1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Đề tài Ứng dụng phần mềm tin học power point, get quick time pro, paint vào thiết kế bài giảng "sinh tổng hợp prôtêin" nhằm mục đích nâng cao chất lượng hiệu quả giờ lên lớp

20 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 573,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“øng dông phÇn mÒm tin häc Power Point, Get Quick Time Pro, paint...vµo thiÕt kÕ bµi giảng "Sinh tổng hợp Prôtêin" nhằm mục đích nâng cao chất lượng hiệu quả giờ lên lớp” §Ó häc sinh dÔ [r]

Trang 1

Lê Thị Kim Khánh 3 Sáng kiến kinh nghiệm

“ ứng dụng phần mềm tin học Power Point, Get Quick Time Pro, paint…

vào thiết kế bài giảng "Sinh tổng hợp Prôtêin" nhằm mục đích nâng cao

chất lượng hiệu quả giờ lên lớp”.

I Đặt vấn đề:

Thế kỷ XXI- thế kỷ của sự phát triển mạnh mẽ khoa học và công nghệ Yêu

cầu mới của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và những thách

thức bị tụt hậu trên con đường tiến lên CNXH đòi hỏi các nhà trường phải đào tạo

nên những con người lao động mới: thông minh, sáng tạo

Để đạt được mục tiêu đó, hiện nay việc đổi mới chương trình và phương pháp

dạy học ở các trường phổ thông đã và đang được quan tâm rất lớn

Trong định hướng về phương pháp và thiết bị dạy học Sinh học bậc THPT,

sách GK phân ban mới, Bộ GD- ĐT chỉ rõ:

"Cần xây dựng những băng hình, đĩa CD, phần mềm máy vi tính tạo thuận lợi

cho giáo viên giảng dạy những cấu trúc, quá trình sống ở cấp tế bào, phân tử và

các cấp trên cơ thể”

Trích:SGV SH Ban KHXH&NV Bộ sách thứ nhất-NXBGD-2003.

"Sinh học là khoa học thực nghiệm, phương pháp dạy học gắn bó chặt chẽ

với thiết bị dạy học, do đó dạy Sinh học không thể thiếu các phương tiện trực quan

như mô hình, tranh vẽ, mẫu vật, phim ảnh "

Trích: SGV SH BanKH TN Bộ sách thứ hai-NXBGD-2003.

Như vậy, một trong những hướng để đổi mới phương pháp dạy học đó là tăng

cường việc sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại

ở các trường THPT nói chung và trường THPT chuyên Phan Bội Châu nơi

hiện tôi đang công tác nói riêng đã và đang từng bước được tăng cường trang bị cơ

sở vật chất kỹ thuật cho các phòng học với sự trợ giúp của công nghệ thông tin

Bởi vậy, việc thiết kế các bài giảng với sự trợ giúp của công nghệ thông tin nhằm

nâng cao hiệu quả dạy học đang được rất nhiều giáo viên quan tâm

Lop6.net

Trang 2

Lê Thị Kim Khánh 4 Sáng kiến kinh nghiệm

có một số bài dạy với khối lượng kiến thức khá nhiều và trừu tượng Học sinh

chưa bao giờ được quan sát trong thực tế, vì đây là chương nói về cơ sở vật chất và

cơ chế di truyền nhưng ở cấp độ phân tử

Muốn quan sát, nhìn thấy chúng trên tiêu bản thì buộc phải có kính hiển vi

điện tử với độ phóng đại cực lớn – chưa kể đến còn phải nhiều công đoạn kỷ

thuật công phu, phức tạp và tốn nhiều thời gian

Thế nhưng thực tế ở hầu hết các trường THPT chúng ta: các dụng cụ thí

nghiệm, đồ dùng dạy học như kính hiển vi điện tử, các hoá chất …còn chưa được

trang bị đầy đủ

Vì thế, trong quá trình thực hiện giảng dạy các bài dạy ở chương này, giáo

viên thường gặp phải một số khó khăn liên quan đến đồ dùng dạy học Bài "Sinh

tổng hợp prôtêin" là một trong số những bài đó

Phương pháp truyền thống thường được áp dụng khi giảng dạy đến bài này là

thuyết trình Giáo viên sử dụng các bức tranh in sẵn hoặc trực tiếp vẽ hình lên

bảng cho các em quan sát  diễn giải rồi yêu cầu các em ghi chép lại các ý cơ

bản Các câu hỏi, những tình huống có vấn đề tuy có được đặt ra nhưng rất hạn

chế - vì khối lượng kiến thức của bài này khá lớn lại rất trừu tượng, phải mất nhiều

thời gian cho thuyết trình và ghi chép

Với cách làm này thường không phát huy được cao độ tính tích cực, chủ

động, sáng tạo trong học tập, học trò khi học thường thụ động, dễ nhàm chán,

hiệu quả giờ dạy không cao

Làm thế nào để trong thời lượng chương trình bó hẹp chỉ một tiết dạy, trên

không chỉ một nhóm đối tượng HS, mọi GV có thể vừa kiểm tra bài cũ, vừa khai

thác xây dựng, hình thành các kiến thức mới, không những thế còn phải khắc sâu,

mở rộng kiến thức mới cho HS, giúp các em vận dụng tốt các kiến thức mới khi

giải thích các sự vật, hiện tượng thực tiễn trong cuộc sống và có thể hoàn thành tốt

mọi bài tập có liên quan, giúp HS có thêm hào hứng, hứng thú khi học tập để rồi

ngày một yêu thích môn sinh học hơn Đây cũng chính là một trong những yếu tố

góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả giờ lên lớp

Trang 3

Lê Thị Kim Khánh 5 Sáng kiến kinh nghiệm

Để góp phần khắc phục được các khó khăn nêu trên, tôi đã chọn đề tài: “ứng

dụng phần mềm tin học Power Point,Get Quick Time Pro, paint vào thiết kế bài

giảng "Sinh tổng hợp Prôtêin" nhằm mục đích nâng cao chất lượng hiệu quả giờ

lên lớp”

II Nội dung.

II.1 Mục đích, yêu cầu giảng dạy của bài :

Qua bài này học sinh phải:

-Nêu được những thành phần tham gia vào quá trình sinh tổng hợp prôtêin

-Trình tự diễn biến của quá trình sinh tổng hợp prôtêin

-Cơ chế giải mã để hình thành cấu trúc bậc I của phân tử prôtêin

-Giải thích được vì sao thông tin di truyền giữ trong nhân mà vẫn chỉ đạo

được sự tổng hợp prôtêin ở ngoài nhân

-Xác định được mối quan hệ về số lượng giữa bộ ba mã sao và số axit amin

môi trường cần cung cấp, cũng như giữa số bộ ba mã sao và số axit amin có trong

phân tử prôtêin mới được hình thành

-Xác định được các sản phẩm tạo ra sau quá trình sinh tổng hợp prôtêin khi

nó cần đến

-Phát triển năng lực suy luận ở học sinh qua việc xác định nhiệm vụ của các

bộ ba mã sao và số axit amin có trong phân tử prôtêin do nó quy định, từ chiều

của mã gốc suy ra chiều mã sao và chiều dịch mã

-Từ kiến thức: “Hoạt động của các cấu trúc vật chất trong tế bào là nhịp

nhàng và thống nhất, bố mẹ truyền cho con không phải là các tính trạng có sẵn mà

là các ADN- cơ sở vật chất của các tính trạng biểu hiện”, học sinh quan niệm

đúng về tính vật chất của hiện tượng di truyền

II.2 Đồ dùng dạy học :

- Máy vi tính có cài đặt sẵn giáo trình điện tử do tác giả thiết kế

- Máy chiếu, bảng chiếu

II.3 Trọng tâm bài dạy:

Lop6.net

Trang 4

Lê Thị Kim Khánh 6 Sáng kiến kinh nghiệm

Bài này có nhiều nội dung kiến thức mới và khó đối với học sinh, để đạt được

mục đích yêu cầu bài dạy, cần đặt trọng tâm ở:

Các mục: I.2.b) Tổng hợp chuỗi polipeptit

II Sự điều hoà quá trình sinh tổng hợp prôtêin

II.4 Phân tích cấu trúc nội dung và phương pháp giảng dạy của bài :

Trước khi học sinh học đến bài này, các em đã được học bài 16: “Axit

nuclêic và prôtêin”

Vì thế trước khi vào nội dung bài mới, GV có thể hỏi bài cũ

Có khá nhiều vấn đề để GV có thể lựa chọn khi đặt câu hỏi kiểm tra bài cũ

Tuy nhiên tôi sử dụng bài tập sau:

ứng dụng trình duyệt Power Point trong phần này, trước tiên tôi cho hiển thị

lên màn hình đề bài, tiếp đến điều khiển bút laze (hoặc con trỏ) đến các vị trí

nuclêôtít (trên ADN mẫu) hoặc ribônuclêôtit (trên mARN tương ứng) cần xác

định, yêu cầu học sinh trả lời rồi mới cho hiển thị lên màn hình phần đáp án sau

khi các em đã hoàn thành xong

Giáo viên cũng có thể thiết kế cho các em học sinh sử dụng máy (dưới sự

giám sát của giáo viên), tự lựa chọn các nuclêôtit (hoặc các ribônuclêôtit) tương

ứng lắp ghép vào các vị trí xác định

Bài tập:

Dựa vào các nuclêôtit trên ADN mạch khuôn của một loài vi khuẩn dưới

đây, hãy xác định trình tự các nuclêôtít trên ADN mạch mẫu và các

ribônuclêôtit tương ứng trên mARN được tổng hợp

mạch mẫu :

mạch khuôn : T A X X A G A T A X T T A T X

mARN :

ADN

Trang 5

Lê Thị Kim Khánh 7 Sáng kiến kinh nghiệm

cầu các em chọn lại

Còn nếu các em làm đúng, máy sẽ chấp nhận và việc lắp ghép của các em

thành công

Với bài tập này có thể giúp cho các em ôn lại các kiến thức về nguyên tắc bổ

sung cũng như tái hiện lại về cơ chế quá trình sinh tổng hợp mARN diễn ra như

thế nào

Tiếp theo, dựa vào sơ đồ sẵn có trên bảng (vừa được thiết lập trong bài tập

trên), giáo viên có thể hỏi thêm các em về mã mở đầu và mã kết thúc của mARN,

đặc điểm của mã di truyền - Bởi vì đây là những câu hỏi có đề cập đến những vấn

đề liên quan đến nội dung bài mới, làm cơ sở nền tảng cho việc tiếp thu bài mới

được thuận lợi hơn

Kết thúc phần kiểm tra bài cũ, giáo viên phân tích-đánh giá những ý học sinh

đã và chưa trả lời được rồi cho điểm

Sau đó, giáo viên đặt vấn đề để chuyển sang dạy nội dung bài mới, cho hiển

thị lên màn hình mục bài rồi yêu cầu học sinh ghi đề mục vào vở

Giáo viên giới thiệu qua về bố cục bài giảng rồi đặt vấn đề để các em cùng

xây dựng nội dung phần A:

A Quá trình tổng hợp prôtêin trong tế bào.

I Sao mã:

Như chúng ta đã biết, trước khi học đến bài này thì các em đã được nghiên

cứu kỹ về quá trình sinh tổng hợp ARN trong bài 16 Và vì thế đến mục này,sau

khi giới thiệu: “ Đây chính là quá trình sinh tổng hợp mARN”, chúng ta chỉ cần

làm sáng rõ cho các em lí do khiến người ta đặt tên cho quá trình này là quá trình

sao mã là được

Lop6.net

Trang 6

Lê Thị Kim Khánh 8 Sáng kiến kinh nghiệm

Mô hình động quá trình sinh tổng hợp các loại ARN

diễn ra trong nhân tế bào)

Các gen trên ADN hoạt động  trước tiên đã hình thành nên các chuỗi

pôliribônuclêôtit mạch thẳng

Sau đó từ các chuỗi pôliribônuclêôtit mạch thẳng vừa được tổng hợp này mới

biến đổi cấu hình và hình thành nên các phân tử ARN với cấu trúc đặc trưng của

chúng

Kết quả: các ARN lần lượt xuất hiện

Các ARN sau khi đã được tổng hợp xong sẽ được chui ra khỏi nhân (qua các

lỗ màng nhân) để đến tế bào chất

Mỗi loại ARN đóng một vai trò nhất định trong quá trình sinh tổng hợp

prôtêin của tế bào cơ thể

Như vậy, với những ưu điểm vượt trội của công nghệ thông tin, chỉ cần trong

một khoảng thời gian rất ngắn (từ 1-2 phút), trên mô hình động về quá trình sinh

tổng hợp các loại ARN, giáo viên đã có thể cung cấp cho các em không chỉ diễn

biến của mỗi quá trình, mà bên cạnh đó các em còn có thể dễ dàng xác định được

về vị trí-nơi xẩy ra các quá trình sao mã,

Để học sinh dễ hình dung

và nhớ hơn (nhất là đối với các

em ở khối không chuyên và

không thi đại học môn sinh),

bằng mô hình động về quá trình

sinh tổng hợp các loại ARN -

giáo viên có thể hệ thống lại

một số kiến thức cơ bản

Cụ thể, trước tiên trên màn

hình sẽ xuất hiện cấu trúc đại

cương của tế bào với ba phần

tách biệt: màng, tế bào chất và

nhân ADN - vật chất di truyền

quy định cấu trúc các phân tử

prôtêin nằm trong nhân ( Quá

trình sao mã

AUG

UAG

Trang 7

Lê Thị Kim Khánh 9 Sáng kiến kinh nghiệm

mỗi loại ARN sau khi đã được tổng hợp xong

Kế tiếp sau giai đoạn sao mã là giai đoạn giải mã

Giáo viên đặt vấn đề để cùng các em học sinh xây dựng sang phần nội dung

thứ hai của bài:

II Giải mã.

1 Khái niệm.

Trước tiên, chúng ta xây dựng cho các em khái niệm về quá trình giải mã

Sau đó, chúng ta có thể yêu cầu các em thống kê các yếu tố tham gia, nhấn mạnh

thêm cho các em về nguồn gốc của các thành phần cũng như vai trò của mỗi yếu

tố trong quá trình giải mã

ứng dụng trình duyệt Power Point trong phần này, với mỗi thành phần tham

gia vào quá trình giải mã chúng ta đều có thể minh hoạ bằng một hình ảnh kèm

theo để cho học sinh dễ nhớ

Riêng đối với ribôxôm là nơi sẽ diễn ra quá trình tổng hợp prôtêin, chúng ta

cần đặc biệt lưu ý các em về các trạng thái tồn tại của nó

Và để học sinh dễ nhớ, chúng ta có thể tạo ra hiệu ứng mô hình động:

+ Trước khi tiến hành tổng hợp prôtêin, khi chưa có mặt mARN, ribôxôm

gồm 2 tiểu phần tồn tại độc lập, nằm tách riêng nhau

ở sinh vật nhân sơ,một tiểu phần có kích thước 30S và một tiểu phần có kích

thước 50S

+ Chỉ khi có mặt mARN, hai tiểu phần mới cùng tiến đến liên kết vào một

đầu mút của mARN tại vị trí mã mở đầu AUG (đầu 5')

Kích thước của ribôxôm lúc bấy giờ là 70S

II Giải mã:

1 Khái niệm

- Quá trình dịch mã có những thành phần nào tham gia?

- Các thành phần tham gia:

+ ribôxôm

+ mARN trưởng thành

5’A U G G U X U A U U U U G A A U A G3’

Khi chưa tổng hợp prôtêin : Khi tổng hợp prôtêin:

+tARN + các axit amin tự do

+ATP + một số loại enzim

30 S

5’A U G G U X U A U U U U G A A U A G3’

- Là quá trình chuyển mã di truyền chứa trong mARN thành trình tự các axit

amin trong chuỗi polipeptit của prôtêin (tổng hợp prôtêin)

Lop6.net

Trang 8

Lê Thị Kim Khánh 10 Sáng kiến kinh nghiệm

prôtêin (tức là đang bắt đầu gắn kết vào mARN) thì ribôxôm ở trạng thái ban đầu

(lúc chưa tổng hợp prôtêin) sẽ biến mất

Trong tiểu phần lớn của ribôxôm lại được chia làm hai vị trí nhỏ: một là vị trí

peptit và hai là vị trí amin

Mỗi vị trí tương ứng với 1 bộ ba

Có 1 điều đáng lưu ý ở đây là cả trong sách giáo khoa lẫn sách giáo viên đều

không hề có một lời bình chú, giải thích gì về lí do tại sao lại đặt tên cho mỗi vị trí

trên ribôxôm là Peptit và Amin

Để tránh gây thắc mắc, hoang mang cho học trò khi theo dõi đến phần này,

tôi chủ động chú thích luôn về chức năng, ý nghĩa của mỗi vị trí ngay trên sơ đồ

(chỗ vừa bị để trống) để các em học sinh tiện hình dung, theo dõi

II Giải mã:

1 Khái niệm

- Các thành phần tham gia:

+ ribôxôm

+ mARN trưởng thành

Khi tổng hợp prôtêin:

+ tARN + các axit amin tự do

+ATP + một số loại enzim

70 S

5’A U G G U X U A U U U U G A A U A G3’

Khu Aminoaxil(A)

Khu Pepti đ il(P)

5’A U G G U X U A U U U U G A A U A G3’

Khi diễn ra sự tổng hợp prôtêin, ở

ribôxôm tạo thành 2 khu chức năng khác

nhau Khu A là khu nhận aminoaxil-tARN

mới đưa vào Khu P chứa peptiđil-tARN

mang chuỗi polipeptit đang được tổng hợp

lúc đó Mỗi vị trí tương ứng với một bộ ba.

- Là quá trình chuyển mã di truyền chứa trong mARN thành trình tự các axit

amin trong chuỗi polipeptit của prôtêin (tổng hợp prôtêin)

Sau đó tôi cho các em chuyển sang nghiên cứu phần nội dung thứ hai của

mục

Trang 9

Lê Thị Kim Khánh 11 Sáng kiến kinh nghiệm

2 Diễn biến quá trình sao mã.

a) Hoạt hoá axit amin.

ở mục này để học sinh dễ hình dung và dễ nhớ quá trình hoạt hoá axit amin

diễn ra như thế nào, chúng ta có thể minh hoạ cấu trúc của axit amin tự do (khi

chưa được hoạt hoá) là một hình tròn có màu xanh nhạt, ATP là một hình tròn

màu đỏ, còn enzim thì màu vàng nhấp nháy để tạo cảm giác hoạt tính mạnh

Dưới tác dụng của enzim, axit amin tự do dễ dàng liên kết được với hợp chất

giàu năng lượng ATP để tạo thành axit amin dạng hoạt hoá

ứng dụng trình duyệt Power Point trong phần này, chúng ta có thể tạo hiệu

ứng cho axit amin tự do và ATP cùng di chuyển (theo đường dẫn màu xanh) đến

liên kết với nhau-dưới tác dụng của enzim - tạo nên phức hợp axit amin dạng hoạt

hoá (axit amin đã chuyển màu)

Axit amin sau khi đã được hoạt hoá thì dưới tác dụng của một enzim khác nó

dễ dàng liên kết với tARN để tạo thành phức hợp aa-tARN

Phần này, cũng hoàn toàn tương tự, chúng ta có thể tạo hiệu ứng cho axit

amin đã được hoạt hoá và tARN cùng di chuyển (theo đường dẫn màu đỏ) đến để

liên kết với nhau-dưới tác dụng của một enzim khác- tạo nên phức hợp aa-tARN

Lop6.net

Trang 10

Lê Thị Kim Khánh 12 Sáng kiến kinh nghiệm

Như vậy sản phẩm của quá trình hoạt hoá aa chính là aa liên kết được với

tARN

b) Dịch mã và quá trình hình thành chuỗi pôlipeptit.

Chúng ta có thể chia quá trình dịch mã làm 3 giai đoạn: khởi đầu, kéo dài và

kết thúc

- Giai đoạn 1: Sự khởi đầu tổng hợp chuỗi polipeptit

+ mARN tiếp xúc với ribôxôm ở vị trí mã mở đầu (codon mở đầu)

+ tARN mang a.a mở đầu f.Met tiến vào ribôxôm

ứng dụng trình duyệt Power Point trong phần này, đầu tiên chúng ta có thể

tạo hiệu ứng cho hai tiểu phần lớn - bé của ribôxôm xuất hiện, lúc đầu chúng vẫn

còn tách rời nhau

Sau đó khi có mặt mARN, chúng mới di chuyển (theo đường dẫn màu xanh)

để đến cùng liên kết với mARN ở vị trí mã mở đầu (codon mở đầu)

Tiếp theo, tARN mang axit amin mở đầu f.Met tiến vào ribôxôm (theo

đường dẫn màu đỏ)

Ngày đăng: 30/03/2021, 16:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w