luận văn, thạc sĩ, tiến sĩ, cao học, khóa luận, đề tài
Trang 1Ng−êi h−íng dÉn khoa häc: PGS TS Ph¹m V¨n Ch−¬ng
Hµ néi - 2010
Trang 2Lời cam đoan
- Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học do tôi thực hiện từ năm 2009 - 2010 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Phạm Văn Chương
- Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đ6 được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đ6 được chỉ rõ nguồn gốc
- Các số liệu, kết quả nghiên cứu trình bày trong luận án là trung thực chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào khác ở trong và ngoài nước
Tác giả luận văn
Lê Văn Trường
Trang 3Lời cảm ơn
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Phạm Văn Chương người đ6 tận tình giúp đỡ, hướng dẫn, chỉ bảo và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài nghiên cứu, cũng như trong quá trình hoàn chỉnh luận văn tốt nghiệp
Xin bày tỏ lòng biết ơn Bộ môn Nghiên cứu Đậu đỗ Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp Bắc Trung Bộ, UBND huyện Nghi Xuân tỉnh Hà Tĩnh, UBND x6 Xuân Mỹ huyện Nghi Xuân, và bà con nông dân đ6 quan tâm giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện thí nghiệm
Xin chân thành cảm ơn L6nh đạo Viện Khoa học nông nghiệp Việt Nam, cùng toàn thể anh chị em Ban Đào tạo sau đại học; các bạn bè, đồng nghiệp đ6 nhiệt tình giúp đỡ tôi trong thời gian tôi học tập và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành tốt luận văn này
Tác giả luận văn
Lê Văn Trường
Trang 4môc lôc
1.2.3 Vai trß cña c©y l¹c trong hÖ thèng c©y trång 13
1.3 Yªu cÇu ®iÒu kiÖn sinh th¸i vµ dinh d−ìng cña l¹c 14
Trang 51.3.2 Đất đai 18
1.4 Kết quả nghiên cứu về các biện pháp kỹ thuật tăng năng suất lạc trên thế
1.4.1.2 Kết quả nghiên cứu về chọn tạo giống lạc ở trong nước 29
1.4.2.1 Kết quả nghiên cứu về phân bón trên thế giới 31 1.4.2.2 Kết quả nghiên cứu về phân bón ở Việt Nam 35
CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIấN CỨU 46
2.1 Vật liệu địa điểm và thời gian nghiên cứu 46
Trang 62.3.2 Ph−¬ng ph¸p bè trÝ thÝ nghiÖm 46
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 50
3.1 §iÒu kÞªn tù nhiªn, kinh tÕ - x· héi vµ t×nh h×nh s¶n xuÊt l¹c ë HuyÖn Nghi
3.2.2 Tû lÖ mäc mÇm vµ thêi gian mäc cña c¸c gièng l¹c 67
3.2.2 Thêi gian sinh tr−ëng cña c¸c gièng l¹c trong vô xu©n 2009 69
3.2.3 Kh¶ n¨ng tÝch lòy chÊt kh«, sù h×nh thµnh nèt sÇn cña c¸c gièng l¹c 71
3.2.4 ChØ sè diÖn tÝch l¸ cña c¸c gièng l¹c tham gia thÝ nghiÖm 72
3.2.5 §Æc ®iÓm ph©n cµnh, chiÒu cao c©y cña c¸c gièng l¹c 73
Trang 73.2.6 Mức độ nhiễm sâu, bệnh hại và khả năng thích ứng với điều kiện ngoại
3.2.7 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống lạc 77
3.2.8 Hàm lượng lipit và protêin của các giống tham gia thí nghiệm 79
3.3 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón tổng hợp NPK 80
3.3.1 ảnh hưởng của liều lượng NPK tổng hợp đến thời gian sinh trưởng phát
4.3.2 ảnh hưởng của liều lượng NPK đến chiều cao cây và số cành giống L20 82
3.3.3 ảnh hưởng của liều lượng NPK đến khả năng tích lũy chất khô và chỉ số
3.3.4 ảnh hưởng của liều lượng NPK đến sâu, bệnh hại đối với giống L20 84
4.3.6 ảnh hưởng của liều lượng NPK đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng
3.4 Kết quả nghiên cứu thời vụ đối với giống lạc L20 88
3.4.1 ảnh hưởng của thời vụ gieo trồng đến tỷ lệ mọc mầm và thời gian mọc
3.4.2 ảnh hưởng của thời vụ gieo trồng đến sự phân cành giống lạc L20 90
3.4.3 ảnh hưởng của thời vụ gieo trồng đến chỉ số diện tích lá (LAI) đối với
3.4.4 ảnh hưởng của thời vụ gieo trồng đến các yếu tố cấu thành năng suất và
Trang 8DANH mục các bảng
Bảng 3.1: Một số yếu tố khí hậu huyện Nghi Xuân - Hà Tĩnh 53
Bảng 3.2: Một số chỉ tiêu chính trong đất tại huyện Nghi Xuân - Hà Tĩnh 59
Bảng 3.3 Một số công thức luân canh chính trên đất cát 61
Bảng 3.4 Hiệu quả kinh tế của một số cây trồng chính trên đất cát 76
Bảng: 3.5 Đặc trưng hình thái của các giống lạc tham gia thí nghiệm 67
Bảng 3.6: Tỷ lệ mọc mầm và thời gian mọc mầm của các giống lạc 68
Bảng 3.7: Thời gian sinh trưởng của các giống lạc 70
Bảng 3.8: Khả năng tích lũy chất khô, sự hình thành nốt sần của các giống lạc 71
Bảng 3.9: Chỉ số diện tích lá của các giống lạc tham gia thí nghiệm 73
Bảng 3.10: Đặc điểm phân cành, chiều cao cây của các giống lạc 74
Bảng 3.11: Mức độ nhiễm sâu bệnh hại của các giống 76
tham gia thí nghiệm 76
Bảng 3.12: Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các giống 77
Bảng 3.13: Hàm lượng lipit và protein của các giống tham gia thí nghiệm 79
Bảng 3.14: ảnh hưởng của mức bón NPK tổng hợp đến thời gian 81
Bảng 3.15: ảnh hưởng của liều lượng NPK đến chiều cao cây và số cành 82
Bảng 3.16: ảnh hưởng của liều lượng NPK đến khả năng tích lũy chất khô và chỉ số diện tích lá của giống L20 83
Bảng 3.17: ảnh hưởng liều lượng NPK đến các yếu tố cấu thành năng suất và 86
Bảng 3.18: L6i thuần của các mức bón NPK đối với giống lạc L20 87
Bảng 3.19: Diễn biến khí hậu, thời tiết trong thời gian tiến hành thí nghiệm 89
Bảng3.20: ảnh hưởng của thời vụ gieo trồng đến tỷ lệ mọc mầm và thời gian mọc mầm của giống lạc L20 89
Bảng 3.21: ảnh hưởng của thời vụ gieo trồng đến sự phân cành giống lạc L20 91
Bảng 3.22: ảnh hưởng của thời vụ gieo trồng đến chỉ số diện tích lá 92
đối với giống lạc L20 92
Bảng 3.23: ảnh hưởng của thời vụ gieo trồng đến năng suất 93
Trang 9danh mục các biểu đồ, đồ thị
Hình 3.1 Diện tích, năng suất, sản l−ợng lạc của huyện Nghi Xuân 61
Hình 3.2 Tỷ lệ mọc mầm và thời gian mọc mầm của các giống lạc 68
Hình 3.3: Năng suất của các giống tham gia thí nghiệm 77
Hình 3.4 Hàm l−ợng lipit và protein của các giống tham gia thí nghiệm 79
Trang 10Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t
Trang 11Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cây lạc (arachis hypogeae L.) là cây trồng vừa có giá trị dinh dưỡng, vừa có giá trị kinh tế do trong hạt lạc chứa nhiều chất dinh dưỡng, đặc biệt là protein và lipit, đây là nguồn dinh dưỡng quan trọng đối với con người và gia súc Ngoài ra lạc
là cây trồng lý tưởng trong hệ thống luân canh, xen canh, tăng vụ và cải tạo đất ở rễ lạc có sự cộng sinh của vi khuẩn cố định đạm Rhizobium Vigna có khả năng cố
định nitơ từ khí quyển thành đạm cung cấp cho cây và sau mỗi vụ trồng lạc có thể
để lại trong đất 40 - 60 kgN/ha [9] Trong số các loại cây lấy dầu được trồng hàng năm trên thế giới, lạc đứng thứ hai sau đậu tương về diện tích và sản lượng (Krishnam A 1991) [67] Trong số 25 nước trồng lạc ở Châu á, Việt Nam đứng hàng thứ 5 sau ấn Độ, Inđônêxia, Trung Quốc, và Mianma (Vũ Công Hậu, Ngô Thế Dân, 1995) [36]
ở Việt Nam hiện nay, lạc là một trong số các mặt hàng nông sản xuất khẩu quan trọng Nhờ khả năng cố định đạm của hệ vi sinh vật sống cộng sinh nên lạc là cây cải tạo đất lý tưởng, có vị trí quan trọng trong hệ thống sản xuất nông nghiệp,
đặc biệt ở vùng nhiệt đới bán khô hạn Chính vì những ưu điểm như vậy, mà sản xuất lạc ở Việt Nam ngày càng tăng Năm 1990 đến năm 1994 sản xuất lạc có xu hướng tăng về diện tích và sản lượng nhưng năng suất còn thấp mới chỉ đạt trên 10 tấn/ha Năm 1995 năng suất lạc đạt 12,8 tạ/ha, cho đến niên vụ 2003 diện tích lạc cả nước đạt 240,300 ngàn ha, năng suất bình quân đạt 16,23 tạ/ha và sản lượng đạt 400,100 ngàn tấn Đến năm 2008 diện tích lạc cả nước đ6 lên tới 255,500 ngàn ha, sản lượng đạt 530,200 ngàn ha Một trong những yếu tố quan trọng góp phần nâng cao năng suất lạc là chọn tạo, du nhập được một số giống mới và áp dụng một số tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất Tuy nhiên khi so sánh với một số nước có năng suất lạc cao như: Mỹ (35,40 tạ/ha), Trung Quốc (26,2 tạ/ha), Malaysia (35,5 tạ/ha) thì năng suất lạc Việt Nam vẫn còn rất thấp Do đó, cải tiến biện pháp kỹ thuật sản xuất làm tăng năng suất để nâng cao hiệu quả kinh tế trên đơn vị diện tích và sử
Trang 12dụng bền vững tài nguyên đất là một trong những chủ trương, định hướng của cả nước nói chung và tỉnh Hà Tĩnh nói riêng
Huyện Nghi Xuân là một huyện đồng bằng ven biển của tỉnh Hà Tĩnh, có đất
đai và khí hậu phù hợp để phát triển cây công nghiệp ngắn ngày nói chung và cây lạc nói riêng Những năm gần đây nhờ có những chính sách của Đảng, Nhà nước và
sự khuyến khích của tỉnh mà diện tích cũng như năng suất của lạc không ngừng
được cải thiện Tuy nhiên năng suất lạc bình quân của huyện chỉ đạt 1,6 - 1,8 tấn/ha,
so với một số vùng sản xuất lạc trong cả nước thì năng suất lạc của huyện còn ở mức thấp Có rất nhiều nguyên nhân dẫn tới năng suất và sản lượng lạc còn thấp, song những nguyên nhân chính do:
- Chất lượng bộ giống và hệ thống cung ứng giống chưa đáp ứng nhu cầu Thực
tế ở Hà tĩnh, các giống lạc địa phương có năng suất và chất lượng thấp lại dễ nhiễm bệnh và đổ lốp; giống chủ yếu do nông dân tự sản xuất
- Các biện pháp kỹ thuật, công nghệ mới trong sản xuất thâm canh lạc chưa
đồng bộ và phù hợp cho từng giống; trong đó nổi bật là vấn đề, phân bón, thời vụ, nước tưới
Từ thực tế đó, để khắc phục và hạn chế những tồn tại trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: "Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật thâm canh lạc đạt năng suất cao trên đất cát ven biển huyện Nghi Xuân, tĩnh Hà Tĩnh’’
2 mục tiêu, yêu cầu của đề tài
2.1 Mục tiêu
Xây dựng kỹ thuật thâm canh lạc phù hợp với điều kiện ở huyện Nghi Xuân-
Hà Tĩnh trong khuôn khổ bộ giống, lượng phân bón tổng hợp NPK phù hợp và thời
vụ gieo trồng để đạt hiệu quả cao nhất
Trang 13- Xác định mức bón tổng hợp NPK thích hợp cho giống lạc L20 đạt hiệu quả kinh tế cao
- Xác định thời vụ gieo trồng thích hợp đối với giống lạc L20
3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 ý nghĩa khoa học
- Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần vào việc xây dựng, khai thác và sử dụng hợp lý nguồn đất đai và khí hậu cũng nh− biện pháp kỹ thuật canh tác để nâng cao chất l−ợng và hiệu quả trong sản xuất lạc ở huyện Nghi Xuân và tỉnh Hà Tĩnh
- Xác định đ−ợc một số biện pháp kỹ thuật làm cơ sở khoa học cho việc đề xuất, bổ sung qui trình kỹ thuật sản xuất lạc đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao 3.2 ý nghĩa thực tiễn
- Xác định đ−ợc một số giải pháp kỹ thuật sản xuất lạc đạt năng suất cao, và chứng minh đ−ợc huyện Nghi Xuân có thể đ−a đ−ợc năng suất và sản l−ợng lạc cao hơn so với tình hình thực tế sản xuất lạc hiện nay trên địa bàn
- Kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung một số giống lạc có năng suất cao, phẩm chất tốt chống chịu sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất lợi bổ sung vào cơ cấu giống lạc của huyện Nghi Xuân
4 Đối t−ợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối t−ợng nghiên cứu
Đối t−ợng nghiên cứu là cây lạc gieo trồng trên đất cát ven biển huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh
Các giống lạc gồm: L14; L20; TB25; V79; L23; L24; L18; Shán dầu 30 4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Các thí nghiệm đ−ợc tiến hành trên đất cát ven biển huyện Nghi Xuân - Tỉnh
Hà Tĩnh
- Thời gian tiến hành thử nghiệm vụ Xuân năm 2009 - 2010
Trang 14Chương 1 cơ sở khoa học và TổNG QUAN tài liệu
1.1 Cở sở khoa học của đề tài
1.1.1 Nguồn gốc và phân bố cây lạc
Lạc thuộc họ cánh bướm (Fabacecae), chi Arachis Nhiều tác giả cho rằng chi Arachis có thể 70 loài khác nhau Hiện nay có 22 loài được mô tả phân chia theo nhóm dựa trên cấu trúc hình thái, khả năng tổ hợp và mức độ hữu dục của con lai (Gregory và ctv, 1980) [78] Loài A.hypogaea L (2n = 40)
Dựa vào tài liệu của các nhà sử học, tự nhiên học, khảo cổ học và địa thực vật học người ta cho rằng cây lạc có nguồn gốc từ Nam Mỹ Tuy nhiên giới hạn sản xuất của cây lạc khoảng 400 Bắc đến 400 Nam (Nigam S.N và cộng sự, 1991) [72] Người Tây Ban Nha phát hiện ra lạc được trồng rộng r6i ở Nam Mỹ, đặc biệt là quần đảo Tây ấn, Mêhicô, bờ biển Đông Bắc và Đông Braxin, ở tất cả các vùng đất
ấm áp của thung lũng Riodela Plata (Achentina, Bôlivia, cực Tây nam Braxin) và mở rộng tới Pêru [4]
Nguồn gốc chính của loài lạc trồng (Arachis hypogaea L) ở nước nào của Châu
Mỹ cho tới nay vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau Theo Enger thì cây lạc được trồng cách đây khoảng 3.800 năm, thuộc thời kỳ tiền đồ gốm ở Las Haldas
Theo các nhà sử học người Inca thổ dân Nam Mỹ đ6 trồng lạc như một loại thực phẩm ở dọc vùng duyên hải Pêru với tên "ynchis" theo Garalaso de la Vega (1996) người Tây Ban Nha gọi những cây lạc trồng ở Pêru là "mani" Những ghi chép đầu tiên về cây lạc do thuyền trưởng Gorrala Fernander, ông cũng là người đầu tiên phổ biến tên "mani" của cây lạc
Krapovickas (1986) cho rằng lạc được đưa từ bờ biển phía Tây Pêru tới Mêhicô sau đó ngang qua Thái Bình Dương Theo Gregory (1979, 1980) tất cả các loài hoang dại thuộc chi Arachis chỉ tìm thấy ở Nam Mỹ và phân bố từ Đông Bắc - Bắc Braxin đến Tây Nam Achentina và từ bờ biển nam Uraguay đến Tây bắc Manto Grosso Tức là phía nam sông Amazôn và từ sườn Đông tây Andes đến bờ Đại Tây Dương (Dẫn theo Nguyễn Văn Bình và cộng sự, 1996) [4]
Trang 15Từ vùng nguyên sản ở Nam Mỹ bằng nhiều con đường, lạc đ6 được đưa đi khắp nơi trên thế giới và nó nhanh chóng thích ứng với các vùng nhiệt đới, á nhiệt
đới và các vùng có khí hậu ẩm
Cây lạc được du nhập vào nước ta và được trồng từ bao giờ không có tài liệu xác minh cụ thể Tài liệu cổ nhất nói về cây lạc là cuốn sách “Vân đoài loại ngữ” của Lê Quý Đôn thê kỷ XIIX cũng chưa hề đề cập đến cây lạc Nếu căn cứ vào tên gọi mà xét đoán thì danh từ “lạc” có thể là do từ Hán “Lạc Hoa Sinh” là người Trung Quốc gọi là cây lạc Vì vậy có thể lạc từ Trung Quốc được du nhập vào nước
ta khoảng thế kỷ XVII - XVIII (Lê Song Dự và cộng sự, 1979) [24]
1.1.2 Tình hình sản xuất lạc và những thành công trong sản xuất lạc trên thế giới và
ở Việt Nam
1.1.2.1 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới
Theo số liệu thống kê (FAO, USDA 2005) trong 50 năm từ 1932 - 1984 diện tích trồng lạc tăng từ 5.073.000 ha lên 18.478.000 ha, sản lượng lạc tăng từ 4.653.000 tấn tăng lên 19.328.000 tấn Như vậy sản lượng lạc tăng 4,15 lần, diện tích trồng lạc tăng 3,64 lần, trong đó năng suất lạc tăng rất chậm từ 917 kg/ha lên
1046 kg/ha (tăng 13% trong vòng 50 năm)
Sự phân bố diện tích sản xuất lạc ở các khu vực trên thế giới không đều Năm
1994 Châu á là khu vực có diện tích trồng lạc lớn nhất (13.590 ngàn ha) nhưng năng suất chỉ đạt 13,37 tạ/ha Trong khi đó ở vùng Bắc Mỹ diện tích trồng lạc thấp hơn Châu á (chỉ có 815.000 ha) nhưng năng suất lại đạt 28,4 tạ/ha Tiếp đến là Nam
Mỹ năng suất bình quân đạt 24,4 tạ/ha
Trong 2 thập kỷ cuối thê kỷ 20, sản xuất lạc ở nhiều nước trên thế giới đ6 đạt
được những thành tựu to lớn Năm 2000, diện tích trồng lạc toàn thế giới đạt 24,08 triệu ha, năng suất bình quân đạt 14,52 tạ/ha, tổng sản lượng đạt 34,98 triệu tấn Trong số các nước có năng suất lạc lớn nhất thế giới, thì Israel xếp thứ nhất 64,43 tạ/ha, Malaixia (37,50 tạ/ha), Mỹ (27,39 tạ/ha), Trung Quốc (29,71 tạ/ha) trong đó Việt Nam (13,5 tạ/ha) Đến năm 2009, diện tích trồng lạc trên thế giới giảm xuống
so với năm 2000 và đạt19,80 triệu ha, năng suất bình quân 1,59 tạ/ha, sản lượng đạt
Trang 1631,48 triệu tấn Năng suất lạc của Mỹ lại tăng lên đáng kể (38,30 tạ/ha), năng suất lạc Trung Quốc đạt 33,3 tạ/ha sản lượng Trung Quốc đạt 13,3 triệu tấn (phụ lục 1) Theo nghiên cứu và nhận định của các nhà khoa học, tiềm năng để nâng cao năng suất và sản lượng lạc ở các nước còn rất lớn cần phải khai thác Trong khi năng suất bình quân lạc của thế giới mới đạt 13 - 14 tạ/ha thì ở Trung Quốc, tại tỉnh Sơn
Đông thử nghiệm trên diện hẹp đ6 thu được năng suất khoảng 12 tấn/ha, cao hơn 9 lần so với năng suất bình quân của thế giới Diện tích 14 ha, năng suất đạt 9,8 tấn/ha
và 6,0 - 7,5 tấn/ha trên qui mô hàng trăm ha (Ngô Thế Dân và cộng sự , 2000) [19] Vậy yếu tố nào đ6 quyết định bước nhảy vọt về năng suất và sản lượng lạc ở Trung Quốc như vậy Các nhà khoa học của Trung Quốc và thế giới đều khẳng định rằng
để đạt được những thành tựu nêu trên là nhờ chiến lược đẩy mạnh công tác nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trồng lạc nhằm phát huy tiềm năng to lớn của cây trồng này trong sản xuất
Trong những năm tới, chiến lược phát triển sản xuất lạc ở Trung Quốc là ổn
định diện tích 4,2 triệu ha/năm, phấn đấu tăng năng suất lên trên 3 tấn/ha, sản lượng
13 triệu tấn/năm, trên cơ sở tiếp tục nghiên cứu và ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ mới (Duan Shufen,1999) [26] Đặc biệt là Trung Quốc rất coi trọng vấn
đề nghiên cứu đồng bộ cả về giống và biện pháp canh tác thích hợp (sử dụng giống
có tiềm năng suất cao; gieo trồng ở mật độ thích hợp 40 cây/m2; tăng cường bón phân hữu cơ 30 - 35 tấn/ha phân chuồng; dùng chất điều hoà sinh truởng; áp dụng
kỹ thuật trồng lạc che phủ nilon; tăng cường hệ thống tưới tiêu cho lạc) Chính vì vậy, tại Trung Quốc có những điểm cá biệt về năng suất lạc như: đạt 112,0 tạ/ha (0,1ha), 96,0 tạ/ha (quy mô 14,0 ha) và từ 60 - 75 tạ/ha trên diện rộng hàng trăm hecta Năm 2009 diện tích trồng lạc Trung Quốc giảm so với những năm trước (4,0 triệu ha) nhưng năng suất lạc bình quân năm 2009 đ6 đạt 33,3 tạ/ha (phụ lục 1)
ấn Độ là nước sản xuất lạc lớn nhất trên thế giới, diện tích 5,30triệu ha, sản lượng đạt 4,90 triệu tấn (năm 2009) Mặc dù ấn Độ đ6 đạt nhiều thành tựu trong công tác chọn tạo giống và thử nghiệm tiến bộ kỹ thuật nhưng năng suất lạc bình quân ở ấn Độ không cao 9,2 tạ/ha do diện tích lạc chủ yếu phụ thuộc vào nước trời
ấn Độ rất quan tâm đến công tác nghiên cứu và thử nghiệm các tiến bộ kỹ thuật
Trang 17trồng lạc trên đồng ruộng với sự tham gia trực tiếp của nông dân Phương pháp này
đ6 đem lại hiệu quả ở ấn Độ và sau đó được nhiều nước khác ở Châu á áp dụng trong trình diễn và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất (Theo Ngô Thế Dân và cộng sự, 2000) [19]
Mỹ là nước sản xuất lạc đạt năng suất lạc cao nhất thế giới, năng suất trung bình đạt 38,3 tạ/ha (năm 2009) cao hơn 3 lần so với năng suất lạc của một số nước
Mỹ là nước đứng đầu trong sự đầu tư ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ, cũng như do các yếu tố kinh tế x6 hội, yếu tố môi trường khác nhau chi phối Khu vực Đông Nam á, diện tích trồng lạc không nhiều, chỉ chiếm 12,61% về diện tích và 12,95% sản lượng lạc của Châu á (phụ lục 1) Năng suất lạc ở Đông Nam á nhìn chung chưa cao, năng suất bình quân đạt 11,7 tạ/ha Malayxia là nước
có diện tích trồng lạc không nhiều, nhưng lại là nước có năng suất lạc cao nhất trong khu vực, trung bình đạt 23,3 tạ/ha Về xuất khẩu lạc chỉ có 3 nước Thái Lan, Việt Nam và Inđônêxia Trong đó Việt Nam là nước có khối lượng xuất khẩu lạc lớn nhất (chiếm 45,13%) khối lượng lạc xuất khẩu trong khu vực
Tình hình sử dụng lạc hầu hết các nước sản xuất lạc nhiều trên thế giới đều là các nước sử dụng nhiều lạc Tổng khối lượng sử dụng ở các nước này chiếm hơn 80% khối lượng lạc sử dụng trên toàn thế giới Trong đó ấn Độ và Trung Quốc là hai nước sử dụng lạc nhiều nhất ở Mỹ sản xuất lạc chủ yếu làm thực phẩm tiêu thụ trong nước, năm 1989 có 60% sản lượng lạc ở nước này được sử dụng nội địa
Tóm lại: Tất cả các nước đ6 thành công trong việc phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lạc đều rất chú ý đầu tư cho công tác nghiên cứu và ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất Tiềm năng to lớn của cây lạc chỉ có thể khơi dậy thông qua việc áp dụng rộng r6i tiến bộ kỹ thuật trên đồng ruộng 1.1.2.2 Tình hình sản xuất lạc của Việt Nam và Hà Tĩnh
Cho đến nay, lạc đ6 được trồng khá phổ biến ở mọi miền trong cả nước Sản xuất lạc được phân bố trên tất cả các vùng sinh thái nông nghiệp của Việt Nam, tuy vậy bước đầu đ6 hình thành 5 vùng sản xuất chính
Trang 18Vùng Trung du Miền Núi phía Bắc, lạc được trồng tập trung ở các tỉnh: Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Bắc Giang, Thái Nguyên với diện tích 41.000 ha (chiếm 15,7%) Vùng Ven Biển Bắc Trung Bộ là vùng trọng điểm lạc của các tỉnh phía bắc với diện tích 71.000 ha, chủ yếu tập trung ở các tỉnh: Thanh Hoá, Nghệ An và Hà Tĩnh (chiếm 26,4%)
Vùng Ven Biển Nam Trung Bộ, lạc được trồng tập trung ở hai tỉnh Quảng Nam
và Đà Nẵng với diện tích khoảng 29.000 ha (chiếm 10,7%)
Vùng Cao Nguyên Trung Bộ, diện tích trồng lạc vào khoảng 18.600 ha (chiếm 6,9%), chủ yếu ở tỉnh Đắc Lắc và Gia Lai Komtum
Vùng Đông Nam Bộ, diện tích lạc được trồng tập trung ở các tỉnh: Bình Dương, Bình Phước và Tây Ninh với diện tích 68.000 ha
Năm 1990 năng suất lạc bình quân mới đạt 10 tạ/ha và sản lượng đạt 218 ngàn tấn, năm 1995 năng suất lạc lên tới 13 tạ/ha, sản lượng 335 ngàn tấn, đến năm 2000 năng suất lên tới 18 tạ sản lượng gần 400 ngàn tấn và năm 2004 sản lượng đạt đ6 đạt
451 ngàn tấn, diện tích tăng không đáng kể (phụ lục 2)
Giai đoạn từ 1975-1989 là giai đoạn mở rộng diện tích: Năm 1975, diện tích lạc mới chỉ 68 ngàn ha, năng suất 950 kg/ha, sản lượng 64,6 ngàn tấn Đầu những năm 1980 diện tích đ6 là 106,1 ngàn ha; đến cuối thập niên diện tích trồng lạc đ6 lên tới 201,4 ngàn ha Trong giai đoạn này sản lượng tăng (8,62% năm), chủ yếu là do diện tích tăng (8,33%), năng suất tăng chậm chỉ đạt 0,22%/năm (phụ lục 2)
Giai đoạn từ năm 1994 đến năm 1998: Diện tích trồng lạc năm 1998 tăng 8%
so với 1994 và sản lượng tăng nhanh 25% (phụ lục 2) Tốc độ tăng trưởng sản lượng lạc trong giai đoạn này chủ yếu là nhờ có sự tăng trưởng nhảy vọt về năng suất (20%) Bên cạnh đó, chúng ta đ6 tiếp cận được với thị trường Quốc Tế mới và nhu cầu cho chế biến trong nước cũng tăng lên
Từ năm 1997, Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm đ6 ký kết một chương trình hợp tác với Viện nghiên cứu Quốc tế về nghiên cứu và phát triển sản xuất lạc ở Việt Nam Vì vậy sản xuất lạc có chiều hướng phát triển ngày càng tăng
về năng suất Năm 1998 diện tích trồng lạc ở nước ta phân bố tương đối đồng đều giữa miền Bắc (50,8%) và Miền Nam (49,2%) Nhưng năng suất và sản lượng ở
Trang 19Miền Nam vượt hơn nhiều so với miền Bắc Các vùng trồng lạc phía Bắc chỉ đạt 1,21 tấn/ha và sản lượng 172.600 tấn Trong khi đó ở Miền Nam năng suất trung bình là 1,61 tấn/ha, sản lượng đạt 213.400 tấn
Trong 25 nước trồng lạc ở Châu á, Việt nam đứng hàng thứ 5 về sản lượng Lạc ở Việt Nam sản xuất không những đủ tiêu thụ mà còn xuất khẩu để thu ngoại tệ Khối lượng lạc xuất khẩu năm 1996 đạt 127.000 tấn chiếm 35,5% sản lượng lạc của cả nước Nhưng đến năm 1997 - 1998 mặc dù sản lượng lạc tăng nhưng do biến
động về giá lạc của thị trường thế giới nên khối lượng lạc xuất khẩu Việt Nam giảm xuống còn ở mức 83.000 - 86.000 tấn Diện tích năng suất và sản lượng lạc của nước
ta năm 1998 - 1999 đều có sự gia tăng (Theo số liệu thống kê Nông Lâm Thủy Sản,
1998, NXB thống kê Hà Nội)
Từ năm 1998 - 2003 diện tích trồng lạc có xu hướng giảm Năm 1998 diện tích trồng lạc là 269.400 ha, năm 2002 còn 244.900 ha và đến năm 2003 diện tích trồng lạc chỉ còn 240.300 ha Song sản lượng của lạc lại tăng lên, năm 1998 sản lượng lạc đạt 386.000 tấn, đến năm 2002 sản lượng đạt 397.300 tấn, và đến năm
2003, mặc dù diện tích trồng lạc giảm nhưng năng suất cao hơn năm 2000 và đạt tới 400.000 tấn Đến năm 2007 lên 254.600 (tăng 17,9%), đặc biệt năng suất từ 9,5 tạ/ha lên 19,80 tạ/ha (tăng khoảng 95,7%) và sản lượng từ 202.400 tấn lên 505.000 tấn (tăng 2,5 lần)
Năm 2006 ở khía cạnh vùng sinh thái nông nghiệp Duyên hải Bắc Trung bộ
là vùng có diện tích gieo trồng lạc lớn nhất nước, với diện tích 75.200 ha (chiếm 30,2% so với tổng số) Các vùng còn lại có diện tích gần như nhau, ngoài trừ vùng Tây Bắc (chỉ có 0,03%) Về góc độ địa phương, thì các tỉnh có diện tích lạc xấp xỉ 8.000 ha/năm trở lên là Bắc Giang, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Bình Định, Bình Thuận, Đắk Lắk, Đắk Nông, Tây Ninh, Long An và Bình Dương Năng suất lạc bình quân năm 2009 đ6 đạt 21,1 tạ/ha, sản lượng đạt 525.250 nghìn tấn Tuy nhiên nhờ việc đưa nhanh các tiến bộ về giống mới và kỹ thuật canh tác tiên tiến (luống hẹp, che phủ nilon, bón phân cân đối, ) nên một số địa phương
có năng suất lạc cao hơn nhiều lần so với năng suất bình quân chung cả nước, cụ thể: Trà Vinh - 39,0 tạ/ha, Bến Tre - 37,0 tạ/ha, Hưng Yên - 30,0 tạ/ha, Tây Ninh -
Trang 2031,0 tạ/ha, Tiền Giang - 30,0 tạ/ha Cá biệt, tại Nam Định, Khánh Hòa năng suất lạc
đạt trên 40,0 tạ/ha ở quy mô từ 1,0 - 10,0 ha
* Tình hình sản xuất lạc ở Hà Tĩnh
Hà Tĩnh là một tỉnh thuộc Bắc Trung Bộ có điều kiện thời tiết khí hậu mang tính chất chuyển tiếp giữa Miền Bắc và Miền Trung ở Hà Tĩnh diện tích trồng lạc qua các năm đều tăng Năm 2001 diện tích trồng lạc toàn tỉnh là 17.371 ha, sản lượng 26.632 tấn Năm 2005 diện tích trồng lạc đ6 lên tới 21.701 ha và đạt sản lượng 35.796 tấn
Năm 2007 mặc dù diện tích trồng lạc của toàn tỉnh đ6 giảm xuống 20.879 ha (giảm 0,96% so với năm 2005) Song sản lượng lạc lại cao hơn lên tới 37.092 tấn/ha (tăng 1,3% so với năm 2005) Như vậy diện tích, năng suất, sản lượng lạc của tỉnh trong mấy năm gần đây không ổn định Hầu hết các huyện, thành phố, thị x6 trồng lạc trong tỉnh đều trồng lạc Năm 2007 huyện Kỳ Anh có diện tích trồng lạc nhiều nhất 3.617 ha (chiếm 17,3%), Hương Khê có 2.745 ha (chiếm 13,4%), huyện Hương Sơn có diện tích 2.638 ha (chiếm 12,6%), huyện Thạch Hà 2.432 ha (chiếm 11,6%), huyện Nghi Xuân có diện tích 2.227 ha (chiếm 10,6%) (Theo báo cáo ngành nông nghiệp tỉnh Hà Tĩnh; 2008)
Hiện nay, Hà Tĩnh đ6 sản xuất 3 vụ lạc/năm: Vụ Xuân (vụ chính) với diện tích trên dưới 20.000ha, sản phẩm chủ yếu phục vụ cho xuất khẩu; vụ Thu Đông, sản phẩm chủ yếu dùng để cung cấp giống cho vụ chính và làm hàng hoá cho các tỉnh bạn; vụ Hè với diện tích hàng năm trên dưới 1.000ha, sản phẩm chủ yếu phục vụ tiêu dùng, chế biến và một phần được dùng để làm giống Kết quả sản xuất năm
2007 cho thấy năng suất lạc Hè đ6 đạt được một số kết quả nhất định: diện tích 670
ha, sản lượng 155 tấn, năng suất 2,88tạ/ha còn rất thấp so với vụ Xuân, vụ Đông, kể cả về tiềm năng của giống cũng như điều kiện đất đai
Để mở rộng diện tích sản xuất lạc Hè lên 2.000 ha vào năm 2010 theo mục tiêu
đề ra, việc xác định các giải pháp nâng cao năng suất là mấu chốt và rất quan trọng Theo đó, các địa phương cần quy hoạch diện tích lạc Hè trên các chân đất có khả năng áp dụng tưới tối thiểu Trong lúc dự án tưới cho cây trồng cạn chưa có kinh phí
để bố trí triển khai thực hiện, việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật (TBKHKT)
Trang 21như: giống mới, kỹ thuật canh tác phù hợp cần được xác định là hai vấn đề trọng tâm trước mắt cần giải quyết
Sử dụng giống mới trong sản xuất, hiện nay trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh có rất nhiều giống đang được bà con nông dân sử dụng để đưa vào sản xuất Trong đó giống lạc L14, L20 vẫn là giống đang trồng phổ biến, ngoài ra còn có những giống mới như L23, L24 áp dụng biện pháp canh tác phù hợp, bên cạnh đẩy nhanh áp dụng TBKHKT về giống, áp dụng biện pháp canh tác phù hợp cũng là vấn đề rất cần
được lưu tâm Với điều kiện đặc thù của vụ Hè, phương pháp che phủ nilon cho lạc không đem lại hiệu quả như trong vụ Xuân và vụ Đông Do thời tiết nắng nóng và khô hạn của vụ sản xuất này, việc sử dụng rơm, rạ để che phủ lạc thay thế nilon là một sáng tạo trong sản xuất cần được áp dụng rộng r6i Che phủ rơm, rạ không những chống thoát hơi nước, giữ ẩm cho đất khi nắng nóng khô hạn, giảm rửa trôi phân bón khi xảy ra mưa lớn mà còn cung cấp cho vụ sau một lượng lớn chất hữu cơ Rơm, rạ là nguồn nguyên liệu tận dụng rất dồi dào có ở khắp các địa phương trong tỉnh, có thể sử dụng biện pháp che phủ này trong sản xuất
1.2 Giá trị, tình hình xuất khẩu và vai trò cây lạc trong hệ thống cây trồng 1.2.1 Giá trị của cây lạc
Hạt lạc là thực phẩm có vai trò quan trọng đối với đời sống con người Hạt lạc
là thức ăn giàu Lipit (40 - 60%), nhiều prôtein (26 - 34%), Vitamin và các chất khoáng đối với con người Thân lá, khô dầu lạc là nguồn cung cấp thức ăn đạm cho chăn nuôi, trong khẩu phần thức ăn gia súc khô dầu lạc có thể chiếm tới 25 - 30% (Nguyễn Văn Bình và cộng sự, 1996; Phạm Văn Biên, Nguyễn Đăng Khoa và cộng
sự, 1991) [4] [9]
Lê Song Dự (1979) [24] kết quả phân tích lạc cho thấy rằng: Vỏ quả chứa: 4,8
- 7,2% protein, 1,2 - 2,8% lipit, 10,6 - 21,2% gluxit tổng số, 0,7% tinh bột, 65,7 - 79,3 % xơ thô, 1,9 - 4,6% chất khoáng Vỏ hạt: 11,0 - 13,4% protein, 0,5 - 1,9 lipit, 48,3 - 52,2% gluxit tổng số, 21,4 - 34,4 % xơ thô, 2,1% chất khoáng Phôi: 26,5 - 27,8% protein, 39,4 - 43,0% lipitt, 1,6 - 1,8% xơ thô, 2,9 - 3,2% chất khoáng Lá mầm: 43,2% protein, 16,6% lipit, 31,2% gluxit, 6,3% chất khoáng
Trang 22Thành phần sinh hóa của hạt lạc như sau: Nước 8 - 10%; Dầu thô (lipit) 40 - 60%; Protein thô 26 - 34%; Gluxit 6- 22%; Xenlulo 2 -4,5% Như vậy, giá trị dinh dưỡng chủ yếu của hạt lạc là lipit và protein Trần Mỹ Lý (1990) [44] giới thiệu kết quả phân tích một số nguyên liệu có dầu: Đậu tương (hạt) có 12 - 21% chất béo, 32
- 51% protein, lạc nhân có 40 - 50% chất béo, 24 - 27% protein Vừng có 50 - 55% chất béo, 17 - 20% protein, cơm dừa tươi có 35 - 36% chất béo, 4 - 5% protein Như vậy so với vừng, lạc có tỷ lệ dầu tương đương, nhưng tỷ lệ đạm cao hơn nhiều So với đậu tương lạc hơn hẳn tỷ lệ dầu, nhưng tỷ lệ protein thấp hơn
Dầu lạc là dầu thực phẩm Thành phần dầu lạc gồm chủ yếu là axit béo no (chiếm khoảng 80%), còn lại khoảng 20% là axit béo không no Kiều Tĩnh (1995) [53] giới thiệu 10 loại thức ăn ao cấp được nhiều người ưa chuộng trong đó loại thứ
10 là dầu thực vật
Protein của lạc: Có đủ 8 axit amin không thay thế, có 4 loại axit amin có số lượng thấp hơn tiêu chuẩn (Nguyễn Văn Bình và cộng sự, 1996) [4] Có rất nhiều biện pháp khắc phục nhược điểm này như bổ sung axit amin hoặc dùng phối hợp với
đậu tương
Vỏ quả lạc chiếm khoảng 25 - 38% trọng lượng quả, vỏ dùng để nghiền thành cám dùng cho chăn nuôi (cám vỏ quả lạc có thành phần dinh dưỡng tương đương cám gạo dùng đẻ nuôi gà, vịt lợn, Ngoài ra hạt lạc là nguyên liệu chế biến ép dầu, sữa lạc, phomat
1.2.2 Xuất khẩu lạc
Sản xuất lạc gắn liền với xuất khẩu, những năm 1991 đến 1992 là thời kỳ diện tích lạc giảm do mất thị trường tiêu thụ truyền thống, chưa kịp thích nghi với môi trường cạnh tranh xuất khẩu mới, giá lạc xuất khẩu giảm trong hai năm 1991 và
1992 Trong những năm gần đây, Việt Nam đ6 tiếp cận được với thị trường mới và giá lạc đ6 được khôi phục, cây lạc đ6 có vị trí xứng đáng Lạc là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sau lúa, cà phê, cao su, điều Diện tích, năng suất, sản lượng lạc đ6 không ngững tăng lên, bên cạnh đó công tác chọn giống đ6 phát huy tối đa hiệu quả Hiện nay nhiều giống lạc có năng suất và chất lượng tương đối như: V79, L08, L18, L14, L20, Shán dầu 30, L23 Như vậy đ6 giải đáp được khó khăn của
Trang 23những năm trước đây về giống lạc, để có sản phẩm đáp ứng thị hiếu tiêu dùng và yêu cầu xuất khẩu quốc tế
Do chất lượng lạc nhõn nước ta thấp trong khi thị trường thế giới bấp bờnh nờn xuất khẩu lạc nhõn từ năm 2002 ủến nay giảm mạnh Năm 2006, lượng lạc nhõn xuất khẩu ủó giảm tới 7 lần so với lượng lạc xuất khẩu của năm 2002 Hiện nay, lạc nhõn của Việt Nam chỉ xuất khẩu ủược sang Thỏi Lan, Malaysia, Singapore và Trung Quốc Trong ủú, thỏng 11 năm 2006, Thỏi Lan là thị trường nhập khẩu lạc nhõn lớn nhất của Việt Nam với trờn 11,44 nghỡn tấn, kim ngạch ủạt trờn 8,4 triệu USD, chiếm 88% lượng lạc xuất khẩu 11 thỏng, giảm 37,9% về lượng và giảm 23,3% về trị giỏ so với cựng kỳ 2005; Malaysia là thị trường lớn thứ 2 với trờn 1,4 nghỡn tấn lạc, kim ngạch ủạt 1,04 triệu USD, giảm 80% về lượng và giảm 77,1% về trị giỏ so với cựng kỳ 2005 Lượng lạc nhõn xuất sang Trung Quốc và Singapore ở mức thấp (phụ lục 4)
Mặc dự thị trường lạc nhõn thế giới bấp bờnh nhưng xuất khẩu lạc nhõn là một ngành hàng nụng sản khỏ tiềm năng do nhu cầu của thị trường thế giới lớn Hiện nay, trờn thị trường thế giới mỗi năm cú khoảng 1,2 triệu tấn lạc nhõn ủược giao dịch và khoảng 250.000 tấn dầu lạc EU hiện là thị trường nhập khẩu lạc lớn nhất thế giới, chiếm hơn 60% tổng lượng nhập khẩu của toàn cầu, với khoảng 460.000 tấn mỗi năm, tiếp ủến là Nhật Bản với khoảng 130.000 tấn, Canada khoảng 120.000 tấn, Hàn Quốc khoảng 30.000 tấn… Trong khi ủú, Việt Nam hoàn toàn cú thể ủẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng này nếu cỏc doanh nghiệp chỳ trọng hơn nữa ủến
chất lượng sản phẩm và ủảm bảo uy tớn trờn thị trường Quốc tế (Nguồn: Thống kờ
1.2.3 Vai trò của cây lạc trong hệ thống cây trồng
Năm 1993, Singh cho rằng (Dẫn theo Nguyễn Văn Bình và cộng sự) [4], cây
đậu đỗ từ lâu đ6 được coi là thành phần quan trọng trong hệ thống cây trồng vùng Nhiệt đới và á nhiệt đới Nó thích hợp cho nhiều hệ thống trồng trọt khác nhau Theo Bùi Huy Đáp (1957) lạc là cây có tác dụng cải tạo đất bồi dưỡng đất do
đặc điểm sinh khối cao, sau khi thu hoạch trả lại cho đất lượng chất hữu rất lớn Còn
Trang 24ở bộ rễ có vi khuẩn cộng sinh cố định đạm Rhizobium Vigna, sau mỗi vụ thu hoạch
để lại trong đất từ 40 - 60kg N/ha/vụ [27] Do đó sau khi thu hoạch lạc tính chất lý, hóa, sinh học của đất được cải thiện rõ rệt; lượng N trong đất tăng và khu hệ vi sinh vật hảo khí được tăng cường có lợi đối với các loại cây trồng sau, nhất là đối với các loại cây trồng sử dụng nhiều đạm; đất trở nên tơi xốp, cày bừa nhẹ nhàng hơn, nước xâm nhập nhiều hơn Với những ưu điểm đó nên một công bố của IRRI, 1985 nói rằng sau trồng màu trong đó có lạc, lúa tăng năng suất từ 10- 12 % (dẫn theo Trần Văn Chính và cộng sự, 2006) [14]
Trong hệ thống luân canh, xen canh, gối vụ lạc là cây trồng lý tưởng nhất Lạc
có thể trồng xen giữa các cây hàng rộng sắn, dâu, dứa, mía, bông và ở các cây lâu năm thời kỳ kiến thiết như cây ăn quả, cây công nghiệp (chè, cao su, cà phê, hồ tiêu,
1.3.1.1 Nhiệt độ
Nhiệt độ là yếu tố chủ yếu có tương quan đến thời gian sinh trưởng của lạc, Bùi Huy Đáp (1961) [28] Lạc là cây trồng nhiệt đới thích ứng với điều kiện nóng ẩm Nhiệt độ thích hợp nhất trong suốt quá trình sống của lạc là 25 - 300C, mỗi giai đoạn sinh trưởng yêu cầu sự thay đổi nhiệt độ khác nhau
Tích ôn hữu hiệu của cây lạc từ 2.800 - 3.5000C, sự dao động này tùy thuộc vào giống Đối với giống lạc loại hình Valencia tích ôn là 3.200 - 3.5000C, đối với loại hình Spanish là 2.800 - 3.2000C do thời gian sinh trưởng ngắn hơn [8] Nhiệt độ tối thấp sinh học cho các giai đoạn sinh trưởng và phát triển là 12 -130C, sự hình thành các cơ quan sinh thực là 17 - 200C (J.G De Geus, 1984) [39]
Thời kỳ nảy mầm nhiệt độ thích hợp đối với lạc là 25 - 300C ở nhiệt độ 32 -
34 0C tốc độ nảy mầm của hạt nhanh, nhiệt độ tối thấp ở thời kỳ này là 120C Hạt lạc
có thể chết ở nhiệt độ 50C, mặc dù trong thời gian rất ngắn (Nguyễn Văn Bình và
Trang 25cộng sự,1996) [4] Thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng tích ôn tổng số yêu cầu từ 700 -
10000C, nhiệt độ thích hợp trong thời kỳ này là 250C trong điều kiện nhiệt độ này quá trình sinh trưởng được tiến hành thuận lợi, nhất là sự phát triển của thân cành và
bộ rễ (Bùi Huy Đáp, 1961 và Nguyễn Văn Bình và cộng sự 1996) [28][4]
Tốc độ tăng trưởng của lạc tăng ở nhiệt độ trung bình ngày từ 20 - 300C Nếu nhiệt độ thấp dưới 180C thì cây con mọc chậm, tỷ lệ mọc trên đồng ruộng bị giảm liên tục (J.G De Geus, 1984) [39] Theo một số tài liệu nghiên cứu cho thấy ở vùng nhiệt độ 280C - 300C thời gian sinh trưởng sinh dưỡng 30 ngày là thích hợp nhất Nhiệt độ tăng, tăng cường quá trình quang hợp của cây, nhưng nhiệt độ không khí quá cao (30 - 350C) rút ngắn thời gian sinh trưởng, làm giảm khả năng tích lũy chất khô, làm giảm số hoa trên cây, giảm số quả và trọng lượng quả (Phạm Văn Biên, Nguyễn Đăng Khoa và cộng sự, 1991;)[9]
- Thời kỳ sinh trưởng sinh thực:
Theo Gillier (1977) [34] Nhiệt độ thuận lợi cho sự ra hoa của lạc là 24 - 330C,
số hoa có ích cao nhất 21% đạt được ở nhiệt độ ban ngày 290C và ban đêm là 250C Thời kỳ ra hoa kết quả chiếm khoảng 1/3 chu kỳ sinh truởng của lạc nhưng đòi hỏi tích ôn bằng 2/3 tổng tích ôn của lạc ở thời kỳ trước ra hoa lạc có khả năng chịu rét cao nhất Tuy nhiên ở nhiệt độ thấp dưới (18 - 200C) làm ức chế sinh trưởng phát triển của lạc, cản trở sự phân hóa mầm hoa và giảm trọng lượng khô của cây (Lê Song Dự, Nguyễn Thế Côn, 1979) [24] [28]
Tốc độ hình thành tia quả ở lạc tăng ở nhiệt độ 19 - 230C Nhiệt độ đất không chỉ ảnh hưởng tới độ lớn của quả mà tới cả thời gian sinh trưởng của cây Theo Dreyer (1980) thì tốc độ sinh trưởng lớn nhất của quả đạt 30 - 340C Hạt hình thành trong điều kiện nhiệt cao sẽ bị giảm trọng lượng (Bùi Huy Đáp, 1961; Sankara Redi G.H, 1982) [28] [79] ở nhiệt độ 20 - 230C trong thời kỳ chín của hạt thì năng suất
đạt cao nhất
Thời kỳ chín của quả nhiệt độ thấp hơn so với các thời kỳ, nhiệt độ ban ngày
280C, ban đêm 190C, có lợi cho quá trình tích lũy chất khô vào quả [4] Nhiệt độ thấp trong thời gian chín (dưới 200C) cản trở quá trình vận chuyển và tích lũy chất khô ở hạt, nhiệt độ xuống dưới 15 - 160C thì quá trình này bị đình chỉ, hạt không
Trang 26chín được Khi này cây biểu hiện ra bên ngoài là bộ lá xanh hàm lượng nước trong hạt cao, hạt không phát triển, vỏ quả không cứng, gân nổi rõ
1.3.1.2 ánh sáng
Lạc là cây C3 ít chịu ảnh hưởng của độ dài ngày Cây lạc phản ứng tích cực với cường độ ánh sáng trời toàn phần (Pallmas và Sarmish, 1974) [76] Cường độ ánh sáng thấp vào giai đoạn ra hoa làm cho sinh trưởng dinh dưỡng chậm lại, 60% bức xạ mặt trời trong 60 ngày sau khi mọc là cần thiết cho cây lạc (Hudgens và Mc Cloud, 1974) [63] Cường độ ánh sáng thấp trong giai đoạn sinh trưởng làm tăng chiều cao cây nhưng giảm khối lượng lá và số hoa (Hang và Mscloud, 1976) [68] Năm 1974 hai tác giả này [63] cho biết, cường độ ánh sáng thấp ở thời kỳ ra tia, hình thành quả làm số lượng tia, quả giảm đi một cách có ý nghĩa, đồng thời khối lượng quả cũng giảm theo
Lạc phản ứng trung tính với quang chu kỳ (Bùi Huy Đáp,1957) [27] Tuy nhiên vẫn có thể xếp lạc vào nhóm cây ngày ngắn Vì trong điệu kiện ngày dài thời kỳ hình thành quả, vỏ lạc thường dày hơn, hạt nhỏ hơn so với xỷ lý trong điều kiện ngày ngắn
Sự ra hoa rất nhạy cảm khi cường độ ánh sáng giảm và nếu cường độ ánh sáng thấp trước thời kỳ ra hoa sẽ gây hiện tượng rụng hoa (Hudgens và Mc Cloud, 1974) [63] Khi số giờ nắng đạt khoảng 200 giờ/tháng thì quá trình nở hoa thuận lợi, hoa
nở tập trung (Bùi Huy Đáp,1961; Nguyễn Văn Bình và cộng sự, 1996) [28] [4] Theo Butler K.L,Irrie B.C (1982) [61] ở thời kỳ nở hoa khả năng tích lũy chất khô có thể đạt 18,6g/cm2/ngày Sự phát triển của quả thuận lợi trong điều kiện cường độ ánh sáng từ 400 - 600 cal/ cm2/ngàyvà số giờ nắng đạt 220 - 250 giờ/tháng Khi số giờ nắng dưới 100 giờ/tháng, cây lạc thiếu nắng, lạc sẽ bị vống, chiều dài lóng tăng, giảm độ cứng của cây, làm tăng khả năng lốp đổ
Trang 27Tổng lượng mưa và sự phân bố mưa trong chu kỳ sống của cây lạc, là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng phát triển của lạc và ảnh hưởng
đến năng suất Nhiều nghiên cứu cho rằng năng suất khác nhau giữa các năm ở một
số vùng sản xuất là do chế độ mưa quyết định Năng suất lạc có thể đạt cao ở những vùng có lượng mưa từ 500 - 1.200 mm, phân bố đều trong cả vụ (Lê Song Dự, Nguyễn Thế Côn,1979) [24]
Gilier (1960) [34] cho rằng tổng nhu cầu nước trong suốt thời gian sinh trưởng của lạc là 450 - 700 mm, nhu cầu này thay đổi tùy thuộc giống và thời kỳ sinh trưởng khác nhau Thời kỳ khủng hoảng nước của lạc được nhiều tác giả nghiên cứu: Holford (1971), Su và Lu (1963), Subramanyan (1974), Prevot và Gllagnier (1957) các tác giả này đều công nhận rằng thời kỳ lạc ra hoa đâm tia, hình thành quả và hạt
là thời kỳ khủng nước của lạc (dẫn theo Nguyễn Văn Bình và cộng sự, 1996) [4] Theo John (1949) [66], lượng mưa lý tưởng để trồng lạc đạt kết quả tốt là trong 80-120 mm trước khi gieo để dễ dàng làm đất, khoảng 100-120 mm khi gieo, đây là lượng mưa cần thiết để cho lạc mọc tốt và đảm bảo mật độ Lạc chịu hạn nhất là thời
kỳ trước ra hoa vì vậy nếu có một thời gian khô héo kéo dài 15-30 ngày sau khi trồng kích thích cho lạc ra hoa nhiều (Sankara Redi, 1982) [77] Lạc mẫn cảm nhất với hạn ở thời kỳ ra hoa rộ, vì thế lượng mưa cần cho lạc khoảng 400 mm ở thời kỳ bắt đầu ra hoa đến đâm tia, quả bắt đầu phát triển chín (Nguyễn Văn Bình, Vũ Đình Chính, Nguyễn Thê Côn, 1996) [12] Lin (1963) cho rằng ở điều kiện hạn rễ ăn sâu hơn 5 - 10% nhưng bán kính phân bố rễ giảm 60 - 70% Dư thừa độ ẩm đối với lạc cũng là một trong những tác hại lớn được nhiều tác giả chú ý Theo Spent (1972), Minchin và Pate (1975)), Hongetal (1977) (dẫn theo Nguyễn Văn Bình và cộng sự, 1996) [4] khi lạc bị ngập làm giảm hàm lượng ôxy ở trong đất, dẫn đến giảm quá trình hô hấp ở rễ dẫn đến sự giảm hoặc đình chỉ sự phát triển của bộ rễ, nốt sần Do
đó sự cố định đạm cũng bị đình chỉ
Vào thời kỳ thu hoạch quả gặp mưa đặc biệt mưa kéo dài trong nhiều ngày, làm cho hạt lạc nảy mầm ngay tại ruộng Đối với những giống lạc không có thời gian ngủ nghỉ (Spanish và Valencia), thậm chí hạt có hiện tượng bị thối hoặc gây trở
Trang 28ngại cho việc phơi quả, làm giảm năng suất và chất lượng của hạt (Nguyễn Văn Bình
và cộng sự, 1996) [4]
ở nước ta, khí hậu nhìn chung phù hợp với yêu cầu sinh trường và phát triển của cây lạc ở các tỉnh phía bắc, vụ xuân là vụ trồng chính, chủ yếu từ tháng 2 đến cuối tháng 6, thời vụ sớm có thể gieo trồng từ tháng 1, thời vụ muộn có thể kéo dài
đến tháng 7 Nhìn chung trong vụ xuân đầu vụ thường hay bị hạn, cuối vụ thường mưa lớn kết hợp với nhiệt độ cao (trên 30 oC) vào tháng 5, tháng 6 nên dễ làm cho thân lá phát triển mạnh vào thời kỳ cuối vụ, gây ảnh hưởng đến năng suất lạc và tổn thất khó khăn cho việc thu hoạch
Vụ thu do phải trồng sớm vào tháng 7, nhiệt độ và ẩm độ cao, lượng mưa nhiều; do đó việc làm đất gặp nhiều khó khăn, thời gian sinh trưởng giai đoạn đầu bị rút ngắn Quá trình ra hoa kết trái độ ẩm đồng ruộng cao, nhiệt độ cao ảnh hưởng
đến số hoa đậu quả, cây sinh trưởng thân lá mạnh, mất cân đối dẫn đến năng suất thấp (7-10 tạ/ha), không ổn định, hạt nhỏ
Trong những năm gần đây vụ thu đông đ6 được chú trọng phát triển, với mục
đích đáp ứng nhu cầu giống cho vụ xuân năm sau, vừa mang tính hàng hóa, có hiệu quả kinh tế cao, đ6 mở ra hướng mới trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng, thay thế một số cây trồng hiệu quả kinh tế thâp, tăng thu nhập cho người nông dân
1.3.2 Đất đai
Theo Phạm Văn Biên và cộng sự (1991); Bùi Huy Đáp (1957); Ngô Lam Giang, Phan Liêm (1999) [9] [32] [27] lạc không yêu cầu khắt khe về mặt độ phì của đất, nhưng do đặc điểm sinh lý của lạc nên đất trồng lạc yêu cầu chặt về điều kiện lý tính Theo York và Codwell (1951) [85] thì đất trồng lạc lý tưởng phải là đất thoát nước nhanh, có màu sáng, tơi xốp, phù sa cát, có đầy đủ canxi và một lượng chất hữu cơ vừa phải
Đất thích hợp trồng lạc phải là đất cát pha mịn, đất thịt nhẹ, hoặc thịt trung bình Nói chung các loại đất có thành phần có giới nhẹ hoặc đất thịt nhưng giàu chất hữu cơ và có kết cấu viên; các đất có dung trọng đất 1,1 - 1,35, độ hổng 38 - 50% là thích hợp để trồng lạc chín (Nguyễn Văn Bình, Vũ Đình Chính, Nguyễn Thê Côn, 1996) [4]
Trang 29Theo Woodroof (1966) lạc yêu cầu đất hơi chua và gần trung tính (pH = 5,5 - 7) Đất kiềm lá trở nên vàng vết đen xuất hiện trên vỏ quả (dẫn theo Anonyme, 1996) [3]
Theo Reud P.H và Cox F.R (1973) [74] Trên đất có độ chua cao, không thích hợp với lạc quả to Việc cải tạo đất theo hướng khử chua, nâng cao pH thích hợp cũng vẫn là biện pháp kỹ thuật tăng năng suất lạc
Xét về phương diện lý tính đất, lạc cũng có khả năng thích ứng trong phạm vi rộng Montenez đ6 nêu những điển hình trồng lạc trên những loại đất có tỷ lệ sét và limông biến động từ 4% đến 75% ở các nước Xênegan, Nigiêria và Xu Đăng (Trích theo Lê Song Dự và cộng sự, 1979) [24]
Theo Tata.S.N (1988) [70], trên thế giới lạc được trồng trên nhiều loại đất khác nhau Đất phù sa hàng năm được bồi đắp hoặc không bồi đắp, đất cát, đất xám, đất feralit Điều này đ6 chứng minh được cây lạc có khả năng thích ứng rộng với điều kiện đất đai
ở ấn Độ và các nước đang phát triển ở châu Phi đ6 trồng lạc trên những vùng
đất xấu, đất nhiệt đới khô cằn và bán khô hạn, đất không được tưới Do đó đ6 hạn chế rất nhiều khả năng nâng cao năng suất lạc Tuy nhiên trên các loại đất này lạc là cây trồng có hiệu quả kinh tế cao hơn các cây trồng khác Lạc là cây trồng tiên phong trên các loại đất mới khai phá, đất khô cằn
Đất thoát nước tốt tạo điều kiện thuận lợi cho sự trao đổi không khí để đáp ứng nhu cầu ôxy và nitơ của cây trồng Đất không thoát nước làm cho sự hô hấp của rễ
bị ảnh hưởng Do đó hạn chế sự phát triển của bộ rễ và làm chậm quá trình đồng hóa Thiếu ôxy ở các vùng rễ quá trình cố định nitơ vi khuẩn nốt sần sẽ kém hiệu quả và không có khả năng hút nitơ từ đất
Về đất đai, ở một số vùng trồng lạc có truyền thống của phía bắc là phù hợp Suy xét về một số đặc điểm nổi bật của một số loại đất chính của các vùng chuyên canh lạc như đất cát ven biển Thanh Hóa, Nghệ An, đất bạc màu ở vùng trung du bắc bộ cho thấy hầu hết các chân đất này có thể sử dụng nhiều cơ cấu cây trồng khác nhau và chỉ có những cây trồng có thể tồn tại khi gặp thời kỳ khô hạn (Nguyễn Thị Dần, 1991) [21]
Trang 301.3.3 Nhu cầu dinh dưỡng của lạc
1.3.3.1 Vai trò và sự hấp thụ đạm (Nitơ)
Đạm có vai trò quan trọng đối với sinh trưởng, phát triển và năng suất lạc Nhu cầu đạm của lạc cao hơn nhiều so với các loại cây ngũ cốc vì hàm lượng protein trong hạt cao (15-23%) hơn 1,5 lần ở hạt ngũ cốc Lượng đạm được hấp thu rất lớn,
để đạt 1 tấn quả khô cần sử dụng tới 50-75 kg N (dẫn theo Nguyễn Văn Bình và cộng sự, 1996), [4]
Nitơ là thành phần của Axit amin để tạo nên protêin của lạc, axit nucleic, diệp lục tố và các loại men Vì vậy Nitơ tham gia vào quá trình trao đổi chất trong cây Thiếu Nitơ cây sinh trưởng kém, lá vàng, chất khô tích lũy giảm, số quả và trọng lượng quả đều giảm Nhất là ở thời kỳ cuối, thiếu N nghiêm trọng dẫn đến hiện tượng quả ngừng phát triển (Reid và York,1958) [73]
Theo Nguyễn Danh Đông, Nguyễn Thê Côn, Ngô Đức Dương (1984) ở nước ta trên các loại đát nghèo N như đất bạc màu, đất cát ven biển bón N có hiệu quả làm tăng năng suất lạc, hiệu lực của 1kg N ở đất bạc màu Hà Bắc có thể đạt 5 - 25Kg lạc
vỏ Nếu lượng N ít, phân hữu cơ ít nên tập trung bón N lúc gieo Nếu phân hữu cơ chất lượng tốt và nhiều có thể bón thúc vào thời kỳ 4 - 5 lá thật, lúc lạc đang phân hóa mầm hoa, nên bón thúc N với Kali [29]
Lạc là cây họ đậu có khả năng cố định nitơ từ khí quyển nhờ hệ thống vi khuẩn nốt sần Tuy nhiên lượng nitơ cố định chỉ có thể đáp ứng được 50 - 70% nhu cầu đạm của cây (Nguyễn Văn Bình và cộng sự, 1996) [4] Thời kỳ lạc hấp thu nhiều đạm nhất là thời kỳ ra hoa hình thành củ và hạt Thời kỳ này chiếm 25% thời gian sinh trưởng của cây, nhưng đ6 hấp thụ tới 40 - 45% nhu cầu đạm cả chu kỳ sinh trưởng của cây
ở cây lạc nốt sần chỉ xuất hiện khi lạc có cành và phát triển nhiều khi ra hoa
Do đó ở giai đoạn đầu sinh trưởng, lạc chưa có khả năng cố định đạm nên lúc này cần bón bổ sung một lượng đạm hay kết hợp với phân chuồng, tạo điều kiện cho sự phát triển của vi khuẩn cộng sinh ở giai đoạn sau (Ưng Định và cộng sự, 1977) [31] Lượng nốt sần ở rễ lạc tăng lên theo thời gian sinh trưởng và đạt cực đại vào thời kỳ hình thành quả và hạt, lúc này hoạt động cố định của vi khuẩn rất mạnh,
Trang 31nhưng để đạt năng suất lạc cao việc bón đạm bổ sung vào thời kỳ này là rất cần thiết Vì hoạt động cố định đạm của vi khuẩn nốt sần thời kỳ này mạnh nhưng lượng
đạm cố định được không đủ đáp ứng nhu cầu của cây, nhất là trong thời kỳ phát dục mạnh (Lê Song Dự và cộng sự, 1979) [24]
Theo Bùi Huy Đáp (1957); Lê Song Dự, Nguyễn Thê Côn (1979) [27] [24] vấn
đề bón phân cho cây lạc đặc biệt là phân đạm, là phải biết được quan hệ giữa lượng
đạm cộng sinh với lượng đạm hấp thu do rễ Giải quyết vấn đề này chỉ có thể là xác
định thời kỳ bón, lượng đạm bón và dạng đạm sử dụng, cùng sự bón cân đối dinh dưỡng để tạo điều kiện tốt nhất cho cây lạc hấp thu dinh dưỡng đạm
1.3.3.2 Lân
Lân (P) là một trong ba nguyên tố dinh dưỡng chính của cây trồng Hàm lượng lân trong cây chiếm khoảng 0,3-0,4% so với khối lượng chất khô, đóng vai trò quan trọng bậc nhất trong quá trình trao đổi chất, hút chất dinh dưỡng và vận chuyển các chất đó trong cây (Lê Văn Căn, 1978) [11]
Lân là nguyên tố tham gia cấu tạo nên Axit nuclêic, protein, axít amin, ATP và các chất hóa học khác (Nguyễn Văn Bình và cộng sự, 1996; Hoàng Minh Tấn, 2000) [4] [48] Thiếu lân bộ rễ phát triển kém, hoạt động cố định nitơ giảm, vì ATP cung cấp cho hoạt động của vi sinh vật cố định nitơ giảm Bón lân cho lạc làm tăng khả năng phân cành trên cây, tăng diện tích lá, tăng khả năng tích lũy chất khô, kéo dài thời gian ra hoa và tăng tỷ lệ đậu quả Dẫn đến tăng số quả và khối lượng quả, cuối cùng là tăng năng suất quả
Theo Nguyễn Trọng Chi (1963 - 1966) bón Supe lân và vôi cho giống lạc đỏ Bắc Giang cho thấy bón 200 kg Supe lân đạt năng suất 23,1 tạ/ha tăng 4,7 tạ so với không bón [4]
Lượng lân lạc hấp thu không lớn Để cho 1 tấn quả khô, lạc chỉ cần sử dụng 2 -
4 kg P2O5 và phần lớn lượng lân hút được đều tập trung ở hạt (Aulakh, B.S và cộng
sự, 1985) [58] Tuy nhiên, đất không cung cung cấp đủ lượng yêu cầu; vì thế, việc bón lân cho lạc là rất cần thiết ở nhiều loại đất trồng lạc Các loại đất bạc màu, đất khô cằn nhiệt đới thường thiếu lân Bón phân lân ở các loại đất này là nhân tố để tăng năng suất ở nhiều vùng trồng lạc
Trang 32Theo Sankara Reddi (1988) [75], trong kỹ thuật thâm canh lạc thường bón lượng phân lân rất lớn
Theo Nguyễn Văn Bình và cộng sự (1996) [8] lạc hấp thu lân nhiều nhất ở thời
kỳ ra hoa hình thành quả Trong thời gian này, lạc hấp thu tới 45% lượng hấp thu lân của cả chu kỳ sinh trưởng Sự hấp thu lân giảm rõ rõ rệt ở thời kỳ chín Dạng phân lân thường bón cho lạc là supe lân, phân lân tổng hợp với tỷ lệ khác nhau Phân lân chủ yếu để bón lót cho cây
Hiện nay, trên thị trường có nhiều loại phân lân: Phân lân thiên nhiên (apatit và phosphorit) và phân lân chế biến (supephosphat và thermophotphat) Phân supephotphat là loại phân lân chế biến bằng axit, có ưu điểm là lân ở dạng Ca(H2PO4) dễ tan trong nước, cây trồng sử dụng ngay được và có S trong thành phần Nhưng có nhược điểm khi bón vào đất, các ion H2PO4- tự do dễ dàng kết hợp với Ca ở đất kiềm hoặc với sắt nhôm tự do ở đất chua tạo thành khó tan, làm giảm hiệu suất sử dụng lân (Lê Văn Căn và Pagel.H 1978) [10]
Phân thermophotphat được chế biến bằng cách nung photphat tự nhiên với một chất kiềm, ở nhiệt độ cao lân khó tan sẽ chuyển thành lân dễ tan, kiềm có tác dụng tạo điều kiện tốt cho sự nung chảy và giữ khỏi mất P (Nguyễn An, 1995) [1] Ưu
điểm chính của thermophotphat là do trong thành phần có Ca, Mg, Si và một số nguyên tố vi lượng, cho nên có khả năng khử chua, cải tạo đất chua, lân ở dạng CaHPO4 không tan trong nước, nhưng dễ tan trong dung dịch axit citric 2% tương
đương pH mà dung dịch rễ cây tiết ra, nên cây trồng nhất là họ đậu có thể hút dễ dàng Chính vì thế thermophotphat được sản xuất công nghiệp với khối lượng ngày càng tăng và đang được sử dụng ngày càng nhiều ở các nước nhiệt đới nóng ẩm như Nhật Bản, Trung Quốc, Việt Nam, Hàn Quốc, Nam Phi ở Việt Nam lượng thermophotphat sản xuất và tiêu thụ liên tục mỗi năm: 1991: 76.100 tân; 1995: 150.000 tấn (tăng 100%sau 5 năm) (Bùi Đình Dinh, 1995) [22] Rễ lạc khác với rễ các loại cây khác ở khả năng công phá lân khó tiêu (phosphorit, apatit) tạo nên lên
dễ tiêu (H2PO4-, HPO4-) giúp cho cây hấp thu dễ dàng Do đó cây lạc có khả năng hấp thu được lân ở những đất ngèo nguyên tố này
Trang 331.3.3.3 Kali
Kali trong cây dưới dạng muối vô cơ hòa tan và muối của axit hữu cơ ở trong tế bào Kali không trực tiếp đóng vai trò là thành phần cấu tạo của cây nhưng tham gia vào hoạt động của Enzim Nó đóng vai trò là chất điều chỉnh và chất xúc tác Vì vậy kali tham gia chủ yếu vào các hoạt động chuyển hóa của cây Vai trò quan trọng nhất của kali là xúc tiến quang hợp và sự phát triển của quả, ngoài ra kali làm tăng cường mô cơ giới, tăng cường tính chống đỏ của cây (Nguyễn Văn Bình và cộng sự, 1996; Bùi Huy Đáp, 1957) [4] [27]
Kali đóng vai trò quan trọng trong quá trình quang hợp và sự phát triển của quả, làm tăng khả năng giữ nước của tế bào, làm tăng quá trình chịu hạn và chống
đổ của cây Kali có hiệu quả cao nhất trên đất các loại đất nghèo dinh dưỡng nói chung, kali nói riêng như đất xám bạc màu, đất cát ven biển Hiệu suất 1 kg sunfat kali trên đất cát biển trung bình đạt 6 kg lạc, trên đất bạc màu đạt 8 - 10 kg (Bùi Huy Đáp, 1957) [27]
So với đạm lạc hút kali nhiều hơn, nhất là môi trường giàu kali, nó có khả năng hấp thu kali quá mức cần thiết Lượng kali lạc hấp thu cao hơn nhiều khoảng 15 kg/1 tấn quả khô Vì vậy đánh giá nhu cầu kali theo lượng hút chứa trong cây lạc có thể dẫn đến những kết luận sai lầm (Lê Song Dự và cộng sự, 1979) [28]
Lạc hấp thu kali tương đối sớm tới 60% nhu cầu kali của cây được hấp thu trong thời kỳ ra hoa, làm quả Thời kỳ chín nhu cầu về kali hầu như không đáng kể (5 - 7%) tổng nhu cầu kali của cây
Trong mối quan hệ ủất - phõn bún, kali ủúng một vai trũ quan trọng trong sự sinh trưởng và phỏt triển của cõy Thiếu kali sẽ gõy ảnh hưởng ủến quỏ trỡnh trao ủổi chất trong cõy, làm suy yếu hoạt ủộng của hàng loạt cỏc men, giảm quỏ trỡnh trao ủổi cỏc hợp chất carbon và protein, ủồng thời tăng chi phớ ủường cho quỏ trỡnh
hụ hấp Về hỡnh thỏi, cỏc lỏ trưởng thành sẽ vàng sớm bắt ủầu từ bỡa lỏ, sau ủú bỡa lỏ khụ, ủầu lỏ cú ủốm vàng hoặc bạc, cú triệu chứng rỏch bỡa lỏ dẫn ủến giảm hiệu suất quang hợp ðõy là những nguyờn nhõn chủ yếu dẫn ủến năng suất và chất lượng nụng sản bị sụt giảm (Nguyễn Văn Bỡnh và cộng sự, 1996) [4]
Trang 34Nghiờn cứu về vai trũ của kali ủối với cõy trồng thể hiện rất khỏc nhau tựy theo từng loại ủất Hiệu lực cao nhất thường thấy trờn ủất xỏm bạc màu và trờn ủất cỏt biển ðối với một số loại cõy lấy hạt như ngụ hiệu lực của kali khỏ cao, năng suất tăng từ 23 - 36% và hiệu lực của kali trung bỡnh ủạt từ 15 - 20 kg hại kg K2O ðối với cõy cụng nghiệp ngắn ngày, kết quả khảo nghiệm của Tụ Văn Thống (1994) với cõy ủậu tương trờn ủất bạc màu cho thấy khi bún ủơn thuần kali ủó làm tăng năng suất khoảng 45% so với khụng bún, hiệu suất kali ủạt từ 5,8 - 15 kg ủậu/kg
K2O Với cõy lạc (ủặc biệt là trờn chõn ủất bạc màu, ủất cỏt biển) hiệu suất sử dụng kali từ 2,3 ủến 8,2 kg lạc vỏ khụ/kg K2O bún vào
1.3.3.4 Vai trò và sự hấp thu Canxi
Ông cha ta đ6 nói “Không lân không vôi thì thôi trồng đậu” Canxi là một yếu
tố rất phổ biến trong tự nhiên, dinh dưỡng canxi đối với lạc được coi là nguyên tố trung lượng Trong cây, Ca làm tăng độ nhớt của nguyên sinh chất, giảm tính thấm, vì vậy nó mang ý nghĩa rất lớn trong tính chống chịu của thực vật (tính chống nóng)
Ca ít di động trong cây, hàm lượng Ca ở các bộ phận của cây phụ thuộc vào sự cung cấp Ca ở thời điểm bộ phận đó hình thành Trước khi đâm tia vào đất, Ca hấp thu từ
rễ được vận chuyển tới các bộ phận của cây, kể cả hoa và tia đang phát triển Nhưng sau khi tia quả đâm vào đất và phát triển quả, tia phải trực tiếp hút canxi từ đất (Wander, 1994; Bledsoe, 1996), (Dẫn theo Nguyễn Văn Bình và ctv, 1996) [4] Vai trò canxi đối với lạc thể hiện: Ngăn ngừa sự tích lũy nhôm và các Cation khác, thuận lợi cho vi khuẩn nốt sần hoạt động do canxi nâng cao pH đất, làm tăng lượng đạm hấp thu do rễ và nguồn đạm cố định Đặc biệt canxi giúp cho sự chuyển hóa N trong hạt, nên nó hướng sự di chuyển N về hạt Lượng canxi lạc hấp thu gấp 2
- 3 lần lượng lân lạc hấp thu Trong cây canxi tập trung chủ yếu ở lá (80 - 90%) lượng canxi lạc hấp thu Canxi tạo thành Pectatcanxi cần thiết đối với sự phân chia
tế bào Canxi có mặt trong thành phần của một số men hoạt hóa, hàm lượng canxi trong lá ở tới mức tới hạn là 2% Năng suất lạc cao đều liên quan đến hàm lượng canxi có trong lá (Nguyễn Danh Đông và cộng sự, 1984) [29]
Một lượng canxi ở vùng rễ và quả là hết sức cần thiết để có thể sản xuất một lượng hạt cao với chất lượng tốt Đói canxi ở lạc được phản ánh bởi những quả lạc
Trang 35rỗng, chồi mầm trong hạt đen và quả nhỏ đi Bangorth (1969) thống kê được hơn 30 bệnh của lạc do đói canxi (Dẫn theo Vũ Công Hậu và cộng sự, 1995) [36]
Các dạng canxi có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng hấp thu canxi của lạc Bón
60 kg CaSO4 có tác dụng ngang với 1000 kg vôi bột Tuy nhiên ở hầu hết các vùng trồng lạc, dạng canxi phổ biến vẫn là vôi bột Vôi bột được dùng bón lót hoặc bón lót 50% và lượng phân còn lại bón thúc khi cây ra hoa Bón vôi ngoài nâng cao năng suất của lạc mà còn có tác dụng nâng cao pH đất
Theo JG.D Geus (1978) [39] đối với đất trồng lạc, pH thích hợp ở đất cát là 5,5; đất thịt pha là 6,0 ở nước ta là 6,0 - 7,0 nhưng khi bón vôi thực tế chỉ cần điều chỉnh tới 5,5 - 6,0 (Nguyễn Danh Đông, 1984) [29] Ngoài canxi, lạc còn cần yếu tố trung lượng khác như Magiê và Lưu huỳnh
1.3.3.5 Magiê và Lưu huỳnh
* Magiê: Magiê liên quan trực tiếp đến quá trình quang hợp của cây vì magiê
là thành phần của diệp lục, ngoài ra magiê còn có mặt trong các Enzim xúc tác cho quá trình trao đổi chất của cây (Nguyễn Như Khanh, 1996) [38]
Biểu hiện dầu tiên của sự thiếu magiê lá có màu vàng úa, cây bị lùn Tuy nhiên ít thấy có biểu hiện thiếu magiê trên đồng ruộng Đất thường thiếu magiê là
đất cát ven biển và đất bạc màu Do đó bón phân lân Văn Điển cũng chính là bổ sung thêm magiê cho cây
* Lưu Huỳnh : Gopala krshuan và Nagarajan (1958) Lưu huỳnh là thành phần của nhiều loại axit amin quan trọng trong cây Thiếu lưu huỳnh sự sinh trưởng của lạc bị cản trở, lá vàng nhạt, cây phát triển chậm (dẫn theo Nguyễn Văn Bình và cộng
sự, 1996, tr 63) [4]
Lượng lưu huỳnh lạc hấp thu tương đương lân Reich đ6 xác định hàm lượng lưu huỳnh trong lá trong chu kỳ sinh trưởng của lạc khoảng 0,2% Nhiều vùng trồng lạc có biểu hiện thiếu lưu huỳnh trong đất, nhưng ít ai chú ý đến (Reidvà Cox, 1973) [74] Có nhiều khả năng là hiệu quả mà người ta thường tin là supe phốt phát đơn, thạch cao, sunphat amôn và nhiều thuốc trừ nấm có lưu huỳnh, thực ra là hiệu quả
do lưu huỳnh mà có
Trang 361.3.3.6 Vai trò của các nguyên tố vi lượng
Các nguyên tố vi lượng đóng vai trò là chất xúc tác hoặc là một phần của các Enzim hoặc chất hoạt hóa của hệ enzim cho các quá trình sống của cây (Phan Hữu Trinh, 1986) [55]
Nguyên tố vi lượng quan trọng nhất là Mo và Bo Ngoài 2 yếu tố trên thì các nguyên tố vi lượng khác như Cu, Zn, cũng đóng vai trò quan trọng đối với lạc Molipden (Mo) là nguyên tố vi lượng năm trong thành phần của men nitrogenaza Vì vậy Mo rất cần thiết cho hoạt động cố định đạm của vi khuẩn nốt sần Mo có vai trò rât quan trọng, nhưng lượng cần của nó ít nhất trong số các nguyên tố vi lượng đ6 biết Vì thế người ta gọi Mo là nguyên tố “vi lượng nhất”, hàm lượng Mo trong cây thấp, khoảng 0,1 - 0,93 mg/kg chất khô Trên các loại đất nhẹ trồng lạc, hiện tượng thiếu nguyên tố vi lượng là rất rõ Theo Nuyễn Danh
Đông, Nguyễn Thế Côn (1984) kết quả thí nghiệm và thực nghiệm trên diện rộng phun Mo 0,1% cho lạc lúc ra hoa đối với đất hạng 1 tăng năng suất 37,5 - 38,3%,
đất hạng 2 tăng 24,3 - 37,9%, đất hạng 3 tăng 21,3 - 26,7% [29]
Bo (B) đóng vai trò quan trọng trong sự thụ phấn, thụ tinh của lạc B tăng cường sự tổng hợp và vận chuyển hydratcacbon, các chất sinh trưởng và axit acscobic từ lá đến cơ quan tạo quả Khi thiếu B sự trao đổi hydratcacbon và protein
bị giảm, đường và tinh bột bị tích lũy ở lá, đỉnh sinh trưởng bị chết Ngưỡng thiếu B
là 25 ppm Chỉ hơi thừa B là gây độc cho cây lạc không hấp thu được sắt, kết quả là cháy rìa lá điển hình (Vũ Hữu Yêm, 1996) [57]
Đồng (Cu) tham gia vào các quá trình oxi hóa, tăng cường cường độ của các quá trình hô hấp Cu tham gia vào quá trình trao đổi đạm Khi dinh dưỡng thừa N, dấu hiệu thiếu Cu càng biểu hiện rõ Thiếu Cu làm giảm quá trình tổng hợp protein Trong cây hàm lượng Cu chiếm 1,5 - 8,1 mg/kg chất khô Lượng Cu do cây trồng lấy đi từ 7,3 - 5,2 g/ha (Vũ Hữu Yêm, 1996) [57]
Kẽm (Zn) có vai trò quan trọng trong các quá trình oxi hóa - khử Zn rất cần cho cây lấy hạt, thiếu Zn thì hạt không hình thành được, số hoa, tia quả và cành quả giảm Hàm lượng Zn dao động trong cây từ 1,5 - 22 mg/kg chất khô Lượng Zn do mùa màng lấy đi khá lớn từ 1,2 - 2,1 kg/ha (Vũ Hữu Yêm, 1996) [57]
Trang 37Tóm lại Cây lạc không những rất cần các nguyên tố đa lượng, mà còn cần các nguyên tố trung và vi lượng Cùng với các biện pháp kỹ thuật thâm canh trong trồng trọt và tăng cường sử dụng phân đạm, lân và kali, vai trò của phân vi lượng ngày càng được quan tâm để đảm bảo cân bằng dinh dưỡng cho cây trồng Trong trường hợp này việc thiếu nguyên tố vi lượng trở thành yếu tố hạn chế năng suất và sản phẩm thu được sẽ có chất lượng kém Bởi thế sử dụng cân đối và hợp lý các loại phân đa, trung và vi lượng sẽ đem lại hiệu quả rất cao trong sản xuất lạc
1.4 Kết quả nghiên cứu về các biện pháp kỹ thuật tăng năng suất lạc trên thế giới và ở Việt Nam
1.4.1 Kết quả nghiên cứu về chọn tạo giống
1.4.1.1 Kết quả nghiên cứu trên thế giới
Viện nghiên cứu cây trồng Quốc tế cho vùng bán khô hạn (ICRISTAT) là cơ sở nghiên cứu lớn nhất về cây lạc Tính đến năm 1993, ICRISTAT đ6 thu thập được 13.915 lượt mẫu giống lạc từ 89 nước khác nhau trên thế giới Trong đó Châu Phi 4078; Châu á 4609; Châu Âu 53; Châu Mỹ 3905; Châu úc và Châu Đại Dương 59; còn lại 1245 lượt mẫu giống chưa rõ nguồn gốc (M.H Mengesha, 1993) [68]
Trung Quốc là nước đặc biệt quan tâm tới công tác nghiên cứu và chuyển giao công nghệ trồng lạc Các nhà khoa học đ6 chọn tạo rất nhiều giống mới Năm 1989 (95%) diện tích trồng lạc đ6 thay thế giống cũ bằng giống mới Giống Fuhuasheng
và Baisha 1016 là 2 giống trồng chủ yếu ở phía bắc những năm 1960 đ6 được thay thế bằng giống chín trung bình Xuzhou 68-4, Haihua No.1 và Hua37 Năng suất của giống hạt to Xuzhou 68-4 và Hai hua No.1 đạt 3,75 tấn/ha cao hơn 15% so với giống
cũ Năm 1990 các giống mới chín trung bình hạt to được gieo trồng trên 70% diện tích lạc ở tỉnh Sơn Đông chú ý là các giống Longhua No.1,Hua No.5,Yueyou 92 chống bệnh héo vi khuẩn và Shanyou 27 chống bênh gỉ sắt được trồng phổ biến Từ
đó hạn chế được những thiệt hại do các bệnh này gây ra [26]
Mỹ đ6 đưa vào sản xuất 16 giống lạc mới (9 giống thuộc loại hình Runner, 5 giống thuộc lọai hình Virginia, 2 giống thuộc loại hình Spanish) (S.Y.Nigam, 1992) [74] Hiện đang có 3 chương trình nghiên cứu sử dụng lạc dại lai với lạc trồng để tạo
ra giống chống sâu bệnh ở Carolina Oklahomavà Texas
Trang 38Philippin đ6 đưa vào sản xuất giống UPLP n6, UPLP n8 và BPIP n8 có kích thước hạt lớn, kháng bệnh gỉ sắt, bệnh đốm lá (Perdido, 1996) [64]
Theo Sunnun Joglog và cộng sự (1996) [81] Thái Lan đ6 đưa vào sản xuất các giống lạc có đặc tính năng suất cao, chín sớm, chống bệnh đốm lá, chịu hạn như giống: Khon Keen 60-3, Khon Keen 60-2, Khon Keen 60-1 và Tai nan 9
ấn Độ là nước có nguồn tài nguyên thực vật đa dạng và phong phú Một số
đáng kể những giống lạc được trồng ở ấn Độ được nhập nội từ những trạm khác nhau trên thế giới Sau quá trình đánh giá cẩn thận, những giống thích hợp được phổ biến Tính đến năm 1981, đ6 có 6.290 lượt mẫu giống lạc được thu thập Nhằm gia tăng sự bảo tồn nguồn gen di truyền ngày càng phong phú, từ năm 1986 - 1988 ICRISAT và NBPGR đ6 thu thập được 200 lượt mẫu giống từ 5 bang khác nhau của
ấn Độ (R.K Arora và cộng sự, 1989) [58]
ở Australia, theo số liệu thống kê của FAO (1991) [62] đ6 thu thập được 12.160 lượt mẫu giống từ nhiều nước trên thế giới như Châu Phi, Trung và Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Châu á, Châu Âu, Châu Đại Dương Hầu hết các mẫu giống đều thuộc hai kiểu phân cành liên tục và xen kẽ
Chọn tạo giống chín sớm và năng suất cao là nhu cầu cần thiết đối với vùng trồng lạc mà ở đó có đòi hỏi nghiêm ngặt về thời vụ Đồng thời nó cũng là yếu tố quan trọng trong hệ thống cơ cấu cây trồng tăng vụ của nhiều nước ICRISAT đ6 chọn được một số giống có năng suất cao và chín sớm biểu hiện tốt ở nhiều nước: ICGS (E), ICGV 86014 ở cộng hoà Gambia, ICGS (E) 56, ICGS(E) 52 và ICGV
86055 và ICGV 86143 ở ấn Độ Giống chín sớm như ICGS(E) 22, ICGS(E)61, ICGS(E) 120 và ICGS(E)123 cho năng suất cao phục vụ cho cơ cấu trồng xen cũng
được phát triển và mở rộng ở ấn Độ (Sudhakar D GanesanK và cs 1995) [79] Việc chọn giống ở Inđônêxia cũng đ6 được tập trung vào các mục tiêu năng suất cao, phẩm chất tốt, chín sớm và kháng bệnh Năm 1991 các giống có triển vọng như: Mahesa, Badak, Brawar và Koinodo đ6 được khuyến cao và đưa vào sản xuất (CRIPC, 1991) [59]
Trang 39ở Thái Lan, cũng đưa vào sản xuất các giống lạc có năng suất cao, chín sớm, chống hạn, kháng bệnh lá, có kích thước hạt lớn như: KhonKean 60-3, KhonKean 60-1 và Tainan 9 (Sanun Jogloy và ctv, 1996) [81]
1.4.1.2 Kết quả nghiên cứu về chọn tạo giống lạc ở trong nước
Trong những năm qua nước ta rất quan tâm tới công tác nghiên cứu phát triển sản xuất lạc, chúng ta đ6 tiếp thu một cách sáng tạo những thành tựu và kinh nghiệm của thế giới Các nhà khoa học Việt Nam đ6 xác định được những yếu tố hạn chế sản xuất lạc Từ đó có hướng nghiên cứu, tìm cách khắc phục, chúng ta đ6 chọn lọc, nhập nội được một tập doàn giống mới năng suất cao, khả năng thích ứng rộng, chống chịu tốt với sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất thuận
Từ năm 1984 - 1990, Viện khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam đ6 nghiên cứu khảo sát 1.271 giống nhập nội từ 40 nước trên thế giới, trên 100 giống lạc địa phương Phần lớn các giống trong tập đoàn có thời gian sinh trưởng từ 121 -
130 ngày, các mẫu giống có số quả trên cây nhiều như I.4499, V79 Các giống có
P100hạt cao (45 - 55gam) như ICG 86015, F2H8-25 Giống chịu bệnh gỉ sắt:
EG-PN-11, IPB-PN-48-90 Giống chịu bệnh đốm nâu: I.4480, I4498 (Trần Đình Long và cộng sự,1991) [41]
Tại Trung tâm Nghiên cứu và thực nghiệm đậu đỗ (Năm 1991 - 1998) đ6 tiến hành nhập nội 1.633 mẫu giống từ ICRISA, 625 dòng lai tạo và 115 mẫu giống địa phương Kết quả đ6 chọn ra được các mẫu điển hình như: JL24, ICGV8143, JCGV87157, KPS13, KPS18, QĐ2, QĐ6, L02, L03, V79-157 (Nguyễn Văn Thắng
và Trần Đình Long, 1999) [40]
Viện Nghiên cứu cây có dầu thực vật đ6 thu thập và khảo sát tại vùng Đông Nam Bộ 433 giống và dòng lạc có nguồn gốc từ Trung Quốc và nhập nội từ viện ICRISAT Qua khảo nghiệm, chọn lọc và lai tạo trong nhiều năm bước đầu đ6 chọn tạo được một số giống lạc có triển vọng Chọn được giống VD1 được hội đồng Bộ khoa học Nông nghiệp và phát triển nông thôn cho phép khu vực hóa tỉnh phía nam Chọn được 2 giống kháng bệnh héo xanh vi khuẩn là VD9, VD10; 2 giống kháng A.Flavuscao là VD2, VD7; 5 giống chịu hạn có năng suất tương đối cao là ID-2, ID-
3, ID-12, ID13, ID14, (Ngô Lam Giang và cộng sự,1999) [32] Giống VD1 cho năng
Trang 40suất cao hơn giống địa phương từ 20 - 30%, giống VD3 trên 500m2 đạt 215 kg (tương đương 4,3 tấn/ha) trong vụ đông xuân, giống HL-25 thời gian sinh trưởng 90 ngày cho năng suất 3,0 tấn/ha, P100 hạt đạt 40 - 50 gam [33]
Trên cơ sở quỹ gen cây lạc đ6 được thu thập, các Nhà Khoa học đ6 tiến hành lai hữu tính và gây đột biến làm đa dạng nguồn vật liệu phục vụ công tác chọn giống Nghiên cứu các giống lạc để phục vụ sản xuất ở nước ta ngày một tăng: “Năm
1984 là 155 giống (95 giống nhập nội, 60 giống địa phương), 1988: 314 giống (288 giống nhập nội và 26 giống địa phương); đến năm 1990: 388 giống (349 giống nhập nội và 39 giống địa phương)” ( Trần Đình Long và cộng sự, 1991) [41]
Từ năm 1974 các nhà chọn tạo giống Trường Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội
đ6 bắt đầu nghiên cứu chọn tạo giống lạc bằng phương pháp lai hữu tính và phương pháp phóng xạ Kết quả bằng phương pháp gây đột biến phóng xạ, giống Bạch Sa đ6 tạo ra giống lạc B.5000 có hạt to, vỏ lụa màu hồng, năng suất cao và ổn định (Lê Song Dự và cộng sự, 1996) [25]
Từ năm 1989 Việt Nam tham gia mạng lưới về cây họ đậu, được sự tài trợ của quốc tế, tạo điều kiện tiếp cận tài liệu di truyền trao đổi nguồn gen, riêng đối với lạc các cơ quan nghiên cứu khoa học Việt Nam đ6 nhận 600 dòng giống lạc của Viện nghiên cứu Quốc tế Trong số các dòng, giống được khảo nghiệm đ6 phân lập 4 giống chín sớm có năng suất cao (Nguyễn Văn Thắng, Trần Đình Long, 1999) [40]
Từ nguồn vật liệu khởi đầu là lạc Sen Nghệ An và lạc Giấy Thừa Thiên Huế, bằng phương pháp phóng xạ gây đột biến Võ Hùng và cộng sự (1996) đ6 tạo ra một
số dòng lạc: TT1, TT2, TT3, các dòng này có thời gian sinh trưởng ngắn (85 - 90 ngày) cho năng suất cao hơn giống đối chứng và giống gốc [37]
ở Miền nam Việt Nam nhiều cơ sở nghiên cứu đ6 nhập nội các giống lạc từ các nước khác nhau, như Trại thí nghiệm Nha Hố đ6 so sánh 13 giống, sau 4 năm thử nghiệm thấy rằng giống Tai Nung (Đài Loan) và dòng thuần 60 - 24 có năng suất khá nhất (Ngô Lam Giang, Phan Liêm, 1991) [33]
Nguyễn Văn Thắng (1998) khi chọn lọc các giống nhập nội từ Trung Quốc, đ6 chọn được giống lạc L02, có thời gian sinh trưởng trung bình L02 thuộc dạng hình thấp cây, góc phân cành hẹp, lá nhỏ màu xanh đậm, chống đổ tốt, khối lượng 100