Áp lực công việc là một trạng thái suy nhược cả về thể chất lẫn tinh thần khi các biện pháp đối phó không hiệu quả trong công việc, nó là kết quả của quá trình phơi nhiễm kéo dài với căng thẳng liên quan đến công việc và được xác định dựa vào ba khía cạnh: kiệt sức tinh thần, thái độ tiêu cực và thành tích cá nhân27. Đặc trưng của áp lực công việc là tình trạng mệt mỏi, kiệt sức về thể chất, tình cảm hoặc tâm thần kết hợp với những nghi ngờ về khả năng làm việc hay giá trị công việc của bản thân16 Những nghiên cứu mới nhất đã cho thấy hậu quả xấu của áp lực công việc kéo dài liên tục ảnh hưởng tới tâm lý và sức khoẻ tâm thần, đồng thời cũng ảnh hưởng đến sức khỏe của nhân viên y tế. Áp lực công việc có thể xảy ra trên mọi đối tượng, từ bác sĩ đến điều dưỡng hay kĩ thuật viên. Áp lực công việc đã gây nên nhiều hậu quả xấu: căng thẳng quá mức, mệt mỏi, mất ngủ, tác động tiêu cực vào các mối quan hệ và đặc biệt hơn là ảnh hưởng đến bệnh nhân26 Tại Việt Nam, hầu hết các nghiên cứu hướng đến stress là chủ yếu. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra các nhân viên y tế làm việc trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ cho bệnh nhân có nguy cơ bị stress cao hơn nhiều lần so với các ngành nghề khác11. Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thu Hà (2006) trên 811 nhân viên y tế đã cho thấy 10,7% nhân viên y tế có điểm stress ở mức cao; 37,9% nhân viên y tế có điểm stress ở mức trung bình và 51,4% nhân viên y tế có điểm stress ở mức thấp. Trong số nhân viên y tế có biểu hiện stress (48,6%), nhóm bác sĩ có biểu hiện stress ở mức độ cao nhất (12,9%) cao hơn so với nhóm y tá và hộ lý. Nghiên cứu của tác giả Lê Thành Tài năm 2008 cho thấy nhân viên điều dưỡng bị stress nghề nghiệp tại bệnh viện đa khoa trung ương Cần Thơ, bệnh viện đa khoa thành phố Cần Thơ và bệnh viện đa khoa Châu Thành Hậu Giang: 45,2% bị stress ở mức cao, 42,8% ở mức trung bình. Tại bệnh viện đa khoa trung ương Cần Thơ, tỷ lệ stress cao nhất với 53,1% 8. Tuy nhiên, có rất ít nghiên cứu chuyên sâu về áp lực công việc của nhân viên y tế, đặc biệt đó lại là nhân viên y tế đang trực tiếp làm việc tại bệnh viện Tâm thần, nơi có rất nhiều bệnh nhân khó kiểm soát, nhân viên y tế tại đây phải chịu một áp lực công việc lớn, môi trường làm việc căng thẳng, nhiều mối nguy, nhiều rủi ro nguy hiểm hằng ngày, hằng giờ.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA Y TẾ CÔNG CỘNG
HUỲNH HOÀNG THƠM
ÁP LỰC CÔNG VIỆC VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ
TẠI BỆNH VIỆN TÂM THẦN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 2018
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN Y TẾ CÔNG CỘNG
TP Hồ Chí Minh, năm 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA Y TẾ CÔNG CỘNG
HUỲNH HOÀNG THƠM
ÁP LỰC CÔNG VIỆC VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ
TẠI BỆNH VIỆN TÂM THẦN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 2018
Giảng viên hướng dẫn:
Hướng dẫn 1: TS.BS Phan Thanh Xuân
Hướng dẫn 2: ThS Nguyễn Thành Luân
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN Y TẾ CÔNG CỘNG
TP Hồ Chí Minh, năm 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu trong luận văn này là được ghi nhận, nhập liệu và phân tích một cách trung thực Luận văn này không có bất kỳ số liệu, văn bản, tài liệu đã được Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh hay trường đại học khác chấp nhận để cấp văn bằng đại học, sau đại học Luận văn cũng không có số liệu, văn bản, tài liệu đã được công bố trừ khi đã được công khai thừa nhận
Đề cương nghiên cứu đã được chấp thuận về mặt y đức trong nghiên cứu từ Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu y sinh học số 156 ký ngày 11/04/2018
Sinh viên
Huỳnh Hoàng Thơm
Trang 4MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
❖ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 3
❖ MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN Y VĂN 5
1.1 Định nghĩa, khái niệm 5
1.1.1 Stress 5
1.1.2 Stress tại nơi làm việc 6
1.1.3 Áp lực công việc 7
1.2 Những khía cạnh khảo sát về áp lực công việc 8
1.2.1 Mối quan hệ với bệnh nhân 8
1.2.2 Mối quan hệ với cấp trên 9
1.3 Những yếu tố liên quan đến Áp lực công việc 10
1.3.1 Giới tính 10
1.3.2 Tuổi 10
1.3.3 Chức danh 11
1.3.4 Khoa, phòng đang công tác 11
1.3.5 Số năm công tác tại bệnh viện 12
1.3.6 Thời gian làm việc trong tuần 12
1.3.7 Mức lương, thưởng 12
1.3.8 Số lượng bệnh nhân tiếp xúc trong ngày 13
1.4 Phương pháp đánh giá Áp lực công việc 13
1.4.1 Các bộ công cụ đánh giá Áp lực công việc 13
1.4.1.1 Bộ công cụ MBI 13
1.4.1.2 Bộ công cụ MBI-HSS 14
1.5 Thực trạng Áp lực công việc 15
1.5.1 Các nghiên cứu trên thế giới 15
1.5.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam 17
1.6 Giới thiệu bệnh viện Tâm Thần thành phố Hồ Chí Minh 18
Trang 5CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Thiết kế nghiên cứu 19
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 19
2.3 Đối tượng nghiên cứu 19
2.3.1 Dân số mục tiêu 19
2.3.2 Dân số chọn mẫu 19
2.4 Cỡ mẫu 19
2.5 Kỹ thuật chọn mẫu 20
2.6 Tiêu chí chọn mẫu 20
2.6.1 Tiêu chí chọn vào 20
2.6.2 Tiêu chí loại ra 20
2.7 Kiểm soát sai lệch chọn lựa 20
2.8 Thu thập dữ kiện 21
2.8.1 Phương pháp thu thập dữ kiện 21
2.8.2 Công cụ thu thập dữ kiện 21
2.8.3 Kiểm soát sai lệch thông tin 22
2.9 Xữ lý dữ kiện 22
2.9.1 Liệt kê và định nghĩa biến số 22
2.9.1.1 Những biến số đặc tính mẫu nghiên cứu 22
2.9.1.2 Những biến số về tính chất công việc 23
2.9.1.3 Biến số về áp lực công việc 23
2.9.2 Phương pháp xử lý dữ kiện 25
2.9.3 Phân tích dữ kiện 25
2.9.3.1 Số thống kê mô tả 25
2.9.3.2 Số thống kê phân tích 26
2.10 Y đức 27
2.10.1 Ảnh hưởng lên các đối tượng trong nghiên cứu 27
2.10.2 Ảnh hưởng lên xã hội 27
Trang 6CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 28
3.1 Một số đặc điểm của mẫu nghiên cứu 28
3.2 Đặc điểm tính chất công việc 29
3.3 Tần số và tỷ lệ của từng khía cạnh khảo sát của ALCV 31
3.4 Điểm trung bình mức độ áp lực công việc của từng khía cạnh khảo sát 34
3.5 Mức độ áp lực công việc của từng khía cạnh khảo sát 35
3.6 Mối liên quan giữa đặc tính của mẫu và các khía cạnh nghiên cứu ALCV 36
3.7 Mối liên quan giữa tính chất công việc và các khía cạnh nghiên cứu ALCV 39
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 43
4.1 Đặc tính của mẫu nghiên cứu 43
4.2 Tính chất công việc của đối tượng 43
4.3 Mức độ áp lực công việc qua từng khía cạnh khảo sát của ALCV 44
4.4 Mối liên quan giữa đặc tính mẫu nghiên cứu và các khía cạnh ALCV 45
4.4.1 Kiệt sức về tinh thần 45
4.4.2 Thái độ tiêu cực 45
4.4.3 Thành tích cá nhân 45
4.5 Áp lực công việc với tính chất công việc 45
4.5.1 Thành tích cá nhân với tính chất công việc 45
4.5.2 Thái độ tiêu cực với tính chất công việc 47
4.6 Điểm mạnh, hạn chế của nghiên cứu 47
4.6.1 Điểm mạnh 47
4.6.2 Điểm hạn chế 47
4.7 Tính mới và tính ứng dụng của nghiên cứu 48
4.7.1 Tính mới 48
4.7.2 Tính ứng dụng 48
KẾT LUẬN 49
KIẾN NGHỊ 50 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DP Depersonalization: Thái độ tiêu cực
NVYT Nhân viên y tế
EE Emotional Exhaustion: Kiệt sức về mặt tinh thần
MBI Maslach Burnout Inventory: Bộ công cụ khảo sát áp lực công việc
của Maslach C và cộng sự, 1996 MBI-HSS Maslach Burnout Inventory- Human Services Survey: Bộ công cụ
khảo sát áp lực công việc ở đối tượng có công việc liên quan đến dịch
vụ con người TP.HCM Thành phố Hồ Chí Minh
PA
PR
Personal Accomplishment: Thành tích cá nhân Prevalence ratio
SMBQ Shirom Melamed Burnout Questionnaire: Bộ công cụ khảo sát áp lực
công việc của Shirom Melamed và cộng sự, 1999 WHO World Health Organization: Tổ chức Y tế thế giới
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Đặc tính mẫu nghiên cứu 28
Bảng 3.2 Tính chất công việc 29
Bảng 3.3 Tần số và tỷ lệ các vấn đề liên quan đến kiệt sức về tinh thần (EE) của NVYT với công việc 31
Bảng 3.4 Tần số và tỷ lệ các vấn đề liên quan đến thái độ tiêu cực(DP) của NVYT đối với công việc 32
Bảng3.5 Tần số và tỷ lệ các vấn đề liên quan đến thành tích cá nhân (PA) của NVYT đối với công việc 33
Bảng 3.6 Điểm trung bình mức độ áp lực công việc ở từng khía cạnh khảo sát 34
Bảng 3.7 Tần số và tỷ lệ các khía cạnh trong áp lực công việc 35
Bảng 3.8 Các yếu tố đặc tính nền liên quan đến kiệt sức về tinh thần (EE) 36
Bảng 3.9 Các yếu tố đặc tính nền liên quan đến thái độ tiêu cực (DP) 37
Bảng 3.10 Các yếu tố đặc tính nền liên quan đến thành tích cá nhân (PA) 38
Bảng 3.11 Các yếu tố tính chất công việc liên quan đến kiệt sức về tinh thần 39
Bảng 3.12 Các yếu tố tính chất công việc liên quan đến thái độ tiêu cực 40
Bảng 3.13 Các yếu tố tính chất công việc liên quan đến thành tích cá nhân 41
Trang 9TÓM TẮT KHÓA LUẬN
1 Đặt vấn đề
Áp lực công việc có thể xảy ra trên mọi đối tượng, từ bác sĩ đến điều dưỡng hay kĩ thuật viên Áp lực công việc đã gây nên nhiều hậu quả xấu: căng thẳng quá mức, mệt mỏi, mất ngủ, tác động tiêu cực vào các mối quan hệ và đặc biệt là ảnh hưởng đến bệnh nhân Hiện nay, bệnh viện Tâm Thần Thành phố Hồ Chí Minh đang quá tải do bệnh nhân điều trị nội trú tăng cao Tuy nhiên, tổng số nhân viên
y tế tại đây chỉ có 400 người
2 Mục tiêu
Xác định tỷ lệ NVYT bị áp lực công việc và các yếu tố liên quan tại bệnh viện Tâm Thần Thành phố Hồ Chí Minh năm 2018
3 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu cắt ngang mô tả với cỡ mẫu 237 NVYT tại bệnh viện Tâm Thần thành phố Hồ Chí Minh năm 2018
Thu thập thông tin bằng cách sử dụng bộ câu hỏi tự điền Sử dụng thống kê
mô tả xác định tỷ lệ, kiểm định giả thiết mối liên quan bằng phép kiểm chi bình phương, sau đó sử dụng mô hình hồi quy Poison để tìm mối liên quan thực sự trong nghiên cứu Dùng phần mềm thống kê Stata 13.1
4 Kết quả
Tỷ lệ kiệt sức về tinh thần: Mức độ cao (2,95%), mức độ trung bình (5,49%), mức độ thấp (91,56%) Tỷ lệ về thái độ tiêu cực: Mức độ cao (8,86%), mức độ trung bình (13,92%), mức độ thấp (77,22%) Tỷ lệ về thành tích cá nhân: Mức độ cao (15,61%), mức độ trung bình (17,72%), mức độ thấp (66,67%)
Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệ nhân viên y tế về kiệt sức tinh thần với giới tính nam và nữ (p < 0,05; KTC 95% từ 0,87– 22,14)
Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệ nhân viên y tế về thái độ tiêu cực với giới tính nam và nữ (p < 0,05; KTC 95% từ 1,23-6,60)
Trang 10Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệ nhân viên y tế về thành tích cá nhân và số giờ làm việc trong một tuần (p = 0,048; KTC 95% từ 1 -3,72)
5 Kết luận
Có mối liên quan giữa tỷ lệ nhân viên y tế về kiệt sức tinh thần với giới tính nam và nữ Có mối liên quan giữa tỷ lệ nhân viên y tế về thái độ tiêu cực với giới tính nam và nữ Có mối liên quan giữa tỷ lệ nhân viên y tế về thành tích cá nhân
và số giờ làm việc trong một tuần
6 Từ khóa
Áp lực công việc, nhân viên y tế, bệnh viện Tâm Thần, tâm thần
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Áp lực công việc là một trạng thái suy nhược cả về thể chất lẫn tinh thần khi các biện pháp đối phó không hiệu quả trong công việc, nó là kết quả của quá trình phơi nhiễm kéo dài với căng thẳng liên quan đến công việc và được xác định dựa vào ba khía cạnh: kiệt sức tinh thần, thái độ tiêu cực và thành tích cá nhân[27] Đặc trưng của áp lực công việc là tình trạng mệt mỏi, kiệt sức về thể chất, tình cảm hoặc tâm thần kết hợp với những nghi ngờ về khả năng làm việc hay giá trị công việc của bản thân[16]
Những nghiên cứu mới nhất đã cho thấy hậu quả xấu của áp lực công việc kéo dài liên tục ảnh hưởng tới tâm lý và sức khoẻ tâm thần, đồng thời cũng ảnh hưởng đến sức khỏe của nhân viên y tế Áp lực công việc có thể xảy ra trên mọi đối tượng, từ bác
sĩ đến điều dưỡng hay kĩ thuật viên Áp lực công việc đã gây nên nhiều hậu quả xấu: căng thẳng quá mức, mệt mỏi, mất ngủ, tác động tiêu cực vào các mối quan hệ và đặc biệt hơn là ảnh hưởng đến bệnh nhân[26]
Tại Việt Nam, hầu hết các nghiên cứu hướng đến stress là chủ yếu Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra các nhân viên y tế làm việc trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ cho bệnh nhân có nguy cơ bị stress cao hơn nhiều lần so với các ngành nghề khác[11] Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thu Hà (2006) trên 811 nhân viên y tế đã cho thấy 10,7% nhân viên y tế có điểm stress ở mức cao; 37,9% nhân viên y tế có điểm stress ở mức trung bình và 51,4% nhân viên y tế có điểm stress ở mức thấp Trong số nhân viên y tế có biểu hiện stress (48,6%), nhóm bác sĩ có biểu hiện stress ở mức độ cao nhất (12,9%) cao hơn
so với nhóm y tá và hộ lý Nghiên cứu của tác giả Lê Thành Tài năm 2008 cho thấy nhân viên điều dưỡng bị stress nghề nghiệp tại bệnh viện đa khoa trung ương Cần Thơ, bệnh viện đa khoa thành phố Cần Thơ và bệnh viện đa khoa Châu Thành - Hậu Giang: 45,2%
bị stress ở mức cao, 42,8% ở mức trung bình Tại bệnh viện đa khoa trung ương Cần Thơ, tỷ lệ stress cao nhất với 53,1% [8] Tuy nhiên, có rất ít nghiên cứu chuyên sâu về
áp lực công việc của nhân viên y tế, đặc biệt đó lại là nhân viên y tế đang trực tiếp làm việc tại bệnh viện Tâm thần, nơi có rất nhiều bệnh nhân khó kiểm soát, nhân viên y tế tại đây phải chịu một áp lực công việc lớn, môi trường làm việc căng thẳng, nhiều mối nguy, nhiều rủi ro nguy hiểm hằng ngày, hằng giờ
Trang 12Bệnh viện Tâm Thần Thành phố Hồ Chí Minh là bệnh viện hạng 2 và là chuyên khoa đầu ngành cao nhất về Tâm thần tại Thành phố Hồ Chí Minh, theo thống kê của bệnh viện, số bệnh nhân đến khám tâm thần gia tăng rất nhanh chóng Năm 2014, số lượt đến khám tại bệnh viện đã hơn 300.000 lượt khám, nhưng đến năm 2015, con số này tăng lên hơn 400.000, tức tăng hơn 100.000 lượt khám Hiện nay, Bệnh viện Tâm Thần Thành phố Hồ Chí Minh đang quá tải do bệnh nhân điều trị nội trú tăng cao[1] Tuy nhiên, tổng số nhân viên y tế tại đây chưa đến 400 người Liệu các NVYT đang làm việc tại bệnh viện Tâm thần có đang phải chịu áp lực công việc lớn hơn so với các NVYT đang làm việc tại các bệnh viện đa khoa hay các chuyên khoa khác không? Đó còn là một câu hỏi còn bỏ ngõ Để giải đáp cho câu hỏi này đồng thời đánh giá được mức độ, tác động xấu của áp lực công việc lên sức khỏe và việc làm của nhân viên y tế tại bệnh viện Tâm thần, từ đó sẽ nghiên cứu, tìm ra chiến lược dự phòng hiệu quả và phù hợp nhất, chúng tôi thực hiện đề tài: “Áp lực công việc và các yếu tố liên quan của nhân viên
y tế tại bệnh viện Tâm Thần thành phố Hồ Chí Minh năm 2018”
Trang 13❖ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
1 Tỷ lệ áp lực công việc của NVYT tại bệnh viện Tâm Thần thành phố Hồ Chí Minh năm 2018 là bao nhiêu?
2 Các yếu tố liên quan đến áp lực công việc của NVYT tại bệnh viện Tâm Thần thành phố Hồ Chí Minh năm 2018 là gì?
❖ MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
• Mục tiêu tổng quát
Xác định tỷ lệ áp lực công việc của NVYT tại bệnh viện Tâm Thần thành phố
Hồ Chí Minh năm 2018 và các yếu tố liên quan
• Mục tiêu cụ thể
1 Xác định tỷ lệ NVYT bị áp lực công việc trong từng mức độ đánh giá (Kiệt sức về tinh thần, thái độ tiêu cực, thành tích cá nhân) theo thang đo MBI- HSS tại bệnh viện Tâm Thần TP HCM năm 2018
2 Xác định mối liên quan giữa áp lực công việc với đặc tính nền (giới tính, chức danh, tuổi, số năm làm việc tại bệnh viện, khoa phòng đang công tác) và tính chất công việc (thời gian làm việc trong tuần, mức lương thưởng, sự hài lòng
về mức lương thưởng, số lượng bệnh nhân tiếp xúc trong ngày) của NVYT tại bệnh viện Tâm Thần Thành phố Hồ Chí Minh năm 2018
Trang 14+ Công tác tại khoa, phòng
+ Số năm làm việc tại bệnh
viện
Trang 15CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN Y VĂN 1.1 Định nghĩa, khái niệm
1.1.1 Stress
Từ điển Y khoa Cyclopedic của Taber xác định stress là "kết quả được tạo
ra khi một cấu trúc, hệ thống hoặc cơ thể bị tác động bởi các lực lượng làm phá
vỡ sự cân bằng hoặc tạo ra sự căng thẳng" Nói một cách đơn giản, stress là kết quả của bất kỳ yếu tố cảm xúc, thể chất, xã hội, kinh tế hoặc các yếu tố khác đòi hỏi con người phản ứng hoặc thay đổi Người ta tin rằng một số stress là tích cực đôi khi được gọi là "thách thức" hoặc "stress tích cực" nhưng khi stress xảy ra với số lượng mà bạn không thể kiểm soát và xử lý, hoặc có thể xảy ra khi tinh thần và thể chất đổng thời thay đổi thì stress được hiểu là tiêu cực
Stress được Hans Selye định nghĩa theo thuật ngữ chung là một hội chứng bao gồm những đáp ứng không đặc hiệu của cơ thể với kích thích từ môi trường Stress nghề nghiệp được định nghĩa là sự mất cân bằng giữa yêu cầu và khả năng lao động Mặc dù có nhiều yếu tố ở nơi làm việc là nguyên nhân của stress, có thể là gánh nặng quá tải hoặc dưới tải nhưng khả năng dự đoán phản ứng stress
ở bất kỳ cá nhân nào cũng còn rất nghèo nàn Sự đo lường stress rất khó khăn bởi vì nó còn đang được tiếp tục nghiên cứu Thứ nhất, stress về tâm lý xã hội không thể được xác định một cách rõ ràng Thứ hai, khả năng biến đổi lớn của mỗi cá thể đối với sự tiếp nhận stress Thứ ba, stress về tâm lý xã hội và thể chất không thay đổi song song Hơn thế nữa, các triệu chứng khó xác định như mệt mỏi, rối loạn tiêu hoá, khó ngủ lại là các triệu chứng đặc trưng của stress Nhân viên y tế, đặc biệt nhân viên y tế thuộc hệ điều trị làm việc trong điều kiện có nguy cơ stress cao Stress nghề nghiệp là yếu tố gây tổn thương chủ yếu cho hệ thần kinh, góp phần làm gia tăng tỷ lệ các bệnh tim mạch, cơ xương khớp cũng như tăng tỷ lệ nghỉ hưu sớm do thường xuyên làm việc trong môi trường nhiều
áp lực Nhiều nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng 50-60% trường hợp nghỉ làm việc
có liên quan đến tình trạng stress nghề nghiệp Để đảm bảo sức khỏe cho nhân viên y tế, phòng ngừa stress có hiệu quả - cách tốt nhất là cần có các biện pháp
Trang 16dự phòng, kiểm soát stress nghề nghiệp [11]
1.1.2 Stress tại nơi làm việc
"Stress tại nơi làm việc" là những phản ứng có hại về thể chất và tinh thần
có thể xảy ra khi có mâu thuẫn giữa yêu cầu công việc với nhân viên và mức độ kiểm soát mà một nhân viên không đủ đáp ứng được những yêu cầu này Sự kết hợp của nhu cầu cao trong công việc và kiểm soát tình hình không tốt có thể dẫn đến stress Sự căng thẳng tại nơi làm việc có thể có từ nhiều nguồn gốc hoặc từ một sự kiện duy nhất Nó có thể tác động đến cả người lao động và người sử dụng lao động
Theo như Hiệp hội Sức khoẻ Tâm thần Canada: Sợ mất công việc, sa thải
vì kinh tế, thu nhập không chắc chắn, nhu cầu làm thêm giờ hoặc cắt giảm giờ khiến cho nhân viên có hành vi tiêu cực Các nhân viên bắt đầu cảm thấy "áp lực công việc" và bị chiều hướng đi xuống khi mà những nỗ lực ngày càng tăng, để đáp ứng kỳ vọng tăng lên mà không làm tăng sự hài lòng trong công việc của họ Yêu cầu không ngừng nghỉ để làm việc với hiệu năng tối ưu sẽ làm giảm sự không hài lòng của công việc, doanh thu của nhân viên, giảm hiệu quả, bệnh tật
và thậm chí gây tử vong Không vắng mặt, bệnh tật, nghiện rượu, mối quan hệ trong nội bộ, quyết định sai lầm hay quyết định thờ ơ, thiếu động lực hoặc sự sáng tạo là tất cả các hệ quả của một nơi làm việc quá căng thẳng [12]
Stress tại nơi làm việc là yếu tố gây tổn thương chủ yếu cho hệ thần kinh, góp phần làm gia tăng tỷ lệ các bệnh tim mạch, cơ xương khớp cũng như tăng
tỷ lệ nghỉ hưu sớm do thường xuyên làm việc trong môi trường nhiều áp lực Nhiều nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng 50-60% trường hợp nghỉ làm việc có liên quan đến tình trạng stress nghề nghiệp Để đảm bảo sức khỏe cho nhân viên y
tế, phòng ngừa stress có hiệu quả - cách tốt nhất là cần có các biện pháp dự phòng, kiểm soát stress nghề nghiệp [11]
Trang 171.1.3 Áp lực công việc
Áp lực trong công việc (Burnout) là phản ứng mà con người có thể có khi những nhu cầu và công việc của họ không tương xứng với kiến thức, khả năng và thách thức mà họ phải đối mặt Áp lực diễn ra trong nhiều tình huống công việc nhưng thường tệ hơn khi nhân viên cảm thấy họ có ít sự hỗ trợ của người giám sát và đồng nghiệp, cũng như ít sự kiểm soát quá trình làm việc Thông thường sẽ có sự nhầm lẫn giữa áp lực, thách thức, căng thẳng và đôi khi
nó được sử dụng để biện hộ cho thực tế về việc quản lý kém
Áp lực công việc là không thể tránh khỏi do nhu cầu của môi trường làm việc hiện đại ngày nay Tuy nhiên, khi áp lực công việc trở nên quá mức hoặc không thể kiểm soát được, nó sẽ dẫn đến stress Stress có thể làm hại sức khoẻ của người lao động Sự căng thẳng trong công việc có thể do tổ chức làm việc nghèo nàn (cách thiết kế các công việc và hệ thống làm việc, và cách chúng ta quản lý chúng), do thiết kế công việc kém ví dụ thiếu kiểm soát quy trình làm việc, quản lý kém, làm việc không đạt yêu cầu điều kiện và thiếu sự hỗ trợ của đồng nghiệp và người giám sát Một số kết quả nghiên cứu cho thấy áp lực công việc đòi hỏi phải có những nhu cầu quá mức không phù hợp với kiến thức và khả năng của người lao động khi có rất ít cơ hội để thực hiện bất kỳ sự lựa chọn hay kiểm soát nào và sự hỗ trợ từ người khác[30]
Theo Maslach và cộng sự thì áp lực công việc (Burnout) được xác định bởi ba khía cạnh: kiệt sức về tinh thần, thái độ tiêu cực và làm giảm thành tích cá nhân [14]
- Kiệt sức về tinh thần (Emotional Exhaustion): Một loại quá tải cảm xúc
và kiệt sức về mặt cảm xúc là trọng tâm của Hội chứng Burnout Một cá nhân
bị xúc động một cách quá mức, vượt qua sức chịu đựng của bản thân và cảm thấy bị áp đảo bởi những yêu cầu về tình cảm của người khác Việc đáp lại tình huống như vậy được xem là tình trạng kiệt sức về tinh thần
- Thái độ tiêu cực (Depersonalization): Phản ứng vô tư, vô tình, thậm chí
Trang 18là có thái độ tiêu cực là những khía cạnh của sự đánh mất bản thân Nó như xem như là cá nhân đang nhìn người khác bằng cặp mắt phiến diện và phơi bày ý kiến thấp kém của người khác, mong đợi điều tồi tệ xảy ra với người khác và thậm chí dù người khác có làm điều tích cực thì cá nhân đó cũng không thích người đó
- Giảm thành tích cá nhân (Personal Accomplishment): Cảm giác tiêu cực về người khác có thể tiến triển cho đến khi nó bao gồm việc đi xuống của bản thân Người chăm sóc cảm thấy phiền muộn hoặc có lỗi về cách họ nghĩ đến hoặc ngược đãi người khác Họ cảm thấy họ đang biến thành một loại người lạnh lùng và vô tư Vào thời điểm này, khía cạnh thứ ba của của áp lực công việc xuất hiện – cảm giác làm giảm thành tích cá nhân[28]
1.2 Những khía cạnh khảo sát về áp lực công việc
1.2.1 Mối quan hệ với bệnh nhân
Một nghiên cứu tương quan trên các điều dưỡng làm việc tại bệnh viện công và tư nhân đã được tiến hành vào năm 2013 tại Hy Lạp (N = 246) cho thấy áp lực công việc có tác động lên hành vi chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân Những xung đột với các đồng nghiệp đã được xác định như là một yếu
tố độc lập để khẳng định có sự hiện diện của con người, kiến thức, kỹ năng chuyên môn và các khía cạnh tôn trọng bệnh nhân, các xung đột với các bác sĩ
để tôn trọng bệnh nhân và giữ mối quan hệ tốt đẹp với bệnh nhân Áp lực công việc ảnh hưởng xấu đến chất lượng cuộc sống của điều dưỡng, trong khi nó cũng có thể được coi là yếu tố ảnh hưởng đến mối quan hệ và kết cục của bệnh nhân [33] Các áp lực của bệnh nhân đối với thầy thuốc: Người Việt Nam ít có thói quen xếp hàng Khi vào khám bệnh, đặc biệt tại các phòng cấp cứu, họ thường có xu hướng quan trọng hóa bệnh tật của mình và ít quan tâm đến tình trạng trầm trọng của những người xung quanh Chính vì thế, họ thường xuyên gây áp lực với thầy thuốc để được khám trước, được chiếu chụp, siêu âm ngay hay phải xử trí tức thời, trong khi có rất nhiều bệnh nhân khác đến trước hoặc
Trang 19nặng hơn và đáng được ưu tiên cấp cứu hơn Người nhà bệnh nhân ai cũng muốn mình là quan trọng nên dù bác sĩ đã gặp gỡ, trao đổi tình trạng bệnh của bệnh nhân với một đại diện của gia đình rồi thì khi một thành viên khác đến,
họ lại yêu cầu bác sĩ gặp để trao đổi trực tiếp với mình Điều này làm mất đi nhiều thời gian quý giá mà đáng ra bác sĩ có thể dành để cứu chữa bệnh nhân Việc không tuân thủ nội quy bệnh phòng của bệnh nhân và người nhà thăm nuôi cũng là điều khó chịu lớn đối với thầy thuốc Rất nhiều bệnh nhân cố tìm hiểu y học qua những kiến thức vụn vặt, nhặt nhạnh được trên Internet hoặc qua truyền miệng nhưng lại coi đó là kiến thức y học thực sự Họ can thiệp vào quá trình điều trị của bác sĩ hoặc tự ý thêm thuốc, bỏ thuốc trong đơn nhưng khi hậu quả xảy ra thì đa phần đều có xu hướng đổ lỗi cho quá trình điều trị của thầy thuốc Sự can thiệp của các thầy cúng, thầy bói vào quá trình điều trị trong đa số trường hợp cũng không phải là điều dễ chịu đối với thầy thuốc Rất nhiều trường hợp bệnh nhân hoàn toàn có thể cứu chữa được nhưng gia đình kiên quyết xin ngừng điều trị vì thầy bói bảo không qua khỏi Nhiều trường hợp khác họ xin ra viện để về cúng bái, để dùng các loại thuốc nhảm theo những lời mách bảo vu vơ [6]
1.2.2 Mối quan hệ với cấp trên
Chưa tìm thấy y văn nghiên cứu chuyên sâu về khía cạnh này Tuy nhiên, tìm thấy một nghiên cứu về mức độ thỏa mãn công việc của nhân viên tại Cần Thơ cho thấy 06 nhóm yếu tố được hình thành bao gồm: mối quan hệ với đồng nghiệp, đào tạo và thăng tiến, thu nhập, mối quan hệ với cấp trên, phúc lợi và tính chất công việc Khi tiến hành phân tích mức độ thỏa mãn công việc và yếu
tố mối quan hệ với lãnh đạo, kết quả thang đo gắn kết có hệ số KMO=0,905; Giá trị kiểm định Bartlett có ý nghĩa (sig<0,05), hai nhóm yếu tố được kiểm định với tổng phương sai là 74.230%[4]
Trang 201.3 Những yếu tố liên quan đến Áp lực công việc
Một nghiên cứu cắt ngang khác tại Áo về “Ảnh hưởng của giới, lĩnh vực, chuyên ngành công việc và các yếu tố tâm lý xã hội đến áp lực trong công việc gây bỏng của nhân viên đang làm việc tại bệnh viện tâm thần” (N=491) Mức độ áp lực công việc được đánh giá bởi Maslach Burnout Inventory (MBI) Nhân viên tại bệnh viện được chia theo lĩnh vực làm việc của họ và những người làm việc có / không có tiếp xúc với bệnh nhân Kết quả cho thấy áp lực công việc kéo dài có thể dẫn đến các triệu chứng bị bỏng, kiệt sức tình cảm (EE), thái độ tiêu cực (DP) và giảm thành tích cá nhân (PA), kết quả đã tìm ra
nữ giới có tỷ lệ bị áp lực công việc cao hơn so với nam giới (25% so với 18%;
p = 0,003) Vì vậy, giới tính có sự ảnh hưởng khác biệt với tình trạng bị áp lực trong công việc [36]
1.3.2 Tuổi
Tuổi như một yếu tố nguy cơ trong hội chứng Burnout Một nghiên cứu phân tích trên đối tượng nhân viên y tế là điều dưỡng Mục tiêu của nghiên cứu này là tiến hành phân tích về ảnh hưởng của tuổi tác đối với ba khía cạnh của hội chứngBurnout (kiệt sức tinh thần, thái độ tiêu cực, thành tích cá nhân) của điều dưỡng Kết quả chỉ ra rằng trung bình tuổi là một yếu tố quan trọng trong tình trạng kiệt sức tinh thần và thái độ tiêu cực của điều dưỡng, mặc dù
nó ít có ảnh hưởng đến khía cạnh làm giảm của thành tích cá nhân [25]
Một nghiên cứu cắt ngang khác tại Áo về “Ảnh hưởng của giới, lĩnh
Trang 21vực, chuyên ngành công việc và các yếu tố tâm lý xã hội đến áp lực trong công việc và gây bỏng của nhân viên đang làm việc tại bệnh viện tâm thần” (N=491)
Số tuổi trên 45 có liên quan đáng kể đến giảm khả năng bị bỏng ở nam giới (EE p = 0,040; DP p = 0,010; PA p = 0,007), nhưng không có ở nữ giới [36]
1.3.3 Chức danh
Nghiên cứu cắt ngang khác tại Áo về “Ảnh hưởng của giới, lĩnh vực làm việc và các yếu tố tâm lý xã hội đến áp lực và gây bỏng trong công việc của nhân viên đang làm việc tại bệnh viện tâm thần” (N=491) Kết quả chỉ ra rằng trình
độ học vấn thấp hơn có tác động đáng kể đến bị áp lực công việc ở cả hai giới (p = 0,001 đối với nam giới, p = 0,048 đối với nữ giới) [36]
Một nghiên cứu bệnh chứng (nghiên cứu chéo dựa trên cơ sở bằng chứng) được tiến hành trong năm 2013-2014 Nơi nghiên cứu là Bệnh viện Swami Vivekanand, thuộc trường Cao đẳng Y tế Subharti, Meerut với cỡ mẫu là 100 nhân viên điều dưỡng Theo thống kê cho thấy họ không có thời gian nghỉ ngơi, trong đó 42% bị áp lực công việc từ vừa đến nặng và áp lực công việc nhẹ thì
họ ít căng thẳng hơn so với những điều dưỡng có áp lực công việc mệt mỏi (OR= 0,43) [32]
1.3.4 Khoa, phòng đang công tác
Nghiên cứu tại một bệnh viện tâm thần tại Anh về “Nguồn gốc gây nên
áp lực công việc và sự hài lòng của nhân viên y tế tâm thần tại bệnh viện và
cộng đồng, mối quan hệ của họ với sức khoẻ tâm thần, sự hài lòng công việc” (N=121), năm yếu tố được rút ra từ phân tích các thành phần chủ yếu của áp lực
công việc là: stress từ vai trò theo khoa phòng công tác, hỗ trợ người nghèo, khách hàng và quá tải bệnh viện và chiếm tỷ lệ 70% Bốn yếu tố được lấy từ các yếu tố liên quan đến sự hài lòng công việc theo khoa phòng đó là sự hài lòng từ:
sự nghiệp, mối quan hệ với đồng nghiệp , sự quản lý và tiền bạc chiếm tỷ lệ
68% [34]
Trang 221.3.5 Số năm công tác tại bệnh viện
Một nghiên cứu cắt ngang khác tại Áo về “Ảnh hưởng của giới, lĩnh vực làm việc và các yếu tố tâm lý xã hội đến áp lực do bỏng trong công việc của nhân viên đang làm việc tại bệnh viện tâm thần” (N=491) Kết quả cho thấy rằng
số năm công tác của nhân viên y tế ảnh hưởng đáng kể đến tình trạng kiệt sức
về tinh thần (EE) [36]
1.3.6 Thời gian làm việc trong tuần
Một nghiên cứu về “mối quan hệ giữa sự hài lòng trong công việc, áp lực công việc, xung đột trong công việc, mục đích doanh thu, và tìm hiểu các yếu tố liên quan đến mục tiêu doanh thu, giữa các bác sĩ ở tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc” (N= 3963) Nghiên cứu được thực hiện trong vòng 2 tháng từ tháng 8 đến tháng 10 năm 2013 đã cho thấy trong tổng số 3963 bác sĩ đã được tiếp cận, với
3563 bác sĩ hoàn thành bảng câu hỏi Điểm trung bình của nhận thức tổng thể
về mục đích luân chuyển của các bác sĩ làm việc ở Quảng Đông là 2,71 trên thang điểm từ 1 đến 6 giờ Số giờ làm việc mỗi tuần, làm việc ở khu vực thành thị /nông thôn, loại cơ sở và độ tuổi tác động đáng kể đến doanh thu Thời gian làm việc liên quan đến sự hài lòng công việc và nó đã được trực tiếp, gián tiếp
và tích cực liên quan đến áp lực công việc và xung đột trong gia đình Chính vì vậy, sự hài lòng trong công việc, áp lực công việc, xung đột giữa công việc và gia đình, số giờ làm việc trong tuần, làm việc trong khu vực thành thị/nông thôn, các loại hình tổ chức và tuổi tác đang ảnh hưởng đến các yếu tố của áp lực công việc Giảm giờ làm việc, tăng lương, tạo thêm cơ hội cho sự phát triển nghề nghiệp và đào tạo, hỗ trợ và khuyến khích các bác sĩ của các nhà quản lý cấp cao có thể góp phần làm giảm ý định luân chuyển của các bác sĩ [40]
1.3.7 Mức lương, thưởng
Thu nhập hàng tháng với mức lương, thưởng là một trong những yếu tố
quan trọng trong việc dự báo mức độ của áp lực công việc[39] Mức lương, chế
Trang 23độ đãi ngộ thấp có mối tương quan tiêu cực đến điểm số trong tửng khía cạnh nghiên cứu của áp lực công việc[24]
1.3.8 Số lượng bệnh nhân tiếp xúc trong ngày
Một nghiên cứu ở Trung Quốc đã cho thấy số lượng bệnh nhân mà điều dưỡng tiếp xúc dự báo làm tăng điểm số các khía cạnh nghiên cứu của áp lực công việc Tỷ số bệnh nhân trên một điều dưỡng và điểm áp lực công việc theo từng khía cạnh có tương quan thuận với nhau[39]
1.4 Phương pháp đánh giá Áp lực công việc
1.4.1 Các bộ công cụ đánh giá Áp lực công việc
Bộ câu hỏi phỏng vấn của Shirom Melamed (SMBQ) [35] bao gồm 22 câu hỏi, mỗi câu có điểm từ 1-7 (1: hầu như không bao giờ và 7: hầu như luôn luôn) "Tôi cảm thấy mệt mỏi", "Năng lượng của tôi đã hết" và "Tôi gặp khó khăn trong việc tập trung" là các ví dụ về bộ câu hỏi này Điểm trung bình được tính toán cho mỗi cá nhân (điểm số từ 1 đến 7) Đối với các đối tượng có câu trả lời thiếu, giá trị còn thiếu được thay bằng giá trị trung vị của người trả lời khác cho câu hỏi cụ thể Điểm số trung bình vượt quá 4.0 cho biết các triệu chứng áp lực đáng kể Trong một nghiên cứu, có mối tương quan cao giữa SMBQ và phần kiệt sức cảm xúc (EE) của Maslach Burnout Inventory (MBI)
và Pines Burnout Measure Tuy nhiên, bộ công cụ SMBQ so với MBI, không phải là tập trung vào mối quan hệ giữa công việc và áp lực Nó tập trung nhiều hơn vào kiệt sức tinh thần và thể chất nói chung trong cuộc sống SMBQ riêng được sử dụng để mô tả mức độ áp lực của một người Một người có giá trị SMBQ vượt quá 4 được phân loại là có áp lực
1.4.1.1 Bộ công cụ MBI
Tính đến thời điểm này, Maslach Burnout Inventory(MBI) [15] được công nhận là thước đo hàng đầu của áp lực công việc, được xác nhận bởi nhiều nghiên cứu lớn đã được tiến hành trong hơn 25 năm kể từ khi xuất bản lần đầu tiên Khảo sát của MBI nghiên cứu ba vấn đề sau:
Trang 24- Kiệt sức tinh thần (EE) đo lường cảm giác bị căng thẳng về cảm xúc và mệt mỏi bởi công việc của bản thân
- Thái độ tiêu cực (DP) đo lường phản ứng vô cớ và phi nhân đạo đối với người nhận dịch vụ, chăm sóc hoặc hướng dẫn của người đó
- Thành tích cá nhân (PA) đánh giá cảm giác về năng lực và thành công trong công việc của mình
Bao gồm các loại:
- MBI-Human Services Survey (MBI-HSS): MBI-HSS là phiên bản gốc
và được sử dụng rộng rãi nhất của MBI Được thiết kế bởi chuyên gia trong các dịch vụ của con người, phù hợp với đối tượng làm việc trong các ngành nghề, bao gồm ĐD, bác sĩ, trợ lý y tế, nhân viên xã hội, cố vấn y tế, trị liệu, cảnh sát,
sĩ quan cải huấn, giáo sĩ và các lĩnh vực khác Đây là các ngành nghề tập trung vào việc giúp đỡ mọi người sống tốt hơn bằng cách hướng dẫn, ngăn ngừa nguy hại và cải thiện các vấn đề về thể chất, tình cảm hoặc nhận thức Vì vậy, MBI-HSS rất phù hợp cho Nhân viên y tế
- MBI-Educators Survey: MBI-ES là một phiên bản của MBI gốc để sử dụng với ngành nghề giáo dục, bao gồm các giáo viên, các quản trị viên, các nhân viên khác và các tình nguyện viên làm việc trong bất kỳ môi trường giáo dục nào
- MBI-General Survey: MBI-GS được thiết kế để sử dụng với các nhóm nghề nghiệp khác ngoài dịch vụ con người và giáo dục, bao gồm những người làm việc trong các dịch vụ khách hàng, bảo trì, sản xuất, quản lý và hầu hết các ngành nghề khác MBI-GS được thiết kế phù hợp để đánh giá áp lực của sinh viên cao đẳng và đại học
1.4.1.2 Bộ công cụ MBI-HSS
MBI-HSS bao gồm 22 câu hỏi được chia thành ba phần: Kiệt sức về tinh thần (7 câu: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7), Thái độ tiêu cực (7 câu: 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14),
Trang 25Thành tích cá nhân (8 câu: 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22), mỗi câu được cho điểm từ thang điểm 0 “không bao giờ” cho đến thang điểm 6 “mỗi ngày” Điểm EE bằng hoặc cao hơn 30 cho thấy dấu hiệu kiệt sức về tinh thần cao, điểm DP lớn hơn hoặc bằng 12 cho thấy thái độ tiêu cực cao và điểm PA thấp hơn hoặc bằng 33 cho thấy dấu hiệu thành tích cá nhân thấp
Điểm số trung bình từ 18 đến 29 trên phần EE, 6-11 trên phần DP, và
34-39 trên phần PA thể hiện bằng chứng về áp lực trung bình
Điểm số bằng hoặc thấp hơn 17 trên phần EE, bằng hoặc thấp hơn 5 trên phần DP và bằng hoặc cao hơn 40 trên phần PA thể hiện bằng chứng về áp lực thấp
MBI-HSS có độ tin cậy nội bộ cao được đo bằng các chỉ số alpha của Cronbach từ 0,71 đến 0,90 Các hệ số tin cậy (alpha của Cronbach) cho nghiên cứu này là 0,91 đối với phần EE, 0,77 đối với phần DP và 0,84 đối với phần PA Thời gian hoàn thành trung bình của bộ câu hỏi: 10-15 phút
1.5 Thực trạng Áp lực công việc
1.5.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới, một nghiên cứu tại Mỹ về tình trạng kiệt sức và mức độ hài lòng với công việc của bác sĩ từ năm 2011 đến năm 2014 đã cho thấy hơn một nửa số bác sĩ trải qua nghiên cứu này được xác định với tỷ lệ kiệt sức rất cao theo từng khoa công tác: phục hồi chức năng (63,3%); y tế công cộng (63,0%); x-quang (61,4%); phẫu thuật chỉnh hình (59,6%); da liễu (56,5%); phẩu thuật chuyên khoa phụ (52,7%); bệnh lý (52,5%) và nhi khoa (46,3%) [37] Một nghiên cứu khác về tình trạng kiệt sức của nhân viên y tế tại bệnh viện công ở New Zealand cho thấy tỷ lệ của tình trạng kiệt sức cá nhân lên tới 50% Tỷ lệ NVYT kiệt sức liên quan đến công việc và bệnh nhân lần lượt là 42% và 16% Những NVYT làm việc tại các Khoa cấp cứu và Tâm thần cao hơn những khoa phòng khác (p<0.001) [17] Estrin-Behar và cộng sự đã nghiên cứu gánh nặng tâm lý, áp lực công việc trên 1505 cán bộ y tế nữ tại Pháp trong năm 1990 Năm chỉ số y tế được nghiên cứu: sự kiệt sức, suy nhược cơ thể, sử dụng thuốc chống
Trang 26trầm cảm, sử dụng thuốc ngủ, sử dụng thuốc an thần và các rối loạn tâm lý khác [11]
Một cuộc khảo sát quốc gia được công bố trong Archives of Internal Medicine vào năm 2012 cho thấy các bác sĩ Mỹ bị kiệt sức hơn so với người Mỹ thuộc ngành nghề khác Khảo sát đầu năm 2015 của Medscape Physician Lifestyle Report cho thấy 46% số bác sĩ Mỹ trả lời rằng họ đã kiệt sức Trong số các chuyên khoa thì các bác sĩ chuyên ngành Cấp cứu và Hồi sức tích cực là những người thường bị kiệt sức nhất Thống kê của tạp chí Medscape ở châu Âu
và Mỹ cho thấy tỷ lệ kiệt sức ở các bác sĩ chuyên ngành này đến 52-53% Hậu quả của việc kiệt sức và stress ở các bác sĩ là hàng năm tại Mỹ có tới 300 bác sĩ
tự tử vì stress Tỷ lệ bác sĩ tự tử cao gấp đôi so với các nhóm dân cư khác Ngoài
ra, do kiệt sức, họ có thể cảm thấy mất cảm xúc, mất hứng thú nhiệt tình với công việc [8] Nghiên cứu của Linn và công sự (1985), Agius và cộng sự (1996) cho thấy có tới 25% các bác sĩ lâm sàng bị stress, trầm cảm, lo âu và kiệt sức Ảnh hưởng của stress nghề nghiệp đến sức khoẻ là mệt mỏi, lo âu, trầm cảm, không thoả mãn với công việc, giảm chất lượng chăm sóc sức khoẻ cho bệnh nhân, nghiện rượu, số ngày nghỉ ốm cao, về hưu sớm và mắc một số bệnh liên quan đến stress như loét dạ dày, nhồi máu cơ tim, cao huyết áp Nghiên cứu khác của Demiral và cộng sự (2002) trên 300 bác sĩ ở các chuyên khoa khác nhau và tìm thấy tỷ lệ chung về áp lực công việc và lo âu là 18,9 % và 27,4% ở các bác
sĩ Một số lượng lớn các nghiên cứu đã chỉ ra 25-30% nhân viên y tế bị kiệt sức
là hậu quả các công việc của họ trong ngành y tế (Grassi & Magnani, 2000) Theo nghiên cứu của Shams và El-Masry (2013), tỷ lệ căng thẳng nghề nghiệp trên đối tượng nhân viên y tế chuyên ngành gây mê hồi sức là 69,4% Các yếu
tố nguy cơ là áp lực công việc, tổ chức lao động kém, mâu thuẫn nội bộ và phải chăm sóc các bệnh nhân bệnh nặng, tiếp xúc hàng ngày với người chết và các vấn đề tử vong, những phản ứng thái quá từ các gia đình bệnh nhân là những nguồn stress lớn
Một nghiên cứu bệnh chứng (nghiên cứu chéo dựa trên cơ sở bằng chứng)
Trang 27được tiến hành trong năm 2013-2014 Nơi nghiên cứu là Bệnh viện Swami Vivekanand, thuộc trường Cao đẳng Y tế Subharti, Meerut với cỡ mẫu là 100 nhân viên điều dưỡng Theo thống kê cho thấy họ không có thời gian nghỉ ngơi, trong đó 42% bị áp lực công việc từ vừa đến nặng và áp lực công việc nhẹ thì
họ ít căng thẳng hơn so với những điều dưỡng có áp lực công việc mệt mỏi (OR= 0,43)[32]
1.5.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam
Tại Việt Nam, hầu hết các nghiên cứu hướng đến stress là chủ yếu Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra các nhân viên y tế làm việc trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ cho bệnh nhân có nguy cơ bị stress cao hơn nhiều lần so với các ngành nghề khác [7] Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thu Hà (2006) trên 811 nhân viên y tế đã cho thấy 10,7% nhân viên y tế có điểm stress ở mức cao; 37,9% nhân viên y tế có điểm stress ở mức trung bình và 51,4% nhân viên y tế có điểm stress ở mức thấp Trong số nhân viên y tế có biểu hiện stress (48,6%), nhóm bác sĩ có biểu hiện stress ở mức độ cao nhất (12,9%), cao hơn so với nhóm y tá
và hộ lý Nghiên cứu của Lê Thành Tài (2008) cho thấy nhân viên điều dưỡng
bị stress nghề nghiệp tại bệnh viện đa khoa trung ương Cần Thơ, bệnh viện đa khoa thành phố Cần Thơ và bệnh viện đa khoa Châu Thành - Hậu Giang: 45,2%
bị stress ở mức cao; 42,8% ở mức trung bình Tại bệnh viện đa khoa trung ương Cần Thơ, tỷ lệ stress cao nhất với 53,1% Năm 2016, nghiên cứu của Nguyễn Thu Hà cho thấy cho thấy có sự tương quan nghịch giữa áp lực công việc và số giờ làm việc của nhân viên y tế (WAI- Work ability index) (r= -0,37; p=0,004 Kết quả này tương tự với các nghiên cứu trước đây của tác giả Bresić J, Golubic, Kumashiro Tuy nhiên, sự thay đổi của áp lực công việc còn phụ thuộc vào tính chất các công việc khác nhau [8] Theo khảo sát của Viện Y học lao động & Vệ sinh môi trường tại một khoa hồi sức cấp cứu, gần 23% số nhân viên có điểm stress ở mức cao, 42% có điểm stress ở mức trung bình Hơn 20% số điều dưỡng than phiền rằng họ thường xuyên có các biểu hiện: cảm thấy nhức đầu, có cảm giác lo âu và căng thẳng tinh thần, giấc ngủ bất thường
Trang 28Nghiên cứu của tác giả Lê Thành Tài và cộng sự Trường Đại học Y Dược Cần Thơ, có sự khác biệt về tỉ lệ stress giữa các bệnh viện thuộc 3 tuyến Trung Ương, tỉnh và huyện Số điều dưỡng bị stress ở tuyến Trung Ương cao nhất, tiếp đến là tuyến tỉnh và thấp nhất là tuyến huyện Các yếu tố gây stress cho điều dưỡng bao gồm thường gặp phản ứng của bệnh nhân và người nhà, thâm niên công tác, số giờ làm việc trong tuần, công việc nhiều áp lực, làm việc trong điều kiện thiếu thốn máy móc, trang thiết bị, đông người, ồn ào, tiếp xúc nhiều mầm bệnh, dễ bị thương tích, thu nhập chưa thỏa đáng và công việc ít có cơ hội thăng tiến Có đến 72% nghĩ đến khối lượng công việc quá nhiều Hơn 50% nghĩ đến thời gian nghỉ ngơi không hợp lý, không được đào tạo chuyên môn đầy đủ, áp lực về thời gian phải hoàn thành công việc Hơn 30% nghĩ đến đặc điểm công việc phải giải thích với nhiều đối tượng, thiếu trang thiết bị, quá nóng [6]
1.6 Giới thiệu bệnh viện Tâm Thần thành phố Hồ Chí Minh
Bệnh viện Tâm Thần TP Hồ Chí Minh đổi tên từ Trung tâm Sức khỏe Tâm thần có tiền thân là bệnh viện Chợ Quán Bệnh viện Tâm Thần TP Hồ Chí Minh
là bệnh viện hạng 2 và cũng là bệnh viện chuyên khoa đầu ngành cao nhất về Tâm thần tại TP.HCM với gần 400 nhân viên y tế đảm nhận các nhiệm vụ khác nhau Hiện tại, bệnh viện có 03 cơ sở bao gồm: bệnh viện Tâm thần thành phố
Hồ Chí Minh (cơ quan chính), bệnh viện Tâm thần Lê Minh Xuân và Khoa Tâm
lý tâm thần trẻ em [3]
Báo cáo thống kê năm 2014, số lượt bệnh nhân khám trên 300.000 lượt, năm
2015 là 400.000 lượt khám Trong đó, số lượng bệnh nhân tâm thần phân liệt mà bệnh viện quản lý hơn 9.500 bệnh nhân (năm 2014 hơn 9.200 bệnh nhân) Riêng
số bệnh nhân động kinh cũng tăng nhanh, hiện tại hơn 7.000 bệnh nhân (năm
2014 là 6.900 bệnh nhân) Hiện nay, bệnh viện Tâm Thần TP Hồ Chí Minh đang trong tình trạng quá tải vì số bệnh nhân điều trị nội trú tăng cao[1]
Trang 29CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang mô tả
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Địa điểm: 03 cơ sở của Bệnh viện Tâm Thần Thành phố Hồ Chí Minh
- n: Cỡ mẫu tối thiểu cho nghiên cứu
- Z: Giá trị phân phối chuẩn, với khoảng tin cậy 95% thì Z(1-α/2) = 1,96
- 𝛼: Xác suất sai lầm loại 1 (𝛼=0,05)
- 𝑑: Sai số cho phép (d=0,05)
- P =0,93 : Tham khảo từ kết quả khảo sát “Áp lực công việc trên điều dưỡng của bệnh viện Đại học Y dược TP.HCM” với tỷ lệ ALCV chung là 92,93% [5]
- Cỡ mẫu tối thiểu của nghiên cứu : 𝑛 = 1,962×0,93(1−0,93)
0,05 2 = 100
Trang 30Dự trù mất mẫu 10% cho những trường hợp liên hệ 2 lần mà vẫn chưa gặp được hoặc vắng mặt tại buổi giao ban hoặc chưa hoàn thành phiếu khảo sát sau
2 lần tiến hành lấy mẫu Vậy số mẫu tối thiểu cần thu thập là 110 mẫu
Nhận thấy khi tiến hành thu thập với cỡ mẫu là toàn bộ nhân viên y tế tại bệnh viện khả thi và tăng tính đại diện cho quần thể nên cuối cùng cỡ mẫu thực
- NVYT (bao gồm: bác sĩ, điều dưỡng, dược sĩ, kĩ thuật viên, dược tá, y sĩ,
hộ lý) làm việc tại bệnh viện Tâm thần TP HCM đồng ý tham gia nghiên cứu
- NVYT (bao gồm: bác sĩ, điều dưỡng, dược sĩ, kĩ thuật viên, dược tá, y sĩ,
hộ lý) làm việc tại bệnh viện Tâm thần TP HCM tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân và thân nhân
- Là NVYT (bao gồm: bác sĩ, điều dưỡng, dược sĩ, kĩ thuật viên, dược tá, y
sĩ, hộ lý) có thời gian công tác ít nhất 06 tháng tại bệnh viện Tâm thần TP.HCM
2.6.2 Tiêu chí loại ra
- NVYT (bao gồm: bác sĩ, điều dưỡng, dược sĩ, kĩ thuật viên, dược tá, y sĩ,
hộ lý) làm việc tại bệnh viện nghỉ sinh hoặc đi công tác dài ngày trong thời gian diễn ra nghiên cứu
2.7 Kiểm soát sai lệch chọn lựa
- Khảo sát đúng đối tượng đã được lập danh sách tại từng Khoa/phòng/tổ, trường hợp đối tượng vắng mặt tại thời điểm khảo sát phải liên hệ lại vào thời điểm khác để gặp đối tượng Trường hợp đối tượng có việc đột xuất
Trang 31chưa thể hoàn thành hết bộ câu hỏi cần hẹn đối tượng vào thời gian khác để tiếp tục hoàn thiện bộ câu hỏi
2.8 Thu thập dữ kiện
2.8.1 Phương pháp thu thập dữ kiện
- Thu thập dữ kiện bằng bộ câu hỏi tự điền
- Các bước thu thập số liệu:
Bước 1: Liên hệ phòng hành chính tổng hợp tại cơ sở chính bệnh viện Tâm
thần thành phố Hồ Chí Minh và lập danh sách các đối tượng nghiên cứu của
3 cơ sở sẽ thu thập mẫu
Bước 2: Liên hệ với đại diện của cơ sở để sắp xếp thời gian gặp đối tượng đã
lập danh sách
Bước 3: Tiến hành phát bộ câu hỏi, giải thích lý do tiến hành nghiên cứu và
giải đáp những thắc mắc của đối tượng Thời gian thu thập mẫu: Sau giờ giao ban buổi sáng của từng khoa/phòng/tổ tại 3 cơ sở của bệnh viện
Bước 4: Tiến hành thu hồi bộ câu hỏi sau đúng 30 phút
2.8.2 Công cụ thu thập dữ kiện
- Nghiên cứu sử dụng bộ công cụ đã được chuẩn hóa, Maslach Burnout Inventory (MBI; Maslachetal,1996) bao gồm 22 câu hỏi Được chia làm ba phần: EE (7 câu: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7), DP (7 câu: 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14),
PA (8 câu: 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22), mỗi câu được cho điểm từ thang điểm 0 “không bao giờ” cho đến thang điểm 6 “mỗi ngày”
- Thông tin cá nhân gồm: Gồm 11 câu, thu thập các thông tin về Khoa/phòng hoặc tổ nơi đối tượng đang công tác; Chức danh hiện tại của đối tượng tại bệnh viện, Giới tính; Năm sinh; Thời gian đã làm việc tại bệnh viện; Thời gian làm việc trong một tuần tại bệnh viện; Phần trăm thời gian làm công tác chuyên môn trên tổng số phần trăm làm việc hằng ngày; Phần trăm thời gian làm công tác khác (chuyển giao vị trí, sổ sách, giấy tờ) trên
Trang 32tổng số phần trăm làm việc hằng ngày; Mức lương/thưởng trung bình trong một tháng; Hài lòng với mức lương/thưởng hiện tại; Số lượng bệnh nhân/khách hàng tiếp xúc trong một ngày
2.8.3 Kiểm soát sai lệch thông tin
2.9.1 Liệt kê và định nghĩa biến số
2.9.1.1 Những biến số đặc tính mẫu nghiên cứu
- Giới tính: Biến số nhị giá gồm 2 giá trị: Nam, Nữ
- Chức danh: Biến số danh định gồm 6 giá trị: Điều dưỡng, Bác sĩ, Y sĩ, Dược (Dược sĩ, dược tá), Kỹ thuật viên, Hộ lý
- Tuổi: Biến số định lượng được tính bằng công thức: 2018- năm sinh của đối tượng
- Nhóm tuổi: Biến số thứ tự gồm 3 giá trị ≤40 tuổi; 41-50 tuổi; ≥ 51 tuổi Căn cứ vào nghiên cứu [9] [2] để chia nhóm giá trị của biến số này
- Số năm làm việc tại bệnh viện: Biến số thứ tự được tính từ lúc đối tượng
có hợp đồng làm việc tại bệnh viện cho đến nay (2018 – năm kí hợp đồng làm việc tại bệnh viện)
Trang 332.9.1.2 Những biến số về tính chất công việc
- Số giờ làm việc trong một tuần: Biến số thứ tự được tính bằng tổng của thời gian làm việc hàng ngày của đối tượng kể cả thời gian tăng ca, trực đêm, làm vào ngày nghỉ, cuối tuần với thời gian làm việc hàng ngày khi đối tượng bắt đầu ca làm việc đến kết thúc ca làm việc
- Thời gian công tác chuyên môn: Biến số định lượng được tính bằng % thời gian làm việc chuyên môn trong tổng số thời gian làm việc hằng ngày
là 100%
- Thời gian công tác khác (luân chuyển vị trí công việc khác, sổ sách, giấy tờ): Biến số định lượng được tính bằng % thời gian làm việc hành chính trong tổng số thời gian làm việc hằng ngày là 100%
- Mức lương và thưởng: Biến số định lượng được tính bằng tồng mức lương nhận được hàng tháng và tiền thưởng trung bình nhận được trong một tháng
- Hài lòng với mức lương và thưởng: Biến số nhị giá gồm 02 giá trị: Có, Không
- Trung bình bệnh nhân/khách hàng tiếp xúc trong một ngày: Biến số định lượng được tính bằng trung bình số người mà đối tượng tiếp xúc trong một ngày bao gồm cả bệnh nhân, người thân đến để nhận hoặc hỏi thông tin tại bệnh viện
2.9.1.3 Biến số về áp lực công việc
- Áp lực công việc hay còn gọi là Hội chứng Burnout là một phản ứng tâm
lý kéo dài xảy ra ở những cá nhân làm “công việc liên quan đến con người”,
đó là một phản ứng căng thẳng khi giao tiếp hoặc tiếp xúc rộng với nhiều người, đặc biệt là khi họ gặp những rắc rối hoặc những vấn đề phát sinh Vì vậy, nó có thể được xem là một loại của Stress công việc Mặc dù nó có một
số tác động nguy hại tương tự như các phản ứng stress khác nhưng điều duy nhất có ở áp lực công việc là những căng thẳng phát sinh từ sự tương tác
Trang 34mang tính xã hội giữa người trợ giúp và người nhận Áp lực công việc được xác định bởi ba khía cạnh: kiệt sức về tinh thần, thái độ tiêu cực và làm giảm thành tích cá nhân (Maslach, 1982) Áp lực công việc được tính dựa vào 22 câu hỏi gồm:
➢ Phần 1 (câu 1 đến 7): Kiệt sức tinh thần (EE)
➢ Phần 2 (câu 8 đến 14): Thái độ tiêu cực (DP)
➢ Phần 3 (câu 15 đến 22): Thành tích cá nhân (PA) Với mỗi câu trên đều được tính theo thang điểm:
• 0: Không bao giờ
Trang 35• Thời gian làm việc tại bệnh viện
• Thời gian làm việc trong 1 tuần
• Hài lòng với mức lương, thưởng
• Mức độ áp lực công việc
- Trung bình hoặc trung vị, độ lệch chuẩn đối với biến số định lượng sau:
• Phần trăm thời gian làm công tác chuyên môn
• Phần trăm thời gian làm công tác khác (chuyển giao vị trí, sổ sách, giấy tờ)
• Mức lương, thưởng