộng viên giúp ựỡ tôi trong quá trình nghiên cứu ựể hoàn chỉnh bản luận văn
Tôi xin bảy tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
PGS.TS Nguyễn Văn Song trưởng bộ môn kinh tế tài nguyên môi trường, các thầy, các cô trong bộ môn kinh tế tài nguyên môi trường, khoa kinh tế và phát triển nông thôn, trường đại học nông nghiệp Hà Nội, cùng toàn thể các thầy giáo, cô giáo ựã tận tình giảng dạy, hướng dẫn, truyền ựạt những kinh nghiệm, ựóng góp cho tôi nhiều ý kiến quý báu ựể tôi hoàn thành bản luận văn này
Tôi xin chân trọng cảm ơn phòng thống kê huyện Việt Yên, phòng nông nghiệp huyện Việt Yên, UBND xã Hoàng Ninh, UBND xã Quảng Minh, UBND xã Hồng Thái, các hộ chăn nuôi lợn thịt tại 3 xã Hoàng Ninh, Quảng Minh, Hồng Thái ựã cộng tác và tạo mọi ựiều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu tại ựịa phương
Tôi xin ựược bảy tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người thân trong gia
ựình, bạn bè để có ựược kết quả ngày hôm nay, một phần do sự nỗ lực cố gắng
của bản thân nhưng phần lớn là do công lao của gia ựình bố mẹ, anh chị em, bạn
bè ựã luôn ựộng viên tạo ựiều kiện ựể tôi an tâm học tập và nghiên cứu
Hà Nội, ngày tháng năm 2011
Tác giả đào Duy Toàn
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ðOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC ðỒ THỊ vii
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii
1 MỞ ðẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của ñề tài nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu của ñề tài 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 4
1.3 ðối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
1.3.1 ðối tượng nghiên cứu 4
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 4
2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 5
2.1 Cơ sở khoa học, lý luận của ñề tài 5
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản 5
2.1.2 Bản chất của bảo hiểm 6
2.1.3 Các nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm 7
2.1.4 Khái niệm về không chắc chắn và rủi ro 10
2.1.5 Phân biệt giữa rủi ro và sự không chắc chắn 13
2.1.6 Tổng quan về cầu, nhu cầu 14
2.1.7 Các yếu tố ảnh hưởng ñến nhu cầu bảo hiểm trong chăn nuôi lợn thịt 18
2.1.8 Lý luận về phương pháp tạo dựng thị trường (Contigent Valuation Method –CVM) xác ñịnh mức sẵn lòng chi trả của người dân về bảo hiểm chăn nuôi lợn thịt 20
2.2 Cơ sở thực tiễn của ñề tài 25
2.2.1 Chương trình bảo hiểm của một số nước trên thế giới và Việt Nam 25
3 ðẶC ðIỂM ðỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
3.1 ðặc ñiểm ñịa bàn nghiên cứu 34
3.1.1 ðiều kiện tự nhiên 34
Trang 53.1.2 ðiều kiện kinh tế xã hội 38
3.1.3 Nhận xét chung 44
3.2 Phương pháp nghiên cứu 45
3.2.1 Khung phân tích nghiên cứu 45
3.2.2 Phương pháp chọn ñiểm và mẫu ñiều tra 47
3.2.3 Phương pháp thu thập thông tin 48
3.2.4 Phương pháp phân tích và sử lý số liệu 50
3.2.5 Phương pháp phân tích ñịnh tính và phân tích ñịnh lượng 53
3.2.6 Phương pháp phân tích thống kê 54
4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 55
4.1 Thực trạng chăn nuôi lợn 55
4.1.1 Vài nét về phát triển chăn nuôi lợn của huyện 55
4.1.2 Tình hình chăn nuôi lợn của huyện 55
4.1.3 Tình hình áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi lợn 59
4.2 Nghiên cứu nhu cầu bảo hiểm trong chăn nuôi lợn thịt huyện Việt Yên.66 4.2.1 ðặc ñiểm kinh tế xã hội của hộ ñược khảo sát 66
4.2.2 Thái ñộ và nhận thức của người ñược hỏi về vấn ñề rủi ro trong chăn nuôi ở huyện Việt Yên 67
4.2.3 Phương án triển khai bảo hiểm chăn nuôi lợn thịt trên ñịa bàn huyện Việt Yên 73
4.2.4 Ước tính sự sẵn lòng chi trả 76
4.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng ñến WTP của hộ gia ñình chăn nuôi lợn thịt 79
4.3 ðịnh hướng và giải pháp cho bảo hiểm chăn nuôi lợn 96
4.3.1 Giải pháp vĩ mô 96
4.3.2 Giải pháp ñối với công ty bảo hiểm 99
4.3.3 ðiều kiện ứng dụng bảo hiểm dịch bệnh ở Việt Nam 100
5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 102
5.1 Kết luận 102
5.2 Kiến nghị 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
PHỤ LỤC 106
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 ðặc ñiểm thời tiết khí hậu của huyện Việt Yên 36
Bảng 3.2 Tình hình biến ñộng, ñất ñai dân số và kết quả sản xuất kinh doanh của huyện Việt Yên (2007-2009) 40
Bảng 3.3 Tình hình cơ sở vật chất của huyện năm 2007 -2009 43
Bảng 3.4 Số hộ phỏng vấn theo xã 48
Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi lợn thịt của huyện qua 3 năm (2007-2009) 58
Bảng 4.2 Số lượng và cơ cấu ñàn lợn theo giống của huyện qua 3 năm 60
Bảng 4.3 Thực trạng công tác thú y của huyện qua 3 năm (2007-2009) 64
Bảng 4.4 Mức thanh toán bảo hiểm chăn nuôi lợn thịt 75
Bảng 4.5 Kết quả WTP thu ñược sau lần ñiều tra thử 76
Bảng 4.6 Số người ñồng ý và không ñồng ý trả tiền theo các mức chi trả ñề xuất 78
Bảng 4.7 Mức chi trả tối ña của những hộ ñược phỏng vấn (VNð/con
lợn thịt) 79
Bảng 4.8 WTP của hộ gia ñình theo giới của người ñược hỏi 79
Bảng 4.9 WTP hộ gia ñình theo trình ñộ học vấn của người ñược hỏi 80
Bảng 4.10 WTP hộ gia ñình theo quy mô chăn nuôi của hộ 81
Bảng 4.11 WTP hộ gia ñình theo ñộ tuổi của người ñược hỏi 82
Bảng 4.12 WTP hộ gia ñình theo số người trong hộ gia ñình 82
Bảng 4.13 WTP hộ gia ñình theo số người trong hộ 83
Bảng 4.14 WTP của hộ gia ñình theo chi tiêu của hộ gia ñình hàng tháng 83
Bảng 4.15 WTP hộ gia ñình theo mức thu nhập gia ñình hàng tháng 84
Bảng 4.16 WTP theo thu nhập ñể chi tiêu ñể 84
Bảng 4.17 WTP theo ñiều kiện sống hộ gia ñình 85
Bảng 4.18 WTP theo những người ñã nghe về các vấn ñề dịch bệnh tại huyện Việt Yên 86
Trang 7Bảng 4.19 WTP theo ñánh giá của những người ñược hỏi về vấn ñề dịch
Bảng 4.20 WTP theo thái ñộ của người ñược hỏi về sự viêc mở rộng quy
mô chăn nuôi lợn trong khi chưa có biện pháp phòng ngừa dịch
Bảng 4.21 WTP theo thái ñộ của người ñược hỏi về sự hy sinh thu nhập
ñể phòng ngừa dịch bệnh 88Bảng 4.22 WTP và ý kiến của người ñược phỏng vấn về phòng chống
dịch bệnh ở lợn thịt 89Bảng 4.23 WTP và ý kiến về chi trả của hộ chăn nuôi nhỏ lẻ cho việc
phòng chống dịch bệnh 89Bảng 4.24 Mô tả các biến trong hồi quy 91Bảng 4.25 Tóm tắt kết quả phân tích hồi quy các yếu tố ảnh hưởng ñến
WTP hộ gia ñình 94
Trang 8DANH MỤC CÁC ðỒ THỊ
ðồ thị 3.1 Cơ cấu giá trị sản xuất của huyện Việt Yên năm 2009 41
ðồ thị 4.1 Chi tiêu và thu nhập hàng tháng của các hộ ñiều tra 66
Trang 101 MỞ ðẦU
1.1 Tính cấp thiết của ñề tài nghiên cứu
Nông nghiệp từ lâu luôn ñóng một vai trò quan trọng ñối với nền kinh tế nước ta Kinh tế nông nghiệp không những ñảm bảo chiến lược an ninh lương thực, cung cấp nguyên liệu cho các ngành kinh tế, tham gia xuất khẩu mà còn
là thị trường lao ñộng cho hàng chục triệu người Việt Nam Trong tương lai kinh tế nông nghiệp sẽ vẫn giữ vị trí quan trọng trong tiến trình phát triển công nghiệp hoá hiện ñại hoá bền vững Tuy nhiên nông nghiệp luôn là lĩnh vực phải gánh chịu rất nhiều thiệt hại nặng lề do thiên tai gây ra, làm ảnh hưởng rất lớn ñến phát triển bền vững Những rủi ro này ñã tác ñộng không nhỏ ñến ñời sống của người dân, nhất là dân cư sống trong khu vực nông thôn Công tác phòng ngừa, cứu trợ, khắc phục hậu quả thiên tai, nhìn chung
ñã góp phần hỗ trợ cho người dân ổn ñịnh ñời sống, khôi phục sản xuất Nhưng do nguồn tài chính của xã hội và nhà nước dành cho khắc phục hậu quả thiên tai có hạn, nên mới chỉ ñáp ứng ñược một phần thiệt hại xảy ra Thực tế hoạt ñộng cứu trợ chủ yếu là cứu trợ khẩn cấp, chưa chú trọng ñến tính hiệu quả, tính bền vững, ñồng thời chưa có cơ chế chính sách cần thiết,
ñủ mạnh ñể khai thác ña dạng các nguồn tài chính phục vụ cho mục ñích phòng ngừa, giảm nhẹ hậu quả thiệt hại thiên tai Vì vậy, việc ñưa bảo hiểm nông nghiệp vào hoạt ñộng sản xuất nông nghiệp là vô cùng cần thiết
Chăn nuôi lợn giữ vai trò quan trọng cả về số lượng lẫn giá trị trong ngành chăn nuôi ở Việt Nam Tuy nhiên sự phát triển của dịch bệnh trong những năm gần ñây khiến người chăn nuôi gặp rất nhiều khó khăn, quy mô chăn nuôi bị thu hẹp ñáng kể Tuy có sự hỗ trợ của nhà nước, nhưng thiệt hại của người chăn nuôi chỉ ñược bù ñắp một phần rất nhỏ Trong một vài năm trở lại ñây dịch bệnh lở mồm long móng, và tai xanh ở lợn xuất hiện với tốc
ñộ lây lan nhanh và tỷ lệ lợn chết rất cao Theo Cục thú y (Bộ nông nghiệp phát triển nông thôn) ngày 28/4/2010 dịch mới chỉ xuất hiện ở 5 tỉnh thành
Trang 11với số lợn dịch là 33.000 con số lợn tiêu huỷ là 10.000 con nhưng chỉ sau một tuần (ngày 4/5/2010) cả nước có 11 tỉnh, thành xuất hiện dịch với số lợn mắc bệnh lên ựến 50.000 con, ựã tiêu hủy 21.000 con[1] Rủi ro dịch bệnh là loại rủi ro ựáng quan ngại nhất ựối với người chăn nuôi Ngoài chi phắ sản xuất không thu hồi ựược do số lợn bị chết, người sản xuất phải ựối mặt với sự sụt giảm của lợi nhuận do giá lợn giảm hoặc do buộc phải kéo dài thời gian nuôi mặc dù lợn ựã ựến thời ựiểm xuất chuồng Các chương trình bảo hiểm vật nuôi là những công cụ chuyển giao rủi ro hết sức hiệu quả ựối với người chăn nuôi, cũng như giảm nhẹ gánh nặng hỗ trợ cho ngân sách nhà nước trong trường hợp bệnh dịch Tuy nhiên, theo thống kê của Vụ bảo hiểm (Bộ tài chắnh) năm 2008, tỷ trọng tham gia bảo hiểm nông nghiệp của Việt Nam còn rất thấp chỉ chiếm chưa ựầy 1% số cây trồng vật nuôi Mặc dù bảo hiểm nông nghiệp của Việt Nam ựã ựược triển khai từ những năm 80 của thế kỷ trước do tập ựoàn Bảo Việt thực hiện[2]
Việt Yên là một huyện trung du của tỉnh Bắc Giang, cách trung tâm thành phố Bắc Giang 10 km Toàn huyện có 19 ựơn vị hành chắnh, trong ựó
có 5 xã miền núi và 2 thị trấn Hiện nay, Việt Yên ựược xác ựịnh là huyện trọng ựiểm của tỉnh về phát triển công nghiệp Trên ựịa bàn huyện hiện có 02 khu công nghiệp tập trung của tỉnh ựã triển khai xây dựng là: Khu công nghiệp đình Trám (quy mô 100ha); Khu công nghiệp Quang Châu (quy mô 426ha), Ngoài ra, trên ựịa bàn huyện còn có 2 cụm công nghiệp tập trung (Cụm công nghiệp Việt Yên và Cụm công nghiệp đồng Vàng) với diện tắch trên 50ha Bên cạnh ựó kinh tế của huyện Việt Yên chủ yếu là nông nghiệp với việc lao ựộng nông nghiệp vẫn chiếm một tỷ lệ lớn trong cơ cấu lao ựộng của huyện, huyện nằm trên quốc lộ 37, từ Bắc Giang ựi Thái Nguyên, Quốc lộ 1A ựi qua ựịa bàn huyện, nối liền thành phố Bắc Ninh và thành phố Bắc Giang, sông Cầu chảy ở phắa nam huyện, là ựường giao thông thuận tiện cho
ựi lại cũng là tiêu thụ lợn thịt ựược dễ dàng hơn Bên cạnh ựó thì hiện nay trên
Trang 12ñịa bàn huyện ñang có sự chuyển dịch cơ bản, từ những mô hình chăn nuôi nhỏ lẻ sang trang trại hay mô hình chăn nuôi tập trung Số lượng những trang trại tăng lên từng ngày ở hầu hết những trang trại hiện nay thì chăn nuôi lợn vẫn ñược nhiều hộ lựa chọn vì có thể nói lợn là vật nuôi phù hợp hơn những con vật khác Những chuyển ñổi ñó ñang ngày càng phát huy hiệu quả tích cực Tuy nhiên trên thực tế thì rủi ro có thể ñến với bất kỳ hộ nào, không phải lợn là vật nuôi không có rủi ro, ngoài những yếu tố bên trong thì chăn nuôi lợn còn chịu nhiều của các yếu tố ngoại cảnh khác nữa ðiều này giải thích vì sao mà hộ chăn nuôi nào làm chủ kỹ thuật thì hộ chăn nuôi ñó có thể gặt hái ñược những thành công Trong chăn nuôi còn phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố ngoại cảnh tác ñộng vào như thời tiết, khí hậu, dịch bệnh, thị trường…
Hạn chế ñược những rủi ro trong chăn nuôi lợn thịt sẽ giúp các hộ tăng kết quả và hiệu quả sản xuất, tăng thu nhập cho người lao ñộng Với bối cảnh
ñó, nghiên cứu của chúng tôi là một trong những nghiên cứu vào nhu cầu bảo hiểm trong chăn nuôi lợn thịt từ ñó ñề xuất những giải pháp cụ thể ñể hỗ trợ cho sự phát triển ổn ñịnh, bền vững cho nghề chăn nuôi lợn thịt trên ñịa bàn huyện Việt Yên
Với việc nghiên cứu kinh nghiệm của các nước ñi trước, cùng với việc nhận thức một cách sâu sắc vai trò, lợi ích to lớn do bảo hiểm mang lại, kết hợp với ñiều kiện thực tế của huyện chúng tôi tiến hành nghiên cứu ñề tài:
Trang 131.2.2 M ục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về nhu cầu bảo hiểm trong chăn nuôi lợn thịt
- đánh giá thực trạng chăn nuôi lợn trên ựịa bàn huyện
- Xác ựịnh nhu cầu tham gia bảo hiểm của các hộ chăn nuôi lợn thịt tại huyện Việt Yên
- đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm ựáp ứng nhu cầu tham gia bảo hiểm trong nghề chăn nuôi lợn thịt tại huyện Việt Yên
1.3 đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 đối tượng nghiên cứu
* Nghiên cứu các hoạt ựộng liên quan ựến quá trình chăn nuôi lợn thịt của người dân trên ựịa bàn huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang
* Các hộ chăn nuôi lợn thịt có nhu cầu bảo hiểm nông nghiệp trên ựịa bàn huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang
* Các cơ quan chức năng có liên quan trên ựịa bàn huyện
1.3.2 Ph ạm vi nghiên cứu
1.3.2.1 Phạm vi về thời gian
Số liệu thứ cấp: Thu thập số liệu báo cáo từ năm 2007 ựến nay
Số liệu sơ cấp: Thu thập tình hình của các hộ, doanh nghiệp, HTX có chăn nuôi lợn thịt năm 2009
1.3.2.2 Phạm vi về không gian
trong chăn nuôi lợn thịt trên ựịa bàn huyện Việt Yên
1.3.2.3 Phạm vi về nội dung
Tập trung nghiên cứu nhu cầu bảo hiểm về rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn thịt của huyện Việt Yên
Trang 142 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở khoa học, lý luận của ñề tài
2.1.1 M ột số khái niệm cơ bản
2.1.1.1 Khái niệm bảo hiểm
Bảo hiểm là hình thức chuyển giao rủi ro Mua bảo hiểm thực chất là mua sự an tâm, là ñổi lấy cái sự không chắc chắn có khả năng xảy ra thiệt hại bằng sự chắc chắn thông qua việc bù ñắp bằng tài chính
Bảo hiểm là biện pháp chia sẻ rủi ro của một người hay của số một ít
người cho cả cộng ñồng những người có khả năng gặp rủi ro cùng loại; bằng cách mỗi người trong cộng ñồng góp một số tiền nhất ñịnh vào một quỹ chung và từ quỹ chung ñó bù ñắp thiệt hại cho thành viên trong cộng ñồng không may bị thiệt hại do rủi ro ñó gây ra
Bảo hiểm là một cách thức trong quản trị rủi ro, thuộc nhóm biện pháp tài trợ rủi ro, ñược sử dụng ñể ñối phó với những rủi ro có tổn thất, thường là tổn thất về tài chính, nhân mạng ….[3]
2.1.1.2 Kinh doanh bảo hiểm
Kinh doanh bảo hiểm là hoạt ñộng của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục ñích sinh lợi, theo ñó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người ñược bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm ñóng phí bảo hiểm ñể doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người ñược bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.[4]
2.1.1.3 Kinh doanh tái bảo hiểm
Kinh doanh tái bảo hiểm là hoạt ñộng của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục ñích sinh lợi, theo ñó doanh nghiệp bảo hiểm nhận một khoản phí bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm khác ñể cam kết bồi thường cho các trách nhiệm ñã nhận bảo hiểm.[4]
Trang 152.1.1.4 Hợp ñồng bảo hiểm
Kinh doanh bảo hiểm là một quan hệ kinh doanh ñược thiết lập trên cơ
sở hợp ñồng Hợp ñồng bảo hiểm chính là hình thức pháp lý của quan hệ kinh doanh bảo hiểm, là công cụ ñể doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện hoạt ñộng kinh doanh bảo hiểm
Theo ñiều 12 Luật kinh doanh bảo hiểm: Hợp ñồng bảo hiểm là sự thoả thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo ñó bên mua bảo hiểm phải ñóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người ñược bảo hiểm khi xảy
ra sự kiện bảo hiểm [4]
2.1.2 B ản chất của bảo hiểm
Bằng sự ñóng góp của số ñông người vào một quĩ chung, khi có rủi ro, quĩ sẽ
có ñủ khả năng trang trải và bù ñắp cho những tổn thất của số ít Mỗi cá nhân hay ñơn vị chỉ cần ñóng góp một khoản tiền trích từ thu nhập cho các công ty bảo hiểm Khi tham gia một nghiệp vụ bảo hiểm nào ñó, nếu gặp tổn thất do rủi ro ñược bảo hiẻm gây ra, người ñược bảo hiểm sẽ bồi thường Khoản tièn bồi thường này ñược lấy từ số phí mà tất cả những người tham gia bảo hiểm ñã nộp Tất nhiên, chỉ có một số người tham gia bảo hiểm gặp tổn thất, còn những người không gặp tổn thất sẽ mất không số phí bảo hiểm Như vậy, có thể thấy, thực chất của bảo hiểm là việc phân chia tổn thất của một hoặc một số người cho tất cả những người tham gia bảo hiểm cùng chịu Do ñó, một nghiệp vụ bảo hiểm muốn tiến hành ñược phải có nhiều người tham gia, tức là, bảo hiểm chỉ hoạt ñộng ñược trên cơ sở luật số ñông, càng nhiều người tham gia thì xác suất xảy ra rủi ro ñối với mỗi người càng nhỏ và bảo hiểm càng có lãi
Với hình thức số ñông bù cho số ít người thiệt bị thiệt hại, tổ chức bảo hiểm
sẽ giúp giảm thiểu thiệt hại kinh tế của từng cá nhân hay ñơn vị khi gặp rủi ro, tiết kiệm ñược nguồn chi cho ngân sách nhà nước Như vậy, thực chất mối quan hệ trong hoạt ñộng bảo hiểm không chỉ là mối quan hệ giữa người bảo hiểm và người
Trang 16ñược bảo hiểm, mà suy rộng ra, nó là tổng thể các mối quan hệ giữa những người ñược bảo hiểm trong cộng ñồng xoay quanh việc hình thành và sử dụng quĩ bảo hiểm Quỹ bảo hiểm ñược tạo lập thông qua việc huy ñộng phí bảo hiểm, số người tham gia càng ñông thì quĩ càng lớn Quĩ ñược sử dụng trước hết và chủ yếu là ñể
bù ñắp những tổn thất cho người ñược bảo hiểm, không làm ảnh hưởng ñến sự liên tục của ñời sông xã hội và hoạt ñộng sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế Ngoài ra, quĩ còn ñược dùng ñể trang trải chi phí, tạo nên nguồn vốn ñầu tư cho xã hội Bảo hiểm thực chất là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối lại tổng sản phẩm xã hội dưới hình thái giá trị, nhằm hình thành và sử dụng quĩ bảo hiểm cho mục ñích bù ñắp tổn thất do rủi ro bất ngờ xảy ra với
người ñược bảo hiểm, ñảm bảo quá trình tái sản xuất ñược thường xuyên, liên tục
- Hợp ñồng bảo hiểm con người;
- Hợp ñồng bảo hiểm tài sản;
- Hợp ñồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự
Mỗi loại hợp ñồng trên có ñối tượng bảo hiểm và kỹ thuật nghiệp vụ khác nhau Việc chia ra làm 3 loại hợp ñồng bảo hiểm phi nhân thọ nói trên nhằm biện pháp quản lý phù hợp hơn
2.1.3 Các nguyên t ắc cơ bản của bảo hiểm
Hoạt ñộng kinh doanh bảo hiểm ngày nay ñã ñạt ñến trình ñộ phát triển cao ở nhiều nước trên thế giới, với rất nhiều loại hình, cũng như ñối tượng ñược bảo hiểm ngày càng rộng mở và trở nên hết sức phong phú Tuy nhiên, hoạt ñộng bảo hiểm vẫn ñược tiến hành trên cơ sở một số nguyên tắc cơ bản của nó
2.1.3.1 Nguyên tắc chỉ bảo hiểm rủi ro, không bảo hiểm sự chắc chắn
Nguyên tắc này chỉ ra rằng người bảo hiểm chỉ bảo hiểm một rủi ro, tức là bảo hiểm một sự cố, một tai nạn, tai hoạ, xảy ra một cách bất ngờ, ngẫu nhiên, ngoài ý muốn của con người chứ không bảo hiểm một cách chắc chắn xảy ra, ñương nhiên xảy ra, cũng như chỉ bồi thường những thiệt hại, mất mát do rủi ro
Trang 17gây ra chứ không bồi thường cho những thiệt hại chắc chắn xảy ra, ñương nhiên xảy ra
Như vậy, người ta chỉ bảo hiểm cho những gì có tính chất rủi ro, bất ngờ, không lường trước ñược, nghĩa là không bảo hiểm cái gì ñã xảy ra hoặc chắc chắn
sẽ xảy ra Bởi lẽ, bảo hiểm ñược thực hiện chính là nhằm giải quyết hậu quả của những sự cố rủi ro ngoài ý muốn của con người, những rủi ro mà con người không thể hạn chế ñược hoặc chỉ hạn chế ñược phần nào Người khai thác không nhận bảo hiểm khi biết chắc chắn rủi ro ñược bảo hiểm sẽ xảy ra, ví dụ như xe cơ giới không ñảm bảo an toàn kỹ thuật, con tàu không ñủ khả năng ñi biển… Người ta cũng không bảo hiểm cho những gì ñã xảy ra, ví dụ như bảo hiểm cho tàu, xe sau khi chúng ñã gặp tai nạn
2.1.3.2 Nguyên tắc trung thực tuyệt ñối
Tất cả các giao dịch kinh doanh cần ñược thực hiện trên cơ sở tin cậy lẫn nhau, trung thực với nhau Tuy nhiên, trong bảo hiểm, ñiều này ñược thể hiện trên một nguyên tắc chặt chẽ hơn, và ràng buộc cao hơn về mặt trách nhiệm Theo nguyên tắc này, hai bên trong mối quan hệ bảo hiểm (người bảo hiểm và người ñược bảo hiểm) phải tuyệt ñối trung thực với nhau, tin tưởng lẫn nhau, không lừa dối nhau Các bên chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của thông tin cung cấp cho bên kia Doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm giữ bí mật về thông tin do bên mua bảo hiểm cung cấp Nếu một bên vi phạm thì hợp ñồng bảo hiểm trở nên không có hiệu lực
2.1.3.3 Nguyên tắc quyền lợi có thể ñược bảo hiểm
Quyền lợi có thể ñược bảo hiểm, hay lợi ích bảo hiểm, là quyền sở hữu, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền tài sản, quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng ñối với ñối tượng ñược bảo hiểm Như vậy, quyền lợi có thể ñược bảo hiểm là lợi ích hoặc quyền lợi liên quan ñến, gắn liền với, hay phụ thuộc vào sự an toàn hay không an toàn của ñối tượng bảo hiểm Người nào có quyền lợi có thể ñược bảo hiểm ở một ñối tượng bảo hiểm nào ñó có nghĩa là quyền lợi của người
Trang 18ựó sẽ ựược ựảm bảo nếu ựối tượng ựó ựược an toàn, và ngược lại, quyền của người ựó sẽ bị phương hại nếu ựối tượng bảo hiểm ựó gặp rủi ro Nói khác ựi, người có quyền lợi có thể ựược bảo hiểm là người bị thiệt hại về tài chắnh khi ựối tượng bảo hiểm gặp rủi ro Người có quyền lợi có thể ựược bảo hiểm là người có một số quan hệ với ựối tượng bảo hiểm ựược pháp luật công nhận đó có thể là người chủ sở hữu của ựối tượng bảo hiểm ựó, người chịu trách nhiệm quản lý tài sản hoặc người nhận cầm cố tài sản Quyền lợi có thể ựược bảo hiểm có ý nghĩa rất to lớn trong bảo hiểm, có quyền lợi có thể ựược bảo hiểm thì mới ựược ký kết hợp ựồng bảo hiểm Khi xảy ra tổn thất, người ựược bảo hiểm ựã phải có quyền lợi có thể ựược bảo hiểm rổi mới ựược bồi thường
Nguyên tắc quyền lợi có thể ựược bảo hiểm chỉ ra rằng, người ựược bảo hiểm muốn mua bảo hiểm phải có lợi ắch bảo hiểm Quyền lợi có thể ựược bảo hiểm có thể là quyền lợi ựã có hoặc sẽ có trong ựối tượng bảo hiểm Trong bảo hiểm hàng hải, quyền lợi có thể ựược bảo hiểm không nhất thiết phải có khi ký kết hợp ựồng bảo hiểm, nhưng nhất thiết phải có khi xảy ra tổn thất
2.1.3.4 Nguyên tắc bồi thường
ỘBồi thườngỢ có thể ựược hiểu là Ộsự bảo vệ hoặc ựảm bảo cho thiệt hại hoặc tổn thất phát sinh từ trách nhiệm pháp lýỢ Ở ựây, Ộựảm bảoỢ và Ộbảo vệỢ rất phù hợp với ý nghĩa của bảo hiểm Mục ựắch của bảo hiểm chắnh là nhằm khôi phục vị trắ tài chắnh như ban ựầu cho người ựược bảo hiểm ngay sau khi tổn thất xảy ra Tuy nhiên, thực tế cho thấy, có rất nhiều trường hợp các công ty bảo hiểm không thể khôi phục ựược hoàn toàn tài chắnh ban ựầu cho người ựược bảo hiểm mà chỉ
có thể cố gắng khôi phục ựược gần như thế
Theo nguyên tắc bồi thường, khi có tổn thất xảy ra, người bảo hiểm phải bồi thường như thế nào ựó ựể ựảm bảo cho người ựược bảo hiểm có vị trắ tài chắnh như trước khi có tổn thất xảy ra, không hơn không kém Các bên không ựược lợi dụng bảo hiểm ựể trục lợi Trong bảo hiểm, số tiền bồi thường mà một công ty bảo hiểm trả cho người ựược bảo hiểm trong một rủi ro ựược bảo hiểm không
Trang 19vượt quá số tiền bảo hiểm, không ñược lớn hơn thiệt hại thực tế Người ñược bảo hiểm cũng không thể ñược bồi thường nhiều hơn thiệt hại do tổn thất, không ñược kiếm lời bằng con ñường bảo hiểm, tối ña người ñược bảo hiểm cũng chỉ ñược bồi thường ñầy ñủ, chứ không thể nhiều hơn thiệt hại
2.1.3.5 Nguyên tắc thế quyền
Theo nguyên tắc thế quyền, người bảo hiểm sau khi bồi thường cho người ñược bảo hiểm, có quyền thay mặt người ñược bảo hiểm ñể ñòi người thứ ba có trách nhiệm bồi thường cho mình Tất cả các khoản tiền nào có thể thu hồi ñược
ñể giảm bớt thiệt hại ñều thuộc quyền sở hữu của người bảo hiểm, tức là người ñã trả tiền bồi thường tổn thất Khi số tiền phải bồi thường càng lớn thì việc áp dụng nguyên tắc thế quyền càng quan trọng và có ý nghĩa Thế quyền có thể ñược thực hiện trước hoặc sau khi bồi thường tổn thất Trong trường hợp này, người bảo hiểm ñược thay mặt người ñược bảo hiểm ñể làm việc với các bên liên quan ðể thực hiện ñược nguyên tắc này, người ñược bảo hiểm phải cung cấp các biên bản, giấy tờ, chứng từ, thư từ… cần thiết cho người bảo hiểm
ðiều cần chú ý là, người ñược bảo hiểm cũng có thể ñược bồi thường từ một nguồn khác ngoài nguồn bồi thường từ công ty bảo hiểm, nhưng trong trường hợp
ñó, bất cứ số tiền nào mà người ñược bảo hiểm thu ñược cũng phải ñặt dưới danh nghĩa của công ty bảo hiểm ñã thực hiện bồi thường Do mối quan hệ chặt chẽ giữa thế quyền và bồi thường, một công ty bảo hiểm không ñược phép thu nhiều hơn số tiền họ dã bồi thường Người bảo hiểm chỉ ñược thực hiện chế quyền ở mức ñộ tương ñương với số tiền ñã trả hoặc sẽ trả ðiều này cũng có nghĩa là không chỉ người ñược bảo hiểm mà cả công ty bảo hiểm ñều không ñược phép thu lời từ việc thực hiện quyền của mình
2.1.4 Khái ni ệm về không chắc chắn và rủi ro
2.1.4.1 Không chắc chắn
Trong ñiều kiện hiện nay rủi ro luôn là thách thức lớn ñối với các ngành kinh tế ñặc biệt là trong nghành nông nghiệp và người nông dân là người trực
Trang 20tiếp chịu ảnh hưởng Rủi ro sẽ tác động trực tiếp tới quyết định của người nơng dân, nhưng đồng thời cũng ảnh hưởng đến lợi ích của người nơng dân Chúng ta cĩ thể hiểu rằng khơng chắc chắn là tình trạng mà các kết quả
cĩ khả năng xảy ra và xác suất của nĩ khơng biết trước được để ra một quyết định đúng đắn phù hợp Sự khơng chắc chắn được xem như là một vấn đề đối với sản xuất nơng nghiệp hơn là các ngành khác và được thể hiện trên các mặt chủ yếu sau:
+ Sự khơng chắc chắn về sản lượng
Nguyên nhân gây ra sự khơng chắc chắn này là do gặp phải thiên tai, dịch bệnh…ðây là tác hại đối với người chăn nuơi lợn mà khĩ cĩ thể đốn trước được Khả năng chống lại nĩ phụ thuộc nhiều vào khả năng, tiềm lực của hộ chăn nuơi lợn Vì vậy mà khả năng chống lại tác động này giữa các hộ
là khác nhau
+ Sự khơng chắc chắn về giá cả
Do chu kỳ sản xuất của một đàn lợn tương đối dài nên khi lựa chọn chăn nuơi hay khơng giá cả cũng cĩ biến động nhất định Chẳng hạn thời điểm ra quyết định người ta khĩ cĩ thể đốn trước được giá cả những sản phẩm đầu ra
là bao nhiêu Vấn đề này càng trầm trọng hơn đối với các nước nơng nghiệp chậm phát triển nơi cĩ thị trường khơng hồn thiện và thiếu thơng tin Sự giao động của thị trường cũng cĩ thể được hiểu như sự khơng chắc chắn của giá cả
+ Sự khơng chắc chắn về giá đầu vào
Trong chăn nuơi lợn thì những yếu tố đầu vào cho lợn cĩ ý nghĩa kinh tế rất quan trọng Nhiều khi người ta khơng thể lường trước được mức độ giá cả, các yếu tố đầu vào biến đổi như thế nào để cĩ những định hướng phù hợp
+ Sự khơng chắc chắn về giá đầu ra
Những biến động về giá cả của thị trường là rất khĩ cĩ thể lường trước được, Sự biến động này xảy ra do rất nhiều lý do, cĩ thời điểm giá rất cao, nhưng cĩ thời điểm giá lại xuống thấp và đã gây ảnh hưởng đến những hộ
Trang 21chăn nuôi lợn Sự không lường trước ñược có thể hiểu là sự không chắc chắn trong thị trường ñầu ra
Việc ra quyết ñịnh trong các hoạt ñộng kinh tế ñều gặp phải rủi ro bởi vì
ra quyết ñịnh ñược tiến hành trước khi biết ñược kết quả của quyết ñịnh ñó Mức ñộ rủi ro phụ thuộc vào sự tác ñộng của các yếu tố và khả năng kiểm soát của các yếu tố trong giai ñoạn quyết ñịnh ñến kết quả Trong khi ñó từ quyết ñịnh ñến kết quả là một quá trình bị tác ñộng bởi nhiều yếu tố, trong ñó
có rất nhiều yếu tố nằm ngoài dự toán và khả năng kiểm soát của người ra quyết ñịnh nên mức rủi ro là rất lớn
Như vậy rủi ro là gì?
Cho ñến nay thì vẫn chưa có ñịnh nghĩa thống nhất về rủi ro, những trường phái khác nhau, những tác giả khác nhau ñưa ra những ñịnh nghĩa khác nhau về rủi ro Những ñịnh nghĩa này ñưa ra rất ña dạng, phong phú nhưng có thể tóm lại làm 2 trường phái lớn ñó là phái truyền thống và phái trung hoà
Theo phái truyền thống
Rủi ro là ñiều không lành, không tốt, bất ngờ xảy ra [5]
Rủi ro ñồng nghĩa với sự không may [6]
Như vậy theo trường phái truyền thống “rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan ñến nguy hiểm, khó khăn, hoặc ñiều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người”
Trang 22Theo phái trung hoà
Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, hoạt ựộng của con người ngày càng ựa dạng, phong phú và phức tạp, thì rủi ro ngày càng nhiều và ựang dạng hơn Con người cũng quan tâm ựến việc nghiên cứu rủi ro và quá trình nghiên cứu ựó nhận thức về rủi ro cũng thay ựổi và cũng trở lên trung hoà hơn Rủi ro là sự bất trắc có thể ựo lường ựược, nó liên quan ựến việc xuất hiện các biến cố không mong ựợi đó là sự biến ựộng tiềm ẩn ở những kết quả Rủi ro có thể xuất hiện trong hầu hết mọi hoạt ựộng của con người Khi
có rủi ro người ta không thể tắnh toán chắnh xác kết quả Sự hiện diện của rủi
ro gây lên sự bất ựịnh Nguy cơ rủi ro phát sinh bất cứ khi nào một hành ựộng dẫn ựến ựược hoặc mất không thể dự ựoán trước ựược.[7]
Rủi ro là sự bất trắc có thể ựo lường ựược [Frank Knight]
2.1.5 Phân bi ệt giữa rủi ro và sự không chắc chắn
Từ khái niệm nêu trên ta nhận thấy rằng rủi ro là khách quan và nếu có ựẩy ựủ thông tin thì có thể tắnh ựược xác suất các sự kiện xảy ra, còn không chắc chắn là tình trạng mà các kết quả có khả năng xảy ra và xác suất của nó không biết trước khi quyết ựịnh quản lắ Có nghĩa là con người có thể tác ựộng ựể giảm bớt sự thua thiệt cho người sản xuất đó cũng là nguyên tắc cho việc ra quyết ựịnh cho quản lý rủi ro phải dựa vào chủ quan của từng người Rủi ro và không chắc chắn có thể ựịnh nghĩa theo nhiều cách khác nhau, song cách phân biệt thông thường ựó là: Rủi ro là sự biết không hoàn hảo về kết quả có khả năng xảy ra và xác suất của nó, còn không chắc chắn là kết quả
có khả năng xảy ra và xác suất của nó là không biết trước Nhưng sự phân biệt này không có ắch lắm vì nhiều trường hợp có biết trước xác suất khách quan Rủi ro ựề cập ựến nhiều kết quả có thể xảy ra với các khả năng khác nhau, Khả năng của một kết quả nào ựó hiểu theo nghĩa tần suất trung bình xảy ra kết quả ựó Trong khi ựó không chắc chắn ựề cập ựến tình trạng có nhiều kết quả có thể xảy ra trong một quyết ựịnh nhưng chưa biết khả năng
Trang 23xảy ra của từng kết quả Như vậy rủi ro và không chắc chắn chỉ khác nhau ở việc ñánh giá ñược hay không
Gọi là rủi ro khi tự nó tỏ rõ một khả năng tổn thất thực sự ðối với những quyết ñịnh hàng ngày thì rủi ro không quan trọng bởi vì tổn thất không lớn hoặc xác suất gánh chịu mất mát ñược cho là nhỏ không ñáng kể Nhưng ñối với những quyết ñịnh quan trọng của cuộc ñời hoặc những quyết ñịnh của sản xuất hay nuôi trồng một con vật gì hay cây gì người ta phải cân nhắc ñến
sự không chắc chắn vì nó sẽ có những phương án khác nhau giữa hậu quả tốt
và xấu Do ñó, ñối với những quyết ñịnh như vậy thì rủi ro có thể ñược ñánh giá là có ý nghĩa quan trọng Trong chăn nuôi lợn, nhiều quyết ñịnh không cần tính ñến rủi ro nhưng có nhiều quyết ñịnh cũng nên chú ý khi lựa chọn các khả năng sẵn có
Có thể rủi ro là quan trọng kể cả ñối với một quyết ñịnh sản xuất hàng ngày, ñó là trường hợp mà hiệu ứng tích luỹ của các lựa chọn có thể ảnh hưởng ñến toàn bộ kết quả chăn nuôi lợn
2.1.6 T ổng quan về cầu, nhu cầu
2.1.6.1 Khái niệm cầu
Khái niệm Cầu: Cầu là lượng hàng hoá dịch vụ mà người tiêu dùng có khả năng và sẵn sàng mua ở các mức giá khác nhau (mức giá chấp nhận) trong một phạm vi không gian và thời gian nhất ñịnh khi các yếu tố khác không thay ñổi [8]
Cầu trong nông nghiệp ñược nghiên cứu dựa trên lý thuyết chung về cầu thảo luận trong kinh tế học vi mô Cầu trong nông nghiệp bao gồm cầu về sản phẩm nông nghiệp và cầu về các yếu tố ñầu vào, dịch vụ dùng trong nông nghiệp Cầu về sản phẩm có những nét khác với cầu về ñầu vào và dịch vụ.[9]
Cầu chỉ xuất hiện khi có ñủ hai yếu tố ñó là:
+ Có khả năng mua: nghĩa là phải có tiền, có ñủ ngân sách
+ Sẵn sàng mua: muốn mua, phụ thuộc vào sở thích của người tiêu dùng
Trang 24Quy luật cầu: Giả sử các ñiều kiện khác không ñổi, khi giá hàng hoá,
dịch vụ càng cao, lượng cầu về hàng hoá, dịch vụ ñó càng ít và ngược lại Quy luật này ñược phản ánh ở hình 2.1
Hàm cầu: Cầu thị trường một loại hàng hoá dịch vụ phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, cho nên sự thay ñổi của những yếu tố này sẽ ảnh hưởng trực tiếp ñến cầu hàng hoá dịch vụ ñó ðể nghiên cứu mối quan hệ giữa cầu hàng hoá
và các yếu tố ảnh hưởng ñến nó, người ta sử dụng một hàm số gọi là hàm số của cầu (hàm cầu)
Trong ñó:
quý, năm) và ñóng vai trò hàm số cầu
thị hiếu, sở thích người tiêu dùng; N là quy mô dân số; E là kỳ vọng của người tiêu dùng về sự ñổi thay của các yếu tố trên.[8]
Q P
Trang 252.1.6.2 Khái niệm nhu cầu
Trong cuộc sống hàng ngày khái niệm nhu cầu ñược dùng khá phổ biến
và có nhiều cách hiểu khác nhau về nhu cầu
- Theo Philip Kotler chuyên gia marketing hàng ñầu của thể giới: “Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một cái gì ñó mà con người cảm nhận ñược Nhu cầu của con người là một tập hợp ña dạng và phức tạp, từ những nhu cầu có tính chất bản năng sinh tồn như ăn, uống, mặc, ở, an toàn… ñến những nhu cầu về tình cảm trí thức, tôn trọng, tự thể hiện mình Những nhu cầu ñó gắn liền với tình cảm con người, gắn liền với sự phát triển của xã hội mà mỗi con người sống trong ñó [10]
Abraham Maslow Là một nhà tâm lý học người Mỹ Ông là người ñáng chú ý nhất với sự ñề xuất về Tháp Nhu Cầu Ông ñược xem là cha ñẻ của chủ nghĩa nhân văn Theo Abraham Maslow, nhu cầu của con người phù hợp với sự phân cấp từ nhu cầu thấp nhất ñến nhu cầu cao nhất Khi một nhóm các nhu cầu ñược thỏa mãn thì loại nhu cầu này không còn là ñộng cơ thúc ñẩy nữa
Nhu cầu sinh lý (Vật Chất): Là những nhu cầu cơ bản ñể có thể duy trì bản thân cuộc sống con người (Thức ăn, ñồ mặc, nước uống, nhà ở…) A.Maslow quan niệm rằng khi nhu cầu này chưa ñược thỏa mãn tới mức ñộ cần thiết ñể có thể duy trì cuộc sống thì nhu cầu khác sẽ không thúc ñẩy ñược mọi người
Nhu cầu về an toàn: Là những nhu cầu tránh sự nguy hiểm về thân thể và
sự ñe dọa mất việc, mất tài sản…
Nhu cầu xã hội (về liên kết và chấp nhận): Do con người là thành viên của xã hội nên họ cần ñược những người khác chấp nhận Con người luôn có nhu cầu yêu thương gắn bó Cấp ñộ nhu cầu này cho thấy con người có nhu cầu giao tiếp ñể phát triển
Trang 26Nhu cầu ựược tôn trọng: Theo A.Maslow, khi con người bắt ựầu thỏa mãn nhu cầu ựược chấp nhận là thành viên trong xã hội thì họ có xu thế tự trọng và muốn ựược người khác tôn trọng Nhu cầu loại này dẫn tới sự thỏa mãn như: Quyền lực, uy tắn, ựịa vị và lòng tự tin đây là mong muốn của con người nhận ựược sự chú ý, quan tâm và tôn trọng từ những người xung quanh và mong muốn bản thân là một Ộmắt xắchỢ không thể thiếu trong hệ thống phân công lao ựộng xã hội Việc họ ựược tôn trọng cho thấy bản thân từng cá nhân ựều mong muốn trở thành người hữu dụng theo một ựiều giản ựơn là Ộxã hội chuộng của chuộng côngỢ Vì thế, con người thường có mong muốn có ựịa vị cao ựể ựược nhiều người tôn vọng và kắnh nể
Nhu cầu tự hoàn thiện: A.Maslow xem ựây là nhu cầu cao nhất trong cách phân cấp của ông đó là sự mong muốn ựể ựạt tới chỗ mà một con người
có thể ựạt tới Tức là làm cho tiềm năng của một người ựạt tới mức tối ựa và hoàn thành ựược một mục tiêu nào ựó đây là khát vọng và nỗ lực ựể ựạt ựược mong muốn Con người tự nhận thấy bản thân cần thực hiện một công việc nào ựó theo sở thắch và chỉ khi công việc ựó ựược thực hiện thì họ mới cảm thấy hài lòng
Thuyết nhu cầu sắp xếp nhu cầu con người từ thấp lên cao Những nhu cầu ở cấp cao hơn sẽ ựược thỏa mãn khi nhu cầu cấp thấp hơn ựược ựáp ứng trên cơ sở ựó mà nâng dần lên các nhu cầu bậc cao Thuyết nhu cầu của A Maslow là thuyết ựạt tới ựỉnh cao trong việc nhận dạng các nhu cầu tự nhiên của con người nói chung
Trang 27Hình 2.2 Th ứ tự sắp xếp nhu cầu của Abraham H Maslow năm 1943
2.1.7 Các y ếu tố ảnh hưởng ñến nhu cầu bảo hiểm trong chăn nuôi lợn thịt
Trong thực tế thì nhu cầu của người chăn nuôi lợn thịt có ảnh hưởng rất lớn ñến các nhà cung cấp bảo hiểm trong nông nghiệp Nếu những hộ chăn nuôi lợn thịt cảm thấy rất cần thiết phải có bảo hiểm trong chăn nuôi lợn thịt thì bảo hiểm sẽ có cơ hội ñể phát triển còn ngược lại thì bảo hiểm vật nuôi sẽ chậm phát triển thậm trí là không thể tồn tại
Bảo hiểm nông nghiệp của Việt Nam hiện nay vẫn chưa phát triển mạnh, nhưng tầm quan trọng của bảo hiểm nông nghiệp là rất lớn trong ñiều kiện thời tiết, dịch bệnh ngày càng diễn biến phức tạp làm ảnh hưởng ñến người chăn nuôi Tuy nhiên nhìn chung hiểu biết về bảo hiểm của người chăn nuôi lợn còn rất hạn chế
Thị trường bảo hiểm nông nghiệp mặc dù còn "mênh mông" nhưng không doanh nghiệp nào ñủ can ñảm "nhảy vào" vì chưa thấy tia sáng nào lạc quan Những yếu tố như tập quán chăn nuôi nhỏ của người nông dân, nhận
Khẳng tự hoàn thiện
Nhu cầu ñược tôn trọng
Nhu cầu xã hội Nhu cầu an toàn
Nhu cầu thể chất và sinh lý
Trang 28thức về bảo hiểm và mức thu nhập thấp ñều ñược các công ty bảo hiểm ñánh giá là những rủi ro
Nếu chỉ bảo hiểm theo hướng kinh doanh ñơn thuần thì không có doanh nghiệp bảo hiểm nào mặn mà với bảo hiểm nông nghiệp vì kinh doanh không
có hiệu quả, nguy cơ thua lỗ cao Nếu có triển khai bảo hiểm nông nghiệp thì cũng chọn ñối tượng ít có rủi ro ñể nhận bảo hiểm hoặc tiến hành một cách cầm chừng ðối tượng bảo hiểm nông nghiệp rất phong phú và trên diện rộng cho nên rất khó trong công tác quản lý rủi ro, dễ phát sinh các tiêu cực trong vấn ñề xác ñịnh thiệt hại
chăn nuôi lợn thịt
Bảo hiểm nông nghiệp ñược ñánh giá là một nghiệp vụ rất khó khăn không chỉ riêng ở Việt Nam mà trên phạm vi toàn thế giới Chính vì vậy, chính phủ của nhiều quốc gia ñã phải can thiệp vào bảo hiểm nông nghiệp ñể hỗ trợ cho sản xuất nông nghiệp của họ Qua thực tiễn triển khai thí ñiểm bảo hiểm nông nghiệp ở Việt Nam, các doanh nghiệp bảo hiểm ñã gặp nhiều khó khăn, vướng mắc không chỉ riêng ñối với doanh nghiệp mà cả từ phía người dân
“Bảo hiểm nông nghiệp là lĩnh vực hoạt ñộng phức tạp, tốn kém, khả năng sinh lợi thấp và rất dễ bị thua lỗ Nếu tăng mức phí bảo hiểm thì nông dân không tham gia, giảm mức phí thì doanh nghiệp bị lỗ nên tìm cách tránh né" Theo các chuyên gia về bảo hiểm thì bảo hiểm nông nghiệp thất thế, trước hết do nông dân không có thói quen tham gia bảo hiểm, nhiều người chưa nhận thức ñược vai trò, lợi ích của bảo hiểm nông nghiệp Nông dân khi gặp rủi ro mới tìm ñến bảo hiểm, những hộ làm ăn kiểu cò con, nhỏ lẻ không mua bảo hiểm mà tự tìm cách khắc phục hậu quả Tuy vậy, theo tìm hiểu của chúng tôi, có một nghịch lý là nông dân ở các ñịa phương thường xuyên bị thiên tai, dịch bệnh luôn sẵn sàng tham gia bảo hiểm nông nghiệp nhưng lại không biết mua ở ñâu
Trang 29ðể người chăn nuôi tiến gần với doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm không thể thiếu ñược sự quan tâm, giúp ñỡ của chính quyền ñịa phương Nhà nước bằng các chính sách của mình cho phù hợp với lợi ích của người dân cũng như ñối với các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm ñể họ cảm thấy việc kinh doanh ñem lại lợi nhuận cao hơn và cũng ít rủi ro hơn
Thực sự sản xuất nông nghiệp là ngành sản xuất gặp rất nhiều rủi ro tại Việt Nam Hiện nay, một vấn ñề thời sự hơn cả là, người chăn nuôi ñang phải ñối mặt với dịch bệnh tai xanh trên gia súc… Và theo dự báo, số lợn bị tiêu hủy sẽ còn tăng lên trong thời gian tới khi dịch có những diễn biến phức tạp Thiệt hại gây ra cho ngành nông nghiệp nước ta lên ñến hàng nghìn tỷ ñồng Nhiều nông dân ñã phải thốt lên rằng: “Làm nông nghiệp như ñánh bạc với trời” Tham gia bảo hiểm nông nghiệp về nguyên tắc, nông dân bán hàng sẽ phải trích một phần thu nhập cho bảo hiểm nông nghiệp ñể khi mất giá, bảo hiểm sẽ bù lại
Vì vậy, một trong những ñiều kiện ñể chăn nuôi phát triển bền vững là việc ñược tham gia bảo hiểm chăn nuôi, loại hình bảo hiểm này sẽ là “bà ñỡ”,
là tấm “lá chắn” cho người sản xuất Thế nhưng, hầu hết các công ty bảo hiểm
lại chưa sẵn sàng cung cấp loại hình bảo hiểm chăn nuôi cho bà con nông dân
2.1.8 Lý lu ận về phương pháp tạo dựng thị trường (Contigent Valuation
2.1.8.1 Cơ sở lý thuyết của phương pháp tạo dựng thị trường (CVM)
CVM là một phương pháp cho phép ướng lượng một loại hàng hoá Tên của phương pháp này bẳt nguồn từ câu trả lời ngẫu nhiên ñối với một câu hỏi dựa trên việc miêu tả thị trường giả ñịnh cho người ñược hỏi (Johasson 1993) CVM lần ñầu ñược Davis (1963) ñưa ra ñể ước lượng giá trị ngoài trời Phương pháp này ñược tiến hành bằng cách hỏi các cá nhân có liên quan trực
Trang 30tiếp hay gián tiếp tới hàng hoá Những cá nhân ñược hỏi về mức WTP của họ cho một sự thay ñổi trong cung cấp hàng hoá dịch vụ và các mức này thường ñược thu thập thông qua các phiếu ñiều tra Về thực chất, CVM tạo ra một thị trường giả ñịnh, trong ñó cá nhân trong mẫu ñiều tra ñược coi như các thành phần tham gia vào thị trường có thể sử dụng hay không sử dụng
Thông thường, ñối với phương pháp này sẽ có hai giả ñịnh về thị trường bảo hiểm chăn nuôi lợn thịt Nếu bảo hiểm chăn nuôi giúp giảm thiểu rủi ro, các cá nhân ñược hỏi sẽ sẵn lòng chi trả cho việc giảm thiểu ñó không và nếu
có thì mức WTP là bao nhiêu Ngược lại nếu bảo hiểm không giúp hộ chăn nuôi giảm thiểu rủi ro thì họ có sẵn lòng chi trả ñể tránh thiệt hại ñó hay không và nếu có thì mức WTP là bao nhiêu
2.1.8.2 Trình tự áp dụng của phương pháp tạo dựng thị trường
ðể tìm hiểu WTP của các cá nhân ñối với một thay ñổi trong dịch vụ bảo hiểm chăn nuôi cần triển khai các bước sau:
(1) Mô tả viễn cảnh và giải thích những ảnh hưởng do sự thay ñổi trong việc cung cấp dịch vụ bảo hiểm chăn nuôi lợn
(2) Cá nhân ñược hỏi sẽ ñược nhận biết viễn cảnh ñưa ra, trong ñó có các lựa chọn liên quan ñến dịch vụ bảo hiểm chăn nuôi lợn
Phương pháp tạo dựng thị trường là phương pháp tạo ra một thị trường khi mà hiện tại thị trường của một loại hàng hoá, dịch vụ nào ñó chưa phát triển ðặc ñiểm của phương pháp này là sử dụng phiếu ñiều tra ñược lập sẵn
ñể thu thập thông tin Khi hộ chăn nuôi lợn ñược phỏng vấn qua phiếu ñiều tra họ sẽ hiểu rõ ñược lợi ích khi tham gia bảo hiểm chăn nuôi lợn Sau ñó, các hộ chăn nuôi lợn sẽ ñược hỏi về mức sẵn lòng chi trả của chính họ cho việc tham gia bảo hiểm trong chăn nuôi lợn và nhu cầu của các hộ nông dân chăn nuôi lợn chính là nhu cầu của sự “sẵn lòng chi trả” Các bước tiến hành trong phương pháp này cụ thể như sau:
Trang 31Bước 1: Xác ñịnh các mục tiêu
1 ðịnh giá cái gì?
Mục tiêu của việc ñịnh giá mà người ñiều tra muốn tiến hành vào một loại hàng hoá, dịch vụ nào ñó
2 Thiết lập giá trị ño lường và ñơn vị dùng ñể ño lường
Nghiên cứu của chúng tôi có thể lấy giá trị cận biên hoặc giá trị trung bình của các hộ nông dân chăn nuôi lợn và ñơn vị tính ñược sử dụng ñể ño lường là tấn sản phẩm/vụ hoặc có thể tấn sản phẩm/năm
3 Khoảng thời gian tiến hành ñiều tra
Người phân tích sẽ quyết ñịnh ñiều tra và thời gian nào cho phù hợp, với ñề tài nghiên cứu này chúng tôi có thể sử dụng khoảng thời gian là vụ hoặc năm
4 Ai sẽ ñược phỏng vấn
Xác ñịnh rõ ñược những người có liên quan, ñó là những hộ nông dân có nhu cầu tham gia bảo hiểm chăn nuôi lợn và tham khảo ý kiến của một số cán
bộ của huyện Việt Yên
Bước 2: Thiết kế câu hỏi
Thiết kế bảng câu hỏi tốt có tính chất quyết ñịnh sự thành công của quá trình ñiều tra ñịnh giá
1 Giới thiệu
Giới thiệu một vài thông tin về bản thân và mục ñích của cuộc phỏng vấn
ñể người ñược phỏng vấn cảm thấy có liên quan
2 Những thông tin kinh tế xã hội
Mục ñích phỏng vấn các hộ chăn nuôi lợn những thông tin liên quan như:
ñộ tuổi, thu nhập, trình ñộ học vấn
3 Viễn cảnh ñưa ra
Mỗi nghiên cứu khác nhau ñều có viễn cảnh khác nhau, cung cấp thông tin trong quá trình chăn nuôi, tiêu thụ và nhu cầu tham gia bảo hiểm của các
Trang 32hộ nông dân Viễn cảnh này còn ñịnh giá cho những hoàn cảnh khác nhau trong những giai ñoạn khác nhau cho nhu cầu tham gia bảo hiểm
4 Phương pháp ñể tỉm hiểu hình thức sẵn lòng chi trả
Thông qua phiếu ñiều tra từ người ñược phỏng vấn ñể ñưa ra các hình thức câu hỏi khác nhau: câu hỏi mở, trò ñấu súng; thẻ thanh toán và các câu hỏi có hay không Mỗi phương pháp khi tìm hiểu WTP có mặt hạn chế riêng, trong một số trường hợp có sự thiên lệch về chiền lược, về ñiểm xuất phát, về cơ chế thanh toán Do ñó khi ñiều tra phỏng vấn chúng tôi có thể kết hợp ñể tìm hiểu giá trị của mức WTP cao nhất của người ñược hỏi
5 Cơ chế chi trả
Khi sử dụng phương pháp CVM ñiều quan trọng nhất là thiết kế câu hỏi,
sử dụng câu hỏi một cách chính xác và xác ñịnh ñược hình thức chi trả thích hợp nhất Trường hợp này phải ñưa ra vài câu hỏi mang tính thử nghiệm và từ
ñó phân tích kết quả nghiên cứu từ ñó ñưa ra hình thức chi trả phù hợp nhất ñối với các hộ chăn nuôi lợn
Bước 3: Chọn mẫu và tiến hành khảo sát
Bước này liên quan ñến những vấn ñề trong thực tế ñiều tra
Bước 4: Phân tích số liệu
Bước này cần phải tiến hành khi ñã thực hiện khi kết thúc quá trình ñiều tra
vụ Vì phương pháp này ñược tiến hành bằng cách tạo ra một thị trường giả ñịnh Từ ñó, các nhà phân tích có thể xác ñịnh giá trị của hàng hoá dịch vụ qua việc xem xét thái ñộ và hành vi của các cá nhân trong thị trường giả ñịnh này
Trang 33Một ưu ñiểm nữa của phương pháp này là trong trường hợp ñơn giản không cần thiết phải có lượng dữ liệu lớn như các phương pháp khác Số liệu
có thể thu thập dưới nhiều mức ñộ khác nhau tuỳ thuộc vào thời gian và nguồn tài chính cho phép ñể nghiên cứu, và các kỹ thuật sử dụng ñề thu ñược các phần giá trị Nhiều nghiên cứu về ñịnh giá chi phí bảo hiểm không có nhiều số liệu hoặc số liệu không ñáng tin cậy, nhưng qua phương pháp CVM,
số liệu ñược tiến hành qua các cuộc ñiều tra ðiều tra có thể ñược tiến hành qua thư gửi bằng bưu ñiện, hoặc phỏng vấn trực tiếp… trong nghiên cứu này
số liệu ñược thu thập bằng phỏng vấn trực tiếp
Hạn chế
Bên cạnh những ñiểm mạnh của phương pháp CVM so với phương pháp ñịnh giá khác, phương pháp này còn một số hạn chế Thông thường mức WTP của người ñược hỏi thường bị hạ thấp do những người ñược hỏi cho rằng họ có thể ñược hưởng lợi khi sử dụng phí bảo hiểm trong chăn nuôi lợn thịt ở mức giá rất thấp hoặc không phải trả tiền Chẳng hạn như trong thời gian thu phí bảo hiểm ở ñịa phương không có dịch bệnh xảy ra trên ñàn lợn thịt… Do vậy, họ không ñưa ra mức bằng lòng chi trả cho bảo hiểm chăn nuôi
Ngoài ra, những câu hỏi thường ñược ñiều tra dựa trên tình huống giả ñịnh Do ñó, khả năng áp dụng còn phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức, hành
vi, thái ñộ, quan ñiểm và cách ứng sử về bảo hiểm trong chăn nuôi lợn cần ñịnh giá và mức thu nhập của người ñược phỏng vấn ðây là những lý do giải thích tại sao ở các nước ñang phát triển WTP trung bình thường bị hạ thấp hơn so với các nước phát triển
vốn có trong các kỹ thuật, chủ yếu thiên lệch chiến lược, thiên lệch do ñiểm xuất phát, do cơ chế thanh toán… ðây chính là vấn ñề chúng ta cần quan tâm khi tiến hành phương pháp CVM
Trang 342.2 Cơ sở thực tiễn của ñề tài
2.2.1 Ch ương trình bảo hiểm của một số nước trên thế giới và Việt Nam
2.2.1.1 Chương trình bảo hiểm của Trung Quốc
Trung Quốc là một trong những người khổng lồ nông nghiệp trên thế giới Tuy nhiên, vì nhu cầu về sản lượng nông nghiệp gia tăng nhiều hơn nên ñất nước này ngày càng phải ñương ñầu với tình huống ñầy thách thức: ðất trồng trọt ñược thì hạn chế còn cây trồng lại bị lũ lụt, hạn hán và bão ñe doạ Ngay từ thập niên 1950, các công ty bảo hiểm nhà nước ñã cung cấp bảo hiểm vật nuôi Tiếp theo ñó là bảo hiểm cây trồng vào thập niên 1980 Nhưng các sản phẩm này hiếm khi có lãi còn các công ty bảo hiểm miễn cưỡng bán các sản phẩm ñó Trái ngược với sự tăng vọt về doanh thu bảo hiểm phi nhân thọ và nhân thọ khác, phí bảo hiểm nông nghiệp giảm gần 50% trong giai ñoạn từ năm 1992 ñến 2002 Từ năm 2007, chính quyền trung ương và chính quyền ñịa phương Trung Quốc ñã hỗ trợ nông dân bằng các khoản trợ cấp phí bảo hiểm nông nghiệp ñược coi như là biện pháp khuyến khích ñầu tư cho ñầu vào có chất lượng cao và kỹ thuật nông nghiệp cải tiến Cơ quan giám sát bảo hiểm Trung Quốc (CIRC) cho rằng sự phát triển của bảo hiểm nông nghiệp cần ñược “chính phủ chỉ ñạo, hỗ trợ bằng chính sách và vận hành theo
cơ chế thị trường vói sự tham gia tự nguyện của nông dân”[12].Các khoản trợ cấp phải làm cho phí bảo hiểm nông nghiệp có thể chấp nhận ñược với phần lớn nông dân và giúp họ có lời từ tiền bồi thường bảo hiểm trong trường hợp
vụ thu hoạch kém Như ở nhiều nước khác, các khoản trợ cấp là một biện pháp thúc ñẩy ngành bảo hiểm nông nghiệp lớn mạnh Hơn thế nữa, tổ chức thương mại thế giới ñã loại trừ các khoản trợ cấp phí bảo hiểm nông nghiệp khỏi hiệp ñịnh thương mại tự do 1994 nếu nông nghiệp làm giảm nhẹ cho nông dân khỏi ảnh hưởng tài chính của thảm hoạ khí hậu hoặc thiên nhiên Năm 2007, Chính phủ Trung Quốc ñã chi khoảng 300 triệu USD vào các khoản trợ cấp nông nghiệp Khoản trợ cấp này tăng nên 900 triệu USD vào
Trang 35năm 2008, bảo hiểm nông nghiệp do các công ty bảo hiểm tài sản và trách nhiệm ñứng ñầu như là PICC và China United cũng như các công ty bảo hiểm nông nghiệp chuyên ngành như Anxin (Thượng Hải), Sunlight (Hắc Long Giang) cung cấp Chính quyền trung ương trợ cấp cho chương trình bảo hiểm cây trồng ña rủi ro (MPCI), ñược triển khai ở 16 tỉnh và vùng miền và bao gồm 6 loại cây trồng chính, và trợ cấp cho cả chương trình bảo hiểm vật nuôi bảo hiểm cho lợn nái giống và từ năm 2008 là bảo hiểm trâu bò Ngoài ra, một số cây trồng chuyên dụng không ñủ ñiều kiện ñược chính quyền trung ương trợ cấp thì lại ñược hỗ trợ bằng các khoản trợ cấp của chính quyền ñịa phương Với những sự phát triển này, ước tính thị trường bảo hiểm nông nghiệp Trung Quốc ñạt doanh thu phí bảo hiểm khoảng 1,8 tỷ USD vào năm
2008 (hình 2.3), khiến cho Trung Quốc trở thành thị trường lớn thứ 2 sau Mỹ
Dự tính chương trình bảo hiểm cây trồng ña rủi ro và vật nuôi sẽ ñược mở rộng sang các tỉnh khác và bảo hiểm thêm cả các cây trồng vật nuôi khác Dự kiến hướng phát triển tiếp theo có thể là ngành lâm nghiệp, trồng trọt trong nhà kính và nuôi trồng thuỷ sản
Hình 2.3 Doanh thu phí bảo hiểm nông nghiệp của Trung Quốc [11]
Trang 362.2.1.2 Bảo hiểm theo chỉ số lượng nước mưa của Ấn ðộ
Ở Ấn ðộ, kết quả khảo sát việc tiếp cận ñược các chương trình tín dụng chính thức của Chính phủ năm 1991 cho thấy, chỉ có 1/6 hộ gia ñình nông dân
Ấn ðộ với quy mô tín dụng chiếm khoảng 35% tổng thị trường Phần lớn nông dân phải sử dụng dịch vụ tín dụng phi chính thức với lãi suất cắt cổ từ 40-120%/năm Hạn hán là nguyên nhân quan trọng, thường xuyên làm giảm thu nhập và làm tăng mức ñộ xù nợ tín dụng của nông dân ðiều này khiến các tổ chức tín dụng chính thức không nhiệt tình cho nông dân vay vốn Trong bối cảnh này, bảo hiểm nông nghiệp theo chỉ số lượng nước mưa ñược thiết kế ra một phần nhằm làm tăng khả năng của nông dân trong việc tiếp cận với tín dụng chính thức của nhà nước
Ban ñầu, Công ty bảo hiểm ICICI Lombard bán sản phẩm bảo hiểm trên thông qua BASIX – một tổ chức tín dụng vi mô hàng ñầu của Ấn ðộ Trong khuôn khổ của sản phẩm này, nông dân sẽ ñược ñền bù nếu mực nước mưa trong mùa mưa rơi xuống 95% hoặc thấp hơn mực nước mưa tham khảo cho mỗi loại cây trồng Mực nước mưa tham khảo ñược tính theo bình quân gia quyền lượng nước mưa trong mùa trồng cấy, trong ñó thời kỳ (10 ngày ñược tính là một thời kỳ) quan trọng hơn ñối với cây trồng sẽ có một hệ số cao hơn Theo kinh nghiệm của ICIC Lom bard và BASIX, một số công ty bảo hiểm khác cũng tiến hành khai thác bảo hiểm nông nghiệp theo chỉ số lượng nước mưa, làm cho thị trường phát triển rất nhanh, nếu như năm 2003 mới chỉ
có 230 hộ nông dân tham gia có 2 loại cây trồng, thì năm 2004 ñã có 20.000
hộ và năm 2005 ñã có 250.000 hộ nông dân trên toàn quốc tham gia cho rất nhiều loại cây trồng.[13]
2.2.1.3 Bảo hiểm chăn nuôi theo chỉ số của Mông Cổ
Chăn nuôi ñóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Mông Cổ với hơn
30 triệu súc vật ñược nuôi, trị giá hơn 1 tỷ ñôla, ngành này ñóng góp hơn 80% giá trị sản xuất nông nghiệp, gần 30% GDP của nước này Những biến ñộng
Trang 37của chăn nuôi sẽ có tác ñộng to lớn tới ñời sống của nông dân và toàn bộ nền kinh tế
Chỉ trong giai ñoạn 200-2002 ở Mông Cổ ñã có khoảng 11 triệu súc vật
bị chết do mùa ñông quá lạnh Dưới sự hỗ trợ của WB, Mông Cổ ñã thử nghiệm hình thức bảo hiểm chăn nuôi theo chỉ số ñể ổn ñịnh tình hình chăn nuôi Lý do chọn hình thức bảo hiểm này thay vì các hình thức bảo hiểm truyền thống một phần là do việc xác ñịnh tổn thất thực tế của hình thức bảo hiểm truyền thống là rất tốn kém
Lúc ñầu, bảo hiểm theo chỉ số thời tiết ñược xem xét Tuy nhiên hệ thống ño ñạc dự báo thời tiết của Mông Cổ chưa ñủ tốt ñể có thể cung cấp ñầy
ñủ thông tin cho ngành bảo hiểm Vì thế loại bảo hiểm này không thể triển khai ñược, và Mông Cổ chuyển sang loại bảo hiểm theo chỉ số tỷ lệ chết của súc vật trưởng thành trong khu vực Mông Cổ có số liệu về tỷ lệ chết của súc vật trong 33 năm liền nên có thể triển khai ñược loại hình này Chính phủ quy ñịnh phân tầng rủi ro chăn nuôi như sau:
- Tỷ lệ chết dưới 7%: Người chăn nuôi, ngân hàng tự chịu [14];
- Tỷ lệ chết từ 7%-30%: Các công ty bảo hiểm, tái bảo hiểm ñền bù thông qua sản phẩm bảo hiểm cơ bản (Base Insurance Product – BIP) Bản thân Chính phủ Mông Cổ cam kết sẽ tái bảo hiểm không hạn chế cho các công ty bảo hiểm.[14]
- Tỷ lệ chết từ 30%-100%: Chính phủ tài trợ từ hệ thông an sinh xã hội, với ñiều kiện người chăn nuôi có mua BIP [14]
Mặc dù BIP chỉ ñền bù khi tỷ lệ chết từ 7%-30%, nhưng khi súc vật chết hàng loạt trên diện rộng thì ñây cũng là một tổn thất cực kỳ lớn Vì vậy các công ty bảo hiểm ñã tập hợp lại trong một pool, theo ñó toàn bộ phí bảo hiểm thu ñược tập trung về pool, và các công ty bảo hiểm chia lãi/lỗ theo tỷ lệ ñóng góp trong pool [14]
Trang 38Với loại hình bảo hiểm nói trên, Chính phủ Mông Cổ phải chịu rủi ro kép, ñó là chịu trách nhiệm tái bảo hiểm cho các công ty bảo hiểm và chịu toàn bộ tổn thất vượt quá 30% ñối với nông dân ñã mua BIP
Chương trình bảo hiểm thử nghiệm trên ñược bắt ñầu từ 2006 và ñược thực hiện trong 3 năm dưới sự hỗ trợ của WB ðến nay, Chương trình ñã bao phủ 90% thị trường Các thị trường bị bỏ ngỏ là những vùng quá rộng nhưng
số súc vật nuôi lại tương ñối ít WB hỗ trợ không hoàn lại 5 triệu USD, ngoài
ra cam kết cho vay với thời gian ân hạn 7 năm và lãi suất ưu ñãi ñể triển khai chương trình trong thời gian thử nghiệm cũng như sau ñó ðiều này phần nào chứng tỏ WB và Chính phủ Mông Cổ ñã lường trước chi phí của Chính Phủ cho việc thực hiện chương trình là không nhỏ
2.2.1.4 Thực trạng bảo hiểm nông nghiệp ở Việt Nam
Không thể xây dựng một thị trường bảo hiểm nông nghiệp một cách ñơn giản bằng cách tách biệt nó với các yếu tố khác ðối thoại tích cực về chính sách phải nêu ra ñược những câu hỏi sâu sắc cho những thiệt hại do hiện tượng thời tiết nghiêm trọng gây ra giúp ích gì cho Việt Nam trong xoá ñói giảm nghèo và tăng trưởng kinh tế? Các chính sách hiện tại ñang gây ra những cản trở gì cho sự phát triển của bảo hiểm nông nghiệp?
Mặc dù trong thời gian gần ñây Việt Nam ñạt ñược nhiều bước tiến về kinh tế, nhưng tỉ lệ nghèo ñói vẫn ở mức cao Giống như hầu hết nền kinh tế ñang phát triển và trong quá trình chuyển ñổi, ñại ña số người dân vấn sống dựa vào nông nghiệp Tỷ lệ lao ñộng nông nghiệp chiếm 66% dân số, tương ñương với 57 triệu người dân trên tổng số 86 triệu (FAO, 2006) Nghèo ñói là một vấn ñề trầm trọng nhất ở những vùng nông thôn, có khoảng 90% người nghèo của Việt Nam sống tại các vùng nông thôn và xấp xỉ 80% người nghèo
là những người làm nông nghiệp Khoảng 9,6 triệu hộ gia ñình nông thôn chiếm 80% trên tổng số tất cả các hộ nông nghiệp sống phụ thuộc vào nông nghiệp và nhiều hộ nông nghiệp thành thị cũng như vậy Trình ñộ học vấn
Trang 39thấp, ít ñược tiếp cận với thị trường tài chính và không có nhiều quyền sở hữu tài sản ñều góp phần làm tình trạng nghèo ñói trở nên trầm trọng hơn, Rõ ràng
ñể ñợi ñến lúc giảm ñược ñói nghèo thì phần lớn nguồn nhân lực giúp thúc ñẩy tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam ñã không ñược huy ñộng hết
Việt Nam là nước xảy ra nhiều thiên tai, bão lớn, lũ lụt, hạn hán, nước biển dâng cao và những thiên tai khác gây nhiều khó khăn cho nhiều hộ gia ñình, ñặc biệt là những hộ gia ñình nông nghiệp Thiệt hại do thiên tai là một trong những tác nhân gây ra vòng lặp ñói nghèo Những hộ gia ñình vừa thoát khỏi ngưỡng nghèo rất dễ dàng bị tái nghèo nếu gặp phải thiên tai Trong khi
ñó, cũng như hầu hết các quốc gia ñang phát triển hay trong thời kì quá ñộ, thị trường tài chính nhằm chuyển giao rủi ro thiên tai ở Việt Nam hầu như không
có hoặc có thì cũng rất kém phát triển Bảo hiểm nông nghiệp là cách ñể chuyển giao rủi ro thiên tai ra khỏi ñịa phương hoặc thậm chí ra khỏi biên giới quốc gia khi tiép cận ñược với các công ty tái bảo hiểm quốc tế Tuy nhiên, ở Việt Nam, một số loại thiên tai xảy ra quá thường xuyên nên rất khó có thể có ñược các sản phẩm bảo hiểm phù hợp Khi ñó, sự can thiệp của Chính phủ là hết sức cần thiết, bao gồm cả việc xây dựng cơ sở hạ tầng giúp người dân phòng chống rủi ro lẫn giảm quy mô canh tác nếu rủi ro quá lớn
Những cá nhân và tổ chức quan tâm ñến thị trường bảo hiểm ở Việt Nam hiểu biết rất sâu về những vấn ñề nổi cộm của loại hình bảo hiểm nông nghiệp Những bài học kinh nghiệm rút ra từ những lần thử nghiệm ñối với bảo hiểm nông nghiệp của Bảo Việt là cơ sở quan trọng cho những nhà hoạch ñịnh chính sách của Việt Nam khi một lần nữa lại theo ñổi xây dựng thị trường bảo hiểm nông nghiệp Năm 1999, FAO ñã tiến hành một công việc hữu ích, là tổ chức tổng kết kinh nghiệm của Bảo Việt với bảo hiểm mùa màng, trong ñó nhấn mạnh vào những vấn ñề cố hữu của bảo hiểm nông nghiệp như chi phí quản lý cao trong kiểm soát lựa chọn ñối nghịch và rủi ro ñạo ñức, thiệt hại lớn về tài chính do những rủi ro tương quan nghiêm trọng
Trang 40Chính vì lẽ đĩ, dựa trên nền tảng kinh nghiệm đã được tích luỹ, Việt Nam cĩ thể vừa làm vừa rút kinh nghiệm
Bảo Việt đã từng cung cấp sản phẩm bảo hiểm lúa dựa trên mức độ thiệt hại và sản lượng trong 5 năm, từ năm 1993 cho đến khi chương trình bảo hiểm này bị chấm dứt Thiệt hại thực tế của Bảo Việt trong giai đoạn này lên tới 110% với tổng giá trị hơn 5 tỷ đồng, Sản phẩm bảo hiểm này được thực hiện tại 12 tỉnh do Bảo Việt chọn lựa với sự hưởng ứng của ủy ban nhân các tỉnh và sự tình nguyện của người dân tham gia Tuy các tỉnh được lựa chọn thí điểm sản phẩm bảo hiểm nơng nghiệp là những tỉnh trồng lúa điển hình nhưng những vùng được bảo hiểm lại chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng số diện tích gieo trồng Và hiển nhiên, kết quả sau đĩ cho thấy đối tượng chính tham gia bảo hiểm là những nơng hộ đến từ khu vực cĩ nguy cơ thiệt hại cao nhất, thực trạng lựa chọn đối nghịch này đã gây ra nhiều khĩ khăn nghiêm trọng cho Bảo Việt [13] Sản phẩm bảo hiểm được thí điểm giành cho nhiều rủi ro, mặc dù khơng chỉ ra rõ ràng là rủi ro nào khiến cho những người tính tốn tổn thất vốn đã ít kinh nghiệm gặp nhiều khĩ khăn trong tách biệt các vấn đề quản lý ra khỏi những thiệt hại gây ra bởi rủi ro Thiệt hại của mỗi hộ được tính tốn dựa trên cơ sở ước đốn sản lượng trung bình của cả vùng Do
đĩ, những nơng hộ cĩ giá trị sản lượng dự kiến thấp hơn sản lượng trung bình của cả vùng sẽ rất nhiệt tình tham gia bảo hiểm Ngược lại, các hộ nơng hộ cĩ giá trị sản lượng cao hơn so với mức trung bình sẽ khơng hứng thú tham gia Thực trạng lựa chọn đối nghịch này khiến cho bất kỳ một dự án bảo hiểm nào nếu chỉ căn cứ vào sản lượng ước tính của vùng để áp dụng đều khơng thể thành cơng
Bảo hiểm nơng nghiệp là một phần để giảm nhẹ những rủi ro, bất kỳ một sáng kiến mới nào cũng cần được thiết kế để tăng cường các chiến lược đáp ứng và giảm nhẹ rủi ro cũng cần phải đảm bảo rằng các chính sách hiện tại khơng gây ra chồng chéo hoặc quá tải đối với sản phẩm bảo hiểm dự tính