1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH VIÊM QUANH RĂNG MẠN TÍNH TOÀN THỂ BẰNG PHƯƠNG PHÁP KHÔNG PHẪU THUẬT KẾT HỢP VỚI SỬ DỤNG LASER

7 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 202,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Xác định đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng đầu vào của các bệnh nhân tham gia nghiên cứu. 2. Đánh giá đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng sau khi điều trị giữa nhóm nghiên cứu (nhóm kết hợp điều trị với Laser Diode) với nhóm xử lý bằng phương pháp thường quy (không phẫu thuật sử dụng kháng sinh), làm cơ sở nhận xét và đưa ra kết luận vai trò của Laser Diode.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH VIÊM QUANH RĂNG MẠN TÍNH TOÀN THỂ BẰNG PHƯƠNG PHÁP KHÔNG PHẪU THUẬT KẾT HỢP VỚI SỬ DỤNG LASER

Nguyễn Trung Dũng* , Nguyễn Khang * * , Trương Xuân Quý ***

Tóm tắt

Mục tiêu: 1 Xác định đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng đầu vào của các bệnh nhân tham

gia nghiên cứu 2 Đánh giá đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng sau khi điều trị giữa nhóm nghiên cứu (nhóm kết hợp điều trị với Laser Diode) với nhóm xử lý bằng phương pháp thường quy (không phẫu thuật sử dụng kháng sinh), làm cơ sở nhận xét và đưa ra kết luận vai trò của Laser Diode

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 67 bệnh nhân có độ tuổi trung bình 46,00±17,41

bị viêm quanh răng mạn tính toàn thể Nghiên cứu thực hiện theo phương pháp can thiệp lâm sàng có đối chứng: Nhóm chứng (n=31) được điều trị theo cách thông thường (lấy cao răng, làm nhẵn bề mặt chân răng, liệu pháp kháng sinh: Cephalexin kết hợp Alphachymotripsin) Nhóm nghiên cứu (n=36), được điều trị theo cách thông thường kết hợp Laser Diode (AMD laser – Mỹ, bước sóng: 810 nm; công suất: 7W; nguồn vào: 110-240V)

Kết quả: Các thông số bệnh nhân trước khi điều trị được trình bày qua các bảng

Kết quả sau 2 tuần điều trị tương ứng trên nhóm Nghiên cứu và nhóm Chứng được ghi nhận lần lượt: Độ sâu túi răng (PD): 0,33±0,46 / 0,66±0,47; Mức mất bám dính: 2,49±0,79 / 2,99±0,72; Chỉ số lợi (GI): 0,22±0,42 / 0,65±0,46; chỉ số chảy máu rãnh lợi (SBI): 0,22±0,42 / 0,64±0,46; Chỉ số mảng bám (PLI) 0,13±0,34 / 0,49±0,49; Độ lung lay răng 1,40±0,59 / 1,61±0,49

- Kết quả tốt sau 2 tuân điều trị trên nhóm nghiên cứu: 72,2%, trên nhóm chứng: 22,6%

Kết luận: Chỉ sau 2 lần kết hợp laser diode đã cải thiện tích cực các chỉ số răng lợi, nâng

cao hiệu quả một cách rõ rệt so với việc chỉ sử dụng phương pháp thông thường Từ đó mở

ra một hướng điều trị mới không đau, an toàn và dễ thao tác có thể áp dụng rộng rãi trong các bệnh viện và cơ sở y tế

Từ khóa: Viêm quanh răng, Laser diode, túi quanh răng, chỉ số lợi

Summary

Objective: 1 Determining the clinical and sub-clinical characteristics of the patients

entering the study (before treatment) 2 Evaluete Clinical and subclinical characteristics of patients after treatment between conventional group with Laser diode combined group, as a basis for commenting and concluding the role of Laser Diode

Subject and method: 67 patients with an average age of 46.00 ± 17.41 had chronic

periodontal disease The study was conducted by Clinical Intervention Study Protocol (with controlled): The control group (n = 31) was treated in the usual method (remove tartar, smoothing the tooth root surface and antibiotic therapy: Cephalexin combined with Alphachymotripsin) The study group (n = 36) was treated in the usual method with a combination of laser diode (AMD laser – USA, wavelength: 810 nm, 825 nm, capacity: 7W, input voltage: 110-240 V)

Results: Pre-treatment parameters of patients are presented in tables.

Indicators after 2 weeks of treatment respectively in the Study and control groups were recorded as follows: Average the depth of pockets around the teeth (PD): 0.33 ± 0.46 / 0.66 ± 0.47; Average adhesion loss (CAL): 2.49 ± 0.79 / 2.99 ± 0.72; Average of gums

Trang 2

index (GI): 0.22 ± 0.42 / 0.65 ± 0.46; Sulcus Bleeding Index (SBI): 0.22 ± 0.42 / 0.64 ± 0.46; Plaque index (PLI) 0.13 ± 0.34 / 0.49 ± 0.49; The loose tooth index was 1.40 ± 0.59 / 1.61 ± 0.49

Good results after 2 weeks of treatment in the study group: 72.2%, in the control group: 22.6%

Conclusion: It can be asserted that after only two times combine with laser diode has

positively improved dental index scores, significantly enhancing effectiveness compared to using only conventional method and opens a new direction of treatment with advantages: painless, safe and easy to operate that can be widely applied in hospitals and medical facilities

Keywords: chronic periodontal, Laser diode, gums index

Đặt vấn đề

Bệnh viêm quanh răng mạn tính là một bệnh phổ biến trong các bệnh răng hàm mặt ở nước

ta cũng như trên thế giới Đây là bệnh viêm tổ chức chống đỡ quanh răng gây ra bởi một nhóm các vi sinh vật gây bệnh, dẫn đến phá huỷ dây chằng quanh răng và xương ổ răng, tạo ra khuyết hổng xương ổ răng và hình thành túi quanh răng

Trong điều trị viêm quanh răng mạn tính, mặc dù lấy cao răng và xử lý bề mặt chân răng bằng phương pháp phẫu thuật hay không phẫu thuật đều nhằm mục đích loại bỏ cao răng và

vi khuẩn bám trên bề mặt chân răng, nhưng thực tế chưa có một liệu pháp nào đạt được

hiệu quả tối ưu

Việc phát minh ra tia laser là một thành tựu trong y học hiện đại, trong đó Laser diode là loại laser đã được chứng minh có tác dụng kích thích sinh học với cơ thể sống và tác dụng hơn nữa là loại bỏ các tổ chức hoại tử, vi khuẩn vì vậy giúp cho quá trình lành thương nhanh hơn [1] Mặc dù việc lấy cao răng và làm nhẵn chân răng là tiêu chuẩn vàng trong điều trị viêm quanh răng mãn tính, ngày càng có nhiều bằng chứng thuyết phục rằng điều trị hỗ trợ với laser diode sẽ cho kết quả tốt hơn và kéo dài hơn

Ở nước ta, đã có một số nghiên cứu về ứng dụng laser diode trong điều trị viêm quanh răng mãn tính, bước đầu đã thu được những kết quả tốt [8] Tại Bệnh viện Quân y 103, hiện nay cũng đã sử dụng laser diode trong điều trị bệnh viêm quanh răng, tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào đánh giá hiệu quả của phương pháp Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả điều trị bệnh viêm quanh răng mạn tính toàn thể bằng phương pháp không phẫu thuật kết hợp sử dụng laser diode thông qua phân tích các đặc điểm lâm sàng, X-quang của nhóm bệnh nhân viêm quanh răng mạn tính toàn thể tại Bệnh viện Quân y 103

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu và chọn mẫu

67 bệnh nhân trên 20 tuổi được khám và chẩn đoán là viêm quanh răng mãn tính toàn thể tại Khoa Răng - Bệnh viện Quân y 103, với các tiêu chuẩn: Trên 30% vùng răng trong miệng mất bám dính và tiêu xương ổ răng, Viêm lợi (lợi nề đỏ), túi lợi tăng tiết dịch, Răng lung lay từ độ 1 đến độ 4, Có túi lợi bệnh lý ≥ 3mm, đang trong thời kỳ hoạt động (đang chảy máu chân răng), Bệnh nhân còn tối thiểu 20 răng và Không sử dụng kháng sinh trước đó

2 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp can thiệp lâm sàng có đối chứng Các bệnh nhân được xếp ngẫu nhiên vào hai nhóm theo thứ tự đến khám: Nhóm 1 (nhóm nghiên cứu), gồm 36 bệnh nhân bị viêm quanh răng mạn tính toàn thể được điều trị theo cách thông thường (lấy cao răng, làm nhẵn bề mặt chân răng) kết hợp với điều trị 2 lần bằng laser

* Viện Quân y 7A, Quân khu 7

Trang 3

diode (AMD laser – Mỹ, bước sóng: 810 nm; công suất: 7W; nguồn vào: 110-240V) tại thời điểm sau lấy cao răng bằng máy siêu âm và sau lần thứ nhất 7 ngày

Nhóm 2 (nhóm chứng) gồm 31 bệnh nhân viêm quanh răng mạn tính toàn thể được điều trị theo cách thông thường (lấy cao răng, làm nhẵn bề mặt chân răng, liệu pháp kháng sinh: Cephalexin kết hợp Alphachymotripsin)

3 Thu thập số liệu và đánh giá

Bệnh nhân của 2 nhóm được khám và đánh giá các thông số lâm sàng trước điều trị (T0) sau 1 tuần điều trị (T1) và sau 2 tuần điều trị (T2) Tiêu chuẩn đánh giá sau điều trị: qua sự giảm các thông số lâm sàng và cận lâm sàng: Sự phục hồi mô quanh răng qua 2 biến số là

độ sâu túi răng (PD) và mất bám dính (CAL) quanh răng trên lâm sàng; mức độ cải thiện

tình trạng lợi dựa vào 2 chỉ số lợi (GI - tham chiếu theo Loe và Silness 1963) , chỉ số chảy

máu rãnh lợi (SBI tham chiếu theo Muhleman và Son, 1971) và chỉ số mảng bám (PLI

-tham chiếu theo Löe và Silness năm 1967); độ lung lay răng (phương pháp Gary C, 1990)

và phim X-quang kỹ thuật số hoặc Panorama đánh giá sự thay đổi mức độ tổn thương tại các thời điểm trước và sau điều trị

4 Xử lý và phân tích số liệu

Các số liệu thu được xử lý theo phương pháp thống kê y học với phần mềm Stata 10 sử dụng thống kê mô tả và kiểm định T ghép cặp hoặc Mann-Whitney test, kiểm định Wilcoxon ghép cặp Kết quả có ý nghĩa thống kê khi p <0,05

5 Vấn đề Đạo đức trong nghiên cứu

Những bệnh nhân tham gia nghiên cứu được giải thích rõ mục đích nghiên cứu, tự nguyện tham gia và được quyền rút khỏi nghiên cứu Tất cả các thông tin về người bệnh được đảm bảo bí mật, luôn tôn trọng sự riêng tư cá nhân của mỗi người bệnh Nghiên cứu chỉ với mục đích phục vụ chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của nhân dân với tiêu chí muốn có phương pháp tối

ưu nhất trong điều trị lâm sàng Đảm bảo quy định về đạo đức trong nghiên cứu y học của Bộ

đã quy định

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

1 Phân bố độ tuổi và giới tính của mẫu nghiên cứu

Trong số 67 bệnh nhân, tỷ lệ nam giới mắc bệnh chiếm 62,7% (42 người), nhiều hơn nữ là 37,3% (25 người) Phân lớp tuổi có tỷ lệ cao nhất là 35 – 59, chiếm 41,7% Tuổi trung bình

là 46,00±17,41; cao nhất là 84, thấp nhất là 20 Các bệnh nhân nhập viện do chảy máu chân răng tự nhiên hay khi đánh răng và hôi miệng

Như vậy trong nghiên cứu này, tỷ lệ nam mắc bệnh nhiều hơn nữ, tương tự kết quả điều tra sức khỏe răng miệng toàn quốc của Trần Văn Trường và cs (2002) [9], tỷ lệ viêm quanh răng ở nam 51,4% và nữ 48,6% Số liệu điều tra của Brown và cs (1996) [2] ở Mỹ cho biết

tỷ lệ viêm quanh răng có túi lợi sâu 4-5 mm ở nữ là 25% và nam 33% Tác giả cho rằng trên thực tế nam giới có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn do có tính phổ biến và thường xuyên trong tiếp xúc các chất kích thích: đồ uống có cồn, thuốc lá, ma túy/ ma túy tổng hợp

2 Độ sâu túi răng trước và sau điều trị

Xét về thời điểm điều trị (sau 1 tuần và 2 tuần), độ sâu túi quanh răng của cả hai đều có sự cải thiện rõ rệt, độ sâu túi quang răng giảm (p <0,001), ở mỗi nhóm, mức độ giảm PD sau

2 tuần nhiều hơn sau 1 tuần (p<0,001)

Bảng 3.1 Độ sâu túi răng (PD) trước và sau điều trị

Trang 4

Sau ĐT 2 tuần (T2) 0,33±0,46 0,66±0,47 <0,01

p p0-1, p0-2 <0,001 p0-1, p0-2<0,001

Nhìn chung, kể cả điều trị kết hợp laser và điều trị thông thường thì độ sâu túi quang răng cũng giảm rõ rệt theo thời gian so với trước điều trị

So sánh độ sâu túi quanh răng giữa hai nhóm, thấy rằng: trước điều trị và sau điều trị 1 tuần (T1), độ sâu túi quanh răng giữa hai nhóm không có sự khác biệt (p>0,05) Tuy nhiên, sau hai tuần điều trị (T2), độ sâu túi quanh răng ở nhóm nghiên cứu thấp hơn nhóm chứng với p <0,01

Kết quả này cũng phù hợp với Tác giả Yilmaz (2002) [10] đã nghiên cứu hiệu quả của Galium arsenide (một laser diode) ở những túi quanh răng sâu 4 mm về vi sinh học và các thông số lâm sàng Về các thông số lâm sàng cho thấy kết quả tương đương nghiên cứu của chúng tôi: độ sâu túi quanh răng giảm sau 3 tuần nhóm SRP là 0,5 ± 0,3 mm; nhóm SRP + Laser 0,7 ± 0,4 Nghiên cứu trên 246 túi quanh răng của Kreisler (2005) [4], sau điều trị

12 tuần nhóm điều trị bằng SRP từ 4,3 ± 1,26 còn 2,7 ± 0,73; trong khi nhóm điều trị bằng SRP + Laser từ 4,2 ± 1,15 còn 2,4 ± 0,67 Với kết quả này nhóm chứng có giá trị cao hơn giá trị của chúng tôi, song ở nhóm thử nghiệm cho kết quả tương đồng

Như vậy, rõ ràng trong nghiên cứu của chúng tôi, việc kết hợp điều trị viêm quanh răng bằng laser diode có hiệu quả hơn hẳn so với phương pháp thông thường trong việc cải thiện độ sâu túi răng

3 Mức mất bám dính (CAL) trước và sau điều trị

Tại thời điểm sau điều trị 1 và 2 tuần, cho thấy mức mất bám dính của hai nhóm đều có sự cải thiện rõ rệt, mức mất bám dính giảm (p<0,001) Sau hai tuần điều trị (T2), mức mất bám dính ở nhóm nghiên cứu (2,49) thấp hơn nhóm chứng (2,99) với p<0,01

Bảng 3.2 Mức mất bám dính trước và sau điều trị

p p0-1, p0-2<0,001 p0-1, p0-2<0,001

Kết quả đã chỉ ra rằng việc kết hợp điều trị viêm quanh răng bằng laser diode có hiệu quả hơn hẳn so với phương pháp thông thường trong việc cải thiện mức mất bám dính (p<0,05)

Theo công bố của Kreisler và cs (2005) [4], có sự khác biệt giữa nhóm điều trị bằng laser

và nhóm điều trị thông thường sau 12 tuần: ở nhóm điều trị thông thường từ 5,5mm giảm còn 4,2 mm; ở nhóm laser độ mất bám dính từ 5,5 giảm còn 3,9 mm; Ông cũng cho biết

có 12% trong nhóm laser tái bám dính > 3 mm, so sánh với 7% của nhóm chứng và tái bám dính 2 - 3 mm có 24% ở nhóm laser và 18% ở nhóm chứng Điều này cho thấy có sự tái bám dính tốt hơn ở nhóm nghiên cứu Ông cũng cho rằng sự áp dụng laser diode điều trị làm giảm sự lung lay và độ sâu túi lợi không phải chủ yếu do sự giảm số lượng vi khuẩn trong túi lợi bệnh lý mà còn loại bỏ các tế bào biểu mô để tạo bám dính mới Đồng thời cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu của Romanos và cs (2009) [7] khi sử dụng laser diode 980 nm trong việc loại bỏ các lớp lót túi quanh răng và đánh giá bằng kính hiển vi thấy rằng: khi điều trị theo phương pháp thông thường (bằng các dụng cụ bằng tay) thì việc loại bỏ tế bào biểu mô vẫn còn sót, trong khi điều trị bằng laser các tế bào biểu mô được loại bỏ hoàn toàn Vì thế việc điều trị bằng laser ngoài việc loại bỏ vi khuẩn còn loại bỏ các

* Viện Quân y 7A, Quân khu 7

Trang 5

yếu tố cản trở sự tái tạo quanh răng Ngay sau khi điều trị quanh răng thì đã có hoạt động tái tạo ngăn ngừa

4 Chỉ số lợi (GI) trước và sau điều trị

Sau khi điều trị, cả hai nhóm đều có sự cải thiện rõ rệt, chỉ số GI giảm (p<0,001), trong đó mức giảm chỉ số GI sau 2 tuần nhiều hơn sau 1 tuần (p < 0,001)

So sánh mức độ cải thiện GI giữa hai nhóm, trong khi sau 1 tuần, sự khác biệt là chưa hoàn toàn rõ rệt thì tại thời điểm sau hai tuần điều trị (T2), GI ở nhóm nghiên cứu (0,22) thấp hơn hẳn nhóm chứng (0,65), với p<0,001 Qua đó có thể khẳng định – sau khi kết hợp điều trị viêm quanh răng bằng laser diode lần thứ hai, chỉ số lợi (GI) đã được cải thiện vượt trội

so với phương pháp thông thường

Bảng 3.3 Chỉ số GI trước và sau điều trị

p p0-1, p0-2 <0,001 p0-1, p0-2 <0,001

Nghiên cứu của tác giả Trần Thị Nga Liên (2015) [8] báo cáo sau điều trị 2 tuần ở nhóm chứng còn 0,9 ± 0,6, ở nhóm nghiên cứu còn 0,8 ± 0,7 Tại thời điểm này mức giảm ở nhóm nghiên cứu cao hơn nhóm chứng: 1,2 ± 0,6 và 0,9 ± 0,6 Sau 4 tuần điều trị ở nhóm chứng mức giảm chỉ số GI là 1,2 ± 0,6 và nhóm nghiên cứu là 1,7 ± 0,5 Điều này xảy ra

có thể do sự giảm mạnh vi khuẩn trong túi quanh răng Dựa trên nghiên cứu của Moritz (1998), độ giảm số lượng vi khuẩn Actinobacillus actinomycetecomitans và Prevotela ở lần

1 tương ứng với 58,8% và 41,2%, ở lần 2 giảm 35,2% [5] Kết quả này chứng tỏ rằng khi điều trị bằng liệu pháp laser diode thấy sự giảm lượng vi khuẩn trong túi quanh răng nhiều hơn so với cách điều trị thông thường Từ đó cũng nhận thấy lợi giảm viêm ở nhóm điều trị bằng laser nhiều hơn nhóm chứng, làm giảm độ sâu túi quanh răng Ông kết luận laser diode có hiệu quả trên vi khuẩn, từ đó giúp cho sự giảm viêm nhiễm ở túi quanh răng

5 Chỉ số chảy máu rãnh lợi (SBI) trước và sau điều trị

Qua nghiên cứu, chỉ số SBI được cải thiện với mức giảm mạnh trên cả hai nhóm, đặc biệt sau 2 tuần điều trị Trong đó nhóm nghiên cứu có độ giảm hơn hẳn nhóm chứng (tương ứng độ giảm 93,03% và 78,67%) cho thấy phối hợp với laser làm giảm chảy máu rãnh lợi tốt hơn so với chỉ bằng phương pháp thông thường

Bảng 3.4 Chỉ số SBI trước và sau điều trị

(X±SD)

Nhóm chứng

p p0-1, p0-2 <0,001 p0-1, p0-2<0,001

Đánh giá của Caruso và cs., 2008 [2] nghiên cứu về sự phối hợp laser với điều trị thông thường để điều trị viêm quanh răng mạn tính, tại thời điểm đánh giá lại sau 8 tuần: nhóm chứng còn 51% chảy máu khi khám, nhóm nghiên cứu còn 5,2% cho thấy sự khác nhau về hiệu quả điều trị ở 2 nhóm là rõ ràng

6 Chỉ số mảng bám trước và sau điều trị

Trang 6

Khi đánh giá tại thời điểm sau 1 tuần điều trị, nhóm nghiên cứu nhận thấy rằng chỉ số PLI

ở hai nhóm chưa có sự sai khác rõ rệt, mặc dù đều cho kết quả khả quan thông qua độ giảm chỉ số mảng bám so với trước khi điều trị (p< 0,001)

Bảng 3.5 Chỉ số mảng bám (PLI) trước và sau điều trị

p p0-1, p0-2 <0,001 p0-1, p0-2<0,001

Sự khác biệt có ý nghĩa (p<0,01) thể hiện sau thời điểm 2 tuần điều trị, đồng nghĩa với lần điều trị laser thứ 2 Với giá trị trung bình 0,13 ở nhóm nghiên cứu so với 0,49 ở nhóm chứng Có thể thấy rằng trước điều trị và sau điều trị 1 tuần (T1), PLI giữa hai nhóm chưa hoàn toàn có sự khác biệt Tuy nhiên, sau hai tuần điều trị (T2), phương pháp laser kết hợp

đã thể hiện hiệu quả một cách thuyết phục so với chỉ dùng phương pháp truyền thống

7 Độ lung lay răng trước và sau điều trị

Đánh giá độ lung lay của hai nhóm sau điều trị 1 tuần và 2 tuần, ở mỗi nhóm đều có sự cải thiện chỉ số độ lung lay răng giảm rõ rệt, sự khác biệt về trị số trung bình có ý nghĩa thống

kê với p0-1, p0-2 <0,001

Bảng 3.6 Độ lung lay răng trước và sau điều trị

p p0-1, p0-2<0,001 p0-1, p0-2 <0,001

So sánh độ lung lay răng giữa hai nhóm, thấy rằng: trước điều trị và sau điều trị 1 tuần (T1), độ lung lay răng giữa hai nhóm không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Tuy nhiên, sau hai tuần điều trị (T2), độ lung lay răng ở nhóm nghiên cứu thấp hơn nhóm chứng với p<0,01

8 Kết quả điều trị chung

Bảng dưới đây tổng hợp lại và xếp loại kết quả chung của đợt điều trị đã nghiên cứu trên

67 bệnh nhân

Bảng 3.7 Kết quả điều trị chung

Kết quả điều

trị

Nhóm NC (n=36)

Nhóm chứng (n=31)

Chung

<0,001

* Viện Quân y 7A, Quân khu 7

Trang 7

Ở nhóm nghiên cứu, tỷ lệ kết quả điều trị tốt là 72,2% cao hơn nhóm chứng (22,6%) Sự khác biệt về tỷ lệ các kết quả điều trị giữa hai nhóm có ý nghĩa thống kê với p<0,001

9 Biến chứng sau điều trị

Sau 2 tuần điều trị, các đối tượng tham gia nghiên cứu không thấy có biến chứng nào xảy

ra Bên cạnh đó cũng không có biểu hiện giảm thị lực ở nhân viên y tế khi tham gia nghiên cứu

KẾT LUẬN

Dựa trên đánh giá kết quả các chỉ số lâm sàng và cận lâm sàng, kết hợp tham khảo, so sánh với các luận cứ khoa học, laser diode đã chứng minh được hiệu quả của nó trên những bệnh nhân viêm quanh răng mạn tính toàn thể Mặc dù cả hai nhóm bệnh nhân đều có những phục hồi tích cực sau điều trị, song kết quả trên nhóm được điều trị kết hợp laser đã

có những cải thiện đáng kể và rõ rệt trên tất cả các thông số so với điều trị chỉ theo phương pháp thông thường sau 2 lần áp dụng Đây là một phương pháp điều trị mới không đau, dường như vô hại và là một kỹ thuật dễ thao tác để áp dụng rộng rãi trong các bệnh viện

Tài liệu tham khảo

1 Brown L.J.; Brunell J.A ; Kingman A (1996), "Periodontal status in United States

1988-1991: Prevalence, Extent and Demographic Variation", J Dent Res 75, pp 672-683

2 Caruso, U et al (2008), "Use of diode laser 980 nm as adjunctive therapy in the

treatment of chronic periodontitis A randomized controlled clinical trial", New Microbiol.

31(4), pp 513-8

3 Castro, G L et al (2006), "Histological evaluation of the use of diode laser as an

adjunct to traditional periodontal treatment", Photomed Laser Surg 24(1), pp 64-8

4 Kreisler, M.; Al Haj, H ; d'Hoedt, B (2005), "Clinical efficacy of semiconductor laser

application as an adjunct to conventional scaling and root planing", Lasers Surg Med.

37(5), pp 350-5

5 Moritz, A et al (1998), "Treatment of periodontal pockets with a diode laser", Lasers

Surg Med 22(5), pp 302-11

6 Niemz, Markolf H (2007), "Interaction Mechanisms", Laser-Tissue Interactions:

Fundamentals and Applications, Springer Berlin Heidelberg, Berlin, Heidelberg, pp

45-150

7 Romanos, G E et al (2004), "Removal of epithelium in periodontal pockets following

diode (980 nm) laser application in the animal model: an in vitro study", Photomed Laser

Surg 22(3), pp 177-83

8 Trần Thị Nga Liên (2015), Đánh giá hiệu quả điều trị viêm quanh răng mạn tính bằng

phương pháp laser diode, Luận văn Thạc sỹ y học, Đại học Y Hà nội

9 Trần Văn Trường et al (2002), "Điều tra sức khoẻ răng miệng toàn quốc", NXB Y học,

Hà Nội.

10 Yilmaz, S et al (2002), "Effect of gallium arsenide diode laser on human periodontal

disease: a microbiological and clinical study", Lasers Surg Med 30(1), pp 60-6

Ngày đăng: 30/03/2021, 16:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w